Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư XDCB tư NSNN có thể thấy những nguyên nhân của các hạn chế trên có thể khái quát là: Chính sách chế độ chế đ
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKERTING
TRẦN ĐỨC CÔNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
TP.HCM – Năm 2015
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKERTING
TRẦN ĐỨC CÔNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là TRẦN ĐỨC CÔNG
Học viên lớp Cao học Quản trị kinh doanh – Khoá 1 Tây Nguyên – Trường Đại học Tài chính – Marketing
Tác giả Luận văn “Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng”
Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là do tôi tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và các nguồn trích dẫn hợp pháp
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung và lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Trần Đức Công
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tham gia lớp học Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh tại Trường Đại học Tài chính – Marketing tôi đã được các thầy, cô giáo tận tình giảng dạy, truyền đạt cho chúng tôi rất nhiều kiến thức, giúp cho tôi có thêm vốn tri thức để phục vụ tốt hơn cho công việc nơi công tác, có được khả năng nghiên cứu độc lập
Để hoàn thành chương trình học, tôi đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp
“Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng”
Với thời gian nghiên cứu có hạn, trong khi vấn đề nghiên cứu rộng và phức tạp Mặc dù đã được sự tận tình giúp đỡ của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp, đặc biệt là sự
chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Đào Duy Huân, nhưng do
sự hiểu biết, năng lực của bản thân còn hạn chế, chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý chia sẻ của các thầy giáo, cô giáo, đồng nghiệp và những người quan tâm đến đề tài này để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với quý thầy giáo, cô giáo, giảng viên hướng dẫn luận văn và bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn !
Tác giả luận văn
Trần Đức Công
Trang 5iii
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ vii
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÊ HIỆU QUẢ KTXH TRONG ĐẦU
NGUỒN VỐN NSNN
14
1.2.1 Khái niệm hiệu quả dự án đầu tư XDCB từ vốn NSNN 14 1.2.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả KTXH dự án ĐTXDCB từ NSNN 16 1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả KTXH dự án đầu tư XDCB từ NSNN 18 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả KTXH dự án đầu tư XDCB từ NSNN 21
Trang 6iv
1.3.1 Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, thu hút đầu tư, huy động
nguồn lực, phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo và bảo vệ môi trường
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc tham khảo quản lý hiệu quả
xây dựng cơ bản
28
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI ĐỊA BÀN
HUYỆN DI LINH, LÂM ĐỒNG
30
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG TỪ NĂM 2012-2014
30
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 30
2.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội 32 2.1.4 Tình hình thu, chi ngân sách nhà nước tại địa bàn huyện Di Linh giai
DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN TRONG GIAI ĐOẠN 2012-2014
43
2.3.1 Tác động tích cực của dự án đầu tư vốn ngân sách đến tăng trưởng kinh 43
Trang 7động nguồn lực cho phát triển kinh tế, phát triển ngành nghề
52
2.3.8 Tác động của dự án đầu tư bằng vốn NSNN đối với việc phát triển kinh
tế xã hội, giảm nghèo tại địa phương
54
2.4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ
- XÃ HỘI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
HUYỆN DI LINH
55
2.4.1 Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, thu hút đầu tư, huy
động nguồn lực, phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo và bảo vệ môi trường
55
2.4.2 Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
của nền kinh tế
59
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI
TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NSNN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN DI LINH
66
3.1 MỤC TIÊU ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN
DI LINH GIAI ĐOẠN 2015-2020
66
3.1.1 Mục tiêu chiến lược đầu tư phát triển Kinh tế - xã hội của huyện Di Linh
trong giai đoạn 2015-2020
66
Trang 8vi
3.1.2 Định hướng đầu tư phát triển 67 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ-XÃ HỘI DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN DI LINH
68
3.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tác động đến chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc
làm, thu hút đầu tư, huy động nguồn lực, phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo
và bảo vệ môi trường
69
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tác động đến đến chỉ tiêu tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế và tác động gián tiếp đến tăng
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu, bảo vệ môi trường, giải quyết việc làm,
tăng thu ngân sách
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Biểu đồ cơ cấu nguồn vốn đầu tƣ huyện Di Linh giai
Hình 2.3 Biểu đồ cơ cấu vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN giai đoạn
2010-2014 phân theo nguồn vốn
Trang 10viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế 32 Bảng 2.2 Tình hình thu chi ngân sách huyện Di Linh giai đoạn
Bảng 2.4 Tỷ lệ đầu tư bằng vốn ngân sách giai đoạn 2010-2014
trên địa bàn huyện Di Linh
XDCB
53
Trang 11HQĐT : Hiệu quả đầu tƣ
UBND : Ủy ban nhân dân
TKKT : Thiết kế kỹ thuật
TMĐT : Tổng mức đầu tƣ
KTXH : Kinh tế - Xã hội
Trang 12x
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Lý do chọn đề tài: Đầu tư phát triển có vai trò hết sức quan trọng trong việc
thúc đẩy kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi địa phương, đầu tư là nền tảng của tăng trưởng và phát triển bền vững Để nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu
tư XDCB từ NSNN, đồng thời hạn chế tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư XDCB đang là những vấn đề nóng bỏng được cả xã hội quan tâm
Mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội
trong đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước ở huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng
Nội dung chính: Ngoài phần giới thiệu đề tài nghiên cứu và kết luận, kiến nghị
luận văn có 3 chương, gồm:
- Chương 1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước
- Chương 2 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại địa bàn huyện Di Linh, Lâm Đồng
- Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư XDCB
từ NSNN trên địa bàn huyện Di Linh
Đóng góp của tác giả: Luận văn hệ thống cơ sở lý thuyết về đầu tư, hiệu quả
kinh tế xã hội của các dự án đầu tư XDCB từ NSNN làm cơ sở đánh giá hiệu quả kinh
tế - xã hội các dự án đầu tư XDCB từ NSNN của huyện Di Linh Luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của các dự án đầu tư XDCB từ NSNN của huyện Di Linh
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân
tích, tổng hợp; phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả; phương pháp phỏng vấn
Kết quả nghiên cứu: Trong giai đoạn vừa qua, đầu tư các dự án bằng vốn
NSNN tại huyện Di Linh đã mang lại một số thành quả cho kinh tế xã hội như tăng cường cơ sở vật chất kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, nâng cao sức cạnh tranh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm mới cho xã hội góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế Mặc dù vậy, hiệu quả kinh tế xã hội của các
dự án đầu tư bằng vốn NSNN còn những hạn chế, thể hiện qua những điểm chính sau:
Trang 13xi
Tác động chưa mạnh đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Tác động đến tạo việc làm cho người lao động chưa cao; Tác động chưa nhiều đối với việc phát triển kinh tế ở các vùng khó khăn; Tác động chưa nhiều đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm; Một số dự án đầu tư tác động chưa tốt đối với môi trường
Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư XDCB tư NSNN có thể thấy những nguyên nhân của các hạn chế trên có thể khái quát là: Chính sách chế độ chế độ về quản lý dự án chưa đầy đủ, đồng bộ và hợp lý; thiếu
sự kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và thực hiện dự án; công tác quy hoạch phát triển chưa hoàn thiện và đồng bộ; chủ trương đầu tư các dự án khi tính toán về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, môi trường thiếu cụ thể; tổ chức quản lý đầu tư xây dựng công trình còn chậm đối mới; Bố trí vốn cho các dự án còn dàn trải; công tác đền bù giải phóng mặt bằng ở một số dự án còn gặp nhiều khó khăn; công tác lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật tổng dự toán ở một số dự án chưa tốt; công tác lựa chọn nhà thầu; năng lực chủ đầu tư, tổ chuyên gia xét thầu còn hạn chế; năng lực của các cơ quan thay mặt cho chủ đầu tư còn nhiều bất cập; năng lực của một số nhà thầu tư vấn, nhà thầu xây dựng còn chưa đáp ứng được yêu cầu Hệ quả của sự yếu kém này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện dự án cũng như chất lượng và hiệu quả của dự án, tiến độ thi công các dự án chậm, thanh toán vốn đầu tư cho các đơn vị thi công còn bất cập, công tác quyết toán vốn đầu tư dự án còn chậm
Để từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả KTXH
dự án đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn tới
Trang 141
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đầu tư phát triển có vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi địa phương, là nền tảng của tăng trưởng và phát triển bền vững Đầu tư phát triển tạo nên cơ sở vật chất – kỹ thuật hạ tầng và năng lực sản xuất chung của một nền kinh tế Do vậy, các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến các chính sách đầu tư phát triển của mình Tuy nhiên, khi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng đòi hỏi số vốn lớn và hầu như không có khả năng thu hồi vốn, nên kinh tế tư nhân thường không muốn tham gia mà nhà nước phải đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước Ở nước ta trong những năm qua, Nhà nước đã dành một phần chi ngân sách nhà nước cho lĩch vực đầu tư thông qua các dự án nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế cả nước nói chung, vùng miền và các tỉnh nói riêng
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ngày càng tăng cao cùng với các nguồn vốn khác và sự nỗ lực trong quản lý đầu tư từ địa phương cho tới trung ương đã tạo sự chuyển biến quan trọng phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân Tuy nhiên, công tác quản lý đầu tư nói chung, nhất là công tác quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến dự án đầu
tư dàn trải, kéo dài, nợ đọng tăng cao gây thất thoát, lãng phí, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư mang lại không cao đang là vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm cần nghiên cứu để có giải pháp khắc phục
Với ý nghĩa quan trọng này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu đánh giá hiệu quả dự án đầu tư bằng ngân sách nhà nước và đây chính là lý do tác giả chọn đề tài
“Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng”
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Qua tìm hiểu cho đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học về các vấn
đề đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN cụ thể như sau:
- Luận văn thạc sỹ kinh tế “Nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” năm 2014 của tác giả
Trang 152
Bùi Thị Phương Nga [11] Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp với định lượng, luận văn đã hệ thống hoá các vấn đề về XDCB, vốn đầu tư XDCB và quản lý đầu tư XDCB từ vốn NSNN, phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng và hiệu quả quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN, kiểm định các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá thực trạng đầu tư XDCB tại huyện Vĩnh Linh, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN
- Luận văn thạc sỹ kinh tế “Nâng cao hiệu quả hoạt động nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại địa bàn tỉnh Quảng Trị” năm 2014 của tác giả Đoàn Ngọc Lâm [8] Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp với định lượng và so sánh, luận văn đã hệ thống hoá các cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB và các yếu tố ảnh hưởng làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng hiệu quả quản lý nguồn vốn đầu tư, kiểm định mức tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN, từ đó đề xuất một
số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư XDCB
