Đối với hoạt động ngân hàng của các Tổ chức tín dụng trong cơ chế thị trường, do có những đặc thù về quản lý tài sản nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của
Trang 1B Ộ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
-
TCTD TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Quốc Hoàn, học viên lớp Cao học Chuyên ngành Tài chính Ngân hàng Khóa 2 Đợt 1 năm 2012(04-02.1.T)
Đề tài luận văn “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động Thanh tra tại chỗ các
T ổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa”
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không sao chép
Tác gi ả
Nguyễn Quốc Hoàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện, áp dụng tại Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Đào Duy Huân đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Xin tỏ lòng biết ơn Ban giám đốc, các đồng chí đồng nghiệp trong cơ quan đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này và hy vọng luận văn sẽ được áp dụng thực tế tai đơn vị thời gian tới
Cuối cùng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Đại học Tài chính - Marketing đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Khánh Hòa, tháng 9 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Quốc Hoàn
Trang 5MỤC LỤC 30T .iii 30T
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ 30T vi 30T
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 30T vii 30T
LỜI MỞ ĐẦU 30T 1 30T
1 Tính cấp thiết của đề tài 30T 1 30T
2 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu có trước 30T 2 30T
3 Mục tiêu nghiên cứu 30T 3 30T
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30T 3 30T
5 Phương pháp nghiên cứu 30T 3 30T
6 Ý nghĩa của đề tài 30T 4 30T
7 Kết cấu luận văn : 30T 4 30T
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 30T 5 30T
1.1 Khái niệm và một số nội dung cơ bản về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước 30T 5 30T
1.1.1 Khái niệm về thanh tra, giám sát Ngân hàng 30T 5 30T
1.1.1.1 Khái niệm về thanh tra, giám sát 30T 5 30T
1.1.1.2 Khái niệm về thanh tra, giám sát ngân hàng 30T 6 30T
1.1.2 Mục đích thanh tra, giám sát ngân hàng.30T 7 30T
1.1.3 Đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng.30T 8 30T
1.1.3.1 Đối tượng thanh tra ngân hàng.30T 8 30T
1.1.3.2 Đối tượng giám sát ngân hàng.30T 8 30T
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 30T 8 30T
1.1.5 Các phương thức thanh tra, giám sát ngân hàng 30T 9 30T
1.1.5.1 Giám sát từ xa 30T 9 30T
1.1.5.2 Thanh tra tại chỗ 30T 10 30T
1.1.5.3 So sánh sự khác nhau giữa Thanh tra tại chỗ và Giám sát từ xa 30T 12 30T
1.1.6 Sự cần thiết của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 30T 13 30T
1.1.6.1 Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia 30T 13 30T
1.1.6.2 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng 30T 13 30T
1.1.6.3 Duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng 30T 14 30T
1.1.6.4 Phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật và hạn chế những sai phạm trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng 30T 14 30T
1.1.6.5 Bảo đảm việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng 30T 14 30T
1.1.6.6 Phát hiện sơ hở, vướng mắc trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp
Trang 6khắc phục 30T 15 30T
1.1.7 Ý nghĩa của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 30T 15 30T
1.1.7.1 Góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống các
Tổ chức tín dụng 30T 15 30T
1.1.7.2 Góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng 30T 15 30T
1.1.7.3 Góp phần vào việc đảm bảo kỷ cương, kỷ luật và tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực tiền
tệ và hoạt động ngân hàng 30T 16 30T
1.2 Chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 30T 16 30T
1.2.1 Chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước 30T 16 30T
1.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá về chất lượng thanh tra ngân hàng 30T 17 30T
1.2.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng thanh tra tại chỗ ngân hàng 30T 20 30T
1.2.3.1 Nâng cao vị trí và vai trò của thanh tra tại chỗ ngân hàng 30T 20 30T
1.2.3.2 Tiết kiệm chi phí trong công tác thanh tra 30T 21 30T
1.2.3.3 Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam 30T 21 30T
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thanh tra tại chỗ Ngân hàng 30T 21 30T
1.2.4.1 Về phía Ngân hàng Nhà nước 30T 21 30T
1.2.4.2 Về bản thân Cơ quan thanh tra, giám sát Ngân hàng 30T 22 30T
1.2.4.3 Về phía các Tổ chức tín dụng 30T 23 30T
1.2.4.4 Về phía các cơ quan thanh tra của các Bộ, Ngành liên quan 30T 23 30T
1.2.4.5 Về phía Chính phủ 30T 23 30T
1.3 Các tiêu chuẩn cơ bản để hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng có hiệu quả 30T 24 30T
1.3.1 Nguyên tắc Basel 30T 24 30T
1.3.2 Hệ thống phân tích CAMEL 30T 27 30T
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30T 31 30T
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG THANH TRA TẠI CHỖ CÁC TCTD CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA 30T 32 30T
2.1 Giới thiệu về ngân hàng nhà nước chi nhánh Tỉnh Khánh Hòa 30T 32 30T
2.1.1 Giới thiệu về Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Tỉnh Khánh Hòa 30T 32 30T
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 30T 32 30T
2.1.3 Tình hình nguồn nhân lực và cơ cấu bộ máy tổ chức 30T 34 30T
2.2 Khái quát về Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Tỉnh Khánh Hòa 30T 35 30T
2.2.1 Giới thiệu về Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Tỉnh
Khánh Hòa 30T 35 30T
2.2.2 Cơ cấu, tổ chức của Thanh tra, giám sát Ngân hàng 30T 35 30T
2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu và mô hình tổ chức Thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa 30T 36 30T
2.3 Thực trạng công tác Thanh tra tại chỗ của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Tỉnh Khánh Hòa 30T 37 30T
2.3.1 Đánh giá tình hình hoạt động của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa 30T 37 30T
2.3.1.1 Tình hình huy động vốn của các Tổ chức tín dụng 30T 39 30T
2.3.1.2 Tình hình dư nợ tín dụng của các Tổ chức tín dụng 30T 40
Trang 72.3.1.4 Tình hình chất lượng tín dụng của các Tổ chức tín dụng 30T 42 30T
2.3.1.5 Tình hình mạng lưới hoạt động của các Tổ chức tín dụng 30T 44 30T
2.3.1.6 Tình hình phát hiện sai phạm và xử lý vi phạm 30T 44 30T
2.3.2 Những kết quả đạt được về công tác thanh tra tại chỗ của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Tỉnh Khánh Hòa 30T 53 30T
2.3.2.1 Về kiện toàn bộ máy thanh tra, giám sát theo mô hình mới 30T 53 30T
2.3.2.2 Về hoạt động thanh tra tại chỗ các Tổ chức tín dụng 30T 54 30T
2.3.3 Những tồn tại và nguyên nhân trong công tác thanh tra tại chỗ các Tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 30T 56 30T
2.3.3.1 Về cơ chế chính sách 30T 57 30T
2.3.3.2 Về tình hình nhân sự cán bộ làm công tác thanh tra, giám sát 30T 58 30T
2.3.3.3 Về phương pháp thanh tra tại chỗ 30T 59 30T
2.3.3.4 Về cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho công tác thanh tra tại chỗ 30T 59 30T
2.3.4 Đề xuất mô hình những nhân tố ảnh hưởng tới công tác Thanh tra tại chỗ các Tổ chức tín dụng trên địa bản tỉnh Khánh Hòa 30T 60 30T
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 30T 62 30T
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌAT ĐỘNG THANH TRA TẠI CHỖ CÁC TCTD TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA 30T 63 30T
3.1 Mục tiêu, định hướng của việc nâng cao chất lượng thanh tra tại chỗ của Ngân hàng nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 30T 63 30T
3.1.1 Mục tiêu 30T 63 30T
3.1.2 Định hướng 30T 65 30T
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng họat động thanh tra tại chỗ của Ngân hàng nhà nước trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 30T 66 30T
3.2.1 Giải pháp đối với với Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa 30T 66 30T
3.2.1.1 Đổi mới mô hình tổ chức thanh tra, giám sát theo hướng độc lập với Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa 30T 66 30T
3.2.1.2 Phối hợp với các đơn vị, cơ quan chức năng trên địa bàn 30T 67 30T
3.2.1.3 Hoàn thiện và phát triển đội ngũ cán bộ thanh tra đủ về chất lượng, trình độ và số lượng 30T 67 30T
3.2.2 Đối với các Tổ chức tín dụng 30T 68 30T
3.2.2.1 Nâng cao năng lực quản trị, điều hành của Ban điều hành 30T 69 30T
3.3.2.2 Kiện tòan tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ 30T 69 30T
3.2.2.3 Nâng cấp hệ thống thông tin, minh bạch số liệu báo cáo 30T 70 30T
3.2.2.4 Tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho thanh tra, giám sát hòan thành nhiệm vụ 30T 70 30T
3.2.3 Đối với cán bộ làm công tác thanh tra 30T 70 30T
3.3 Kiến nghị 30T 72 30T
3.3.1 Đối với Chính phủ 30T 72 30T
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 30T 74 30T
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 30T 81 30T
KẾT LUẬN 30T 82 30T
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30T 84
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ
Biểu 1.1: So sánh Thanh tra tại chỗ và Giám sát từ xa, Nguồn: Tác giả tổng
Biểu 2.1: Tình hình phân bố nhân sự NHNN Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa,
Biểu 2.2: Kết quả kinh doanh của các TCTD đến 31/12/2014, “Nguồn:
Biểu 2.3: Tình hình nợ xấu của các TCTD đến tháng 12/2014, “Nguồn:
Biểu 2.4: Tình hình mạng lưới hoạt động của các Tổ chức tín dụng,
“Nguồn: TTGS Ngân hàng Nhà nước CN tỉnh Khánh Hòa’ 61
Danh m ục các Sơ đồ:
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của NHNN CN Tỉnh Khánh Hòa 35
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức TTGSNH NHNN CN Khánh Hòa 36
Sơ đồ 2.3: Mô hình phân chia nhiệm vụ TTGS NHNN CN Khánh Hòa 37
Sơ đồ 2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới Thanh tra tại chỗ các TCTD 57
Danh m ục các Đồ thị:
Đồ thị 2.1: Tình hình hoạt động chung của các TCTD từ năm 2010 – 2014 38
Đồ thị 2.2: Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa 39
Đồ thị 2.3: Tổng dư nợ cho vay trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa 40
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Agribank NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Khánh Hòa
An Bình NHTMCP An Bình Chi nhánh Nha Trang
Bản Việt NHTMCP Bản Việt Chi nhánh Nha Trang
BIDV NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa CIC Trung tâm Thông tin tín dụng
Đông Á NHTMCP Đông Á Chi nhánh Nha Trang
Eximbank NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam Chi nhánh Nha Trang HDBank NHTMCP Phát triển Nhà Chi nhánh Nha Trang
Kienlongbank NHTMCP Kiên Long Chi nhánh Khánh Hòa
LienvietPostbank NHTMCP Bưu điện liên việt Chi nhánh Nha Trang
MB NHTMCP Quân đội Chi nhánh Khánh Hòa
MDB NHTMCP Phát triển Mê Koong Chi nhánh Nha Trang
MHB NH Phát triển nhà Đồng bằng sông cửu long
MSB NHTMCP Hàng Hải Chi nhánh Nha Trang
NHTMNN Ngân hàng Thương mại Nhà nước
OCB NHTMCP Phương Đông Chi nhánh Nha Trang
PGBank NHTMCP Xăng dầu Chi nhánh Nha Trang
Phương Nam NHTMCP Phương Nam Chi nhánh Nha Trang
QTDND Quỹ tín dụng Nhân dân cơ sở
Sacombank NHTMCP Sài gòn thương tín Chi nhánh Khánh Hòa
