1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM (FDI) TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ 21, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP

16 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 264 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Với ý nghĩa cốt lõi nhất, FDI hay đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kin

Trang 1

Nội dung

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể được coi là sự phản biện hung hồn nhất đối với lý thuyết “vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói”- một lý thuyết khẳng định rằng các nước nghèo sẽ không thể cải thiện được tình hình của mình do tiết kiệm và đầu tư luôn ở mức thấp Đầu nước trực tiếp ngoài chính là nguồn bổ sung cho mức đầu

tư thấp ở các nước nghèo, giúp các nước này đạt mức tăng trưởng tốt hơn, nhờ đó mà dần cải thiện được tích lũy và đầu tư của mình

Tuy nhiên, có một lượng vốn chỉ là điều kiện cần, mặc dù không thể thiếu cho

sự tăng trưởng và phát triển bền vững Lượng vốn này cần phải được sử dụng hiệu quả

và vấn đề này lại liên quan đến thể chế và mức độ bình đẳng trong việc đối xử với các nhà đầu tư Lượng vốn này cũng cần phải được kiểm soát để không phá vỡ các cân đối

vĩ mô, không gây ra những tác động xấu về mặt xã hội Đây mới chính là điều kiện đủ

để đảm bảo cho việc thúc đẩy tăng trưởng bền vững của dòng vốn đầu tư nước ngoài

Là một nước với nền kinh tế đang chuyển đổi, với mục tiêu công nghiệp hóa thành công, tiến dần mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2020, Việt Nam rất cần sự

hỗ trợ từ phía nguồn vốn FDI và cần hơn nữa là phải biết cách tận dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả nhất Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu nắm vững những lý thuyết cơ bản nhất về FDI, thực trạng FDI tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực này trong những năm gần đây là vấn đề rất có ý nghĩa và bổ ích đối với mỗi học viên chuyên ngành quan hệ quốc tế của Việt Nam hiện nay

I LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ FDI

1 Khái niệm

Với ý nghĩa cốt lõi nhất, FDI hay đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu

tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh

Theo IMF: FDI là hình thức đầu tư quốc tế phản ánh mục tiêu của một thực thể

cư trú tại một nền kinh tế nhằm có được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp cư trú tại một nên kinh tế khác Lợi ích lâu có nghĩa là tồn tại một mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu

tư đối với việc quản lý doanh nghiệp [nguồn: IMF 1993]

Theo OECD: FDI phản ánh mục tiêu của một thực thể cư trú tại một nền kinh tế (“nhà đầu tư trực tiếp”) muốn có được lợi ích lâu dài trong một thực thể cư trú tại một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư (“doanh nghiệp đầu tư trực tiếp”) Lợi ích lâu dài ngụ ý một mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp đó [nguồn: OECD 1996]

Có thể thấy FDI được đặc trưng bởi mục đích tìm kiếm lợi ích lâu dài và một mức độ ảnh hưởng đáng kể của các nhà đầu tư đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, tùy từng thái độ và mục tiêu phát triển, mỗi quốc gia lại có những tiêu chuẩn riêng về mức

sở hữu tối thiểu và các yếu tố của mối quan hệ đầu tư trực tiếp (như đại diện trong ban giám đốc, tham gia vào quá trình ra quyết định, các giao dịch vật chất bên ngoài công

ty, việc trao đổi nhân sự quản lý, cung cấp các thông tin kĩ thuật, cung cấp tín dụng dài hạn với mức lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường) Tựu chung lại, có thể thấy sự khác biệt cơ bản của FDI so với các hình thức đầu tư quốc tế khác như sau:

Thứ nhất, mọi hình thức đầu tư quốc tế đều được tiến hành ở bên ngoài nước của công ty đầu tư, nhưng FDI, khác với các hình thức khác, được tiến hành bên trong

Trang 2

vẫn nằm trong tay nhà đầu tư, cho phép nhà đầu tư đưa ra quyết định sản xuất và đầu tư

Thứ hai, trong khi mọi hình thức đầu tư liên quan đến việc di chuyển của nguồn lực tài chính ra khỏi biên giới, FDI còn liên quan đến việc di chuyển những tài sản và nguồn lực khác, ví dụ như công nghệ, kĩ năng quản lý và những kĩ năng khác, khả năng tiếp cận thị trường, năng lực kinh doanh….Vì vậy, có thể nói, FDI không chỉ bao gồm dòng chảy của các nguồn lực tài chính vào nước chủ nhà mà đây là một gói các nguồn lực và tài sản cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của nước chủ nhà FDI cũng liên quan đến quyền kiểm soát của nhà đầu tư nước ngoài đối với hoạt động sản xuất tại nước chủ nhà

