1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”

84 304 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cộng hòa dân chủ nhân dân Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Công nghiệp Đầu tư trực tiếp nước ngoài Tổng sản phẩm quốc dân Sản phẩm quốc dân Hợp tác xã Hệ số gia tăng vốn đầu tư Khoa học kỹ thuậ

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên Á Hính Sá Pa Thặp - là tác giả Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành quản

trị kinh doanh với đề tài “Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Chăm

Pa Sắc đến năm 2020” Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng

tôi

Những số liệu, dữ liệu, thông tin trung thực; các trích dẫn, tham chiếu đúng nguồn Kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này chưa từng được công

bố tại bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả thực hiện luận văn

Á Hính Sá Pa Thặp

Trang 3

Tôi xin trân thành cảm ơn PGS TS Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư đã tận

tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này

Trang 4

Cộng hòa dân chủ nhân dân Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Công nghiệp

Đầu tư trực tiếp nước ngoài Tổng sản phẩm quốc dân Sản phẩm quốc dân Hợp tác xã

Hệ số gia tăng vốn đầu tư Khoa học kỹ thuật

Khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ Nhân dân cách mạng

Thu nhập quốc dân sử dụng Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ Thu nhập quốc dân sản xuất

Các nước công nghiệp mới phát triển Sản phẩm quốc dân thuần túy

Viện trợ phát triển kinh tế Phát triển kinh tế

Cộng đồng các quốc gia độc lập

Đô la mỹ Vốn đầu tư Vốn đầu tư nhà nước

Tổ chức thương mại thế giới Xây dựng

Xây dựng cơ bản

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH

2 Hình 1.2: Sơ đồ mối quan hệ các nhân tố kinh tế của sự tăng trưởng 12

4 Hình 1.4: Tác động của sản xuất đến tăng trưởng 17

5 Hình 1.5: Tác động của nguồn lao động đến phát triển kinh tế 17

7 Hình 1.7: Keynes cho rằng nền kinh tế có thể đạt được mức cân bằng

dưới mức sản lượng tiềm năng

29

8 Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 34

9 Bảng 2.2: Tổng giá trị sản xuất tỉnh Chăm Pa Sắc 36

11 Bảng 2.4: So sánh cơ cấu GDP của Chăm Pa Sắc với cả nước 38

12 Bảng 2.5: So sánh tốc độ tăng trưởng của tỉnh Chăm Pa Sắc với cả

nước

38

13 Bảng 2.6a: Giá sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế 40

14 Bảng 2.6b: Giá sản xuất nông nghiệp theo giá cố định 2010 40

15 Bảng 2.7a: Diện tích giao trồng chia theo cây lương thực 41

18 Bảng 2.9: Giá trị sản xuất công nghiệp của tính theo giá cố định 2010 44

19 Bảng 2.10: Tình hình nguồn đầu tư cơ bản của tỉnh Chăm Pa Sắc 44

20 Bảng 2.11: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội 45

21 Bảng 2.12: Diện tích đất đai tỉnh Chăm Pa Sắc 48

22 Bảng 2.13: Dự báo về mức nhập khẩu một số sản phẩm của một số

nước

52

23 Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu tổng hợp giai đoạn 2014-2015 57

24 Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu tổng hợp giai đoạn 2016-2020 59

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của luận văn 3

7 Bố cóc của luận văn 3

CHƯƠNG 1 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 4

1.1 Khái quát chung về tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế 4

1.1.1 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế 4

1.1.2 Những quan điểm cơ bản về tăng trưởng và phát triển kinh tế 5

1.2 Các đại lượng đo lường sự tăng trưởng kinh tế 6

1.2.1 Tổng sản phẩm trong nước (tổng sản phẩm quốc nội-GDP) 6

1.2.2 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) 7

1.2.3 Sản phẩm quốc dân thuần túy (NNP) 7

1.2.4 Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI) 7

1.3 Các chỉ số phản ánh sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội 8

1.3.1 Các chỉ số xã hội của sự phát triển 8

1.3.2 Các chỉ số về cơ cấu kinh tế 10

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế 11

1.4.1 Các nhân tố kinh tế 11

1.4.2 Các nhân tố phi kinh tế 21

1.4.3 Vai trò của nhà nước với phát triển kinh tế 23

1.5 Các mô hình tăng trưởng kinh tế 27

1.5.1 Mô hình của K.Marx về tăng trưởng kinh tế 28

1.5.2 Mô hình của Keynes về tăng trưởng kinh tế 28

1.5.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại 30

CHƯƠNG 2 33

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH CHĂM PA SẮC TRONG NHỮNG NĂM QUA 33

2.1 Tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tỉnh Chăm Pa Sắc từ năm 2012-2014 33

2.1.1 Tổng quan về các chỉ tiêu kinh tế - xã hội 33

2.1.2 Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp - thủy sản 39

Trang 7

2.1.3 Tình hình sản xuất công nghiệp - xây dựng cơ bản 43

2.1.4 Các ngành dịch vụ thương mại và du lịch 45

2.1.5 Các lĩnh vực văn hóa-xã hội 45

2.2 Phân tích và dự báo các nguồn lực phát triển của tỉnh Chăm Pa Sắc 46

2.2.1 Vị trí địa lý 46

2.2.2 Về đất đai, khí hậu 47

2.2.3 Tài nguyên rừng 48

2.2.4 Nguồn tài nguyên khoáng sản 49

2.3 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Chăm Pa Sắc giai đoạn 2012-2014 49

2.3.1 Tình hình quốc tế có tác động đến phát triển kinh tế tỉnh 49

2.3.2 Bối cảnh và thị trường trong nước tác động đến phát triển tỉnh 53

2.4 Những nhận định tổng quát về lợi thế và hạn chế của tỉnh Chăm Pa Sắc 54

2.4.1 Những nhận định tổng quát về lợi thế phát triển của tỉnh 54

2.4.2 Một số trở lực và khó khăn của tỉnh 54

CHƯƠNG 3 56

MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KIHH TẾ - XÃ HỘI TỈNH CHĂM PA SẮC ĐẾN NĂM 2020 56

3.1 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hộ tỉnh Chăm Pa Sắc đến 2020 56

3.1.1 Quan điểm về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Chăm Pa Sắc 56

3.1.2 Các phương án về mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 57

3.1.3 Một số phương hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực 59

3.2 Một số giải pháp nhằm thực hiện 69

3.2.1 Huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển 69

3.2.2 Phát triển nguồn nhân lực 70

3.2.3 Thực hiện chính sách về chuyển giao khoa học-công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật 72

3.2.4 Chính sách đất đai và các chính sách khuyến khích mô hình sản xuất tiên tiến đạt hiệu quả cao 72

3.2.5 Chính sách về thị trường 73

3.2.6 Phát triển kinh tế-xã hội gắn với chương trình định canh, định cư và xóa đói giảm nghèo 74

3.2.7 Phát triển kinh tế kết hợp với bảo đảm an ninh quốc phòng 74

KẾT LUẬN 76

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nếu như trong ba thập kỷ 60, 70 và 80 của thế kỷ XX, cả thế giới thán phục trước những thần kỳ Đông Á làm thay đổi cả nền kinh tế thế giới, thì đến những năm

1990, sự suy thoái đã xuất hiện, thậm chí là khủng hoảng kinh tế đã xảy ra ngay tại những quốc gia đã đạt tốc độ tăng trưởng cao trong ba thập kỷ trước đó Sự đảo lộn này đã chỉ ra rằng, trung tâm của quá trình phát triển chỉ là tăng trưởng cao mà thúc đẩy tăng trường là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Mối quan hệ giữa tốc độ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngày càng được thể hiện rõ, có lúc khắc chế nhau, có lúc bổ sung cho nhau, nhưng xét đến cùng, mục tiêu về tăng trưởng kinh tế của một quốc gia đang phát triển là tốc độ tăng trưởng phải cao, ổn định và bền vững, mà điều này chỉ có được khi tăng trưởng có thúc đẩy tốt

Ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới 1986, Đảng nhân dân cách mạng Lào đã khẳng định: quá trình đổi mới phải được tiến hành toàn diện trong đó lấy đổi mới kinh

tế làm trọng tâm, đổi mới kinh tế phải được coi là cơ sở để tiến hành từng bước đổi mới về chính trị

Thực hiện quan điểm chiến lược đó, Đảng nhân dân cách mạng Lào đã đề ra những bước đi cụ thể Trước hết phải chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp sang nền kinh tế thị trường có sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, để thực hiện tốt quá trình chuyển đổi cơ chế nền kinh tế như nhiệm

vụ đề ra, đòi hỏi lại phải đổi mới tăng cường hơn nữa vai trò của Nhà nước Lào đối với việc quản lý và định hướng phát triển tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ mới

Quá trình đổi mới từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường đã từng bước khẳng định xu thế phát triển tăng trưởng kinh tế hiện nay ở nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Cơ chế kinh tế thị trường đã, đang chi phối phần lớn các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân

Lưu thông phân phối là một trong những lĩnh vực kinh tế đặc biệt quan trọng trong quá trình phối hợp cùng các lĩnh vực kinh tế khác thúc đẩy kinh tế phát triển Nó

là một trong những mắt xích quan trọng trong quá trình tái sản xuất của xã hội và cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ của cơ chế thị trường

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng nhân dân cách mạng Lào đã chỉ rõ: Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản

lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất - kinh doanh, nhằm phát huy những tác động tích cực to lớn đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trường

Chăm Pa Sắc là một tỉnh đồng bằng lớn thứ ba của cả nước Với những điều kiện của mình, tỉnh đã cố gắng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và luôn duy trì

Trang 9

tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình là 9%/năm giai đoạn 2000-2010 cao hơn rất nhiều so với cả nước Thu nhập bình quân đầu người ngày một cải thiện, năm 2010 đã tăng gấp 6 lần so với năm 2000 Thế nhưng, thúc đẩy tăng trưởng của tỉnh cũng đang gặp phải nhiều vấn đề đáng quan tâm Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp chưa cao, sản phẩm chế biến sâu chưa nhiều tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất vẫn chưa thực sự được sử dụng hiệu quả; diện tích ròng ngày càng được thu hẹp và việc khai thác khoáng sản đang tác động xấu đến cảnh quan thiên nhiên và môi trường sống của con người…nếu các vấn đề này không được quan tâm giải quyết sớm thì trong tương lai không xa nó sẽ là vật cản trong quá trình tăng trưởng phát triển