- Luận văn thạc sỹ kinh tế “Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị dự
án đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An” năm 2013 của tác giả Huỳnh Minh Trí [15] Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp định tính Luận văn đưa ra mô hình và các giả thuyết nghiên cứu về hiệu quả dự án đầu tư, đề xuất các giải pháp quản trj dự án đầu tư XDCB
- Bài viết “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản” của Tào Hữu Phùng trên Tạp chí Tài chính (6/440) [13] Bài viết đã phân tích thực trạng về
quản lý dự án đầu tư bằng vốn NSNN và đề xuất giải pháp giải quyết những tồn đọng
- Bài viết “Hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước” của GS.TS Nguyễn Mạnh Kiểm trên Tạp chí Xây dựng 6/2012 [7] Bài viết này đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến đầu tư cơ bản thấp, chưa hiệu quả, trong đó nhấn mạnh đến khâu thẩm định
dự án và tổ chức thực hiện dự án chưa hiệu quả
- Bài viết “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước cho đầu tư kết cấu hạ tầng” của TS Nguyễn Thanh Bình trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 15/2013 [2] Bài viết tập trung các giải pháp để nâng cao hiệu quả như: Thứ nhất, sớm thông qua Luật
Trang 16Qua các công trình khoa học nêu trên, tác giả tiếp cận, kế thừa một số nội dung
cơ sở lý thuyết về hiệu quả dự án đầu tư XDCB từ NSNN, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư XDCB từ NSNN, phương pháp nghiên cứu khoa học của các công trình để thực hiện đề tài nguyên cứu này
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội trong đầu tư XDCB từ NSNN, rút ra những kết quả đạt được và hạn chế, từ đó đề xuất gợi ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội đầu tư XDCB từ NSNN tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư XDCB từ NSNN và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư XDCB từ NSNN tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
+ Đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư xây dựng
cơ bản từ ngân sách nhà nước ở huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới
+ Kiến nghị đối với Chính phủ, UBND tỉnh Lâm Đồng, UBND huyện Di Linh một số vấn đề cần thực hiện để triển khai các giải pháp đã đề xuất áp dụng một cách hiệu quả
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên các vấn đề được đặt ra trong quá trình nghiên cứu của đề tài:
Trang 174 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tại huyện Di Linh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Các dự án đầu tư XDCB do huyện Di Linh quản lý
- Phạm vi thời gian: Khảo sát, thu thập số liệu thứ cấp các dự án đầu tư XDCB
từ nguồn vốn NSNN tại huyện Di Linh trong giai đoạn 2010-2014
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích dựa trên nguồn tài liệu thứ cấp trong và ngoài nước về dự án đầu tư XDCB để hệ thống hoá cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu đề tài, phân tích thực trạng đầu tư XDCB tại huyện Di Linh từ đó tổng hợp khái quát những kết quả đạt được, tồn tại trong đầu tư XDCB tại huyện Di Linh để đề xuất các giải pháp nâng cao huyện quả đầu tư
5.2 Phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả dựa vào nguồn tài liệu thứ cấp thu thập được liên quan đến đầu tư XDCB từ vốn ngân sách nhà nước tại huyện Di Linh
để mô tả dữ liệu thông tin đầu tư XDCB, kết quả tác động của các dự án XDCB qua hệ thống bảng biểu, đồ thị, tóm tắt dữ liệu liên quan thực trạng công tác đầu tư XDCB tại huyện Di Linh, từ đó phân tích đánh giá rút ra những kết quả đạt được, những tồn tại
Trang 18Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư XDCB từ NSNN
6.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn sẽ đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trong đầu tư XDCB từ NSNN của huyện Di Linh
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần giới thiệu đề tài nghiên cứu và kết luận, kiến nghị luận văn có 3 chương, gồm:
- Chương 1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài như các khái niệm về đầu tư, dự án đầu tư, hiệu quả dự án đầu tư, phương pháp, chỉ tiêu để đánh gía hiệu quả kinh tế - xã hội đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế xã hội đầu tư xây dựng cơ bản
- Chương 2 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại địa bàn huyện Di Linh, Lâm Đồng
Trong chương này, Tác giả sẽ miêu tả, tổng hợp phác họa một bức tranh tổng thể về thực trạng đầu tư XDCB vốn NSNN tại huyện Di Linh, phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư XDCB, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
tế - xã hội dự án đầu tư
- Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư XDCB từ NSNN trên địa bàn huyện Di Linh
Trang 196
Trong chương này, Tác giả trình bày mục tiêu đầu tư phát triển KTXH của huyện Di Linh giai đoạn 2015-2020, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn huyện Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Tóm tắt phần giới thiệu: Trong phần này tác giả đã nêu vai trò, ý nghĩa của
đầu tư phát triển, đặc biệt là đầu tư kết cấu hạ tầng từ vốn ngân sách nhà nước, nhưng vấn đề xã hội quan tâm đối với dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước Qua đó tác giả đã chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng” để nghiên cứu
Đồng thời, tác giả đã hệ thống một số nội dung chủ yếu tình hình nghiên cứu trước đây, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, phương pháp nghiên cứu, nêu ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Trang 201.1 LÝ THUYẾT VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm đầu tư, đặc điểm và vai trò vốn đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư
Đầu tư là hoạt động hết sức quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế Các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều khái niệm đầu tư:
Nhà kinh tế R.J.Gordon cho rằng: đầu tư là đưa thêm sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sản sinh ra thu nhập của quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất
cũ đã hao mòn Đầu tư bao gồm đầu tư tồn kho và đầu tư cố định [5]
Tác giả Pierrce Conso cho rằng, khái niệm đầu tư cần được xét trên từng quan điểm Theo quan điểm kinh tế thì đầu tư làm tăng vốn cố định, tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều kỳ kinh doanh nối tiếp Theo quan điểm tài chính, đầu