2 Phân loại FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới hiện nay có các hình thức chủ yếu sau:

- Đầu tư vào thành lập tổ chức kinh tế: có thể là thành lập tổ chức 100% vốn

nước ngoài hoặc góp vốn thành lập và tham gia quản lý doanh nghiệp liên doanh Theo hình thức này nhà đầu tư sẽ thành lập một pháp nhân mới theo luật pháp nước chủ nhà Đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức được các TNCs thường lựa chọn ở những nước có môi trường đầu tư rõ ràng, ổn định và thích hợp với nhiều ngành nghề khác nhau Hình thức doanh nghiệp liên doanh là hình thức khá phát triển ở các nước đang phát triển Hình thức này có sự gắn bó trách nhiệm và quyền hạn chặt chẽ giữa các bên liên doanh, sử dụng được ưu thế của cả hai bên Hình thức liên doanh lại có nhiều nhược điểm về cơ chế quản trị, về sự đóng góp của từng bên vào hoạt động liên doanh, về phân phối kết quả kinh doanh… Do đó, hình thức này chỉ thích hợp trong giai đoạn đầu của quá trình thu hút vốn FDI, thích hợp với những lĩnh vực đầu tư bắt buộc cần phải có sự tham gia liên doanh của chủ nhà: đó các dự án lớn

ở các ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng, các dự án nông – lâm nghiệp, các dự

án sử dụng nhiều tài nguyên

- Đầu tư theo hợp đồng bao gồm: hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), hợp

đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT)

+ Đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư theo đó bên nước ngoài và bên chủ nhà cam kết thực hiện các nghĩa vụ và được hưởng các quyền lợi tương xứng ghi trong một hợp đồng hợp tác kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới, hoạt động đầu tư được quản lý trực tiếp bởi một ban điều hành Đây là hình thức đơn giản, dễ thực hiện thích hợp với giai đoạn đầu mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài Bên nước ngoài thường đóng góp thiết bị, công nghệ, vật tư, tham gia kiểm soát chất lượng, còn bên trong nước thường tổ chức sản xuất theo chỉ dẫn của nước ngoài Tuy nhiên, hình thức đầu tư này dễ gây tranh chấp do trách nhiệm thường không rõ ràng và không có pháp nhân quản lý Khi môi trường đầu tư đã ổn định hình thức này ít được áp dụng

+ Đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT là hình thức đầu tư phải có chính quyền chủ nhà đứng ra ký hợp đồng đầu tư với nhà đầu tư nước ngoài, sau đó phải thành lập một pháp nhân để điều hành, quản lý dự án, hoạt động của dự án này sẽ theo một chu trình mẫu tùy vào từng loại hợp đồng Hình thức đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT có xu hướng phát triển trong những năm gần đây Những lĩnh vực thích hợp cho hình thức này là các công trình kết cấu hạ tầng có khả năng khai thác như đường

Trang 3

- Đầu tư phát triển kinh doanh: là mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao

năng lực hoạt động của một doanh nghiệp đang tồn tại

- Đầu tư mua cổ phiếu của các doanh nghiệp và có tham gia quản lý hoạt động kinh doanh.

- Mua lại và sáp nhập qua biên giới (M&A: Cross-border Merger and

Acquisition): là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại, sáp nhập với một doanh nghiệp nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động

3 Tác động của FDI

Mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của Nhà nước nhưng FDI ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên Mặt khác bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án là khá cao, đặc biệt là trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu Do quyền lợi gắn chặt với dự án, họ quan tâm đến hiệu quả kinh doanh nên có thể lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình

độ quản lý và tay nghề của công nhân Vì vậy FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư

- Đối với nước chủ đầu tư :

Đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở các nước tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng Mặt khác đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao

uy tín chính trị Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước

- Đối với nước nhận đầu tư:

FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát… Qua FDI các tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo công ăn việc làm cho người lao động FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, cải thiện cán cân thanh toán, tạo

ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác

FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục được tình trạng thiếu vốn kéo dài Nhờ vậy mà mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính khan hiếm được giải quyết, đặc biệt là trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá Theo sau FDI là máy móc thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học - kỹ thuật mới Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm được chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước đang phát triển trên thị trường quốc tế

Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội hiện đại được du nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần với phong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hoá nước ngoài và đi kèm với nó sẽ

là những hoạt động Marketing được mở rộng không ngừng

Bên cạnh những tác động tích cực, FDI còn có những tác động tiêu cực đối với

cả nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư:

Trang 4

- Với nước chủ đầu tư: vốn đầu tư chảy ra nước ngoài có khả năng làm giảm

tăng trưởng GDP và việc làm của quốc gia; khi các công ty lớn đầu tư ra nước ngoài sản xuất những mặt hàng cùng loại sẽ tạo nên khả năng cạnh tranh mới giữa các doanh nghiệp ngoài nước với chính doanh nghiệp trong nước, thậm chí cạnh tranh với chính doanh nghiệp đầu tư

- Với nước nhận đầu tư: nhà đầu tư nước ngoài có thể kiểm soát thị trường địa

phương, làm mất tính độc lập, tự chủ về kinh tế, phụ thuộc ngày càng nhiều vào nước ngoài; FDI chính là công cụ phá vỡ hàng rào thuế quan bảo hộ, làm mất tác dụng của công cụ thuế quan; tạo cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, có thể dẫn đến suy giảm sản xuất của các doanh nghiệp trong nước; FDI, nhất là của các TNCs, có thể gây nên những vấn đề phức tạp mới về chuyển giao các công nghệ quá hiện đại mà không phù hợp; lợi nhuận thu được có xu hướng chuyển ra nước ngoài, làm giảm tiềm lực phát triển kinh tế lâu dài; các nước phát triển có xu hướng chuyển giao các công nghệ lạc hậu sang các nước nhận đầu tư; góp phần làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội mới như phân hóa đội ngũ cán bộ, “chảy máu chất xam”, tham nhũng, hối lộ…

II THỰC TRẠNG FDI TẠI VIỆT NAM TRONG THẬP KỶ ĐẦU THẾ KỶ 21

1 Tổng quan về FDI tại Việt Nam trong thập kỷ đầu thế kỷ 21

Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 và việc kí kết Hiệp Định thương mại Việt Mỹ đã có tác động lớn đến thái độ của các nhà đầu tư Tuy nhiên, dòng vốn FDI vào Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2003 vẫn không có nhiều biến chuyển so với giai đoạn trước đó Lý do là cùng thời điểm đó, Việt Nam lại thực hiện mở cửa thị trường chứng khoán khiến cho dòng vốn chảy vào kênh khác hơn là FDI Từ sau năm 2003, FDI bắt đầu tăng nhanh và đạt mức kỉ lục vào năm 2008 với số vốn đăng kí lên đến

71726 triệu USD, gấp 3,34 lần tổng vốn đăng kí năm 2007 (21347,8 triệu USD) Trong năm 2009 và 2010, FDI vào Việt Nam đã giảm đi so với năm 2008 do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu Mặc dù vậy, lượng vốn đăng kí vẫn ở mức cao Trong năm 2009, Việt Nam vẫn thu hút được 1.054 dự án với tổng vốn đăng kí là gần 21.500 triệu USD Năm 2010 Việt Nam thu hút được 1155 dự án, tổng vốn đăng kí là

18595 triệu USD [nguồn: theo số liệu từ Tổng cục thống kê và Trung tâm Nghiên cứu Đầu tư nước ngoài].

Để thấy được bức tranh tổng quan về tình hình FDI vào Việt Nam trước và sau năm 2000, ta có thể tham khảo biểu đồ dưới đây

Trang 5

Biểu đồ FDI được cấp phép tại Việt Nam thời kỳ 1988 – 2010

0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000 80000

0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 1800

S ố

d ự

Vốn đăng ký Tổng số vốn thực hiện

Số dự án

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Tổng cục thống kê và Trung tâm Nghiên cứu Đầu tư nước ngoài

Theo biểu đồ trên, có thể thấy có một khoảng cách lớn và ngày càng tăng giữa FDI công bố và FDI thực hiện Mặc dù lượng vốn FDI đăng ký được công bố là lớn, nhưng thực tế cho thấy sự chênh lệch giữa con số đăng ký và con số thực hiện ngày càng gia tăng Tỷ lệ giải ngân đạt mức cao nhất trong giai đoạn 1997 – 2004 (73,5%), nhưng đã giảm mạnh xuống còn 30,4% trong giai đoạn 2006-2008 Một phần của nguyên nhân của tình trạng này là do xu hướng đua nhau thu hút FDI và có tình trạng khai quá lượng FDI thu hút được tại các địa phương Phần khác là do việc thực hiện các dự án FDI gặp khó khăn so với dự kiến ban đầu hoặc do tình trạng nhiều nhà đầu

tư đăng ký dự án chỉ để giữ chỗ hoặc lấy đất và sau đó bán lại dự án để thu lời

2 Cơ cấu FDI tại Việt Nam

a Theo lĩnh vực đầu tư

- Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: Từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài, Việt