Xuất phát từ những lý do trên đây đã khiến tôi lựa chọn vấn đề: "Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Chăm Pa Sắc đến năm 2020" làm luận văn thạc sĩ

của mình

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Các công trình nghiên cứu nước ngoài về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Ricardo (1821) khẳng định: phải khai thác hiệu quả đất đai thì mới bảo đảm phát triển; Marx (1867) cho rằng: tiến bộ công nghệ và sử dụng hiệu quả lao động là động lực cho tăng trưởng kinh tế; Solow (1956) cho rằng: nếu chỉ dựa vào vốn thì tăng trưởng chỉ đạt được trong ngắn hạn; Markiw (2000) phát triển và chỉ ra rằng: việc nâng cao chất lượng lao động sẽ tăng hiệu quả của lao động và yếu tố tiến bộ kỹ thuật sẽ bảo đảm chất lượng tăng trưởng; Kaldor (1961) thì: tiến bộ kỹ thuật quyết định tăng trưởng kinh tế; Theo Sung Sang Park (1992) tăng trưởng kinh tế phải dựa vào không chỉ tích lũy vốn sản xuất mà còn phụ thuộc nhiều vào tích lũy vốn con người của lao động ở

đó Một số nhà kinh tế tiêu biểu khác như: Lucas (1993), Sen (1999), và Stiglitz (2000) đã đưa ra một số chỉ tiêu có thể theo đó, tăng trưởng kinh tế bên cạnh việc duy trì một tốc độ tương đối cao cần bảo đảm nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ môi trường và hoàn thiện thể chế

Các công trình nghiên cứu trong nước về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào khác về vấn đề trên, mới chỉ có một số công

trình nghiên cứu của Khẳn Khăm Phăm Phu My về vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế chuyển đổi hiện nay ở CHDCND Lào

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Việc nghiên cứu luận văn này nhằm tìm hiểu các vấn đề sau:

1 Tổng hợp một số vấn đề lý luận cơ bản về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và vai trò của nó trong phát triển kinh tế quốc dân

2 Phân tích thực trạng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh Chăm Pa Sắc giai đoạn 2012-2014, từ đó rút ra những kết quả đã đạt được để làm cơ sở cho

Trang 10

việc đưa ra giải pháp hoàn thiện

3 Đề xuất một số giải pháp tăng trưởng kinh tế của tỉnh Chăm Pa Sắc đến năm

2020, nhằm nâng cao hiệu quả về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều kiện hội nhập hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Chăm Pa Sắc

Phạm vi nghiên cứu bao gồm sau: một về không gian là phạm vi thực trạng phát triển kinh tế của tỉnh Chăm Pa Sắc; hai về thời gian từ năm 2012 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, mô tả, thống kê, so sánh đối chiếu,

6 Đóng góp của luận văn

Đề tài đóng góp một phần nhỏ để làm rõ hơn khía cạnh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế về mặt phương pháp luận

Về mặt thực tiễn đề tài đưa ra một số đánh giá bước đầu về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Chăm Pa Sắc; đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh Chăm Pa Sắc Nhiều khía cạnh chưa được nghiên cứu sâu

và đầy đủ cũng là những gợi mở cho các đề tài tiếp theo

7 Bố cóc của luận văn

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn còn gồm nội dung chính sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế

Chương 2: Thực trạng tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tỉnh Chăm Pa Sắc trong những năm qua

Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế tỉnh Chăm Pa Sắc đến năm 2020

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1 Khái quát chung về tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế

1.1.1 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng quy mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng

Tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần về mặt số lượng; đây là sự biến đổi có ý nghĩa tích cực, mặc dù nó cũng giúp cho xã hội

có thêm các điều kiện vật chất có thể để đáp ứng các nhu cầu đặt ra của công dân, của

xã hội

Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kì sau so với thời kì trước:

Mức tăng trưởng tuyệt đối :  = Y1 - Yo

Mức Tăng trưởng tương đối: = Y1/ Yo

Yo: Tổng sản lượng thời kì trước

Y1: Tổng sản lượng thời kì sau

1.1.1.2 Khái niệm phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tích cực dựa trên sự biến đổi cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu của các yếu tố cấu thành của nền kinh tế

Như vậy, đã có phát triển kinh tế là bao hàm nội dung của sự tăng trưởng kinh

tế, nhưng nó được tăng trưởng theo một cách vượt trội so sự đổi mới về khoa học công nghệ, do năng suất xã hội cao hơn hẳn và có cơ cấu kinh tế hợp lý và hiệu quả hơn hẳn

Do đó, khái niệm phát triển kinh tế bao gồm:

+ Trước hết là sự tăng thêm về khối lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự tiến

bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội

+ Tăng thêm quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội là hai mặt vừa phụ thuộc lại vừa độc lập tương đối của lượng và chất

+ Sự phát triển là một quá trình tiến hóa theo thời gian do những nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Có nghĩa là người dân của quốc gia đó phải là những thành viên chủ yếu tác động đến sự biến đổi kinh tế của đất nước

+ Kết quả của sự phát triển kinh tế là kết quả của một quá trình vận động khách quan, còn mục tiêu kinh tế đề ra là thể hiện sự tiếp cận tới các kết quả đó

Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế gắn liền với quá trình công nghiệp hóa

Trang 12

và hiện đại hóa của mỗi quốc gia, là bước đi tất yếu của mọi sự biến đổi kinh tế từ thấp đến cao, theo xu hướng biến đổi không ngừng

1.1.1.3 Phát triển kinh tế bền vững

Đây là khái niệm đang còn tiếp tục tranh cãi, tuy nhiên theo Hội đồng thế giới

về môi trường và phát triển thì: Phát triển kinh tế bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến các nhu cầu của các thế hệ tương lai

Về mặt nội dung, phát triển kinh tế bền vững là sự phát triển kinh tế phải đáp ứng yêu cầu sau:

+ Kinh tế phải phát triển liên tục

+ Kinh tế phải phát triển với tốc độ cao

+ Đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn thương đến các thế hệ tương lai

1.1.2 Những quan điểm cơ bản về tăng trưởng và phát triển kinh tế

1.1.2.1 Quan niệm nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế

Quan điểm này cho rằng tăng thu nhập là quan trọng nhất, nó như đầu tư, kéo theo việc giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế và xã hội Thực tế cho thấy những nước theo quan điểm này đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, không ngừng tăng thu nhập Song cũng cho thấy những hạn chế cơ bản sau:

+ Sự tăng trưởng kinh tế quá mức nhanh chóng vì những động cơ có lợi ích cóc bộ trước mắt đã dẫn đến sự khai thác bừa bãi không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trên phạm vi quốc tế, khiến cho nguồn tài nguyên bị kiệt quệ và môi trường sinh thái bị huỷ nặng nề

+ Cùng với sự tăng trưởng là sự bất bình đẳng về kinh tế và chính trị xuất hiện, tạo

ra những mâu thuẫn và xung đột gay gắt: Xung đột giữa khu vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp; xung đột giữa giai cấp chủ và thợ; gắn với nạn thất nghiệp tràn lan; xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; xảy ra mâu thuẫn về lợi ích kinh tế - xã hội, do quá trình phát triển kinh tế không đều tạo nên

+ Tăng trưởng đưa lại những giá trị mới, song nó cũng phá huỷ và hạ thấp một số giá trị truyền thống tốt đẹp cần phải bảo tồn và phát huy như: nền giáo dục gia đình, các giá trị tinh thần, đạo đức, thuần phong mỹ tục, chuẩn mực của dân tộc Đồng thời với việc làm giàu bằng bất cứ giá nào thì tội ác cũng phát triển; các băng đảng lũng đoạn, sản xuất hàng giả, buôn lậu chất ma tuý với quy

mô quốc tế sẽ gia tăng

+ Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh chóng còn đưa lại những diễn biến khó lường trước, cả mặt tích cực và tiêu cực, nên đời sống kinh tế xã hội thường bị đảo lộn, mất ổn định, khó có thể lường trước được hậu quả

Trang 13

1.1.2.2 Quan điểm nhấn mạnh vào sự bình đẳng và bất bình đẳng trong

xã hội

Sự phát triển kinh tế đựợc đầu tư dàn đều cho các ngành, các vùng và sự phân phối được tiến hành theo nguyên tắc bình quân Đại bộ phận dân cư đều được chăm sóc về văn hóa, giáo dục, y tế của Nhà nước, hạn chế tối đa sự bất bình đẳng trong xã hội

Hạn chế của việc lựa chọn quan điểm này là nguồn lực hạn chế lại bị phân phối dàn trải nên không thể tạo ra được tốc độ tăng trưởng cao và việc phân phối đồng đều cũng không tạo ra được động lực thúc đẩy người lao động

1.1.2.3 Quan điểm phát triển toàn diện

Đây là sự lựa chọn trung gian giữa hai quan điểm trên, vừa nhấn mạnh về số lượng vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển Theo quan điểm này tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế có hạn chế nhưng các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết

1.2 Các đại lượng đo lường sự tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở sự tăng lên về sản lượng hằng năm do nền kinh tế tạo ra Do vậy thước đo của sự tăng trưởng là các đại lượng sau: Tổng sản phẩm trong nước (GDP); tổng sản phẩm quốc dân (GNP); sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP); thu nhập quốc dân sản xuất (NI) và thu nhập quốc dân sử dụng (NDI)

1.2.1 Tổng sản phẩm trong nước (tổng sản phẩm quốc nội-GDP)

GDP là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ mới được tạo ra trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

Đại lượng này thường được tiếp cận theo các cách khác nhau:

1.2.1.1 Về phương diện sản xuất

1.2.1.2 Về phương diện tiêu dùng

GDP = C + I + G + (X - M) Trong đó:

C: Tiêu dùng các hộ gia đình

G: Các khoản chi tiêu của chính phủ

I: Tổng đầu tư cho sản xuất của các doanh nghiệp

(X - M): Xuất khẩu ròng trong năm

Tổng giá trị gia tăng của các ngành, các khu vực

sản xuất và dịch vụ trong cả nước GDP =

Giá trị gia tăng = Giá trị sản lượng - Chi phí các yếu tố trung gian (Y) (GO) (IC)

Trang 14

1.2.1.3 Về phương diện thu nhập:

GDP là toàn bộ giá trị mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức Nhà nước thu được từ giá trị gia tăng đem lại

GDP = Cp + Ip + T Trong đó:

Cp: các khoản chi tiêu mà các hộ gia đình được quyền tiêu dùng

Ip: Các khoản mà doanh nghiệp tiết kiệm được dùng để đầu tư

GDP theo cách xác định trên đã thể hiện một thước đo cho sự tăng trưởng kinh

tế do các hoạt động kinh tế trong nước tạo ra, không phân biệt sở hữu trong hay ngoài nước với kết quả đó Do vậy, GDP phản ánh chủ yếu khả năng sản xuất của nền kinh

tế một nước

1.2.2 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)

GNP là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ cuối cùng mà tất cả công dân một nước tạo ra và có thể thu nhập trong một năm, không phân biệt sản xuất được thực hiện trong nước hay ngoài nước

Như vậy GNP là thước đo sản lượng gia tăng mà nhân dân của một nước thực

sự thu nhập được

GNP = GDP + Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài Với ý nghĩa là thước đo tổng thu nhập của nền kinh tế, sự gia tăng thêm GNP thực tế đó chính là sự gia tăng tăng trưởng kinh tế, nó nói lên hiệu quả của các hoạt động kinh tế đem lại