tư là quá trình làm bất động hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong thời kỳ tiếp sau Theo quan điểm kế toán, khái niệm đầu tư gắn liền với việc phân bổ các khoản vốn đầu tư vào mục đích chi cố định, trong thời gian nhất định phục vụ cho công tác quản
lý kết quả đầu tư [5]
Theo khoản 1, Điều 3 Luật đầu tư “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [19]
Khái quát lại “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai” Trong đó các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc là tài sản trí tuệ và nguồn lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện
Trang 218
tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị ) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng ), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển [14]
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng, tính đủ các nguồn lực tham gia
Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất thuộc các lĩnh vực, thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục các TSCĐ
Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế [10]
Do vậy, đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng
Khái quát lại: Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản
cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc, thiết bị) kết quả của các hoạt động XDCB là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định
1.1.1.2 Khái niệm vốn đầu tư:
Theo Luật đầu tư: Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp [19]
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch
Trang 229
vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài để tái sản xuất, duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, đổi mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh
tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ
Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là một phần của vốn đầu tư phát triển của NSNN được hình thành từ sự huy động của nhà nước dùng để chi cho đầu tư XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là bộ phận quan trọng của vốn đầu
tư trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời là nguồn lực tài chính công rất quan trọng của quốc gia
Dưới góc độ ngân sách nguồn lực tài chính quốc gia, vốn đầu tư XDCB từ NSNN là bộ phận của quỹ NSNN trong khoản chi đầu tư của NSNN hàng năm được
bố trí cho đầu tư vào các công trình, dự án XDCB của nhà nước
1.1.1.3 Đặc điểm và vai trò của vốn đầu tư ngân sách nhà nước
- Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách gắn với hoạt động NSNN nói chung và chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp về chi NSNN cho đầu
tư phát triển
- Vốn đầu tư XDCB từ NSNN được sử dụng chủ yếu để đầu tư cho các công trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn và công trình hạ tầng theo đối tượng sử dụng theo quy định của Luật NSNN Do đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn mang tính toàn diện, trên cơ sở đánh giá tác động cả về kinh tế, xã hội và môi trường
- Vốn đầu tư XDCB từ NSNN gắn với quy trình đầu tư rất chặt chẽ từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đến khâu kết thúc đầu tư và đưa vào sử dụng
- Vốn đầu tư XDCB từ NSNN rất đa dạng Căn cứ tính chất, nội dung, đặc điểm của từng giai đoạn trong quá trình XDCB người ta phân loại vốn thành nhiều loại như vốn chuẩn bị đầu tư, vốn thực hiện đầu tư
- Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB từ NSNN bao gồm cả nguồn trong quốc gia và bên ngoài quốc gia
- Chủ thể sử dụng vốn XDCB từ NSNN gồm các cơ quan nhà nước và tổ chức ngoài nhà nước
Trang 2310
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của đầu tƣ XDCB đối với nền kinh tế quốc dân
1.1.2.1 Đặc điểm của đầu tư ngân sách nhà nước
- XDCB chủ yếu tập trung vào việc xây dựng các cơ sở kết cấu hạ tầng kinh tế-
xã hội nhằm phục vụ cho sự ổn định và phát triển kinh tế của một quốc gia Sản phẩm của XDCB thường là các công trình xây dựng đòi hỏi vốn lớn Muốn đáp ứng được điều đó, các quốc gia phải phát huy mọi nguồn lực trong nước như: tiết kiệm từ nội bộ của nền kinh tế, huy động mọi nguồn lực từ các tầng lớp dân cư, vốn xã hội, đồng thời phải tìm cách để thu hút các nguồn từ bên ngoài như: vốn ODA, FDI, NGO v.v
- XDCB có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp Các sản phẩm xây lắp thường có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán truớc xu hướng tiến bộ xã hội để tránh bị lạc hậu Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần phải chú ý phù hợp với văn hoá dân tộc Sản phẩm XDCB không chỉ mang ý nghĩa kinh tế kỹ thuật mà còn mang tính nghệ thuật, nó còn phản ánh trình độ kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ của từng giai đoạn lịch sử nhất định của một đất nước Chất lượng công trình cần đặc biệt chú ý vì nó ảnh hưởng đến tuổi thọ lâu dài của công trình và sự an toàn của người sử dụng
- Sản phẩm của XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp của nhiều ngành khác nhau như kiến trúc, kết cấu xây dựng, vật liệu xây dựng, Mỗi công trình đều có đặc điểm riêng nhất định Ngay trong một công trình kết cấu các phần cũng không hoàn toàn giống nhau Ngoài ra, kết quả của đầu tư XDCB là những công trình xây dựng như nhà máy, công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển có tính cố định gắn liền với đất đai
- Đầu tư XDCB thuộc lĩnh vực có mức độ rủi ro cao do thời gian xây dựng kéo dài, thời gian hoàn vốn chậm và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động về kinh tế - chính trị - xã hội và thiên nhiên như bão, lụt, thiên tai mà các nhà đầu tư khó có thể lường hết Trong quá trình thi công xây dựng, do tính chất đặc thù của công việc mà lực lượng lao động và phương tiện thi công cũng thường xuyên thay đổi, cũng như trong những khó khăn do các nhà tổ chức
- Dự án đầu tư xây dựng cơ bản phải trải qua nhiều giai đoạn và nhiều đơn vị tham gia thực hiện trong một khoảng không gian nhất định
Trang 2411
1.1.2.2 Vai trò của đầu tư ngân sách nhà nước
- Đầu tư XDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, hình thành kết cấu hạ tầng chung cho đất nước như giao thông, thuỷ lợi, thủy điện, trường học, trạm y tế
Đầu tư XDCB chiếm một tỷ trọng lớn trong việc chi cho đầu tư phát triển một quốc gia, do đó nó tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhiều dự án, nhiều công trình có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân và