SaeBank NHTMCP Đông Nam Á Chi nhánh Nha Trang
SCB NHTMCP Sài Gòn Chi nhánh Nha Trang
SHB NHTMCP Sài Gòn - Hà Nội Chi nhánh Khánh Hòa
Techcombank NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam Chi nhánh Nha Trang
TTGS Thanh tra, giám sát
TTGS NH Thanh tra, giám sát Ngân hàng
VCB Khánh Hòa NH Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Khánh Hòa
VIB NHTMCP Quốc Tế Chi nhánh Nha Trang
VietBank NHTMCP Việt Nam thương tín Chi nhánh Nha Trang
Vietinbank NH Công thương Việt Nam Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa
Việt Nga NHLD Việt Nga Chi nhánh Khánh Hòa
VNCB NHTMCP Xây Dựng Việt Nam Chi nhánh Nha Trang
VPBank NHTMCP Việt Nam thịnh vượng Chi nhánh Nha Trang
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa đã làm thay đổi khá lớn nền kinh tế nước ta nói chung và ngành ngân hàng nói riêng Hoạt động của hệ thống ngân hàng đã có nhiều chuyển biến tích cực, thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế thị trường đã làm các thành phần kinh tế phát triển đa dạng, phong phú và tự do kinh doanh cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước nào cũng
có công cụ và áp dụng các biện pháp thích hợp để hạn chế những tiêu cực do chính
cơ chế thị trường đẻ ra Một trong những công cụ thiết yếu đó là thanh tra, Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc thanh tra, giám sát các Tổ chức tín dụng Đối với hoạt động ngân hàng của các Tổ chức tín dụng trong cơ chế thị trường, do có những đặc thù về quản lý tài sản nhằm duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền nên thanh tra, giám sát ngân hàng có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng
và chức năng, phương thức hoạt động cũng mang tính đặc thù
Ngày 01/8/2009 theo Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
và Quyết định số 35/2014/QĐ-TTg ngày 12/6/2014, Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng chính thức hoạt động Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã phát huy hiệu quả từ hoạt động thực tiễn thời gian vừa qua, có đóng góp to lớn vào thành tựu chung của ngành Tuy nhiên, trước thực trạng số lượng các Tổ chức tín dụng ngày càng gia tăng, hoạt động và dịch vụ ngày càng phong phú và hiện đại thì hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
đã tỏ ra còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu quản lý hệ thống ngân hàng hiện đại Để công tác thanh tra, giám sát đạt hiệu quả cao hơn, Cơ quan thanh tra, giám sát phải tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá thực tiễn hoạt động, nhằm góp phần đảm bảo an toàn hệ thống, từng bước áp dụng phương pháp thanh tra theo thông lệ quốc tế
Tương tự như vậy, Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khánh Hòa cũng còn nhiều bất cập, bộ máy tổ chức chưa kiện toàn, lực lượng cán bộ thanh tra còn thiếu, kém… Bài viết nhằm đánh giá công tác thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng hiện nay, từ đó đề
Trang 11xuất một số giải pháp Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tôi xin đề cập đến các giải pháp để nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các
các Tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa với tên đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động Thanh tra tại chỗ các Tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa”
2 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu có trước
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, ngoài số liệu thực tế tại chính đơn vị đang công tác là Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa, tôi có tham khảo thêm một số đề tài nghiên cứu khác có nội dung liên quan đến đề tài tôi đang nghiên cứu như:
Đề tài Thạc sĩ “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động Thanh tra, giám sát
của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Hà Thị Lê Thuận, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của khoa học kinh tế, những vấn đề lý luận liên quan đến chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát đối với các Tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Đồng thời, vận dụng các phương pháp quan sát, phân tích, tổng kết kinh nghiệm, tổng hợp và so sánh để phân tích thực tiễn chất lượng hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các Tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết những bất cập một cách tốt nhất
Đề tài Thạc sĩ “Giải pháp cải thiện hiệu quả hoạt động Thanh tra, giám sát
Ngân hàng” của tác giả Nguyễn Đức Bình, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu tình huống thực tế đã xảy ra rủi ro, gây tổn thất cho các TCTD, cụ thể là trường hợp thua lỗ của Công ty cho thuê tài chính II (ALC II) và nợ xấu trong cho vay Vinashin của hệ thống Ngân hàng và hoạt động Thanh tra, giám sát
Ngân hàng trong những trường hợp này
Đề tài Thạc sĩ “Giải pháp nâng cao năng lực Thanh tra, giám sát của Ngân hàng
nhà nước đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” của tác giả Phan Ngọc Thảo
Vy, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu tình huống thực tế đã xảy ra rủi ro, cụ thể là trường hợp thua lỗ của Công ty cho thuê tài chính II (ALC II), nợ xấu của Vinashin và các cuộc chạy đua lãi suất của các
Trang 12ngân hàng thương mại trong những năm gần đây
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu trước đây đều có hướng đi riêng, có đề tài nghiên cứu tổng quan, những nguyên lý cơ bản sau đó áp dụng vào từng trường hợp (Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước) cụ thể, có đề tài nghiên cứu từ góc độ các trường hợp đã xảy ra trong thực tế từ đó nêu ra các mặt thành công cũng như hạn chế của Thanh tra, giám sát Ngân hàng và đưa ra các giải pháp Đặc điểm chung của các đề tài này là nghiên cứu số liệu và đối tượng tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có nhiều Hội
sở của các Tổ chức tín dụng và bản thân Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh (sau được tách ra gọi là Cục II từ tháng 8/2014) có cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ được phân công rõ ràng
3 Mục tiêu nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thanh tra tại chỗ Ngân hàng Nhà nước đối
với các Tổ chức tín dụng
Phạm vi nghiên cứu:
+ Hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các TCTD của Ngân hàng nhà nước;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng và những yếu tổ ảnh hưởng
tới hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các Tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa từ năm 2011, 2012, 2013 và năm 2014;
+ Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát đối
với Tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa đến năm
2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định tính: Thống kê, tổng hợp, nghiên cứu những
Trang 13nguyên lý cơ bản của khoa học kinh tế, những vấn đề lý luận liên quan đến chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát đối với các Tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Đồng thời, vận dụng các phương pháp quan sát, phân tích, tổng kết kinh nghiệm, tổng hợp và so sánh để phân tích thực tiễn chất lượng hoạt động thanh tra tại chỗ đối với các Tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa, từ đó
đề xuất các giải pháp giải quyết những bất cập một cách có hiệu quả
Số liệu dùng để phân tích, so sánh là số liệu tại Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa từ năm 2011 đến năm 2014, do tôi hiện đang làm cán bộ thanh tra tại đơn vị vì vậy số liệu này có cơ sở và bám sát thực tế tại địa phương Ngoài ra, một số thông tin tham khảo, số liệu được lấy từ trang web của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và một số trang thông tin điện tử có uy tín
6 Ý nghĩa của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về thanh tra, giám sát ngân hàng
- Hoàn thiện quy trình, nội dung, phương pháp thanh tra thanh tra tại chỗ ngân hàng
- Góp phần nâng cao chất lượng công tác thanh tra tại chỗ của Ngân hàng nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa hướng tới mục tiêu đảm bảo an toàn cho hoạt động của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa một cách hiệu quả nhất và nâng cao chất lượng công tác thanh tra tại chỗ phù hợp
với xu hướng phát triển của đất nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới hiện nay
7 Kết cấu luận văn :
Lời mở đầu
Chương 1: Cơ sở Lý thuyết về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Chương 2: Phân tích về hoạt động Thanh tra tại chỗ các TCTD của Ngân hàng
Nhà nước Chi nhánh tỉnh Khánh Hòa năm 2011, 2012, 2013 và năm 2014
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động Thanh tra tại chỗ các Tổ
chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020
Kết luận
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm và một số nội dung cơ bản về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước
1.1.1 Khái niệm về thanh tra, giám sát Ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm về thanh tra, giám sát
- Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La tinh (inspectorate) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định Theo từ điển pháp luật Anh - Việt, thanh tra “là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”(1) Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra “là
sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao
nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc”(2) Theo Từ điển
tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan,
xí nghiệp”(3) Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”(4) Thanh tra thường đi kèm với một
chủ để nhất định:
“Người làm nhiệm vụ thanh tra” “đoàn thanh tra của bộ”(5) và: “đặt trong phạm
vi quyền hành của một chủ thể nhất định”(6)
Trong cuốn “Kỷ yếu Bác Hồ với thanh tra”, thanh tra được hiểu là “sự xem xét,
kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nước khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp
phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước”
Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, thanh tra, hoạt động của các tổ chức, Thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước Điều 8 Pháp lệnh thanh tra năm 1990 quy định: “thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan Điều tra, Kiểm sát, Toà án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của cơ quan trọng tài kinh tế”
Luật thanh tra năm 2010 quy định: “hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật;
Trang 15tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”
Từ những phân tích trên có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau: Thanh tra
là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động tự kiểm tra, xem xét của các cơ quan hành chính nhà nước, được thực hiện bởi chủ thế quản lý có thẩm quyền,
nhằm đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi
phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân
- Theo từ điển tiếng Việt, giám sát là “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không Giám sát việc thi hành hiệp nghị Hội đồng nhân dân giám sát mọi hoạt động của uỷ ban nhân dân cấp mình.”