GNP thực tế là GNP được tính theo giá trị cố định nhằm phản ảnh đúng sản lượng gia tăng hàng năm loại trừ những sai lệch do sự biến động giá cả (lạm phát) tạo

ra, khi tính GNP theo giá thị trường thì đó là GNP danh nghĩa

Hệ số giảm phát là tỷ lệ GNP danh nghĩa và GNP thực tế ở cùng một thời điểm Dùng hệ số giảm phát để điều chỉnh GNP danh nghĩa ở thời điểm gốc, để xác định mức tăng trưởng thực tế và tốc độ tăng trưởng qua các thời điểm

1.2.3 Sản phẩm quốc dân thuần túy (NNP)

NNP là giá trị còn lại của GNP, sau khi đã trừ đi giá trị khấu hao tài sản cố định (Dp)

NNP = GNP - DpNNP phản ánh phần của cải thực sự mới được tạo ra hàng năm

1.2.4 Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI)

NDP là phần mà nhân dân nhận được và có thể tiêu dùng, là phần thu nhập ròng sau khi trừ đi thuế (trực thu và thuế gián thu) (Ti+Td) cộng với trợ cấp (Sd):

NDI = NNP - (Ti+Td) + Sd

Trang 15

Mục đích đưa ra các thước đo là để tiếp cận tới các trạng thái phát triển của nền kinh tế, mỗi thước đo đều có ý nghĩa nhất định và được sử dụng tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu Mặc dù đó là các thước đo phổ biến nhất hiện nay, nhưng

đó chỉ là những con số xấp xỉ về các trạng thái và tốc độ biến đổi trong phát triển kinh tế, vì bản thân các thước đo đó chưa thể phản ánh hết được các sự kiện phát triển cả mặt tốt lẫn mặt chưa tốt Chẳng hạn như các sản phẩm tự túc, công việc nội trợ gia đình, thời gian nghỉ ngơi, sự tự do, thoải mãi trong đời sống sinh hoạt,

sự tổn hại do bị ô nhiễm môi trường thì được tính bằng cách nào

1.3 Các chỉ số phản ánh sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội

1.3.1 Các chỉ số xã hội của sự phát triển

Để nói lên sự tiến bộ của xã hội do tăng trưởng đưa lại, người ta thường dùng các chỉ số sau xoay quanh sự biến đổi của con người

1.3.1.1 Tuổi thọ bình quân trong dân số

Sự tăng lên của tuổi thọ bình quân trong dân số ở một thời kỳ nhất định phản ánh một cách tổng hợp về tình hình sức khoẻ của dân cư trong một nước Trong đó nó bao hàm sự văn minh trong đời sống của mức sinh hoạt vật chất và tinh thần được nâng cao Ở các nước kém phát triển đời sống thấp, thường có tuổi thọ bình quân dưới

50 tuổi, còn các nước phát triển chỉ số đó đều trên 70 tuổi

1.3.1.2 Mức tăng dân số hàng năm

Đây là một chỉ số đi liền với chỉ số tăng thu nhập bình quân đầu người Xã hội loài người phát triển đã minh chứng rằng mức tăng dân số cao luôn luôn đi với sự nghèo đói và lạc hậu Các nước phát triển đều có mức tăng dân số tự nhiên đều dưới 2% một năm, còn các nước kém phát triển đều ở mức trên 2% một năm

1.3.1.3 Số calo/người/ngày

Chỉ số này phản ánh các cung ứng các loại nhu cầu thiết yếu nhất đối với mọi người dân, về lương thực và thực phẩm hàng ngày được qui đổi thành calo Nó cho thấy một nền kinh tế giải quyết được nhu cầu cơ bản như thế nào

1.3.1.4 Tỉ lệ người biết chữ trong dân số

Cùng với chỉ số này, còn dùng chỉ số tỉ lệ trẻ em đến trường trong độ tuổi đi học, hay trình độ phổ cập văn hóa của người lao động trong dân số Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển và sự biến đổi về chất của xã hội Xã hội hiện đại đã coi việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo là lĩnh vực đầu tư hàng đầu cho phát triển kinh tế trong thời gian dài hạn Tỉ lệ trẻ em đi học và người biết chữ cao, đồng nghĩa với sự văn minh xã hội, và nó thường đi đôi với nền kinh tế có mức tăng trưởng cao Do vậy,

nó là một chỉ số quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia

Trang 16

1.3.1.5 Các chỉ số về phát triển kinh tế - xã hội

- Ngoài các chỉ số nêu trên người ta còn dùng các chỉ số đánh giá sự phát triển

xã hội ở mặt bảo hiểm, chăm sóc sức khoẻ như: Số giường bệnh, số bệnh viện, bệnh viện an dưỡng, số bác sĩ, y sĩ bình quân cho một vạn dân Về giáo dục và văn hóa có tổng số các nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ, số lớp và số trường học, viện nghiên cứu, nhà văn hóa, nhà bảo tàng, thư viện tính bình quân cho ngàn hoặc triệu dân

- Sự công bằng xã hội trong phân phối sản phẩm cũng là một tiêu chuẩn đánh giá

sự tiến bộ của xã hội hiện đại Người ta dùng đồ thị Lorenz và hệ số Gini để biểu thị

Để nghiên cứu mức chênh lệch trong phân phối thu nhập người ta thường chia dân số của một nước ra làm 10 nhóm người (gọi là 10 bậc), mỗi nhóm có 10% dân số; hoặc chia ra 5 nhóm (5 bậc ), mỗi nhóm 20% dân số từ thu nhập thấp nhất lên thu nhập cao nhất Nếu như trong xã hội bình đẳng tuyệt đối thì cứ 20% dân số sẽ nhận được 20% thu nhập, có nghĩa là không có người giàu người nghèo Còn trong xã hội bất bình, đường cong Lorent sẽ cho ta biết rằng 20% dân số có thu nhập thấp nhất và 20% dân số có thu nhập cao nhất sẽ nhận được bao nhiêu % tổng thu nhập Khi thu nhập của nhóm người nghèo giảm đi và thu nhập của nhóm người giàu tăng lên thì đường cong Lorent càng cách xa đường 450 và ngược lại

Nếu phần diện tích được giới hạn bởi đường 450 và đường cong Lorent được kí hiệu là A và phần còn lại của tam giác vuông được giới hạn bởi đường cong Lorent và

2 đường vuông góc kí hiệu là B thì hệ số Gini được tính:

Hệ số Gini =

A

B

Trang 17

Hệ số Gini nhận giá trị từ 0 tới 1

Hệ số Gini = 0: Xã hội hoàn toàn bình đẳng

Hệ số Gini = 1: Xã hội hoàn toàn bất bình đẳng

Dựa vào những số liệu thu thập của Ngân hàng thế giới (WB) thì trong thực tế giá trị của hệ số Gini biến đổi trong phạm vi hẹp hơn: Từ 0,2 đến 0,6 Theo nhận xét của WB thì những nước có thu nhập thấp, hệ số Gini biến động từ 0,3 đến 0,5; đối với những nước có thu nhập trung bình từ 0,4 đến 0,6 và đối với nước có thu nhập cao từ 0,2 đến 0,4

Tuy nhiên hệ số Gini mới chỉ lượng hóa được mức độ bất bình đẳng về phân phối thu nhập, còn tiêu thức về sự độc lập hay phụ thuộc về kinh tế và chính trị của quốc gia, sự tự do dân chủ công dân, sự tiến bộ trong thể chế chính trị, xã hội thì cũng chưa thể lượng hóa hết được

1.3.2 Các chỉ số về cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế của một nước, theo cách hiểu thông thường là tổng thể các mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố kinh tế và trong từng yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với những điều kiện kinh tế - xã hội có thể trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội Với quan niệm này, phải hiểu cơ cấu không chỉ là qui định

về số lượng, chất lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố tạo nên hệ thống, mà chính là quan hệ hữu

cơ giữa các yếu tố của hệ thống, còn các quan hệ về số lượng, tỷ lệ chỉ được xem như là các biểu hiện của các mối quan hệ mà thôi

Sự phát triển kinh tế - xã hội còn biểu hiện trong biến đổi của các ngành, các lĩnh vực sản xuất và các khu vực xã hội theo các chỉ số sau:

1.3.2.1 Chỉ số cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm quốc nội

Chỉ số này phản ánh tỉ lệ của các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong GDP Nền kinh tế càng phát triển thì tỉ lệ công nghiệp và dịch vụ ngày càng cao trong GDP, còn tỉ lệ nông nghiệp thì giảm tương đối

1.3.2.2 Chỉ số về cơ cấu hoạt động ngoại thương (X - M)

Tỉ lệ của giá trị sản lượng xuất khẩu thể hiện sự mở cửa của nền kinh tế với thế giới Một nền kinh tế phát triển thường có mức xuất khẩu ròng trong GDP tăng lên

1.3.2.3 Chỉ số về tiết kiệm - đầu tư (I)

Tỉ lệ tiết kiệm đầu tư trong tổng sản phẩm quốc dân (GNP) thể hiện rõ hơn về khả năng tăng trưởng nền kinh tế trong tương lai Đây là một nhân tố cơ bản của sự tăng trưởng Những nước có tỉ lệ đầu tư cao (từ 20%-30% GNP) thường là các nước

có mức tăng trưởng cao Tuy nhiên tỉ lệ này còn phụ thuộc vào quy mô của GNP và tỉ

lệ giành cho người tiêu dùng

I = GNP - C + X - M

Trang 18

1.3.2.4 Chỉ số cơ cấu nông thôn và thành thị

Sự biến đổi rõ nét ở bộ mặt xã hội của quá trình phát triển là mức độ thành thị hóa các khu vực trong nước Chỉ số này được biểu hiện ở tỉ lệ lao động và dân cư sống

ở thành thị trong tổng số lao động và dân số Sự tăng lên của dân cư hoặc lao động và làm việc ở thành thị là một tiến bộ do công nghiệp hóa đưa lại, nó nói lên sự văn minh trong đời sống của nhân dân trong nước

1.3.2.5 Chỉ số về liên kết kinh tế

Chỉ số này biểu hiện ở mối quan hệ trong sản xuất và giao lưu kinh tế giữa các khu vực trong nước, sự chặt chẽ của mối liên hệ giữa các ngành và các khu vực trong nước Sự chặt chẽ của mối liên kết được đánh giá thông qua trao đổi các yếu tố đầu vào - đầu ra trong các ma trận liên ngành, liên vùng Điều đó thể hiện sự tiến bộ của nền kinh tế trong nước bằng việc đáp ứng ngày càng nhiều yếu tố sản xuất do trong nước khai thác

Dựa trên các tiêu thức nêu trên mà liên hiệp quốc và Ngân hàng thế giới thường sắp xếp các nước có mức độ tiến bộ, phát triển khác nhau; trong đó quan trọng nhất vẫn là mức thu nhập tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người trong năm Căn cứ vào đây người ta sắp xếp các nấc thang phát triển khác nhau giữa các nước

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế

1.4.1 Các nhân tố kinh tế

Đây là lượng đầu vào mà sự biến đổi của nó trực tiếp làm thay đổi sản lượng đầu ra Có thể biểu hiện mối quan hệ đó bằng hàm số:

Y = F(Xi) Trong đó: Y là sản lượng, còn Xi (i = 1, 2, , n) là các biến số đầu vào thể hiện các nhân tố đều chịu sự điều tiết của mối quan hệ cung - cầu Một số nhân tố thì ảnh hưởng tới mức cung, một số nhân tố thì ảnh hưởng tới mức cầu Sự cân bằng cung - cầu do giá cả thị trường điều tiết sẽ tác động trở lại các nhân tố trên và dẫn tới kết quả của sự sản xuất, đó là sản lượng của nền kinh tế

Trang 20

Trên sơ đồ 1.2, các biến số đóng vai trò của các nhân tố quyết định tổng mức cung (S), mà sự biến đổi vật chất và giá trị của nó tạo thành tổng sản lượng của nền kinh tế Đó là các yếu tố sản xuất Còn các yếu tố quyết định đến tổng mức cầu (D) thực chất đó là các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản lượng thông qua sự cân bằng

về cung - cầu (E)

Thực chất của việc tiếp cận đến nguồn gốc của sự tăng trưởng là xác định nhân tố nào là giới hạn của sự tăng trưởng, giới hạn này do cung hay do cầu?