sự phát triển của đất nước nhưng đòi hỏi vốn lớn, thời gian hoàn vốn lâu, các thành phần kinh tế tư nhân không muốn tham gia đầu tư, buộc nhà nước phải tham gia bằng nguồn vốn NSNN để thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước
- Đầu tư XDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội
- Đầu tư XDCB từ NSNN góp phần quan trọng định hướng cho hoạt động của nền kinh tế quốc gia Thông qua đầu tư XDCB từ vốn NSNN vào các ngành, lĩnh vực
nó sẽ kích thích các chủ thể kinh tế, các lực lượng trong xã hội đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tham gia liên kết và hợp tác trong xây dựng hạ tầng và phát triển kinh
1.1.3 Dự án đầu tƣ
1.1.3.1 Khái niệm dự án đầu tư
- Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định, trong quá trình thực hiện mục tiêu đó cần có các nguồn lực đầu vào và kết quả thu được là các đầu ra
Trang 2512
- Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu, trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả nhất định trên cơ sở những mục tiêu xác định
- Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong
khoảng thời gian xác định
- Trong Luật đầu tư “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [19]
1.1.3.2 Đặc điểm dự án đầu tư
Xuất phát từ khái niệm dự án đầu tư, có thể nhận biết những đặc điểm cơ bản sau đây của dự án:
- Dự án là một ý tưởng hay phác thảo và là hàm ý hành động với mục tiêu cụ thể
- Dự án đáp ứng một nhu cầu cụ thể đã được đặt ra, tạo nên một thực tế mới
- Dự án tồn tại trong một môi trường không chắc chắn Môi trường triển khai dự
án thường xuyên thay đổi, chứa đựng nhiều yếu tố bất định nên trong dự án rủi ro thường là lớn và có thể xảy ra
- Mọi sự chậm trễ trong thực hiện dự án sẽ làm mất cơ hội phát triển, kéo theo những bất lợi tổn thất cho nhà đầu tư và cho nền kinh tế
- Thông thường, các dự án bị ràng buộc về vốn, vật tư và lao động Xử lý tốt các ràng buộc này là yếu tố quan trọng góp phần đạt tới mục tiêu của dự án
1.1.3.3 Sự cần thiết các hoạt động đầu tư
Đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự phát triển, đối với một quốc gia đây là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh
tế Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, hoạt động đầu tư là một bộ phận trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật mới, duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất hiện có
Trang 2613
1.1.3.4 Phân loại dự án đầu tư
Các dự án thường rất đa dạng và được phân loại theo các tiêu thức khác nhau
Có thể phân loại các dự án đầu tư theo các tiêu thức sau:
-Theo lĩnh vực dự án: Dự án được phân chia thành dự án xã hội, dự án kinh tế,
dự án tổ chức, dự án kỹ thuật, dự án hỗn hợp
-Theo hình thức đầu tư: Theo tiêu chí này dự án đầu tư có thể chia thành 3 loại như sau: Dự án đầu tư có công trình xây dựng; Dự án đầu tư không có công trình xây dựng đó là nhưng dự án quy hoạch, mua sắm, chuyển giao công nghệ; Dự án đầu tư hỗn hợp gồm cả đầu tư và xây dựng, loại này hiện nay là phổ biến đối với hầu hết các
dự án đầu tư
- Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội: Dự án đầu tư có thể phân chia thành dự
án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, dự
án đầu tư phát triển cở sở hạ tầng
- Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra ta có thể phân chia các dự án thành dự án đầu tư ngắn hạn (như dự án đầu tư thương mại)
và dự án đầu tư dài hạn (các dự án đầu tư sản xuất, dự án đầu tư phát triển khoa học
kỹ thuật, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng )
- Theo sự phân cấp quản lý dự án (theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư): Tùy theo tầm quan trọng và quy mô của dự án, dự án được chia thành 4 nhóm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C
- Theo nguồn vốn: Dự án có thể phân chia thành, dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN; dự án đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; dự án đầu tư sử dụng các nguồn vốn khác bao gồm cả nguồn vốn tư nhân; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗn hợp
1.1.4 Dự án đầu tư XDCB từ vốn ngân sách nhà nước
1.1.4.1 Khái niệm dự án đầu tư bằng vốn NSNN
Dự án đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước là dự án sử dụng vốn NSNN để thực hiện những chương trình, kế hoạch của nhà nước trong từng thời kỳ nhất định
Trang 2714
Những dự án đầu tư bằng vốn NSNN là những dự án không thực hiện nguyên tắc hoàn trả trực tiếp đối tượng của nguồn vốn NSNN bao gồm: Các dự án thuộc kết cấu hạ tầng KT-XH không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc các lĩnh vực: Cơ sở
hạ tầng (các dự án giao thông, thủy lợi ); dự án trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, ; Các trạm thú y, động thực vật, nghiên cứu giống mới, các dự án xây dựng công trình văn hóa, xã hội, phúc lợi công cộng, dự án an ninh quốc phòng ; các dự án của doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích; các chương trình dự án phát triển KTXH
1.1.4.2 Đặc điểm của dự án đầu tư bằng vốn NSNN
- Dự án đầu tư bằng vốn NSNN không gắn với một chủ sở hữu đích thực do đó việc quản lý có bộ máy rất công kềnh từ trung ương đến địa phương, quản lý rất khó khăn, dễ thất thoát lãng phí
- Những dự án đầu tư được cấp phát vốn từ NSNN là những dự án không thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả trực tiếp
- Các dự án được thực hiện theo kế hoạch chặt chẽ của Nhà nước, các ngành và địa phương
- Những dự án đầu tư bằng vốn NSNN có vị trí quan trọng trong việc phát triển các ngành, các địa phương và nền kinh tế
- Các dự án bằng vốn NSNN có chức năng tạo điều kiện cho xã hội và nền kinh
tế phát triển ổn định, tạo môi trường cho dự án khác được thực hiện tốt hơn
- Các dự án đầu tư từ vốn NSNN thường giải quyết nhiều mục tiêu khác nhau
- Chủ đầu tư trong các dự án này không phải là người sở hữu vốn mà là người được trao quyền trực tiếp quản lý và sử dụng vốn
1.2 HIỆU QUẢ KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƢ XDCB TỪ NGUỒN VỐN NSNN
1.2.1 Khái niệm hiệu quả dự án đầu tƣ XDCB từ vốn NSNN [1]
Theo quan điểm của các nhà quản lý hành chính: Hiệu quả là mục tiêu chủ yếu của khoa học hành chính, là sự so sánh giữa các chi phí đầu tư với các giá trị của đầu
ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra, đầu vào
Trang 2815