Giám sát là hoạt động của chủ thể ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ
thống khác (trong những trường hợp cụ thể, có thể là không trực thuộc) tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu giám sát đó không nằm trong một hệ thống trực thuộc nhau theo chiều dọc Do vậy, trong bộ máy nhà nước ta, giám sát thường thể hiện là
chức năng của các cơ quan quyền lực nhà nước, Toà án nhân dân và các tổ chức xã hội
và công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, kỷ luật trong quản lý nhà nước Tóm lại, thanh tra có những điểm giống với hoạt động giám sát ở chỗ: đều là
những phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước, đều có khách thể chung là hoạt động quản lý Nhưng chúng có những điểm khác nhau ở tính
chất quan hệ giữa chủ thể thực hiện với những đối tượng bị giám sát, thanh tra và do
đó, chúng khác nhau ở cách thức và biện pháp tác động Thanh tra thông thường được
hiểu là hoạt động của bộ máy hành pháp tự kiểm tra, thanh tra chính mình Do vậy, ở các cơ quan hành pháp thường tồn tại hình thức thanh tra, kiểm tra theo cấp, thanh tra
của thủ trưởng (thanh tra nội bộ), Thanh tra nhà nước chuyên ngành Xác định phạm vi
hoạt động của thanh là xác định ranh giới của việc sử dụng pháp luật thanh tra vào
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, vào sự phát triển của các quan hệ xã hội Đồng
thời, nó tạo điều kiện cho các hoạt động thanh tra đi đúng hướng, tránh sự chồng chéo
về chức năng, nhiệm vụ với các cơ quan nhà nước khác
1.1.1.2 Khái niệm về thanh tra, giám sát ngân hàng
Cũng như các ngành, lĩnh vực khác, bất kỳ một hoạt động quản lý nào, để đảm
bảo cho những mục tiêu đạt được kết quả cao, nhất thiết phải tiến hành công tác thanh
Trang 16tra, kiểm tra Mục đích hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ
chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp
cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích
cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước; bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 quy định: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó”
Trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, các Tổ chức tín dụng và các cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác hoạt động có những đặc thù riêng, là lĩnh vực kinh tế hết sức nhạy
cảm tác động vào tăng trưởng và ổn định kinh tế… Đặc biệt khi chuyển sang giai đoạn
hội nhập kinh tế quốc tế ngành Ngân hàng, hệ thống các Tổ chức tín dụng có bước phát triển rất nhanh về quy mô và phạm vi hoạt động Vì vậy, rủi ro đối với các Tổ
chức tín dụng trở nên đa dạng hơn Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro và
chấp nhận rủi ro, rủi ro cao lợi nhuận cao, rủi ro thấp lợi nhuận thấp, thậm chí lợi nhuận thấp Tổ chức tín dụng vẫn có nguy cơ vấp phải rủi ro cao do quản trị rủi ro kém Rủi ro trong hoạt động luôn là mối đe dọa đến sự an toàn và phát triển bền vững
của hệ thống các Tổ chức tín dụng Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước thực hiện thanh tra, giám sát chuyên ngành về lĩnh vực ngân hàng
Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giám sát Ngân hàng, phòng, chống rửa
tiền Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng (Văn bản mới nhất là Nghị định số 26/2014/NĐ-
CP ngày 07 tháng 4 năm 2014 quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Ngân hàng) Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trình tự, thủ tục thanh tra, giám sát ngân hàng
1.1.2 Mục đích thanh tra, giám sát ngân hàng
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam số: 46/2010/QH12 được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng
Trang 176 năm 2010 quy định: “Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các Tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của Tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các Tổ chức tín dụng;
bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.”
1.1.3 Đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng
Là tổ chức, hoạt động của các Tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các
tổ chức khác
1.1.3.1 Đối tượng thanh tra ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước thanh tra các đối tượng sau:
- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của Tổ
chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của Tổ chức tín dụng;
- Tổ chức có hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không phải là ngân hàng;
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài
tại Việt Nam trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước
1.1.3.2 Đối tượng giám sát ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc giám sát ngân hàng đối với mọi hoạt động
của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát hoặc phối
hợp giám sát công ty con, công ty liên kết của Tổ chức tín dụng
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc thanh tra toàn bộ
hoạt động của Tổ chức tín dụng theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp có sự khác nhau giữa quy định
về thanh tra, giám sát ngân hàng của Luật Ngân hàng Nhà nước với quy định của luật khác thì thực hiện theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trình tự, thủ tục thanh tra, giám sát ngân hàng Có thể nói thanh
Trang 18tra, giám sát ngân hàng chính là công cụ hữu hiệu giúp Ngân hàng Nhà nước hoàn thành tốt chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng
1.1.5 Các phương thức thanh tra, giám sát ngân hàng
kê định kỳ do Tổ chức tín dụng gửi đến thanh tra, giám sát ngân hàng theo quy định,
từ đó có thể cảnh báo sớm những vấn đề cần thiết và kiến nghị biện pháp khắc phục
kịp thời; “chỉ điểm” cho thanh tra tại chỗ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần tiến hành kiểm tra
* Quy trình giám sát t ừ xa gồm các nội dung công việc sau đây:
- Tiếp nhận thông tin từ Tổ chức tín dụng qua mạng truyền tin của Ngân hàng Nhà nước;
- Xử lý thông tin theo chương trình đã được cài đặt về giám sát từ xa;
- Vận hành chương trình giám sát để cho các mẫu biểu phân tích, biểu phân tổ và các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu;
- Tiến hành phân tích để đánh giá sự biến động về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính theo các nội dung sau:
+ Diễn biến về cơ cấu tài sản Nợ và tài sản Có;
+ Chất lượng tín dụng và bảo lãnh trong đó phân tích những món tín dụng và bảo lãnh lớn; tình hình hùn vốn, liên doanh, góp cổ phần đầu tư…
+ Việc bảo đảm khả năng thanh toán;
+ Tình hình thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh;
+ Việc thực hiện các quy chế an toàn của Ngân hàng Nhà nước;
* M ục tiêu của giám sát từ xa
Mục tiêu của giám sát từ xa là đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các Tổ chức tín
Trang 19dụng, cảnh báo sớm, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra Hoạt động giám sát từ xa
là định hướng cho hoạt động thanh tra tại chỗ Phương thức giám sát từ xa cần một số điều kiện như: khuôn khổ luật pháp, quy chế an toàn, hạ tầng công nghệ, nhân lực, hệ
thống kiểm toán, chế độ hạch toán, kỷ luật thông tin báo cáo…
* H ạn chế của phương thức giám sát từ xa
- Không kiểm chứng được tính đầy đủ và trung thực của thông tin
- Cần có thông tin bổ sung từ bên ngoài không nhất thiết phải thể hiện qua báo cáo như trao đổi trực tiếp với các các Tổ chức tín dụng hay qua công ty kiểm toán…
1.1.5.2 Thanh tra tại chỗ
Thanh tra tại chỗ là việc tổ chức thanh tra trực tiếp tại nơi làm việc của các đối tượng thanh tra, trên cơ sở kiểm tra, xem xét tài liệu liên quan như các báo cáo kế toán, chứng từ sổ sách, tài liệu, hợp đồng, cam kết… của Tổ chức tín dụng và các đơn
vị liên quan Thanh tra tại chỗ có thể tiến hành định kỳ hoặc đột xuất Thời gian tiến hành một cuộc thanh tra tại chỗ khoảng 15 ngày đến 30 ngày làm việc, nếu có vấn đề
phức tạp có thể kéo dài thời gian thanh tra theo quy định của pháp luật Hoạt động thanh tra tại chỗ có thể thực hiện theo chương trình kế hoạch được duyệt hàng năm
hoặc thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
* Quy trình ti ến hành một cuộc thanh tra tại chỗ:
- Chuẩn bị thanh tra
+ Khảo sát, nắm tình hình để ra quyết định thanh tra;
+ Ra quyết định thanh tra;
+ Xây dựng và phê duyệt kế hoạch tiến hành thanh tra;
+ Phổ biến kế hoạch thanh tra;
+ Xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo;
+ Thông báo về việc công bố quyết định thanh tra
- Tiến hành thanh tra
+ Công bố quyết định thanh tra;
+ Thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra;
+ Kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu;
+ Báo cáo tiến độ thực hiện nhiệm vụ thanh tra;
+ Sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra trong quá trình thanh tra (nếu có);
+ Thay đổi Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra; bổ sung thành viên
Trang 20Đoàn thanh tra (nếu có);
+ Gia hạn thời gian thanh tra (nếu có);
+ Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra;