Các nhà kinh tế đặt nền móng cho các học thuyết kinh tế cổ điển nói riêng và kinh tế học nói chung như Adam Smith, Jean Baptiste Say, David Ricardo cho đến Alfred Marshall và ngay cả Karl Marx cũng đều xây dựng các lý thuyết dựa trên quan điểm nghiêng về cung chứ không phải là cầu Trong một giai đoạn nhất định (ngắn hạn) sự khan hiếm của tài nguyên (nguồn đầu vào) hay sự thiếu cung, luôn luôn là giới hạn của sự tăng trưởng, nhất là khi sức sản xuất còn thấp

Còn theo trường phái kinh tế học hiện đại, mà xuất phát là Keynes thì mức sản lượng và việc làm là do cầu quyết định Điều này được lý giải sản lượng của nền kinh tế luôn ở dưới mức tiềm năng, tức là nền kinh tế còn các nguồn lực tiềm năng, công nhân thất nghiệp ở mức tự nhiên, vốn tích luỹ lớn, công suất máy móc chưa tận dụng hết Đó là do khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, năng suất luôn được nâng cao Do đó cung không phải là vấn đề giới hạn của sự gia tăng sản lượng, mà ở đây nó phụ thuộc vào cầu

Mặc dù vậy, trên thực tế vẫn còn những nước quá nghèo, chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nhân dân Song lại có những nước quá giàu đã đáp ứng được nhu cầu của đất nước và đang mở rộng thị trường ra khỏi biên giới để nhằm đẩy mạnh tăng trưởng Vì vậy mỗi quan điểm trên đều có giá trị trong mỗi hoàn cảnh và điều kiện riêng biệt của mỗi quốc gia

Xuất phát từ thực tế ở các nước đang phát triển, cung vẫn chưa đáp ứng được cầu, sự gia tăng sản lượng phải bao gồm sự gia tăng trong đầu vào của các yếu tố sản xuất theo quan hệ hàm số giữa sản lượng với vốn, lao động, đất đai và nguyên liệu, kĩ thuật và công nghệ

Y = F( K,L,R,T ) Trong đó:

K: là vốn

L: là lao động

R: là đất đai và tài nguyên

T: là tiến bộ của kĩ thuật và công nghệ

Hàm sản xuất trên nói lên sản lượng tối đa có thể sản xuất được tuỳ thuộc vào sản lượng các yếu tố đầu vào trong điều kiện trình độ kĩ thuật và công nghệ

Trang 21

nhất định Mỗi yếu tố có vai trò nhất định, do trình độ phát triển kinh tế ở mỗi nơi, mỗi lúc quyết định:

1.4.1.1 Nguồn vốn

* Vốn sản xuất và vốn đầu tư

a/ Vốn sản xuất Là một bộ phận của tài sản quốc dân bao gồm:

- Tài nguyên thiên nhiên

- Tài sản được sản xuất ra

- Nguồn nhân lực

Tài sản được sản xuất ra bao gồm toàn bộ của cải vật chất được tích luỹ lại qua quá trình phát triển kinh tế của đất nước Những tài sản này được chia ra làm 9 loại:

- Công xưởng nhà máy

- Trụ sở cơ quan, trang thiết bị văn phòng

- Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải

b/ Vốn đầu tư và hình thức đầu tư

Do đặc điểm của việc sử dụng tài sản là hoạt động trong thời gian dài và bị hao mòn dần, đồng thời do nhu cầu về tài sản ngày càng tăng thêm về tài sản cho nên cần phải tiến hành thường xuyên việc bù đắp hao mòn tài sản và tăng thêm khối lượng tài sản mới Quá trình này được tiến hành bằng vốn đầu tư thông qua hoạt động đầu tư

Vốn đầu tư được chia làm 2 loại: đầu tư cho tài sản sản xuất và đầu tư cho tài sản phi sản xuất Vốn đầu tư cho tài sản sản xuất gọi là vốn sản xuất, đó là chi phí

để thay thế tài sản cố định bị thải loại để tăng tài sản cố định mới và để tăng tài sản tồn kho

Trang 22

Như vậy hoạt động đầu tư là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực sản xuất và tạo ra năng lực sản xuất mới, đó là quá trình chuyển hóa vốn thành các tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới 2 hình thức:

- Đầu tư trực tiếp: là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra Hoạt động đầu tư này có thể dưới các hình thức hợp đồng: Hợp đồng, liên doanh công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

- Đầu tư gián tiếp: Là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như xã hội, nhưng người có vốn không tham gia trực tiếp quản lý hoạt động đầu tư, dưới hình thức: cổ phiếu, tín phiếu

Trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng có 3 phương thức đầu tư mới được áp dụng ở Lào:

+ B - T - O: Phương thức Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh

+ B - O - T: Phương thức Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao

+ B - T: phương thức Xây dựng - Chuyển giao

(B - Build, T - Transfer, O - Operate)

Cả 3 phương thức đầu tư trên là những hợp đồng kí giữa Chính phủ với các nhà đầu tư nhằm áp dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng

* Các nguồn hình thành vốn đầu tư:

a/ Tiết kiệm là nguồn cơ bản hình thành vốn đầu tư

Toàn bộ thu nhập của một nước (GNP) trong quá trình sử dụng được chia làm 3 quỹ lớn: quỹ bù đắp, quỹ tích luỹ vốn và quỹ tiêu dùng Quỹ bù đắp và quỹ tích luỹ là nguồn để hình thành vốn đầu tư, trong đó quỹ đầu tư là bộ phận quan trọng nhất Toàn bộ quỹ tích luỹ được hình thành từ các khoản tiết kiệm Xu hướng chung là khi nền kinh tế càng phát triển thì tỷ lệ tích luỹ càng tăng Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước có thu nhập thấp thì quy mô và tỉ lệ tích luỹ đều thấp trong khi yêu cầu của sự phát triển kinh tế ngày càng đòi hỏi nguồn vốn lớn Điều đó đặt ra cần thiết phải có nguồn hỗ trợ vốn từ nước ngoài

b/ Nguồn vốn đầu tư trong nước

- Tiết kiệm của Chính phủ (Sg): Là tiết kiệm của ngân sách nhà nước (Sgh) và tiết kiệm của các công ty Nhà nước (Sge)

- Tiết kiệm của các công ty (Se): được xác định trên cơ sở doanh thu và các khoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Tiết kiệm của dân cư (Sh): Phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu hộ gia đình

c/ Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Trang 23

- Viện trợ phát triển kinh tế (ODA):

ODA được gọi là nguồn vốn tài chính do các cơ quan chính thức (chính quyền nhà nước hay địa phương) của một nước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này

Nội dung viện trợ ODA bao gồm

+ Viện trợ không hoàn lại: Thường chiếm 25% tổng vốn ODA

+ Hợp tác kĩ thuật

+ Cho vay ưu đãi, bao gồm:

o Cho vay không lãi

o Cho vay với lãi suất ưu đãi từ : 0,5 - 5% /năm, trả vồn sau 3 - 10 năm, hoàn vốn trong thời gian 10 - 15 năm

- Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO):

Viện trợ NGO là các viện trợ không hoàn lại, trước đây viện trợ này chủ yếu

là vật chất, đáp ứng những nhu cầu nhân đạo:

Cung cấp thuốc men cho cả trung tâm y tế, chỗ ở và lương thực cho các nạn nhân thiên tai Hiện nay, loại viện trợ này lại được thực hiện nhiều hơn bằng các chương trình phát triển dài hạn, có sự hỗ trợ của các chuyên gia thường trú và tiền mặt

- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)

Đây là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài đối với các nước đang phát triển, là nguồn vốn lớn có ý nghĩa quan trọng với phát triển kinh tế FDI không chỉ cung cấp vốn, mà nó còn thực hiện quá trình chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ

kĩ thuật và tìm thị trường tiêu thụ Mặt khác FDI còn gắn với trách nhiệm bảo toàn

và phát triển vốn Do đó thu hút và khai thác tốt nguồn vốn này sẽ giảm nợ nước ngoài đối với các nước đang phát triển

* Tác động của vốn đến tăng trưởng kinh tế

Đầu tư là một bộ phận lớn và hay thay đổi trong chi tiêu, do đó những thay đổi trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác động tới sản lượng và công ăn việc làm Khi đầu tư tăng lên có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng tăng lên Sự thay đổi này làm cho tổng cầu dịch chuyển: Trên sơ đồ 1.3 mô tả đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0đến AD1 Do đó làm cho mức sản lượng cũng biến động từ P0 đến P1

Đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, có nghĩa là có thêm các nhà máy thiết

bị, phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế Sự thay đổi này tác động đến tổng mức cung Trên sơ đồ 1.4 mô tả vốn sản xuất sẽ làm tăng tổng cung chuyển dịch từ AS0 đến AS1 làm cho mức sản lượng tăng từ Y0 đến Y1 và mức giá giảm từ P0 đến P1

Trang 24

* Nguồn lao động và các nhân tố ảnh hưởng

a/ Nguồn nhân lực và nguồn lao động

Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao động

Nguồn lao động là một bộ phận của dân số có khả năng lao động bao gồm dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và dân số ngoài độ tuổi lao động đang làm việc thường xuyên trong nền kinh tế quốc dân

Hình 1.5: Tác động của nguồn lao động đến phát triển kinh tế

b/ Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng lao động

- Dân số: Được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động: quy mô và

cơ cấu của nguồn lao động

- Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động: Đây là số % của dân số trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động trong tổng số nguồn nhân lực Nói lên tình trạng

số người trong độ tuổi lao động không có nhu cầu làm việc vì đang đi học, đang làm việc nội trợ hoặc đang trong tình trạng khác