Nam đã chú trọng thu hút FDI vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng Trong giai đoạn trước năm 2000, chủ trương thu hút FDI của chính phủ là ưu đãi các dự án sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, sản xuất hàng xuất khẩu, sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước Đến giai đoạn 2000 – 2010, đặc biệt từ sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã bãi bỏ các ưu đãi đó Trong giai đoạn này, định hướng FDI vào các lĩnh vực công nghiệp-xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo… (các sản phẩm

mà Việt Nam có thế mạnh về nhân công) Đây cũng chính là những dự án mà Việt Nam có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và có lợi thế so sánh Vì vậy, cho đến nay các dự án thuộc các lĩnh vực nêu trên, đặc biệt là các dự án trong lĩnh vực chế biến, chế tạo vẫn giữ vai trò quan trọng, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập ổn định

Trang 6

Biểu đồ FDI trong lĩnh vực công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1988-2009

Đơn vị: Triệu USD

án Vốn đầu tư

3 Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước 72 2231.4

Nguồn: Tổng cục thống kê.

- Lĩnh vực dịch vụ: Nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách tạo điều kiện thuận

lợi cho hoạt động kinh doanh dịch vụ phát triển từ khi thi hành luật đầu tư nước ngoài Nhờ vậy, khu vực dịch vụ đã có những chuyển biến tích cực, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuât, tiêu dùng và đời sống nhân dân, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Một số ngành dịch vụ khách sạn, nhà hàng; các hoạt động kinh doanh tài sản và dịch vụ, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc, tài chính tính dụng tăng trưởng nhanh, thu hút nhiều lao động Cùng với việc thực hiện lộ trình thương mại dịch vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh thu hút FDI phát triển các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất xuất khẩu Trong khu vực dịch vụ, FDI tập trung chủ yếu vào các hoạt động liên quan đến tài sản và dịch vụ

tư vấn bao gồm xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới, kinh doanh hạ tầng KCN (54,42% tổng vốn FDI trong khu vực dịch vụ), nhà hàng, khách sạn (24,48); giao thông vận tải-liên lạc (10,64%)

Biểu đồ FDI trong lĩnh vực dịch vụ tại Việt Nam giai đoạn 1988-2009

Đơn vị: Triệu USD

2 Vận tải; kho bãi và thông tin liên lạc 554 8435.3

4 Các hoạt động liên quan đến kinhdoanh tài sản và dịch vụ tư vấn 1867 45505.7

Nguồn: Tổng cục thống kê.

- Lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư nghiệp: Đến hết năm 2009, lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư

nghiệp có 738 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí là 4379, 1 triệu USD Trong số này, các dự án về nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn là 87,64% tổng vốn đăng kí ngành Các dự án thủy sản chỉ chiếm 12,36%

Trang 7

Biểu đồ FDI vào Việt Nam trong lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư nghiệp giai đoạn 1988-2009

Đơn vị: Triệu USD

Nguồn: Tổng cục thông kê.

Cơ cấu FDI theo lĩnh vực tại Việt Nam giai đoạn 1988-2009

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Tính đến hết năm 2009, so với cơ cấu FDI của thế giới, có thể thấy cơ cấu FDI của Việt Nam đã có sự chuyển dịch cùng chiều theo hướng tăng dần tỉ trọng các ngành dịch vụ Cơ cấu này đã có sự thay đổi rất nhiều so với năm 2007, khi FDI vào dịch vụ mới chỉ chiếm 25% tổng số vốn đăng kí Nguyên nhân của hiện tượng này là đến năm

2009, rất nhiều các hạn chế thâm nhập của Việt Nam về dịch vụ đã được dỡ bỏ theo cam kết gia nhập WTO trong đó có các hạn chế trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, phân phối, giáo dục

b Cơ cấu FDI theo nước chủ đầu tư

Cho đến nay, đã có 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, trong đó

69, 1% vốn đăng kí đến từ các nhà đầu tư Châu Á, 16,2% từ EU và 11,8% từ các nhà đầu tư Mĩ