+ Nhật ký Đoàn thanh tra;
+ Kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra
- Kết thúc thanh tra
+ Xây dựng báo cáo kết quả thanh tra;
+ Đánh giá chứng cứ ở Đoàn thanh tra;
+ Xem xét báo cáo kết quả thanh tra;
+ Thực hiện ý kiến chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra;
+ Xây dựng dự thảo kết luận thanh tra;
+ Ký ban hành và công bố kết luận thanh tra;
+ Giao trả hồ sơ, tài liệu;
+ Tổng kết hoạt động của Đoàn thanh tra;
+ Lập, bàn giao hồ sơ thanh tra
* M ục tiêu của thanh tra tại chỗ
- Đánh giá mức độ tin cậy của những thông tin, tài liệu kế toán, tài chính mà cho các Tổ chức tín dụng cung cấp cho cơ quan thanh tra, giám sát;
- Đánh giá tình hình chấp hành chính sách, pháp luật, các quy trình, chế độ của Ngân hàng Nhà nước, phát hiện những vi phạm, sai sót và kiến nghị những biện pháp
chấn chỉnh, xử lý kịp thời;
- Đánh giá chất lượng quản trị, điều hành của Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban điều hành;
- Đánh giá sự lành mạnh và triển vọng phát triển của các Tổ chức tín dụng;
- Đánh giá, đo lường mức độ rủi ro và khả năng chống đỡ rủi ro của các tổ chức tín dụng;
- Phát hiện những quy trình, quy định chưa hợp lý để kiến nghị sửa đổi, bổ sung
và hoàn thiện
* H ạn chế của phương thức thanh tra tại chỗ
- Bị giới hạn về thời gian
- Kiểm tra, đánh giá xu hướng rủi ro trong khoảng thời gian nhất định
- Thông tin được phân tích trong phạm vi mục tiêu của cuộc thanh tra
* Các n ội dung chủ yếu về nghiệp vụ thanh tra tại chỗ
Trang 21- Kiểm tra, đánh giá về mặt tổ chức của các Tổ chức tín dụng
- Kiểm tra kế toán và phân tích tài sản
- Kiểm tra, đánh giá chất lượng tài sản Có
- Kiểm tra kết quả tài chính
- Kiểm tra sự tuân thủ luật pháp
- Kiểm tra hoạt động quản lý, điều hành của Ban lãnh đạo…
1.1.5.3 So sánh sự khác nhau giữa Thanh tra tại chỗ và Giám sát từ xa
Vai trò, mục
đích - tài liệu kế toán, tài chính của các TCTD Đánh giá mức độ tin cậy của thông tin,
cung cấp cho thanh tra, giám sát;
- Đánh giá tình hình chấp hành chính sách, pháp luật, các quy trình, chế độ, phát hiện những vi phạm, sai sót và kiến nghị những biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời;
- Đánh giá chất lượng quản trị, điều hành của Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban điều hành;
- Đánh giá sự lành mạnh và triển vọng phát triển của các TCTD;
- Đánh giá, đo lường mức độ rủi ro và khả năng chống đỡ rủi ro của các TCTD;
- Phát hiện những quy trình, quy định chưa hợp lý để kiến nghị sửa đổi, bổ sung
và hoàn thiện
- Cảnh báo sớm những vấn đề cần thiết, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra và kiến nghị biện pháp khắc phục kịp thời;
- “chỉ điểm” cho thanh tra tại chỗ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần tiến hành kiểm tra
Phương pháp
thực hiện
- Kiểm tra, xem xét tài liệu liên quan như các báo cáo kế toán, chứng từ sổ sách, tài liệu, hợp đồng, cam kết… của TCTD và các đơn vị liên quan;
- Từ các chứng từ, sổ sách và báo cáo kiểm tra tính đầy đủ kịp thời, chính xác của thông tin kế toán và phân loại, xếp hạng để đánh giá lại giá trị các tài sản;
- Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của các chứng từ, từ đó đánh giá chất lượng kiểm soát của nhân viên thực hiện;
- Kiểm tra việc lưu trữ, bảo quản chứng
từ, tài liệu;
- Trên cơ sở các số liệu kế toán được kiểm tra, tiến hành phân tích và hướng mục tiêu kiểm tra vào một số tài khoản dễ biến động, nhiều ghi vấn để đối chiếu với các chứng từ, kế toán chi tiết…
- Tiếp nhận thông tin qua mạng truyền tin của máy móc thiết bị;
- Xử lý thông tin theo chương trình đã được cài đặt về giám sát từ xa;
- Vận hành chương trình để cho các mẫu biểu phân tích, biểu phân tổ và các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu;
- Tiến hành phân tích để đánh giá sự biến động về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của đơn vị
Trang 22Trình độ
chuyên môn
- Chuyên viên có kinh nghiệm, Thanh tra viên, trưởng đoàn thanh tra - nghiệm, có khả năng phân tích Chuyên viên có kinh Phạm vi hoạt
động - Tiến hành kiểm tra tại một đơn vị, - một lúc Thực hiện nhiều đơn vị cùng Thời gian
1.1.6 Sự cần thiết của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
1.1.6.1 Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Trên cơ sở thanh tra, giám sát tổ chức, hoạt động các đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng giúp Ngân hàng Nhà nước tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, giúp các đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả, góp phần quan trọng tạo môi trường thực thi chính sách tiền tệ quốc gia hữu hiệu Ngân hàng Nhà nước sử dụng các công cụ của mình để điều hành thị trường tiền tệ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở… để kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị tiền tệ và cân bằng cán cân thanh toán Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước khẳng định và nâng cao vai trò và vị trí của mình, góp phần ổn định kinh tế vĩ
xử lý các vi phạm đó Việc phát hiện và xử lý các vi phạm, kiến nghị khắc phục các tồn tại, sai phạm trong hoạt động của Tổ chức tín dụng sẽ bảo đảm hoạt động của các Tổ chức tín dụng được an toàn và hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của Tổ chức tín dụng Quyền và lợi ích của
Trang 23người gửi tiền bị ảnh hưởng do các Tổ chức tín dụng trong tình trạng mất khả năng chi trả và có nguy cơ phá sản Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tiến hành kiểm tra, phân tích, đánh giá chất lượng, rủi ro các khoản tín dụng của các Tổ chức tín dụng, phòng ngừa có hiệu quả và đảm bảo an toàn cho những khoản cho vay đầu tư
1.1.6.3 Duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các
tổ chức tín dụng
Trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và ngân hàng, lòng tin đóng một vai trò cực kỳ quan trọng quyết định sự tồn tại của hệ thống Tổ chức tín dụng Việc duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các Tổ chức tín dụng là một việc làm cần thiết nhằm thu hút vốn phục vụ cho hoạt động kinh tế, tài chính của đất nước Năng lực thu hút vốn của các Tổ chức tín dụng đi đôi với việc đảm bảo khả năng chi trả cho người gửi tiền Nếu một Tổ chức tín dụng mất khả năng chi trả thì người gửi tiền sẽ mất lòng tin vào Tổ chức tín dụng đó dẫn đến tình trạng rút tiền ồ ạt, tạo nên một phản ứng dây chuyền, gây ảnh hưởng xấu đến các Tổ chức tín dụng khác vì công chúng không còn tin tưởng để gửi tiền vào hệ thống các Tổ chức tín dụng Họ sẽ đồng loạt rút và làm các Tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán đồng bộ, không thu hút được vốn để hoạt động kinh doanh, dẫn đến nguy cơ đối mặt với tình trạng phá sản, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia
Vì vậy, các Tổ chức tín dụng phải được thanh tra, kiểm tra, giám sát thường xuyên để giảm thiểu rủi ro cho khách hàng, bảo đảm sự an toàn trong hoạt động của
Tổ chức tín dụng, tránh tình trạng Tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán, không trả được nợ, dẫn đến nguy cơ phá sản
1.1.6.4 Phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật và hạn chế những sai phạm trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng
Kết luận thanh tra, giám sát nhằm chỉ ra những tồn tại, sai phạm, rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng Trên cơ sở đó thanh tra, giám sát ngân hàng đưa
ra những yêu cầu, cảnh báo cần thiết Với việc triển khai áp dụng phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro theo thông lệ quốc tế góp phần đảm bảo hoạt động của từng Tổ chức tín dụng và toàn hệ thống các Tổ chức tín dụng nằm trong tầm kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước
1.1.6.5 Bảo đảm việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
Trong quá trình thực hiện việc kiểm tra tại các đối tượng, thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ phát hiện ra các tồn tại, sai phạm trong hoạt động của các đối tượng và
Trang 24đưa ra các kiến nghị khắc phục, xử lý các hành vi vi phạm Từ đó bảo đảm hoạt động của các đối tượng thanh tra, giám sát thực hiện đúng quy định của pháp luật, chấp hành đúng chính sách, pháp luật về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
1.1.6.6 Phát hiện sơ hở, vướng mắc trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục
Trường hợp, trong quá trình hoạt động, các Tổ chức tín dụng lợi dụng những sơ
hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng để trục lợi Trên cơ sở kiểm tra, xem xét, phân tích, đánh giá hoạt động của các đối tượng ngân hàng phát hiện được những việc làm sai trái của đối tượng thanh tra để xử lý; phân tích nhằm tìm ra những sơ hở, những điểm chưa phù hợp trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phát hiện những bất hợp lý trong cơ chế, chính sách của Nhà nước liên quan đến hoạt động ngân hàng, từ đó kiến nghị lên các cấp thẩm quyền có giải pháp điều chỉnh thích hợp để bổ sung, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các đối tượng thanh tra