Không có khả năng Có khả năng Đang làm việc Không làm việc lao động lao động thường xuyên thường xuyên

Nguồn lao động

Trang 25

Thất nghiệp gồm những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm, nó sẽ ảnh hưởng đến số người đang làm việc và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của nền kinh tế

Ở các nước đang phát triển, số người làm việc trong khu vực nông thôn hoặc khu vực thành thị không chính thức tuy có việc làm nhưng với năng suất thấp, thời gian làm việc không đầy đủ mà phần lớn mà là chia việc để làm, do vậy để biểu thị loại thất nghiệp này người ta gọi là thất nghiệp trá hình

- Thời gian lao động: thường được tính bằng số ngày làm việc trong một năm, số giờ làm việc trong tuần hoặc số giờ làm việc trong ngày Xu hướng chung

là thời gian làm việc sẽ giảm đi khi trình độ phát triển kinh tế được nâng cao

c/ Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động

Số lượng lao động mới phản ánh được một mặt sự đóng góp của lao động vào phát triển kinh tế Mặt khác cần được xem xét đến chất lượng lao động, đó là yếu tố làm cho lao động có năng suất cao hơn Chất lượng được nâng cao nhờ giáo dục, đào tạo, nhờ sức khoẻ của người lao động, nhờ việc bố trí điều kiện lao động tốt hơn

* Vai trò của lao động với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế

a/ Đặc điểm lao động ở các nước đang phát triển

- Số lượng lao động tăng nhanh

- Phần lớn lao động đang làm việc trong khu vực nông nghiệp

- Hầu hết người lao động chưa được sử dụng

b/ Vai trò của lao động với tăng trưởng và phát triển kinh tế

- Vai trò hai mặt của lao động trong quá trình phát triển kinh tế: Lao động, một mặt là một bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể thiếu được của quá trình sản xuất Mặt khác lao động là một bộ phận của dân số những người được hưởng lợi ích của sự phát triển

- Lao động với sự tăng trưởng kinh tế:

Một mặt, lao động tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua các chỉ tiêu về

số lượng lao động, trình độ chuyên môn, sức khoẻ Người lao động và sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố đầu vào khác để làm tăng mức sản lượng đầu ra

Mặt khác, lao động lại thể hiện tập trung qua mức tiền lương của người lao động Khi tiền lương của người lao động tăng có nghĩa là chi phí sản xuất tăng phản ánh khả năng sản xuất tăng lên Đồng thời khi mức tiền tăng làm cho thu nhập có thể

Tổng số người thất nghiệp 100%

Nguồn lao động

Tỷ lệ thất nghiệp =

Trang 26

sử dụng của người lao động cũng tăng, do đó khả năng chi tiêu của người tiêu dùng cũng tăng lên

1.4.1.3 Tài nguyên và môi trường với sự tăng trưởng kinh tế

* Phân loại tài nguyên

Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố của tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến và sử dụng để tạo ra các sản phẩm vật chất

- Theo công dụng bao gồm:

+ Nguồn năng lượng

- Theo khả năng tái sinh, bao gồm:

+ Tài nguyên có khả năng tái sinh thông qua hoạt động của con người: Nguồn tài nguyên rừng và các loại động thực vật

+ Tài nguyên có khả năng tái sinh vô tận trong thiên nhiên: Nguồn năng lượng mặt trời, thuỷ triều, sức gió, thuỷ năng sông ngòi và các nguồn nước, không khí

+ Tài nguyên không có khả năng tái sinh bao gồm những tài nguyên có quy

mô không đổi như đất đai và những tài nguyên khi sử dụng hết dần như các loại khoáng sản, dầu khí

* Vai trò của nguồn tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế

- Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong giai đoạn đầu của các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm có được từ nguồn tài nguyên chưa qua sơ chế hoặc ở dạng sơ chế Nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển kinh tế nông nghiệp, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến

- Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích luỹ vốn và phát triển ổn định Việc tích luỹ vốn đối với hầu hết các nước đòi hỏi phải trải qua một quá trình lâu dài, liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên với những nước đã được thiên nhiên ưu đãi nguồn tài nguyên lớn, đa dạng có thể rút ngắn quá trình tích luỹ vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hóa nền kinh tế tạo nguồn vốn tích ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Sự

Trang 27

giàu có về tài nguyên, là cơ sở để phát triển nhiều ngành kinh tế, ít bị phụ thuộc vào nguồn tài nguyên, vốn là một yếu tố không ổn định trên thị trường thế giới Điều này cho phép những nước có nguồn tài nguyên phong phú có thể tăng trưởng trong những điều kiện ổn định.Trong khi những nước ít may mắn hơn về tài nguyên phải căng thẳng để điều chỉnh sự lên xuống về giá cả khi phải nhập khẩu các nguồn nguyên liệu

1.4.1.4 Khoa học công nghệ với tăng trưởng và phát triển kinh tế

* Cách mạng khoa học kĩ thuật làm thay đổi sâu sắc phương thức lao động của con người

Loài người đã trải qua hàng nghìn năm trong giai đoạn thứ nhất của nền văn minh, giai đoạn của nền nông nghiệp thủ công với công cụ lao động chủ yếu công

cụ thô sơ sử dụng nguồn năng lượng của cơ thể và xác vật

Giai đoạn thứ hai của nền văn minh nhân loại là giai đoạn của nền sản xuất

cơ khí hóa Sự phát triển của giai đoạn này gắn liền với những thành tựu khoa học

kĩ thuật giúp cho con người khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng to lớn trong thiên nhiên vào các hoạt động sản xuất (tự động hóa các vận động cơ giới bằng các nguồn năng lượng) Đó là đặc trưng chủ yếu của công cụ lao động trong giai đoạn văn minh cơ khí hóa

Ngày nay với máy tính điện tử, với các thiết bị điều khiển tự động, với các rô bốt thông minh, loài người đang tiến tới giai đoạn thứ ba của nền văn minh nhân loại, đó là tự động hóa quá trình hoạt động kinh tế với sự giúp đỡ của tin học

* Cách mạng khoa học kĩ thuật đưa văn minh đến cho cuộc sống con người: Cách mạng công nghệ không ngừng cải thiện lao động của con người từ lao động chân tay với việc áp dụng ngày càng phổ cập kĩ thuật cơ giới hóa và tự động hóa, đến việc lao động trí óc với việc thâm nhập ngày càng rộng rãi các máy tính và các phương tiện thông tin viễn thông vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội

Cách mạng công nghệ có ảnh hưởng to lớn đến lối sống con người Các dụng

cụ gia đình dần dần được tự động hóa và điện tử hóa, các dịch vụ gia đình được cung ứng tiện lợi, đã làm giảm nhẹ rất nhiều công việc nội trợ của phụ nữ, để họ giành nhiều thời gian cho công việc khác như giáo dục con cái, học tập, giải trí, sinh hoạt xã hội

Với các phương tiện nghe nhìn và thông tin hiện đại đang hình thành một kết cấu hạ tầng văn hóa mới, có thể giao tiếp truyền đạt đi khắp nơi trên thế giới

* Cách mạng khoa học kĩ thuật tác động đến quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới cả chiều sâu lẫn chiều rộng Những vấn đề như: Năng lượng, môi trường, nguyên liệu sản xuất, dân số lương thực thực phẩm, các căn bệnh dịch hiểm nghèo không còn là vấn đề của từng quốc gia mà ngày càng có tính toàn

Trang 28

cầu Để khai thác vũ trụ, nam cực, đại dượng, chế ngụ bầu khí quyển cần phải

có sự nỗ lực chung của nhiều nước Cách mạng khoa học kĩ thuật đã mở ra những khả năng to lớn, để khai thác những khả năng to lớn này các nước cần phải hợp tác với nhau, thể hiện sự gia tăng về phân công lao động, chuyển giao công nghệ quan hệ xuất - nhập khẩu nhằm phát huy thế mạnh của từng nước trên thị trường quốc tế

* Cách mạng khoa học - kĩ thuật với sự phát triển kinh tế theo chiều sâu:

Trước đây tồn tại một thời gian quan điểm sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tài nguyên, vốn sản xuất và lao động, đó là quan điểm phát triển kinh tế theo chiều rộng

Từ giữa những năm 70 của thế kỉ XX khi bước vào giai đoạn 2 của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 2, đứng trước vấn đề môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên thì những yếu tố khoa học công nghệ trở nên quan trọng Đặc điểm của yếu tố này là khó xác định sự đóng góp trực tiếp, nhưng nó thể hiện qua việc sử dụng cụ hiệu quả các yếu tố khai thác: tăng lao động, tăng hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao năng suất máy móc, thiết bị Đây là quan điểm phát triển kinh tế theo chiều sâu Quan điểm này được thể hiện qua hàm sản xuất của Cobb - Douglas:

Y= T.L K.R Trong đó:

Y: Kết quả đầu ra của hoạt động kinh tế (GDP)

, ,  : Tỉ lệ đóng góp của các yếu tố đầu vào

T: Khoa học - công nghệ; L: Lao động; K : Vốn; R: Tài nguyên

Hàm sản xuất này phân biệt 2 yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế:

Thứ nhất là những yếu tố này tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, bao gồm: K, L, R Thứ hai là yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng của các yếu tố trên, đó là T

Ngoài các yếu tố sản xuất, ngày nay người ta còn đưa ra một loạt các nhân tố kinh tế khác tác động tới tổng mức cung, như lợi thế do quy mô sản xuất, chất lượng lao động, khả năng tổ chức quản lý

1.4.2 Các nhân tố phi kinh tế

Khi đề cập đến khái niệm phát triển kinh tế, ngoài những tiêu chuẩn thông thường để đánh giá sự tiến bộ xã hội, về địa vị của mỗi cá nhân, gia đình, tập thể trong cộng đồng xã hội Điều đó đôi khi trở thành mục tiêu của các quốc gia dân tộc, tạo ra một động lực mạnh hơn cả những thế lực kinh tế thông thường, hoặc chi phối và làm biến dạng những qui luật của các mối quan hệ kinh tế vốn có Đương nhiên các tác động đã cùng chiều thì tạo ra sự thúc đẩy, ngược lại thì sẽ cản trở, xung đột

Trang 29

Các nguồn lực không trực tiếp nhằm mục tiêu kinh tế nhưng gián tiếp có ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và phát triển kinh tế gọi là các nhân tố phi kinh tế Nó có đặc điểm:

- Không thể lượng hóa được các ảnh hưởng của nó

- Phạm vi ảnh hưởng rộng và phức tạp trong xã hội, không thể đánh giá một cách tách biệt rõ rệt được và không có ranh giới rõ ràng

1.4.2.1 Cơ cấu dân tộc

Đề cập các tộc người khác nhau cùng sống tạo nên một cộng đồng quốc gia

Cơ cấu này có thể chia theo chủng tộc (sắc tộc, bộ tộc) theo khu vực sinh sống lâu đời tạo nên những khác biệt nhất định (miền núi, miền thảo nguyên, miền đồng bằng ) theo tỉ trọng số lượng trong tổng số dân số (thiểu số, đa số )