Các nhà đầu tư sớm nhất đến thị trường Việt Nam là các nhà đầu tư từ Úc và

EU bao gồm cả Unilever, British Petroleum và Shell Các công ty Châu Á tham gia vào thị trường Việt Nam chậm hơn khi Việt Nam trở thành một địa điểm đầu tư tự nhiên đặc biệt là đối với các nhà đầu tư mở rộng sản xuất đối với dây chuyền may mặc Các công ty Mĩ tham gia thị trường Việt Nam muộn nhất do bị hạn chế bởi lệnh cấm của Mĩ cho đến năm 1994

Trang 8

Các quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam là các quốc gia trong khu vực Châu Á, bao gồm Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Nhật Bản,Thái Lan Việt Nam vẫn chưa nhận được nhiều FDI từ EU và nhiều quốc gia phát triển khác trên thế giới

Cơ cấu FDI tại Việt Nam theo đối tác đầu tư năm 2009

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Trong giai đoạn 1988-2009, FDI đến từ 5 quốc gia Châu Á đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam đã chiếm đến 41,6% tổng vốn đăng kí Điều này chứng tỏ là các doanh nghiệp EU chưa tham gia một cách tích cực vào thị trường Việt Nam mặc dù hộ có những lợi thế nhất định về qui mô Tuy không phải là quốc gia có nhiều vốn đầu tư tại Việt Nam nhất, nhưng Hoa Kỳ vẫn thể hiện xu thế là nhà đầu tư lớn tại Việt Nam (năm

2009, Hoa Kỳ là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, với số vốn đăng ký 9,8 tỷ USD) Nhiều tập đoàn tên tuối lớn của Hoa Kỳ như Chevron, General Elctric, ConccoPhillips, AEC, AIG, Ceaterpillar, CitiGroup, ExxonMobil, Ford đã có mặt tại Việt Nam và dự báo trong tương lai, Hoa Kỳ sẽ trở thành nhà đầu tư số 1 tại Việt Nam

Đáng lưu ý, trong những năm gần đây, dòng FDI từ Trung Quốc đổ vào Việt Nam là khá lớn và trong năm 2010, Trung Quốc đã đứng hàng thứ 11, sau Top 10 có vốn FDI đăng ký vào Việt Nam, cho thấy xu các nhà đầu tư Trung Quốc cũng đang chuyển sự chú ý đáng kể đến Việt Nam

c.Cơ cấu FDI theo địa bàn

Trên thực tế, cho đến năm 2010, tất cả 64 tỉnh thành trong ở Việt Nam đã thu hút được những lượng FDI nhất định Tuy nhiên sự phân bổ của FDI theo tỉnh thành là không đồng đều; FDI chủ yếu tập trung ở các khu vực trọng điểm kinh tế, đặc biệt là tại các tỉnh có cơ sở hạ tầng phát triển nhất và có sẵn lao động có kĩ năng

Trang 9

Cơ cấu FDI tại Việt Nam theo địa bàn năm 2009

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Vùng Đồng bằng Sông Hồng có tổng số 3230 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên 37 tỉ USD, chiếm 20% tổng số vốn đăng kí cả nước, trong đó Hà Nội đứng đầu chiếm 56% số dự án và 59% số vốn đăng kí cả vùng Tiếp đến là Hải Phòng (390 dự

án với tổng vốn đăng kí là 7,78 tỉ USD), tiếp đến là Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh (với xấp xỉ 200 dự án và vốn đăng kí hơn 2 tỉ USD) Vùng trọng điểm phía Nam thu hút được 7344 dự án với tổng vốn đăng kí là 89,66 tỉ USD, chiếm 47% tổng vốn đăng

kí trong đó thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước với 3683 dự án với tổng vốn đăng

kí là 30, 98 tỉ chiếm 34,55% vốn đăng kí của vùng Tiếp theo thứ tự là Bà Rịa - Vũng Tàu( với 296 dự án với tổng vốn đăng kí là 25,7% tỉ) chiếm 28,7% tổng vốn đăng kí vùng;Đồng Nai xếp thứ ba vùng với 19,8% tổng vốn đăng kí; tiếp đến là Bình Dương với 15,5% tổng vốn đăng kí Vùng trọng điểm miền Trung nổi lên mạnh mẽ trong hai năm 2008, 2009 và thu hút được lượng FDI tăng đột biến trong 2 năm này Cho đến năm 2007, FDI vào khu vực này mới chỉ chiếm 6% tổng vốn đăng kí cả nước thì đến hết năm 2009, khu vực này đã thu hút được 820 dự án đầu tư với vốn đăng kí là 51,73

tỉ USD chiếm 27% tổng vốn đăng kí cả nước, trong đó đứng đầu là Ninh Thuận với 22

dự án với vốn đăng kí là 10 tỉ USD, tiếp đến là Phú Yên với 52 dự án và 8 tỉ USD

d Cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư

Hiện nay hình thức 100% vốn nước ngoài hiện chiếm 74,4% tổng số dự án; 50,7% vốn đăng kí; trong khi đó hình thức liên doanh chiếm 22, 2% số dự án và 38% vốn đăng kí Hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 3.1% tổng số dự án, 8,3% vốn đăng kí; số còn lại là dưới các hình thức khác như BOT, công ty cổ phần