1.1.7 Ý nghĩa của hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
1.1.7.1 Góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống các Tổ chức tín dụng
Hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng góp phần quan trọng vào việc đẩy nhanh quá trình chấn chỉnh, củng cố và cơ cấu lại hệ thống các Tổ chức tín dụng; cảnh báo, ngăn ngừa, hạn chế những sai phạm, đảm bảo hoạt động của hệ thống các
Tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính được an toàn, lành mạnh và hiệu quả Điều này sẽ góp phần tạo sân chơi bình đẳng bảo đảm cho hệ thống các Tổ chức tín dụng hoạt động hiệu quả và mang tính cạnh tranh hơn dưới tác động của mở cửa thị trường
và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng
1.1.7.2 Góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
Các kiến nghị của thanh tra, giám sát ngân hàng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng giúp cho việc điều hành chính sách tiền tệ đạt được hiệu quả, góp phần quan trọng để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô Từ đó vai trò quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia sẽ được nâng cao
Trang 25Tổ chức tín dụng Kỷ cương, kỷ luật và sự tuân thủ pháp luật của các đối tượng thanh tra ngân hàng sẽ được chấp hành nghiêm chỉnh dưới sự quản lý của NHNN thông qua công tác thanh tra, giám sát của thanh tra ngân hàng
1.2 Chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
1.2.1 Chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
Mục đích thanh tra, giám sát ngân hàng “nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển
an toàn, lành mạnh của hệ thống các Tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của Tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các Tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng"
Tuy nhiên, hoạt động của các Tổ chức tín dụng luôn có nhiều rủi ro ở các khâu, các lĩnh vực trong suốt quá trình hoạt động Việc tiếp nhận và có biện pháp phòng ngừa trên cơ sở quản lý rủi ro hiệu quả sẽ giúp các Tổ chức tín dụng đạt được kết quả hoạt động tốt Dưới giác độ quản lý nhà nước, mục tiêu hoạt động an toàn, lành mạnh của các Tổ chức tín dụng là vô cùng quan trọng, được coi là ưu tiên hàng đầu
vì sự an toàn, lành mạnh trong hoạt động của Tổ chức tín dụng sẽ góp phần vào sự tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng có chất lượng sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước nâng cao vai trò quản lý nhà nước của mình đối với các Tổ chức tín dụng nhằm ngăn chặn và giảm thiểu tối đa rủi ro có thể xảy ra Chất lượng thanh tra, giám sát ngân hàng là hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng phù hợp theo đúng quy định, chủ trương, chính sách pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng nhằm đảm bảo hoạt động của hệ thống Tổ chức tín dụng được
an toàn, hiệu quả, phát triển bền vững, lành mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả và
Trang 26hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
Chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng được thể hiện thông qua như: việc phát hiện được những tồn tại, sai phạm của Tổ chức tín dụng để có biện pháp xử lý thích đáng và kiến nghị yêu cầu khắc phục, chỉnh sửa; kết quả khắc phục, chỉnh sửa các tồn tại, sai phạm trong hoạt động của Tổ chức tín dụng; kết quả chất lượng hoạt động của các Tổ chức tín dụng được thực hiện theo đúng quy định, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước và của Ngành; kết quả những kiến nghị của thanh tra, giám sát ngân hàng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về biện pháp khắc phục những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Trong giai đoạn hội nhập toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, việc nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát ngân hàng là hết sức quan trọng và cần thiết
1.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá về chất lượng thanh tra ngân hàng
- Chỉ tiêu tài chính chủ yếu đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của các tổ
chức tín dụng
Tình trạng tài chính của Tổ chức tín dụng sẽ cho thấy được hiệu quả hoạt động của Tổ chức tín dụng đó Thanh tra ngân hàng cần tiến hành phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của các Tổ chức tín dụng, giám sát liên tục và thường xuyên chất lượng tài sản có, chất lượng tài sản nợ, tình hình nợ xấu, việc phân loại nợ và trích lập dự phòng của các Tổ chức tín dụng, tình hình thu nhập chi phí của các Tổ chức tín dụng nhằm đánh giá khả năng trang trải về mặt tài chính của các Tổ chức tín dụng, đánh giá hoạt động của các Tổ chức tín dụng có lãi thực hay lỗ vốn, có đảm bảo an toàn hoạt động hay không Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, Tổ chức tín dụng luôn đối mặt với nhiều loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất… trong đó rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro có khả năng xảy ra rất cao và gây thiệt hại lớn cho Tổ chức tín dụng Vì vậy, thanh tra ngân hàng cần phải tập trung vào việc đánh giá chất lượng tín dụng, xem xét tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư
nợ tín dụng, phân tích nguyên nhân của việc tăng tỷ lệ nợ xấu Từ đó đưa ra những khuyến cáo kịp thời và yêu cầu các Tổ chức tín dụng có biện pháp trong việc thu hồi
nợ, giúp nâng cao chất lượng tín dụng
- Chỉ tiêu hoạt động của các Tổ chức tín dụng trong việc chấp hành các quy định
của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng
Việc chấp hành các quy định của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ
Trang 27ngân hàng của các Tổ chức tín dụng là rất quan trọng Nó giúp cho các Tổ chức tín dụng hoạt động an toàn và hiệu quả Khi tiến hành thanh tra Tổ chức tín dụng, thanh tra ngân hàng sẽ xem xét đánh giá việc chấp hành các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn tối thiểu, tính thanh khoản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, chỉ số hùn vốn mua cổ phần của các Tổ chức tín dụng, vốn pháp định tối thiểu, dư nợ cho vay của một khách hàng so với vốn tự có của các Tổ chức tín dụng đảm bảo hoạt động của Tổ chức tín dụng trong khuôn khổ của hệ thống pháp luật của Nhà nước, tránh sự đổ vỡ dây chuyền và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội
- Chỉ tiêu năng lực của Ban lãnh đạo điều hành của các Tổ chức tín dụng
Năng lực của Ban lãnh đạo điều hành ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của Tổ chức tín dụng đó Thanh tra ngân hàng thông qua trao đổi trực tiếp, thông qua chiến lược kinh doanh, quy trình thực hiện nghiệp vụ, quy trình kiểm soát nội bộ sẽ đánh giá và xếp loại Ban lãnh đạo điều hành về năng lực quản trị, khả năng lãnh đạo, điều hành hoạt động Tổ chức tín dụng Việc đánh giá khả năng quản lý được thể hiện qua các nội dung sau:
+ Năng lực đề ra chiến lược kinh doanh để Tổ chức tín dụng đủ sức cạnh tranh
và đứng vững trên thị trường
+ Phải có kế hoạch triển khai các công việc một cách hợp lý
+ Phải đề ra được phương thức quản lý nghiệp vụ, quy trình thực hiện nghiệp vụ đảm bảo tuân thủ các quy định
+ Phải có cơ cấu hợp lý, phân rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa nhân viên, người điều hành bộ phận
+ Có chính sách nhân sự hợp lý, khuyến khích các thành viên tích cực làm tốt công việc được giao, tuân thủ kỷ luật lao động tốt
- Chỉ tiêu về chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra:
Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thanh tra có một vị trí hết sức quan trọng đối với chất lượng thanh tra ngân hàng Trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, việc nâng cao trình độ nghiệp vụ, tập trung vào kỹ năng quản trị rủi ro, quản trị ngân hàng hiện đại, các kỹ năng bổ trợ như tổng hợp, phân tích, đánh giá là rất cần thiết Cán bộ thanh tra phải chuyên sâu về từng lĩnh vực thanh tra, có khả năng phân tích, đánh giá một cách cụ thể, toàn diện để có thể đưa ra những kết luận đúng đắn và những kiến nghị chính xác Ngoài ra, cán bộ thanh tra phải có đạo đức nghề nghiệp, đảm bảo công tâm trong việc thực thi nhiệm vụ được giao
Trang 28- Chỉ tiêu về việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến hành thanh tra:
Trước khi tiến hành thanh tra một Tổ chức tín dụng đòi hỏi phải có kế hoạch tiến hành thanh tra được phê duyệt với nội dung thanh tra, đối tượng thanh tra, thời hạn thanh tra, điều kiện vật chất phục vụ hoạt động của Đoàn thanh tra… Trưởng Đoàn thanh tra phải có sự phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong Đoàn Từng thành viên Đoàn thanh tra xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ được phân công Căn cứ vào nội dung thanh tra, kế hoạch tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo Việc chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho công tác thanh tra góp một phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng thanh tra
- Chỉ tiêu về mức chi phí cho mỗi cuộc thanh tra