Do điều kiện sống khác nhau đã tạo nên sự khác biệt về trình độ tiến bộ văn minh, về mức sống vật chất và về địa lý, vị trí kinh tế - xã hội trong cộng đồng

Sự phát triển tổng thể kinh tế có thể đem lại những biến đổi kinh tế có lợi cho dân tộc này nhưng bất lợi cho dân tộc khác Đó là những nguyên nhân nảy sinh ra xung đột giữa các dân tộc Do vậy lấy tiêu chuẩn bình đẳng, cùng có lợi cho tất cả các dân tộc, nhưng nó đảm bảo được bản sắc, truyền thống tốt đẹp của mỗi dân tộc, khắc phục sự xung đột và sự mất ổn định chung của cộng đồng Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế

1.4.2.2 Cơ cấu tôn giáo

Vấn đề tôn giáo đi đôi với vấn đề dân tộc, mỗi tộc người có thể theo một tôn giáo Trong một quốc gia có thể có nhiều tôn giáo Mỗi đạo giáo có những quan niệm, triết lý tư tưởng riêng, ăn sâu vào cuộc sống dân tộc từ lâu đời, tạo ra những ý thức tâm lý - xã hội riêng của dân tộc Nhưng ý thức tôn giáo thường là cố hữu, ít thay đổi theo sự biến đổi của sự phát triển của xã hội Những thiên kiến của tôn giáo nói chung thường có ảnh hưởng tới sự tiến bộ xã hội tuỳ theo mức độ, song có thể

có sự hoà hợp, nên có chính sách đúng đắn của Chính phủ

1.4.2.3 Đặc điểm văn hóa - xã hội

Đây là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến nhiều quá trình phát triển của đất nước Nói đến văn hóa dân tộc là một khái niệm rất rộng, bao hàm nhiều mặt từ các tri thức phổ thông, đến các tích luỹ tinh hoa của nhân loại về khoa học nghệ thuật văn học, lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những tập tục tốt đẹp đã xây dựng được, mà mọi người thừa nhận từ lâu đời Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia

Nói chung trình độ văn hóa của mỗi dân tộc là một nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng của lao động, của kĩ thuật và công nghệ, của trình độ quản

Trang 30

lý kinh tế - xã hội Vì thế trình độ văn hóa cao là mục tiêu của sự phát triển Để phát triển lâu dài và ổn định, đầu tư cho phát triển văn hóa được coi là đầu tư cần thiết nhất và đi trước một bước so với đầu tư sản xuất

1.4.2.4 Các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội

Đây cũng là một nhân tố quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Nó thể hiện như một lực lượng đại diện ý chí của một cộng đồng, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt

ra Thể chế được thông qua các mục tiêu phát triển dự kiến, các nguyên tắc quản lý kinh tế - xã hội, các luật pháp, các chế độ, chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện

Một thể chế chính trị xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng Ngược lại một thể chế không phù hợp, sẽ gây ra những cản trở, mất ổn định thậm chí đi đến chỗ phạm vi những quan hệ kinh tế cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra xung đột chính trị, xã hội Một thể chế phù hợp với phát triển hiện đại phải thể hiện ở các mặt:

+ Phải có tính năng động, linh hoạt, mềm dẻo luôn thích nghi được với những biến động phức tạp do tình hình thế giới và trong nước khó lường trước

+ Phải đảm bảo sự ổn định của đất nước, khắc phục được những mâu thuẫn

và xung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển

+ Phải tạo cho nền kinh tế mở một sự hoạt động có hiệu quả, nhằm tranh thủ được vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của thế giới, là cơ sở của sự tăng tốc trong quá trình phát triển

+ Tạo ra một sự kích thích mạnh mẽ mọi tiềm lực vật chất trong nước hướng vào đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu

+ Tạo được đội ngũ đông đảo những người có năng lực quản lý, có trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến đủ sức lựa chọn và áp dụng những thành công các kĩ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất trong nước, cũng như đổi mới cơ chế quản

lý kinh tế

Dù quan trọng đến đâu, thể chế cũng chỉ tạo điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng, tức là tạo ra những điều kiện thuận lợi để hướng các hoạt động theo hướng

có lợi và hạn chế các mặt bất lợi

1.4.3 Vai trò của nhà nước với phát triển kinh tế

1.4.3.1 Sự cần thiết cho lựa chọn con đường phát triển kinh tế

a) Đặc trưng của các nước đang phát triển

- Mức thu nhập bình quân đầu người thấp Các nhà kinh tế thế giới thường

Trang 31

lấy mức thu nhập bình quân đầu người 2.000USD làm mốc, đạt được mức này phản ánh sự biến đổi về chất trong hoạt động kinh tế và đời sống xã hội, phản ánh khả năng giải quyết những nhu cầu cơ bản của con người

Hiện nay, hầu hết các nước đang phát triển chưa đạt được mức thu nhập đến 2.000 USD, còn khoảng 50 nước thu nhập dưới 6.000 USD/người Điều này phản ánh khả năng hạn chế của các nước đang phát triển trong việc giải quyết các nhu cầu cơ bản về vật chất, văn hóa, giáo dục, y tế

- Tỉ lệ tích luỹ thấp để có nguồn vốn tích luỹ thì cần phải hy sinh tiêu dùng, nhưng khó khăn là ở chỗ các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp , hầu như chỉ đủ đáp ứng những nhu cầu cơ bản tối thiểu Vì vậy việc giảm tiêu dùng để tích luỹ là rất khó khăn Ở các nước phát triển thường giành từ 20 - 30% thu nhập để tích luỹ, trong khi đó ở các nước nông nghiệp chỉ có khả năng tiết kiệm dưới 10 % thu nhập Nhưng phần lớn phần tiết kiệm này là dùng để trang trải nhà ở và trang thiết bị khác cho dân số tăng lên Do vậy hạn chế quy mô cho tích luỹ phát triển kinh tế Hoạt động kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm

tỉ trọng lớn, kĩ thuật sản xuất thủ công, lạc hậu Mà nền kinh tế muốn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đều phải có sự đóng góp rất lớn của ngành công nghiệp với trình độ sản xuất tiên tiến hiện đại, trình độ quản lý thành thạo

- Áp lực về dân số và việc làm là rất lớn Dân số đang phát triển vốn đã đông,

sự bùng nở về dân số ở các quốc gia này tạo ra một hạn chế lớn cho phát triển kinh

tế Tỉ lệ tăng dân số thường ở mức cao hơn tỉ lệ tăng trưởng kinh tế nên đã làm cho mức sống của nhân dân ngày càng giảm Thu nhập giảm tất yếu dẫn đến sức mua giảm và tỉ lệ tích luỹ cũng giảm, sự mất cân đối giữa tích luỹ và đầu tư đã làm hạn chế sản xuất và dẫn đến thất nghiệp trầm trọng gây mất ổn định xã hội, nợ nước ngoài gia tăng

b) Sự lựa chọn con đường phát triển kinh tế là rất cần thiết

Những đặc trưng trên đây đã vạch rõ ra những trở ngại rất lớn, đối với sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo ra "Vòng luẩn quẩn" của sự nghèo khổ làm cho khoảng cách giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng gia tăng:

Trang 32

Hình 1.6: Vòng luẩn quẩn cho sự nghèo khổ

Đứng trước tình hình này đòi hỏi các nước đang phát triển phải có biện pháp

để phá vì "vòng luẩn quẩn" Trong khi tìm kiếm con đường phát triển đã dẫn đến những xu hướng khác nhau Có những nước vẫn tiếp tục rơi vào tình trạng trì trệ, thậm chí phát triển tụt lùi, xã hội rối ren, như một số nước Châu phi cận Sahara, hay một số nước Nam Á Có những nước đạt tăng trưởng khó, đa số đất nước thoát khái

"vòng luẩn quẩn", nhưng rồi lại rơi vào vòng luẩn quẩn mới như Philipin Bên cạnh

đó có những nước đã tạo tốc độ tăng trưởng rất nhanh, rút ngắn khoảng cách thậm chí đuởi kịp các nước đang phát triển, như các nước NICs Châu Á, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore và Hàn Quốc Gần đây, Thái Lan, Malaixia, Trung Quốc cũng đang vươn lên trong việc lựa chọn con đường phát triển đúng dắn

Ở Lào trong quá trìng tìm kiếm con đường phát triển, Chính phủ đã tiến hành chương trình cải cách toàn diện hệ thống kinh tế vào đầu năm 1986 Thành công bư-

ớc đầu là đã giảm được tỷ lệ lạm phát từ 308 % xuống còn 35% trong năm 1989 Ngoài ra, sự tự do hóa thương mại và phá giá kíp tiền đã đem lại kim ngạch xuất khẩu tăng gấp đôi Tiếp đó kế hoặch 5 năm (2000-2005) đã đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao: 8,2% / năm

Tuy vậy, đổi mới và đi lên là một quá trình gian khổ và khó khăn, đặc biệt là chúng ta còn bộc lộ nhiều yếu kém, thêm vào đó là những thách thức lớn đang chờ đợi, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực giữa năm 1997 đã tác động mạnh đến nền kinh tế Lào, làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 9,3%(1996) xuống 8,2 %(1997), 5,8%(1998), 4,8%(1999), 6,7%(2000) Đây quả là một thách thức cho các nhà nghiên cứu và hoạch định kinh tế phải tìm ra một mô hình phù hợp cho quá trình phát triển kinh tế ở Lào

1.4,3.2 Những cơ sở của sự lựa chọn con đường phát triển kinh tế phù hợp

Cơ sở khoa học của việc lựa chọn mô hình kinh tế là phải dựa trên những nguyên lý cơ bản của sự phát triển kinh tế, nghiên cứu kinh nghiệm lựa chọn mô hình phát triển của các nước và dựa vào bối cảnh thực tế đang đặt ra ở trong nước

Thu nhập thấp

Trình độ kỹ thuật thấp

Tỷ lệ tích luỹ thấp Năng suất thấp

Trang 33

và ngoài nước Trong quá trình phát triển của các nước trên thế giới cho đến nay đã tồn tại cơ chế hoạt động khác nhau, đó là: Cơ chế kế hoạch tập trung, cơ chế thị tr-ường tự do Tuy nhiên, hai cơ chế kinh tế trong quá trình hoạt động đều dẫn tới những cuộc khủng hoảng khó lường Do đó đã xuất hiện cơ chế đứng giữa hai cơ chế đó: Nền kinh tế hỗn hợp hầu hết các nền kinh tế hiện nay phát triển dưới hai lực tác dụng là cơ chế thị trường và sự điều tiết của Nhà nước Để tăng trưởng nhanh, cần mở rộng thị trường và phát huy sức mạnh do cơ chế thị trường điều tiết; đồng thời luôn luôn có ý thức đổi mới và điều tiết từ phía Nhà nước bằng sự nhận thức khoa học nhằm cho sự phát triển đi đóng mục tiêu đã vạch ra