Hiệu quả dự án đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước là mối quan hệ so sánh giữa các lợi ích trực tiếp và gián tiếp mà nền kinh tế xã hội thu được so với các chi phí trực tiếp và gián tiếp mà nền kinh tế xã hội phải bỏ ra trong quá trình thực hiện dự án
Các lợi ích ở đây bao gồm lợi ích mà nhà đầu tư, người lao động, địa phương
mà nền kinh tế được hưởng Những lợi ích này có thể được xem xét về mặt định tính như sự đáp ứng các mục tiêu phát triển KT-XH, chống ô nhiễm môi trường, môi sinh hoặc đo lường bằng các tính toán định lượng như tăng trưởng GDP, tăng thu ngân sách, mức tăng năng suất lao động xã hội, mức tăng thu ngoại tệ, mức gia tăng
số người có việc làm
Còn các chi phí mà xã hội phải gánh chịu bao gồm chi phí của nhà đầu tư, của địa phương, ngành và đất nước là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, sức lao động, môi trường, môi sinh mà xã hội phải bỏ ra trong quá trình thực hiện đầu tư
dự án
Như vậy, khái quát lại hiệu quả của dự án đầu tư thực chất chính là các lợi ích mang lại về kinh tế, xã hội Nói khác đi, nó chính là những đóng góp của dự án đầu tư vào các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Những lợi ích này có thể kể ra như sự phù hợp của dự án đối với mục tiêu phát triển của vùng, miền, đất nước hay những tác động tích cực cho các ngành sản xuất, cung ứng dịch vụ; cải thiện, nâng cao đời sống của người dân; tăng thu ngân sách; tạo công ăn việc làm cho người lao động Mặt khác, khi thực hiện dự án đầu tư, còn xuất hiện chi phí xã hội của dự án đầu tư Đây chính là sự tiêu tốn các nguồn tài nguyên khan hiếm và các nguồn lực khác khi thực hiện dự án đầu tư
Hiệu quả của dự án đầu tư chính là sự so sánh giữa những lợi ích mà dự án mang lại với những chi phí bỏ ra để thực hiện dự án một cách hiệu quả nhất
Hiệu quả dự án đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước có những đặc điểm sau đây:
+ Đối với dự án đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước, hiệu quả kinh tế xã hội được coi trọng hơn hiệu quả tài chính, bởi vì chương trình đầu tư của nhà nước là một công cụ vĩ mô của Chính phủ Nếu hiệu quả tài chính ưu tiên hơn, thì dự án đó nên đưa vào khu vực tư nhân Khi đó, chủ đầu tư tư nhân có thể đánh giá, chịu trách nhiệm
và đảm bảo tốt hơn về hiệu quả tài chính
Trang 2916
+ Nhiều dự án không thể tính hiệu quả trực tiếp được Việc sử dụng các chỉ tiêu kinh tế như chỉ tiêu lợi nhuận, thời hạn thu hồi vốn đầu tư của dự án, hệ số hoàn vốn nội bộ, điểm hòa vốn để phân tích kinh tế hầu như không thực hiện được Hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư loại này nằm trong hiệu quả chung về kinh tế, quốc phòng, xã hội
+ Một số dự án khác có thể sử dụng một số chỉ tiêu nhất định để phân tích, nhưng bên cạch các yếu tố kinh tế, dự án lại chịu tác động nhiều yếu tố mang tích chủ quan mệnh lệnh như dự án đầu tư trong quân đội hay dự án trọng điểm quốc gia mang yếu tố phi kinh tế không thể lượng hóa được
1.2.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư XDCB từ NSNN
1.2.2.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính
- Phân tích tính khả thi của các phương án huy động vốn, vay vốn và đảm bảo giải ngân theo tiến độ của dự án; phương án thu hồi vốn, hoàn trả vốn và phân bổ các khoản thu tài chính dự án
- Đánh giá hiệu quả tài chính của dự án Đánh giá này được thực hiện chủ yếu trên quan điểm của chủ đầu tư dự án Việc đánh giá chỉ tiêu hiệu quả bằng cách đưa thêm giả thuyết về tình hình biến động tài chính gọi là đánh giá tính bền vững tài chính dự án
Khi tính toán hiệu quả tài chính dự án, cơ quan đánh giá phải tổng hợp các số liệu tài chính có được trong các khâu: phân tích thị trường (xác định doanh số, giá cả), phân tích kỹ thuật, phân tích tổ chức quản lý
Các phân tích này dựa vào kết quả của bước nghiên cứu dự án đồng thời so sánh, đối chiếu các định mức, tiêu chuẩn, các dự án tương tự và tình hình thực tế tại thời điểm đánh giá
Để đánh giá hiệu quả tài chính dự án kết hợp kỹ năng phân tích tài chính và quy trình đánh giá Việc thực hiện quy trình hợp lý sẽ đảm bảo tính chính xác, logic và tiết kiệm chi phí
1.2.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư
Hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư thể hiện ở mức độ thực hiện các mục tiêu
Trang 3017
kinh tế của quá trình đầu tư XDCB nhằm thoả mãn chủ yếu các nhu cầu vật chất của
xã hội Biểu hiện của hiệu quả kinh tế là tăng thu nhập quốc dân, nâng cao mức sống, làm thay đổi cơ cấu và thúc đẩy nền kinh tế phát triển, từ đó làm tăng thu ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm chi phí, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế,
- Đánh giá kinh tế tiếp cận dự án với tư cách là bộ phận không tách rời của tổng thể kinh tế lớn hơn (như: ngành, vùng, địa phương, lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế) Mức độ mở rộng hệ thống phụ thuộc vào phạm vi và tác động của dự án và cách đánh giá về tầm quan trọng của Chính phủ được thể hiện trong cách ưu tiên chính sách và công cụ hoạch định vĩ mô
1.2.2.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội
Đối với nhiều dự án, đặc biệt là các dự án đầu tư của nhà nước mang tính chất
xã hội, bên cạnh hiệu quả tài chính và kinh tế, cần đánh giá hiệu quả xã hội của dự án
Dự án ngoài việc thực hiện các mục tiêu kinh tế còn thực hiện các mục tiêu khác như mục tiêu chính trị, mục tiêu an ninh quốc phòng, văn hoá xã hội Lợi ích xã hội của
dự án đầu tư còn bao gồm sự thay đổi về điều kiện sống và điều kiện lao động, về môi trường, về hưởng thụ văn hoá, phúc lợi công cộng, chăm sóc y tế, quyền bình đẳng Phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội được xây dựng dựa trên nội dung:
- Các mục tiêu và giá trị xã hội của dự án được xác định trong quá trình thiết lập
các chính sách, chương trình và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Bởi vì, các giá trị và lợi ích xã hội của dự án cần được đánh giá trong phạm vi rộng hơn và thời gian dài hơn so với các đánh giá tài chính, kinh tế
- Để đạt được mục tiêu xã hội cần có các hoạt động kinh tế Nói cách khác, cần
có chi phí kinh tế để tạo ra lợi ích xã hội gia tăng
- Luôn có những phương án khác nhau, với chi phí khác nhau, để đạt tới cùng