Mức chi phí cho mỗi đợt thanh tra hợp lý bảo đảm cho hoạt động thanh tra được tiến hành bình thường với chất lượng cao là trách nhiệm của thanh tra ngân hàng nhằm tiết kiệm chi phí cho ngân hàng, tránh lãng phí cho ngân sách nhà nước Đây cũng là một trong những thước đo đánh giá chất lượng thanh tra ngân hàng
- Kết quả thu được sau quá trình thanh tra:
Kết thúc cuộc thanh tra, kết quả thu được sau quá trình thanh tra chính là cơ sở
để đánh giá chất lượng thanh tra một cách chính xác
- Chỉ tiêu về tính chính xác trong việc đánh giá thực trạng hoạt động của tổ chức tín dụng được thanh tra
Độ chính xác, đầy đủ trong nhận định, đánh giá và chỉ ra các rủi ro, vấn đề hoặc tồn tại, sai phạm cũng như tổng thể hoạt động của Tổ chức tín dụng được thanh tra là rất quan trọng Có như vậy thanh tra ngân hàng mới đưa ra được những kết luận chính xác về hoạt động của Tổ chức tín dụng được thanh tra Việc đánh giá thực trạng hoạt động của Tổ chức tín dụng được thanh tra giúp thanh tra ngân hàng đưa ra được những kiến nghị đúng đắn giúp cho Tổ chức tín dụng hoạt động có hiệu quả hơn
- Chỉ tiêu về việc phát hiện được những sai phạm trọng yếu của Tổ chức tín dụng
và kiến nghị yêu cầu khắc phục chỉnh sửa
Chỉ tiêu này được thể hiện qua số lượng và chất lượng của các kiến nghị, xử lý
mà Thanh tra đã yêu cầu Tổ chức tín dụng thực hiện; việc phát hiện được những sai phạm, tồn tại mang tính nghiêm trọng hoặc trọng yếu liên quan hoạt động của tổ chức tín dụng, ảnh hưởng đến rủi ro hoạt động của Tổ chức tín dụng Những sai phạm trọng yếu của Tổ chức tín dụng khi được phát hiện, các Tổ chức tín dụng đó sẽ bị xử
Trang 29lý theo quy định Đây là một cảnh báo, giúp phòng ngừa và hạn chế những sai phạm trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng khác
- Chỉ tiêu về kết quả khắc phục, chỉnh sửa các tồn tại, sai phạm trong hoạt động
của Tổ chức tín dụng từ những kiến nghị do Thanh tra ngân hàng đưa ra
Những kiến nghị đối với những vấn đề liên quan đến những sai phạm trong hoạt động của Tổ chức tín dụng được thanh tra phải xác đáng, trọng yếu và có tác dụng
bổ sung, khắc phục các vi phạm trong quá trình thực hiện và hạn chế rủi ro trong hoạt động của Tổ chức tín dụng Các cơ quan chức năng tùy theo thẩm quyền có sự hỗ trợ với thanh tra ngân hàng để tiến hành xử lý các hành vi vi phạm một cách triệt để, nghiêm túc Chất lượng cuộc thanh tra không tính bằng giá trị hiện vật thu được mà thể hiện qua những kết luận, kiến nghị quyết định xử lý và các giải pháp sửa chữa được đối tượng thanh tra nghiêm chỉnh chấp hành
- Chỉ tiêu về những kiến nghị của thanh tra ngân hàng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Từ những kết luận và kiến nghị của thanh tra ngân hàng, cơ quan quản lý các cấp
có thể rút ra những vấn đề có liên quan để có biện pháp điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế Những kiến nghị của thanh tra ngân hàng về cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng phải có chất lượng, có giá trị ứng dụng cao Từ đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đưa ra được biện pháp khắc phục có hiệu quả
1.2.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng thanh tra tại chỗ ngân hàng 1.2.3.1 Nâng cao vị trí và vai trò của thanh tra tại chỗ ngân hàng
Thanh tra, giám sát ngân hàng là việc kiểm tra, xem xét tài liệu có liên quan như các báo cáo kế toán, thống kê, các chứng từ, tài liệu, sổ sách, hợp đồng, cam kết… của các Tổ chức tín dụng để phân tích, đánh giá việc tuân thủ các quy định hiện hành nhằm phát hiện sớm những sai sót lệch lạc của các Tổ chức tín dụng, đảm bảo cho hoạt động của Tổ chức tín dụng được an toàn và có hiệu quả; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của Tổ chức tín dụng nhằm duy trì
và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các Tổ chức tín dụng; đảm bảo
sự phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững của hệ thống tài chính, ngân hàng quốc gia; đảm bảo sự quản lý chặt chẽ hơn của NHNN đối với hệ thống Tổ chức tín dụng Hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng có chất lượng, hiệu quả thì mới
Trang 30thuyết phục và nâng cao lòng tin của các Tổ chức tín dụng vào chất lượng và độ chính xác của kết luận thanh tra Như vậy, vị trí và vai trò của thanh tra, giám sát ngân hàng nói riêng và của Ngân hàng Nhà nước nói chung sẽ được nâng cao hơn, góp phần vào sự phát triển của đất nước trong xu thế mở cửa và hội nhập tài chính toàn cầu
1.2.3.2 Tiết kiệm chi phí trong công tác thanh tra
Việc nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm tiết kiệm được chi phí cho Ngân hàng Nhà nước, tránh gây lãng phí về thời gian, tiền bạc và nguồn nhân lực trong quá trình thanh tra Nó được thể hiện ở chỉ tiêu so sánh giữa ở mức chi phí
bỏ ra và kết quả thu được trong quá trình thanh tra
1.2.3.3 Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Trong những năm gần đây, trước tác động của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, vai trò của ngân hàng trung ương các nước đã được mở rộng nhằm đảm bảo ổn định hệ thống tài chính và giám sát rủi ro hệ thống hiệu quả Trong môi trường mở cửa và
tự do hóa thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có được nhiều cơ hội nhưng cũng gặp không ít nguy cơ và thách thức cho sự tồn tại và phát triển của mình Vì vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng cần nhanh chóng thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới Với vai trò là công cụ quan trọng trong quản lý Nhà nước về lĩnh vực tài chính và ngân hàng, yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát ngân hàng là hết sức cấp bách cho phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thanh tra tại chỗ Ngân hàng 1.2.4.1 Về phía Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước cần tạo mọi điều kiện cho cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng hoạt động có hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác thanh tra Trước hết, mô hình tổ chức và cơ chế điều hành của thanh tra, giám sát ngân hàng cần có sự phù hợp, tránh chồng chéo và đảm bảo hiệu lực Về bản chất thanh tra ngân hàng không có
sự khác biệt với thanh tra các bộ, ngành khác vì đều cùng chịu sự điều chỉnh của Luật thanh tra Sự khác biệt căn bản là thanh tra ngân hàng còn chịu sự điều chỉnh của Luật Ngân hàng Nhà nước Hiện nay thanh tra, giám sát ngân hàng được thiết lập tại Ngân hàng Trung ương và tại các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố Tại ngân hàng Trung ương, cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng chịu sự quản
lý trực tiếp của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và chịu sự quản lý của Chánh thanh
Trang 31tra Ngân hàng Nhà nước trung ương Còn Thanh tra, giám sát ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố thì chịu sự quản lý của Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh và chịu sự chỉ đạo của Chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Vì vậy, cần có sự chỉ đạo hợp lý đối với hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước để có sự thống nhất trong hoạt động quản lý và điều hành Việc phân cấp cho thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước cần phù hợp, đảm bảo tính hiệu quả, cần thiết
Điều kiện về cơ sở hạ tầng và hệ thống công nghệ thông tin cũng góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ cho công tác giám sát ngân hàng Ngân hàng Nhà nước cần đổi mới hệ thống kế toán ngân hàng cho phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho các Tổ chức tín dụng ứng dụng công nghệ quản trị ngân hàng hiện đại và tạo rào chắn chống lại sự lạm dụng và gian lận Việc hiện đại hóa
hạ tầng công nghệ và hệ thống thông tin, báo cáo bảo đảm hoạt động của các Tổ chức tín dụng được an toàn, hiệu quả cũng cần được chú trọng Việc đáp ứng đầy đủ yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ hiện đại sẽ giúp hoạt động thanh tra được diễn ra thuận lợi với thông tin được cập nhật một cách đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời
Ngoài ra, việc Ngân hàng Nhà nước tham gia các hiệp ước, thỏa thuận quốc tế về thanh tra, giám sát ngân hàng và hệ thống tài chính sẽ giúp cải thiện, nâng cao năng lực trình độ, tăng cường khả năng thanh tra, giám sát giúp phòng ngừa, hạn chế rủi
ro trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng khi tham gia hội nhập hệ thống tài chính thế giới
1.2.4.2 Về bản thân Cơ quan thanh tra, giám sát Ngân hàng
Việc đầu tư và phát triển nguồn nhân lực phải được coi trọng vì nó là nhân tố quyết định đối với chất lượng công tác thanh tra, giám sát ngân hàng Cần phát triển đội ngũ cán bộ thanh tra có năng lực và đạo đức nghề nghiệp cả về số lượng và chất lượng
Phương pháp thanh tra, giám sát đóng vai trò quan trọng tới chất lượng thanh tra ngân hàng Trong thanh tra trực tiếp, việc thực hiện theo phương pháp thanh tra tuân thủ chưa hoàn toàn hướng đến phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro mà tập trung việc thực hiện các quy định, chính sách pháp luật như thanh tra hành chính Việc chuyển dần
từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra tuân thủ kết hợp thanh tra trên cơ sở rủi ro để từng bước tiến đến thanh tra trên cơ sở rủi ro sẽ giảm bớt khối lượng cán bộ, khối lượng
Trang 32công việc trong thanh tra trực tiếp và hướng đến đánh giá mức độ rủi ro của Tổ chức tín dụng để có kiến nghị nhằm cảnh báo, phòng ngừa rủi ro
1.2.4.3 Về phía các Tổ chức tín dụng
Quan hệ giữa thanh tra, giám sát ngân hàng và các Tổ chức tín dụng có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thanh tra Sự cộng tác của các Tổ chức tín dụng với thanh tra, giám sát ngân hàng là yếu tố then chốt giúp công tác thanh tra được thực hiện một cách nhanh chóng, thuận lợi và đạt được chất lượng cao Trong quá trình thanh tra, các Tổ chức tín dụng có trách nhiệm chấp hành quyết định thanh tra, cung cấp hồ sơ tài liệu liên quan theo yêu cầu của thanh tra ngân hàng, tạo điều kiện về phương tiện làm việc cho đoàn thanh tra, trao đổi những vấn đề cần thiết phát sinh…Các Tổ chức tín dụng phải nghiêm túc tiếp nhận và tiếp thu các kết luận, kiến nghị của đoàn thanh tra Nếu có vướng mắc thì Tổ chức tín dụng và thanh tra cần trao đổi thẳng thắn và có văn bản phản hồi kịp thời về những vấn đề chưa thống nhất theo thẩm quyền đến cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng
Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thanh tra, giám sát chính là tổ chức kiểm soát, kiểm toán nội bộ của các Tổ chức tín dụng Thông qua cơ chế phối hợp, thanh tra, giám sát ngân hàng có thể sử dụng kết quả và kiến nghị mà tổ chức kiểm soát, kiểm toán nội bộ của Tổ chức tín dụng cung cấp, từ
đó thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ gián tiếp chấn chỉnh, giám sát hoạt động của Tổ chức tín dụng đó Năng lực tự quản trị, chất lượng của hệ thống kiểm tra kiểm soát, kiểm toán nội bộ của Tổ chức tín dụng đã góp phần cùng thanh tra, giám sát ngân hàng đạt được mục tiêu của mình vì tổ chức kiểm soát, kiểm toán nội bộ cũng chính
là tổ chức thanh tra nội bộ của Tổ chức tín dụng Nếu tổ chức kiểm soát, kiểm toán nội bộ làm tốt chức năng và nhiệm vụ của mình thì nó cũng góp phần không nhỏ vào
sự phát triển an toàn, lành mạnh, ổn định của Tổ chức tín dụng vì mục tiêu này cũng giống với mục tiêu của thanh tra, giám sát ngân hàng
1.2.4.4 Về phía các cơ quan thanh tra của các Bộ, Ngành liên quan
Sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan thanh tra, giám sát của nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau sẽ giúp nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát Các cơ quan thanh tra, giám sát cần tăng cường trao đổi thông tin và phối hợp với nhau trong việc triển khai giám sát hợp nhất Việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan thanh tra là rất cần thiết trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
1.2.4.5 Về phía Chính phủ
Trang 33Chính phủ cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực thanh tra, giám sát ngân hàng Đây là một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng Để nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát nhất là trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế toàn cầu hiện nay, cần có một hệ thống pháp luật về công tác thanh tra nói chung và công tác thanh tra, giám sát ngân hàng nói riêng được đồng bộ và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế
1.3 Các tiêu chuẩn cơ bản để hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
có hiệu quả
1.3.1 Nguyên tắc Basel
Hội nghị thượng đỉnh G7 ở Lyon tổ chức vào tháng 6/1996, các thành viên của
Ủy ban Basel về thanh tra, giám sát ngân hàng và các cơ quan thanh tra khác đã tham gia vào việc dự thảo và đưa ra bộ 25 nguyên tắc cơ bản toàn diện đối với thanh tra, giám sát ngân hàng (gọi là nguyên tắc Basel) Các nguyên tắc này được xem như là các tiêu chuẩn về thanh tra ngân hàng Đây là những nguyên tắc chuẩn mực quốc tế
về hoạt động quản lý nhà nước của ngân hàng trung ương đối với các Tổ chức tín dụng giúp hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng có hiệu quả Bộ 25 nguyên tắc cơ bản được chia thành các nhóm chủ yếu như sau:
* Nhóm các điều kiện tiền đề cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
có hiệu quả (Nguyên tắc 1):
Điều kiện tiên quyết cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng có hiệu quả là: Phân định trách nhiệm và mục tiêu rõ ràng đối với từng cơ quan tham gia trong quá trình giám sát hoạt động ngân hàng; mỗi cơ quan đó phải hoạt động độc lập
và có nguồn lực đầy đủ;
Phải có một khung pháp lý phù hợp cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng, bao gồm cả các điều khoản liên quan đến quyền hạn của các ngân hàng và công tác giám sát hiện nay của chính họ, quyền giải quyết những vấn đề liên quan đến việc tuân thủ luật pháp, các vấn đề về an toàn hoạt động của các ngân hàng, và quyền được bảo vệ hợp pháp đối với các thanh tra viên;
Có các quy định cần thiết về việc chia sẻ thông tin giữa các thanh tra viên và việc bảo mật các thông tin đó
* Nhóm các nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu (Nguyên tắc 2 đến 5):
- Xác định rõ ràng các hoạt động tổ chức tài chính được phép làm và chịu sự
Trang 34giám sát;
- Cơ quan cấp phép phải có quyền đưa ra các tiêu chí và từ chối đơn xin thành lập nếu không đạt yêu cầu Tối thiểu quá trình cấp phép phải thực hiện các công đoạn
là đánh giá cơ cấu sở hữu vốn, tổ chức, lãnh đạo, Ban giám đốc và các cán bộ quản
lý chủ chốt, chiến lược kinh doanh và kiểm soát nội bộ, dự báo tình hình tài chính tương lai, bao gồm cả vốn cơ bản Trong trường hợp sở hữu dự kiến hoặc công ty mẹ
là ngân hàng nước ngoài, thì trước tiên cần phải có sự cho phép của cơ quan thanh tra, giám sát tại nước xuất xứ của các tổ chức nước ngoài
- Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng có quyền rà soát và từ chối bất kỳ một
đề xuất nào đối với việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát ngân hàng hiện tại cho các bên khác; có quyền thiết lập các tiêu chí để rà soát việc bổ sung và đầu tư lớn của ngân hàng, đảm bảo các vụ sát nhập hoặc cơ cấu của ngân hàng không đẩy ngân hàng tới tình trạng rủi ro thái quá hoặc làm cản trở đến hiệu quả hoạt động công tác thanh tra, giám sát
* Nhóm các nguyên tắc về những qui định và yêu cầu cẩn trọng có liên quan nhiều nhất đến quản lý rủi ro (Nguyên tắc 6 đến 15):
- Yêu cầu về vốn an toàn và phù hợp cho tất cả các ngân hàng, xác định rõ phần vốn chịu rủi ro và mức vốn tối thiểu đối với một ngân hàng;
- Đánh giá các chính sách, các quy trình cho vay, đầu tư, kiểm soát vốn vay hiện tại và hồ sơ đầu tư của ngân hàng;
- Đánh giá chất lượng tài sản, các điều khoản chống thất thoát và phòng rủi ro;
- Yêu cầu các ngân hàng có hệ thống quản lý thông tin để xác định các đối tượng vay, tránh để hiện tượng ngân hàng chỉ tập trung cho một số đối tượng vay nhất định
- Yêu cầu cho vay đối với các đối tượng có mối quan hệ với nhau vay vốn trong tầm kiểm soát được và giám sát việc gia hạn các khoản vay này;
- Yêu cầu các ngân hàng có các chính sách, biện pháp phù hợp xác định, giám sát và kiểm soát rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển dịch trong các hoạt động cho vay và đầu tư quốc tế và duy trì khoản dự phòng rủi ro nói trên
- Đảm bảo các ngân hàng có hệ thống đo lường, giám sát và kiểm soát những rủi
ro của thị trường, áp đặt những biện pháp hạn chế đối với khoản vốn cụ thể khi tiếp cận với thị trường nhiều rủi ro cả khi các khoản vay được bảo lãnh;
- Đảm bảo các ngân hàng đã thiết lập qui trình quản lý rủi ro tổng thể phục vụ cho việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát các rủi ro cơ bản;
Trang 35- Đảm bảo các ngân hàng có hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với tính chất và quy mô hoạt động của mình;
- Đảm bảo các ngân hàng có chính sách, và cơ chế hoạt động phù hợp, bao gồm
cả các quy định nghiêm ngặt về “Hiểu rõ khách hàng của bạn", nhằm thúc đẩy các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn trong ngành tài chính và ngăn ngừa các hiện tượng phạm pháp có thể xảy ra, dù cố tình hay vô tình
* Nhóm các nguyên tắc về các phương thức thanh tra, giám sát ngân hàng hiện hành hiệu quả (Nguyên tắc 16 đến 20):
Bao gồm cả các hình thức giám sát không tại chỗ và tại chỗ
Thường xuyên liên hệ với ban giám đốc ngân hàng và hiểu rõ về hoạt động của ngân hàng
Xây dựng các biện pháp thu thập, rà soát và phân tích các báo cáo, thống kê của ngân hàng theo hình thức đơn lẻ và tổng hợp
Có biện pháp thẩm định độc lập các thông tin giám sát thông qua kiểm tra trực tiếp tại chỗ, hoặc sử dụng các kiểm toán viên độc lập
Tăng cường năng lực của thanh tra viên
* Nhóm các nguyên tắc yêu cầu về thông tin (Nguyên tắc 21):
Thanh tra, giám sát ngân hàng phải biết mỗi ngân hàng có hệ thống lưu trữ tài liệu phù hợp với các chính sách và thông lệ kế toán để thanh tra viên có thể tiếp cận