Lý thuyết phát triển đã cung cấp nhiều mô hình tăng trưởng được rút ra từ thực tế trong 2 thế kỉ qua, các mô hình đều đưa ra nhiều giả định và những mô hình đều nhấn mạnh vào một yếu tố như là: lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay cần phải biết phát huy lợi thế của từng nhân tố và tạo ra sức mạnh tổng hợp bằng cách kết hợp các yếu tố đó Trong chiến lược phát triển có: Chiến lược phát triển khép kín và chiến lược kinh tế mở Ngày nay các nước đang thực hiện phối hợp giữa chúng để chuyển tiếp và hỗ trợ cho nhau trong quá trình phát triển

1.4.3.3 Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế

Trong mô hình phát triển kinh tế, Chính phủ (G) cũng là một nhân tố như các tác nhân: Người tiêu dùng (C), người sản xuất (I) và người nước ngoài (X - M) trong việc tạo ra giá trị sản lượng

Y = C + I + G + (X - M) Tuy nhiên, trong nền kinh tế hỗn hợp, Chính phủ có vai trò quan trọng hơn

Về phương diện tác nhân kinh tế, Chính phủ vừa là người tiêu dùng vừa là người sản xuất và do đó cũng tham gia vào hành vi của xuất nhập khẩu Do vậy, thực tế Chính phủ tham gia vào tổng cung (AS) và tổng cầu (AD) và điều hoà giá cả Những mối quan hệ này cho thấy vai trò rất lớn của Chính phủ trong hoạt động của thị trường

Về phương diện người quản lý vĩ mô, nhà nước thông qua thể chế, các chính sách và công cụ để tạo ra điều kiện cho sự ổn định và phát triển kinh tế

Để thể hiện vai trò đó, Nhà nước thực hiện các chức năng sau:

- Đảm bảo các lợi ích công cộng của xã hội: Đó là đảm bảo trật tự an ninh, quốc phòng, bảo đảm phát triển sự nghiệp phúc lợi công cộng của xã hội như giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, cấu trúc hạ tầng xã hội và bảo vệ môi trường

- Thực hiện ngân sách quốc gia:

Nhà nước phải tạo ra các nguồn thu cho ngân sách (chủ yếu là thuế) đó là nguồn đầu vào để tạo ra các hàng hóa công cộng và chi tiêu thường xuyên của

Trang 34

Chính phủ cho các hoạt động, đó cũng là nguồn dự trữ đảm bảo cho sự cân đối và

ổn định trong quá trình phát triển

- Tổ chức và phối hợp các hoạt động trên phạm vi quốc gia:

Căn cứ vào những mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, Chính phủ đề ra các chế độ,

tổ chức bộ máy làm việc ở các cấp, phối hợp với guồng máy kinh tế chung, tạo ra những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển đạt được lợi ích mong muốn của xã hội

- Thực hiện sự phân bố, điều chỉnh quyền công dân và đảm bảo dân chủ và công bằng xã hội:

Thông qua các chính sách về thu nhập, về bảo hiểm và giá cả nhằm điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư Đồng thời qui định rõ các quyền của công dân, đảm bảo cho cá nhân, tổ chức một sự tự do trong hoạt động kinh tế, chống lại

sự độc quyền, đảm bảo sự ổn định về sở hữu tài sản Để có thể phát huy mọi khả năng về nguồn vốn, công nghệ và nhân lực cho sự phát triển

- Tăng cường và hoàn thiện các quan hệ thị trường tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng nhanh chóng:

Thị trường, nơi quan hệ cung - cầu được thực hiện thông qua giá cả, đã tạo ra một động lực thúc đẩy sản xuất, phân phối và sử dụng cụ hiệu quả các nguồn lực

Do vậy phải có chính sách và luật để mở rộng hơn nữa quy mô của thị trường, tạo ra

sự giao lưu thương mại, nhằm kích thích sự đổi mới công nghệ và tăng thêm đầu tư, dẫn tới sự tăng trưởng nhanh

Đồng thời phải bổ xung những mặt yếu mà cơ chế thị trường không thể tạo ra được như các ngành sản xuất có tính chất xương sống của nền kinh tế, phân bổ đúng dắn nguồn nhân lực giữa thành thị và nông thôn, phát triển các cơ sở hạ tầng kĩ thuật và

xã hội

Bên cạnh đó phải hạn chế những mặt bất lợi cho xã hội mà cơ chế thị trường đưa lại, như khai thác tài nguyên thái quá đi đến phá hoại môi sinh, ô nhiễm môi tr-ường, sản xuất hàng giả, sản phẩm độc hại Hạn chế xu thế độc quyền trong sản xuất

và tiêu thụ, sự làm giàu phi pháp và sự phân phối không công bằng là nguyên nhân dẫn đến phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng tạo ra những xung đột cho xã hội

- Lựa chọn quy mô, bước đi và vạch ra kế hoặch chương trình phát triển, thúc đẩy có hiệu quả sự phát triển kinh tế

Ở các nước đang phát triển, sự thiếu vốn, thiếu lao động có kĩ thuật, thiếu công nghệ tiên tiến, cấu trúc xã hội bất hợp lý, chủ nghĩa phân lập, sự độc quyền đang là những trở ngại thực sự cho sự chuyển đổi Do vậy Nhà nước phải có sự lựa chọn quy mô đầu tư hợp lý, bước đi thích hợp nhằm phát triển các yếu tố kinh tế vốn yếu kém, thể hiện trong các chương trình kế hoạch phát triển, có các biện pháp

Trang 35

hiệu lực tác động vào các hoạt động kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển đóng hướng, đóng mục tiêu

1.5 Các mô hình tăng trưởng kinh tế

Các mô hình tăng trưởng kinh tế là một cách diễn đạt quan điểm cơ bản nhất

về sự phát triển kinh tế thông qua các biến số kinh tế và các mối liên hệ giữa chúng Mục đích của các mô hình kinh tế này là mô tả phương thức vận động của nền kinh

tế thông qua mối liên hệ nhân quả giữa các biến số quan trọng trong quá trình phát triển sau khi đã tước bỏ đi sự phức tạp không cần thiết Những diễn đạt này có thể dưới dạng lời văn, sơ đồ hoặc toán học

1.5.1 Mô hình của K.Marx về tăng trưởng kinh tế

1.5.1.1 Các yếu tố tăng trưởng kinh tế

Theo K.Marx các yếu tố quá trình tái sản xuất là: đất đai, lao động và tiền vốn, tiến bộ kĩ thuật Trong đó ông đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư K.Marx cho rằng sức lao động đối với nhà tư bản là một hàng hóa đặc biệt và được các nhà tư bản mua bán trên thị trường và được tiêu thụ trong quá trình sản xuất Mục đích của các nhà tư bản là tăng giá trị thặng dư, cho nên họ tìm mọi cách tăng giờ làm của công nhân, giảm tiền công của công nhân, hoặc nâng cao năng suất lao động bằng cải tiến kĩ thuật Hai phương pháp trên là giới hạn cho nên để tăng giá trị thặng dư nhà tư bản chủ yếu dựa vào cải tiến kĩ thuật Vì vậy các nhà tư bản tiết kiệm phần lợi nhuận để tăng thêm vốn đầu tư bằng cách chia lợi nhuận làm 2 phần: một phần giành cho tiêu dùng nhà tư bản, một phần

để tích luỹ phát triển sản xuất

1.5.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng

K.Marx chia nền kinh tế ra làm 2 khu vực: khu vực sản xuất vật chất và khu vực sản xuất phi vật chất Trong đó chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới sáng tạo ra sản phẩm xã hội, vì vậy tổng sản phẩm xã hội chỉ toàn bộ sản phẩm sản xuất trong một thời gian nhất định, về mặt hiện vật bao gồm: tư liệu sản xuất

và tư liệu tiêu dùng, về giá trị bao gồm: tư bản bất biến, tư bản khả biến và tư bản thặng dư (C+V+m) Còn thu nhập quốc dân bao gồm tư bản khả biến và giá trị thặng dư (V+m)

1.5.1.3 Chu kỳ sản xuất và vai trò của chính sách kinh tế với phát triển

Marx bác bỏ lý thuyết cổ điển "cung tạo nên cầu" và dự đoán về tình trạng bế tắc của sự tăng trưởng do sự hạn chế đất đai gây ra Theo ông nguyên tắc cơ bản của

sự vận động trên và hàng hóa trên thị trường là phải đảm bảo sự thống nhất giữa giá trị và hiện vật Lưu thông hàng hóa phải đảm bảo sự phù hợp giữa khối lượng hàng hóa mua và bán Nếu khối lượng cần bán và sức mua không phù hợp sẽ dẫn đến

Trang 36

khoảng cách, nếu khoảng cách này lớn sẽ gây khủng hoảng, mà trong xã hội tư bản thường là xảy ra khủng hoảng thừa Do vậy vai trò đặc biệt của chính sách phát triển kinh tế là nâng cao mức cầu hiện có

1.5.2 Mô hình của Keynes về tăng trưởng kinh tế

1.5.2.1 Nội dung cơ bản của mô hình

* Sự cân bằng của nền kinh tế:

* Keynes có thể đạt được và duy trì một sự cân đối ở một mức sản lượng nào đó, dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người, tại nơi mà những khoản đầu tư mới cho chỉ tiêu cho đầu tư được hình thành từ các khoản tiết kiệm đang được đưa vào hệ thống

Hình 1.7: Keynes cho rằng nền kinh tế có thể đạt được mức cân bằng dưới mức

sản lượng tiềm năng (Yo < Y*)

Keynes cũng cho rằng có hai con đường tổng cung: AS - LR phản ánh mức sản lượng tiềm năng, mà thông thường sản lượng đạt được ở mức cân bằng nhỏ hơn sản lượng tiềm năng (Y0 < Y*)

* Vai trò của tổng cầu trong việc xác định sản lượng

Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản lượng Theo ông thu nhập của các cá nhân sử dụng để cho tiêu dùng và tích luỹ Nhưng có

xu hướng chung là khi mức thu nhập tăng thì xu hướng tiêu dùng giảm và xu hướng trung bình tăng Việc xu hướng tiêu dùng giảm làm cho cầu giảm và đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự trì trệ trong hoạt động kinh tế Vì vậy ông khuyên nên phát triển nhiều hình thức hoạt động kinh tế để nâng cao tổng cầu và việc làm trong xã hội

* Vai trò của chính sách kinh tế với phát triển

Ông cho rằng Nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng các chính sách kinh tế