3 Đóng góp của FDI vào GDP của Việt Nam

FDI là một nguồn vốn quan trọng đóng góp vào GDP ở Việt Nam Theo số liệu của từ Tổng cục thống kê, tỷ trọng FDI trong tổng đầu tư vốn của Việt Nam tăng từ 12% năm 2006 lên 25,5% năm 2007 và 24,1% năm 2008, 30% vào năm 2009 Đóng góp của FDI trong GDP của Việt Nam cũng rất lớn và ngày càng tăng từ 6.3% năm

1995 lên đến 19% năm 2009

Trang 10

Bảng thống kê đóng góp của các khu vực kinh tế vào GDP (%)

Khu vực kinh tế 2002 2003 2005 2007 2009

Nguồn: Tổng cục thống kê.

III MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Trên cơ sở nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thập kỷ đầu thế kỷ 21 có thể thấy hoạt động thu hút, quản lý và sử dụng FDI tại Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn những mặt hạn chế cần khắc phục như sau:

Về bộ máy quản lý: Hoạt động phân cấp quản lý còn thiếu hiệu quả, các tỉnh chạy đua cạnh tranh thu hút FDI phá vỡ các qui hoạch về ngành nghề, địa phương Việc thực hiện chức năng phân tích, dự báo, thẩm định, cấp phép, kiểm tra giám sát việc thực hiện các nghĩa vụ của các doanh nghiệp FDI còn chưa kịp thời, thiếu hiệu quả, không theo kịp khối lượng cũng như mức độ phức tạp của hoạt động FDI tại Việt Nam Hoạt động quản lý các dự án trong quá trình thực hiện còn gây nhiều phiền hà, rắc rối cho doanh nghiệp FDI

Về công tác qui hoạch và lập chiến lược: Cho đến nay, dù đã ý thức được tầm quan trọng của một chiến lược FDI, Việt Nam vẫn chưa đưa ra một chiến lược tổng thể

và một qui hoạch cụ thể đối với FDI cho nên hoạt động thu hút và sử dụng FDI còn mang tính tự phát và thiếu đồng bộ Công tác qui hoạch ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn nhiều bất cập đặc biệt là trong bối cảnh phân cấp cấp phép và quản lý FDI

về các địa phương, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung

Về hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến FDI: Các chính sách về thâm nhập FDI còn duy trì nhiều hạn chế, các chính sách khuyến khích FDI còn dàn trải, và không hiệu quả chưa hướng FDI vào các lĩnh vực và khu vực mong muốn Các luật điều chỉnh còn chưa bao trùm hết các khía cạnh của hoạt động FDI, đặc biệt là hoạt động M&A và hoạt động cạnh tranh Còn có sự thiếu đồng bộ, mâu thuẫn giữa luật chung và luật chuyên ngành, hiệu lực pháp luật còn chưa cao

Hoạt động xúc tiến đầu tư vẫn chưa được quan tâm đúng mức bằng nguồn ngân sách hợp lý Hoạt động này còn thiếu chuyên nghiệp, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực Thiếu một văn bản pháp luật cụ thể qui định về xúc tiến đầu tư khiến cho cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành địa phương còn chưa hiệu quả

Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực phục vụ FDI chưa có định hướng chiến lược dài hạn, chiến lược về nhân lực còn tách rời với chiến lược kinh tế, chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiêp FDI về lao động lành nghề, công nhân kĩ thuật cao và cán bộ quản lý Hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng thiếu hiệu quả Việt Nam đã đầu tư rất nhiều vốn và kêu gọi nhiều hinh thức đầu tư vào cơ sở

hạ tầng nhưng năng lực cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn không theo kịp được sự phát

Ngày đăng: 28/01/2016, 16:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê đóng góp của các khu vực kinh tế vào GDP (%) - ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM (FDI) TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ 21, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP
Bảng th ống kê đóng góp của các khu vực kinh tế vào GDP (%) (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w