và nắm được tình hình tài chính thực tế của ngân hàng và khả năng sinh lời của các hoạt động kinh doanh ngân hàng Ngoài ra phải đưa ra các bản kê tài chính phản ảnh trung thực tình hình tài chính của mình với cơ quan Thanh tra, giám sát
* Nhóm các nguyên tắc về thẩm quyền chính thức của các thanh tra viên (Nguyên tắc 22):
Thanh tra, giám sát ngân hàng có thể đưa ra được hành động can thiệp kịp thời khi ngân hàng không đáp ứng được những yêu cầu của quản lý khi có những hành động vi phạm xảy ra thường xuyên, hoặc khi người gửi tiền có thể gặp rủi ro dưới bất
kỳ hình thức nào Trong trường hợp khẩn cấp, có thể thu hồi hoặc đề nghị thu hồi giấy phép hoạt động của ngân hàng
* Nhóm các nguyên tắc về hoạt động ngân hàng quốc tế (Nguyên tắc 23 đến 25):
Tiến hành hoạt động thanh tra, giám sát tổng hợp các ngân hàng có giao dịch quốc tế, áp dụng các thông lệ cơ bản phù hợp trong tất cả các giao dịch của các
Trang 36ngân hàng khi tiến hành giao dịch quốc tế
Thiết lập mối quan hệ và hệ thống trao đổi thông tin giữa các thành viên có liên quan khác, trước hết là giới chức thanh tra của nước sở tại
Yêu cầu các ngân hàng nước ngoài hoạt động theo đúng các tiêu chuẩn và cần phải trao đổi thông tin với các thanh tra viên của nước sở tại về hoạt động của mình nhằm có được sự giám sát tổng quát nhất và bình đẳng nhất đối với các loại ngân hàng khác nhau
Theo 25 nguyên tắc Basel trên, hoạt động quản lý nhà nước của NHTW đối với các Tổ chức tín dụng do thanh tra, giám sát ngân hàng thực hiện được thể hiện đầy đủ
ở cả 4 khâu: Cấp phép; Ban hành quy chế; Tổ chức thanh tra, giám sát; Xử phạt và thu hồi giấy phép
Để thực hiện được 4 khâu trên, trước hết thanh tra, giám sát ngân hàng phải xác định trách nhiệm và mục tiêu rõ ràng; được độc lập trong hoạt động; có khung pháp
lý với các điều khoản về:
Giám sát hoạt động các Tổ chức tín dụng;
Thẩm quyền xử lý việc chấp hành pháp luật của các Tổ chức tín dụng;
Các thanh tra viên được pháp luật bảo vệ khi có kết luận trung thực;
Sự trao đổi thông tin và bảo vệ bí mật của các thông tin đó
Việc nghiên cứu, vận dụng 25 nguyên tắc cơ bản Basel về thanh tra, giám sát ngân hàng cần được thực hiện một cách linh hoạt sao cho phù hợp với tiến trình cải cách thể chế chính trị, cải cách hành chính của Nhà nước và cải cách hệ thống Ngân hàng Nhà nước thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù trong từng giai đoạn phát triển cụ thể Có như vậy, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng mới đạt được chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực hoạt động của các Tổ chức tín dụng trong quá trình hội nhập và đổi mới hiện nay
Trang 37báo cáo tài chính không thể cung cấp đầy đủ mọi thông tin mà người phân tích muốn
có để đánh giá mức độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của ngân hàng Do
đó, cần kết hợp việc phân tích theo CAMEL với những đánh giá định tính của ngân hàng để có thể thu đuợc kết quả phân tích ngân hàng kỹ lưỡng và hữu ích
Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa theo sáu yếu tố cơ bản được sử dụng để đánh giá hoạt động của một ngân hàng : đó là Mức độ an toàn vốn, Chất lượng tài sản
có, Quản lý, Lợi nhuận, Thanh khoản và Mức độ nhạy cảm thị trường ( viết tắt bằng tiếng anh là CAMELS)
* Capital Adequacy – Mức độ an toàn vốn
Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro (ví dụ như trong phạm vi một danh mục cho vay) thì càng đòi hỏi phải có nhiều vốn tự có để hỗ trợ hoạt động của ngân hàng và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao hơn Chỉ tiêu
sử dụng để phân tích vốn: Cơ cấu vốn; Chất lượng cổ đông có ảnh hưởng lớn; Hệ số đòn bẩy tài chính L = tổng nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu; Hệ số tạo vốn nội bộ; Chất lượng và khả năng tài chính của các cổ đông…
* Asset Quality – Chất lượng tài sản vốn có
Chất lượng tài sản có là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ đổ vỡ ngân hàng Thông thường điều này xuất phát từ việc quản lý không đầy đủ trong chính sách cho vay – cả trước kia cũng như hiện nay Nếu thị trường biết rằng chất lượng tài sản kém thì sẽ tạo áp lực lên trạng thái nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng, và điều này có thể dẫn đến khủng hoảng thanh khoản, hoặc dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền ở ngân hàng
* Management – Quản lý
Các chính sách về quản lý con người, các chính sách quản lý chung của tổ chức, các hệ thống thông tin, các chế độ kiểm soát và kiểm toán…đều được xem xét một cách riêng rẽ để phản ánh toàn bộ chất lượng của hoạt động quản lý Nhiều nhà phân tích chuyên nghiệp coi quản lý là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống phân tích CAMELS, bởi vì quản lý đóng vai trò quyết định đến thành công trong hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, các quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trự tiếp đến những yếu tố như: Chất lượng tài sản có; Mức độ tăng trưởng của tài sản có; Mức độ thu nhập; Khả năng lập kế hoạch…
* Earnings – Lợi nhuận
Trang 38Đây là nhân tố quan trọng của việc phân tích doanh thu và chi phí, bao gồm cả mức độ hiệu quả của hành động và chính sách lãi suất cũng như các kết quả hoạt động tổng quát được đo lường bằng các chỉ số Cụ thể hơn, lợi nhuận là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá công tác quản lý và các hoạt động chiến lược của nhà quản lý thành công hay thất bại Lợi nhuận sẽ dẫn đến hình thành thêm vốn, đây là điều hết sức cần thiết để thu hút thêm vốn và sự hỗ trợ phát triển trong tương lai từ phía các nhà đầu tư Lợi nhuận còn cần thiết để bù đắp các khoản cho vay bị tổn thất và trích dự phòng đầy
đủ Bốn nguồn thu nhập chính của ngân hàng là: Thu nhập từ lãi; Thu nhập từ lệ phí, hoa hồng; Thu nhập từ kinh doanh, mua bán; Thu nhập khác
* Liquidity – Thanh khoản
Có hai nguyên nhân giải thích tại sao thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự
Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay
số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về cơ bản luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn
Thanh khoản ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay Thanh khoản kém, chứ không phải là chất lượng tài sản có kém, mới là nguyên nhân trực tiếp của hầu hết các trường hợp đổ vỡ ngân hàng Nói chung có thể đánh giá mức độ thanh khoản dựa trên khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động của mình Những yếu tố cần xem xét bao gồm mức độ biến động của tiền gửi, mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn nhạy cảm với rủi ro, khả năng sẵn có của những tài sản có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt, khả năng tiếp cận đến thị trường tiền tệ, mức độ hiệu quả nói chung của chiến lược, chính sách quản lý tài sản
nợ và tài sản có của ngân hàng, tuân thủ với các chính sách thanh khoản nội bộ ngân hàng, nội dung, quy mô và khả năng sử dụng dự kiến của các cam kết cấp tín dụng Khả năng thanh khoản:
Tỷ lệ thanh toán của tài sản = tài sản thanh khoản/ tổng tài sản (20- 30%)
Hệ số đảm bảo tiền gửi = tài sản thanh khoản/ tổng tiền gửi (30-45%)
Hệ số thanh khoản ngắn hạn = tài sản thanh khoản/ tổng nợ ngắn hạn (30%)…
* Sensitivity to Market Risk – Mức độ nhạy cảm với rủi ro của thị trường
Trang 39Phân tích S nhằm đo lường bằng mức độ ảnh hưởng của của thay đổi về lãi suất hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ phần Phân tích S quan tâm đến khả năng của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa ra những dấu hiệu, chỉ dẫn định hướng rõ ràng và tập trung
Trang 40Trong giai đoạn hội nhập toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, việc nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát ngân hàng là hết sức cần thiết Nội dung Chương 1 cũng đã cung cấp những nội dung cơ bản về thanh tra, giám sát ngân hàng, các chỉ tiêu đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thanh tra ngân hàng và các nguyên tắc chuẩn mực quốc tế (Basel) về hoạt động quản lý nhà nước của ngân hàng trung ương đối với các Tổ chức tín dụng giúp hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng có hiệu quả
Dựa trên cơ sở lý luận trên, tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng công tác thanh tra, giám sát ngân hàng hiện nay gặp phải những khó khăn, tồn tại nào, tìm
ra được nguyên nhân từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm góp phần đảm bảo
an toàn hoạt động của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển kinh tế xã hội thành phố trong giai đoạn sắp tới, nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát ngân hàng, phát huy vai trò quản lý nhà nước và nâng cao vị trí của Ngân hàng Nhà nước trong việc phát triển hệ thống tài chính ngân hàng cả nước nói chung, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa nói riêng trong giai đoạn hội nhập và phát triển kinh tế toàn cầu