để làm dịu khủng hoảng và thất nghiệp, đồng thời nâng cao khả năng tiêu dùng của

xã hội Trước hết ông đề nghị sử dụng ngân sách Nhà nước để kích thích đầu tư

Trang 37

thông qua đơn đặt hàng của Nhà nước và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp Để kích thích đầu tư có hiệu quả phải giảm lãi suất và tăng lợi nhuận, đồng thời thực hiện lạm phát có mức độ Ông đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế khóa, công trãi Nhà nước, qua đó để bổ xung cho ngân sách Ông tán thành đầu tư cho Chính phủ vào công trình công cộng và các biện pháp khác như một loại bơm trợ lực khi đầu tư tư nhân giảm

1.5.2.2 Mô hình Harrod - Dmar

Nếu gọi đầu ra là Y, tỉ lệ tăng trưởng của đầu ra là g:

g = Y/YtNếu gọi s là tỉ lệ tích luỹ trong GDP và mức tích luỹ là s:

s = St/ Yt

Vì tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư cho nên về lý thuyết, đầu tư luôn bằng tiết kiệm (St = It)

Đầu tư chính là cơ sở tạo ra vốn sản xuất, do đó It = Kt + n

Nếu gọi k là tỉ số gia tăng giữa vốn và đầu ra, ta sẽ có

k = Kt + n / Y hay k = It/ Y

Do đó ta có: g = s/k

Ở đây k = s/g được gọi là hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn đầu ra) Hệ số này nói lên rằng: Vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, tiết kiệm của nhân dân và của các công ty là nguồn gốc của đầu tư Hệ số này cũng phản ánh trình độ kĩ thuật của sản xuất và là số đo năng lực sản xuất của đầu tư

Mô hình Harrod - Domar sự tăng trưởng là do kết quả của sự tương tác giữa tiết kiệm với đầu tư và đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế Theo Harrod - Domar chính đầu tư phát sinh ra lợi nhuận và gia tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế

1.5.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại

Dựa vào lý thuyết của Keynes, Chính phủ các nước đã sử dụng chính sách kinh tế của Nhà nước để hạn chế mức độ lạm phát và thất nghiệp, làm tăng mức sản lượng tiềm năng Nhưng sau một thời gian áp dụng lý thuyết này các nước có xu hướng nhấn mạnh vai trò của chính sách kinh tế, do đó lại hạn chế mức độ tự điều chỉnh của thị trường và xuất hiện những trở ngại lớn cho quá trình tăng trưởng và phát triển Trong bối cảnh đó một trường phái kinh tế mới ra đời, các nhà kinh tế của trường phái này ủng hộ xây dựng nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế và nhà nước tham gia điều

 Y It  Y It It

Yt It Yt Yt  Y

= = :

Trang 38

tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường Thực chất nền kinh

tế hỗn hợp chính là sự xích lại gần nhau của học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết của Keynes, mà đại diện tiêu biểu là P.A Samuelson trong tác phẩm "Kinh tế học" Nội dung cơ bản của thuyết này là:

1.5.3.1 Sự cân bằng của nền kinh tế

Kinh tế học hiện đại quan niệm về sự cân bằng kinh tế dựa theo mô hình của Keynes, nghĩa là sự cân bằng kinh tế không nhất thiết phải đạt tới sản lượng tiềm năng, mà thường dưới mức sản lượng tiềm năng, trong điều kiện hoạt động bình thường nền kinh tế vẫn còn thất nghiệp và lạm phát Nhà nước cần xác định được tỉ

lệ thất nghiệp tự nhiên và mức độ lạm phát có thể chấp nhận được để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, còn các tổ chức kinh doanh sẽ cố gắng sản xuất để đạt được mức sản lượng càng gần mức sản lượng tiềm năng càng tốt

1.5.3.2 Các yếu tố tác động đến cân bằng kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại thống nhất với cách xác định của mô hình kinh tế tân cổ điển về các yếu tố tác động đến sản xuất Họ cho rằng tổng mức cung của nền kinh tế được xác định bởi yếu tố đầu vào của sản xuất, đó là nguồn lao động (K), tài nguyên thiên nhiên (R), và khoa học công nghệ (T)

t: Phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ

k, l, r: Tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cũng thống nhất với tân cổ điển về mối quan hệ giữa các yếu tố Các nhà sản xuất, kinh doanh có thể lựa chọn kĩ thuật

sử dụng nhiều vốn hoặc kĩ thuật hoặc sử dụng nhiều lao động và do đó lý thuyết này cũng thống nhất với mô hình kinh tế của Harrod - Domar về vai trò của vốn đầu tư với tăng trưởng kinh tế Samuelson coi những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hiện đại là " Kĩ thuật công nghiệp tiên tiến hiện đại dựa vào sử dụng vốn lớn" Do đó cơ

sở để phát huy tác dụng của các yếu tố khác là vốn, nó là cơ sở để tạo thêm việc làm, để có công nghệ tiên tiến Vì vậy trong tính toán kinh tế ngày nay hệ số ICOR vẫn được coi là cơ sở để xác định tỉ lệ vốn đầu tư cần thiết phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế

k = It/Y = Kt + n/Y và g = s/k Trong đó:

Trang 39

1.5.3.3 Vai trò của Chính phủ trong việc phát triển kinh tế

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là yếu tố cơ bản điều tiết hoạt động của nền kinh tế Sự tác động qua lại giữa tổng mức cung và tổng mức cầu tạo ra mức thu nhập thực tế, công ăn việc làm tỉ lệ thất nghiệp, mức giá tỉ

lệ lạm phát, đó là cơ sở cơ bản để giải quyết ba vấn đề của nền kinh tế

Mặt khác, vai trò ngày càng tăng lên của Chính phủ trong đời sống kinh tế không chỉ là sự đòi hỏi can thiệp vào những khuyết tật của thị trường, mà còn vì các mục tiêu xã hội khác

Theo Samuelson, trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, Chính phủ có 4 chức năng cơ bản:

- Thiết lập khuôn khổ luật pháp

- Xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô

- Tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế

- Thiết lập các chương trình tác động tới việc phân phối thu nhập

Chính phủ cần tạo ra môi trường ổn định để các doanh nghiệp và các hộ gia đình có thể tiến hành sản xuất và trao đổi sản phẩm một cách thuận lợi Chính phủ cũng cần đưa ra những định hướng cơ bản về phát triển kinh tế cho từng thời kì và

sử dụng các công cụ như thuế quan, tín dụng, giá để hướng các ngành, các tổ chức kinh doanh có hiệu quả Chính phủ thường tìm cách duy trì công ăn, việc làm ở mức cao bằng cách đưa ra các chính sách thuế, chi tiêu hợp lý Đồng thời khuyến khích một tỉ lệ tăng trưởng kinh tế vững chắc, chống lạm phát và ô nhiễm môi trường, thực hiện phân phối thu nhập lại của cải giữa các doanh nghiệp và các hộ gia đình, qua thuế thu nhập, thuế tài sản; thực hiện các hoạt động phúc lợi công cộng

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH CHĂM PA SẮC TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.1 Tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tỉnh Chăm Pa Sắc từ năm 2012-2014

2.1.1 Tổng quan về các chỉ tiêu kinh tế - xã hội

2.1.1.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu

Trong thời gian qua, chúng ta thấy mức độ phát triển chung của toàn tỉnh thông qua một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu Dân số trung bình của tỉnh Chăm

Pa Sắc được xếp vào loại 3 trong các tỉnh thành của cả nước, dân số trung bình của tỉnh theo thống kê năm 2012 đạt 642,785 người Tuy nhiên tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên vẫn còn ở mức độ thấp so với cả nước, qua các năm 2011 đến nay tỷ lệ gia tăng dân số bình quân là 0.7% một năm, trong khi đó cả nước đã tăng lên 2.1% một năm và thế giới chỉ còn 1,4% một năm Do đó, dân số Chăm Pa Sắc bình quân năm

2012 là 642,785 người, nữ 326,926 người chiếm 50.9% của tổng dân số toàn tỉnh

Xét về một số chỉ tiêu xã hội như tổng số y, bác sỹ; số giường bệnh 548 thì Chăm Pa Sắc đã đạt trên mức trung bình của cả nước Vào thời điểm 30/9/2014, tổng số y, bác sỹ là 754 người; tổng số giường bệnh là 601 giường Chỉ số y, bác sỹ trên một vạn dân của tỉnh đạt khoảng 11,6 người, trong đó bình quân của cả nước chỉ số này đạt 1.53 người; số giường bệnh trên một vạn dân đạt 9.2 giường, trong khi đó cả nước mới chỉ đạt 10.06 giường trên một vạn dân

Ngày đăng: 28/01/2016, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Đường cong Lorenz - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Hình 1.1 Đường cong Lorenz (Trang 16)
Hình 1.2: Sơ đồ mối quan hệ các nhân tố kinh tế của sự tăng trưởng - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Hình 1.2 Sơ đồ mối quan hệ các nhân tố kinh tế của sự tăng trưởng (Trang 19)
Hình 1.3: Tác động vốn đầu tư đến tăng - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Hình 1.3 Tác động vốn đầu tư đến tăng (Trang 24)
Hình 1.6: Vòng luẩn quẩn cho sự nghèo khổ - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Hình 1.6 Vòng luẩn quẩn cho sự nghèo khổ (Trang 32)
Hình 1.7: Keynes cho rằng nền kinh tế có thể đạt được mức cân bằng dưới mức - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Hình 1.7 Keynes cho rằng nền kinh tế có thể đạt được mức cân bằng dưới mức (Trang 36)
Bảng 2.3: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Bảng 2.3 Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) (Trang 44)
Bảng 2.5: So sánh tốc độ tăng trưởng của tỉnh Chăm Pa Sắc với cả nước - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Bảng 2.5 So sánh tốc độ tăng trưởng của tỉnh Chăm Pa Sắc với cả nước (Trang 45)
Bảng 2.4: So sánh cơ cấu GDP của tỉnh Chăm Pa Sắc với cả nước (theo giá - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Bảng 2.4 So sánh cơ cấu GDP của tỉnh Chăm Pa Sắc với cả nước (theo giá (Trang 45)
Bảng 2.6a: Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế. - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Bảng 2.6a Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế (Trang 47)
Bảng 2.7a: Diện tích giao trồng chia theo cây lương thực. - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Bảng 2.7a Diện tích giao trồng chia theo cây lương thực (Trang 48)
Bảng 2.8: Giá trị sản xuất lâm nghiệp - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Bảng 2.8 Giá trị sản xuất lâm nghiệp (Trang 49)
Bảng 2.9: Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh (Theo giá cố định 2010) - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Bảng 2.9 Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh (Theo giá cố định 2010) (Trang 51)
Bảng  2.10: Tình hình nguồn đầu tƣ cơ bản của tỉnh Chăm Pa Sắc - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
ng 2.10: Tình hình nguồn đầu tƣ cơ bản của tỉnh Chăm Pa Sắc (Trang 51)
Bảng 2.11:  Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội: - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Bảng 2.11 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội: (Trang 52)
Bảng 2.12: Diện tích đất đai tỉnh Chăm Pa Sắc - Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh chăm pa sắc đến năm 2020”
Bảng 2.12 Diện tích đất đai tỉnh Chăm Pa Sắc (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w