mục tiêu xã hội Do vậy, có thể đánh giá và lựa chọn một phương án tốt hơn các phương án khác Nói cách khác, luôn tồn tại phương án tối ưu về chi phí, hay gọi là phương án có hiệu quả về mặt chi phí nhằm tạo ra lợi ích dự kiến Cần lưu ý rằng, chi phí tối thiểu không phải là tiêu chí đánh giá tính khả thi của dự án Do đó, phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội của dự án cần được kết hợp với phương pháp đánh giá hiệu quả tài chính, kinh tế của dự án
Trang 311.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính áp dụng để đánh giá các dự án đầu tư bằng vốn NSNN cho loại dự án nhà nước đầu tư trong lĩnh vực giao thông có thu phí, hoặc dự dự án đầu tư một phần bằng NSNN trong những doanh nghiệp phát triển trọng điểm có tính đến mức sinh lời, và thời gian thu hồi vốn Tuy nhiên những dự án loại này trên địa bàn huyện Di Linh không có
Mặt khác, dự án đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước là những dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài chủ yếu là có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội với đặc điểm nghiên cứu tại thời điểm dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng để tạo ra kết quả của quá trình đầu tư, nên việc tính toán các chỉ tiêu NPV, IRR lúc này là không cần thiết
Do đó, luận văn không nghiên cứu tính toán đến hiệu quả tài chính
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội
Đầu tư mang lại tính chất dài hạn và liên quan đến nhiều mặt hoạt động Trong từng giai đoạn của toàn bộ quá trình đầu tư, các mặt hoạt động này sẽ tác động đến hiệu quả vốn đầu tư theo những mức độ khác nhau
Hoạt động đầu tư sử dụng nguồn vốn NSNN thường là các hoạt động đầu tư công cộng, hầu hết các công trình sử dụng vốn NSNN đều mang lại hiệu quả kinh tế
xã hội mặc dù lợi nhuận thu được trực tiếp từ dự án hầu như không có Để đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư cần phải xác định vị trí của nó trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cần xem xét mức độ đóng góp của hoạt động khai thác, sử dụng công trình sau đầu tư vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, vùng, địa phương như thế nào Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của dự án đầu tư đối với việc thực hiện các mục tiêu chung phát triển của nền kinh tế
Trang 3219
Sự xem xét này mang tính định tính như đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh
tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội hoặc đo lường bằng định lượng như mức tăng thu ngân sách, mức gia tăng số người có việc làm, mức tăng thu ngoại tệ, mức tăng thu hút vốn đầu tư toàn xã hội so với vốn đầu tư từ NSNN
Để đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư có rất nhiều chỉ tiêu về kinh tế, về xã hội, nhưng do thời gian nghiên cứu hạn chế, luận văn chọn các chỉ tiêu sau:
a Chỉ tiêu tác động của dự án đầu tư đến tăng trưởng kinh tế để đánh giá tác động của các dự án đầu tư đến tăng trưởng kinh tế của một vùng, một địa phương, thông qua một số chỉ tiêu như chỉ tiêu ICOR
- ICOR (Incremental Capital - Output Rate) là một chỉ số cho biết muốn tăng một đơn vị sản lượng thì cần bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư ICOR được tính bằng công thức sau:
ICOR = Vốn đầu tư của các dự án / Mức tăng GDP Qua đó người ta có thể thấy được vốn đầu tư so với các nhân tố tăng trưởng khác có ý nghĩa thế nào đối với tăng trưởng sản lượng ICOR càng thấp chứng tỏ vốn đầu tư càng quan trọng, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng cao
Hệ số ICOR đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng các kế hoạch kinh
tế Đây là chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi nhất trong việc tính toán nhu cầu vốn đầu tư theo các mô hình kinh tế Thông qua việc sử dụng hệ số ICOR chúng ta thấy sự gia tăng vốn đầu tư đặt trong mới quan hệ với sự gia tăng GDP Chỉ tiêu ICOR mỗi nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ cấu kinh tế, hiệu quả đầu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ, hiệu quả của chính sách kinh tế ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu phụ thuộc vào việc tận dụng năng lực sản xuất Do đó ở các nước phát triển, tỷ lệ đầu tư thấp thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp
b Chỉ tiêu tác động của dự án đầu tư bằng vốn NSNN đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Để đánh giá tác động của dự án đầu tư bằng vốn NSNN đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, được đánh giá thông qua việc so sánh mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và sự biến đổi cơ cấu ngành kinh tế trong giai đoạn nhất định với định hướng và hiệu quả đầu tư trong từng ngành So sách kết quả các số liệu trước và sau thực hiện dự án, xem
Trang 3320
xét sự biến đổi của các chỉ tiêu của các ngành cần phân tích, sự chuyển dịch số liệu trước và sau có dự án theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng, ngành dịch vụ tăng lên và ngành nông nghiệp, lâm nghiệp giảm đi trên một vùng mà dự án tác động thì đấy là tác động tích cực, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, ngược lại thì sự tác động là không tích cực Để đánh giá tác động này chúng ta phải xem xét đến tốc động chuyển dịch cơ cấu nhanh, hay chậm và theo hướng tích cực hay tiêu cực
c Chỉ tiêu tác động của dự án đầu tư bằng vốn NSNN đến giải quyết việc làm cho người lao động
Đánh giá tác động của các dự án đầu tư bằng vốn NSNN trong việc tạo thêm việc làm mới cho người lao động liên quan đến xu hướng đầu tư sử dụng nhiều vốn hay sử dụng nhiều lao động Để đánh giá tác động của dự án đến lao động và việc làm
có thể xem xét cả chỉ tiêu tuyệt đối và các chỉ tiêu tương đối là chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án
d Chỉ tiêu tác động của dự án đầu tư đến tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế
Những năng lực mới của kết cấu hạ tầng được tạo ra từ các dự án, không những chỉ có tác dụng đối với chính dự án đó mà còn ảnh hướng đến các dự án khác và sự phát triển của địa phương
Được đo bằng giá trị TSCĐ tăng thêm trong kỳ của các dự án sử dụng vốn đầu
tư bằng vốn NSNN Để đánh giá chỉ tiêu hiệu quả về tăng cường cơ sở vật chất của nền kinh tế người ta dùng phương pháp so sánh giá trị TSCĐ tăng thêm của các dự án
sử dụng vốn NSNN so với tổng giá trị TSCĐ tăng thêm trong thời kỳ tính toán sẽ được sử dụng để đánh giá Đồng thời, sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá như:
- Hiệu quả vốn đầu tư tài sản tăng thêm có thể dùng công thức hệ số thực hiện vốn đầu tư: H = FA/I Trong đó: H là hệ số thực hiện vốn đầu tư; FA là giá trị TSCĐ được đưa vào sử dụng trong kỳ; I là tổng vốn đầu tư trong kỳ
- Hiệu suất TSCĐ biểu hiện sự so sánh giữa khối lượng tổng sản phẩm quốc nội được tạo ra trong kỳ (GDP) với khối lượng giá trị TSCĐ trong kỳ (FA)
H(fa) = GDP/FA
Trang 3421
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ một đồng giá trị TSCĐ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng sản phẩm quốc nội
e Chỉ tiêu đánh giá tác động của dự án đầu tư đến môi trường sinh thái
Việc thực hiện một dự án thường có những tác động nhất định đến môi trường sinh thái Các tác động này có thể là tích cực, nhưng cũng có thể là tiêu cực Tác động tích cực như là làm đẹp cảnh quan môi trường, cải thiện điều kiện sống, sinh hoạt cho dân cư địa phương các tác động tiêu cực như: làm ô nhiễm môi trường, nguồn nước, không khí, đất đai, làm ảnh hưởng sức khoẻ con người và súc vật trong khu vực Vì vậy, trong phân tích dự án các tác động môi trường đặc biệt là tác động tiêu cực phải được quan tâm thoả đáng
f Chỉ tiêu đánh giá tác động của dự án đầu tư đến thu ngân sách
Dự án đầu tư nào càng đóng góp nhiều cho ngân sách qua các loại thuế và các khoản thu khác thì hiệu quả của nó càng lớn khi xét về sự đóng góp vào lợi ích kinh tế
xã hội của dự án Để xem xét hiệu quả của sự đóng góp vào ngân sách của dự án, chúng ta có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ đóng góp vào ngân sách trên tổng số vốn đầu tư
g Chỉ tiêu đánh giá tác động của dự án đầu tư đến việc thu hút dự án khác
ngoài ngân sách, huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế, phát triển ngành nghề
Do xu hướng phát triển của phân công lao động xã hội, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng trong nền kinh tế ngày càng gắn bó chặt chẽ Vì vậy, lợi ích kinh tế
xã hội của dự án không chỉ đóng góp cho bản thân ngành được đầu tư mà có ảnh hưởng thúc đẩy phát triển các ngành khác, thông qua việc thu hút các dự án ngoài ngân sách đầu tư vào từng vùng, hay địa phương, trên nhiều ngành nghề khác nhau
h Chỉ tiêu đánh giá tác động của dự án đầu tư đến sự phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo tại địa phương
Có những dự án mà ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế và xã hội của địa phương là rất rõ rệt Đặc biệt đối với những dự án tại các địa phương nghèo, vùng núi, nông thôn với mức sống và trình độ dân trí thấp
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN
Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước chỉ chiếm một phần nhất
Trang 3522
định trên tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhưng luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư khác, thúc đẩy hoạt động đầu tư đối với nền kinh tế đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, để sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thì cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước, nhưng do hạn chế về thời gian, năng lực, tác giả xác định một số yếu tố chủ yếu sau:
1.3.1 Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, thu hút đầu tư, huy
động nguồn lực, phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo và bảo vệ môi trường
1.3.1.1 Về chế độ chính sách quản lý đầu tư XDCB
Một môi trường pháp lý đồng bộ, đầy đủ, thống nhất và ổn định sẽ tác dụng rất lớn tới hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư bằng vốn NSNN nói riêng Nếu cơ chế, chính sách chậm ban hành, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực
tế, cơ chế chưa đủ mạnh, chưa có các chế tài nghiêm khắc đối với các bên liên quan vào dự án xây dựng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư XDCB
Văn bản quy định, hướng dẫn về đầu tư phải kịp thời, đồng bộ xuyên suốt từ công tác chuẩn bị đầu tư, định mức, đơn giá, cơ chế phân bổ vốn, đấu thầu, nghiệm thu, thanh quyết toán và khai thác quản lý công trình, dự án
Công tác tổ chức quản lý vốn đầu tư và quản lý đầu tư xây dựng: Công tác này không chỉ ở một địa phương riêng lẻ, mà nó được phần cấp từ trung ương đến địa phương Hệ thống quản lý có tác động mạnh tới hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và kết quả của các dự án đầu tư cũng như công cuộc đầu tư nói chung
1.3.1.2 Công tác quản lý dự án đầu tư XDCB
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước là công tác quản lý đầu tư của địa phương, trình độ quản lý và sử dụng vốn của cán bộ quản lý và thực hiện đầu tư tại địa phương
Các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong việc thẩm định, kiểm tra, giám sát các dự án đầu tư để đảm bảo dự án đầu tư đạt hiệu
Trang 3623
quả đúng theo mục tiêu của dự án đã đề ra Năng lực của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng bao gồm cơ quan thẩm định, chủ đầu tư, Ban QLDA, tư vấn, nhà thầu phải đáp ứng được cầu của công việc quản lý và thực hiện dự án Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng phải đảm bảo có đủ cán bộ có năng lực chuyên môn về quản lý đầu tư XDCB, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ chuyên trách Cán bộ quản lý phải ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương, các quy định của pháp luật
Vai trò của tổ chức quản lý xuất hiện ngay từ khi dự án bắt đầu hình thành trong ý tưởng của dự án đầu tư và tiếp tục xuyên suốt trong quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Công tác tổ chức quản lý giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình hình thành và thực hiện dự án đầu tư Xuyên suốt qua các giai đoạn kể từ khi xuất hiện cơ hội đầu tư cho đến khi dự án đi vào thi công và đưa vào chính thức hoạt động, vai trò của nó ngày càng rõ dần để cuối cùng hình thành một bộ máy quản lý chỉ đạo toàn bộ hoạt động của dự án
Trong giai đoạn chuẩn bị dự án, sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan kế hoạch, tài chính, xây dựng, giao thông và các đơn vị chủ quản ảnh hưởng lớn đến việc xác định
dự án đầu tư, lập dự án, cũng như việc thẩm định xác định tổng mức đầu tư
Trong giai đoạn thực hiện dự án, nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Ban quản lý dự án, Kho bạc Nhà nước và các đơn vị có liên quan thì chất lượng công tác thanh quyết toán vốn đầu tư sẽ kém làm ảnh hưởng tiến độ dự án cũng như gây khó khăn cho Nhà thầu và thất thoát vốn đầu tư
Trong giai đoạn kết thúc dự án, dự án đưa vào sử dụng việc quản lý và khai thác cần phải quan tâm Nếu quản lý yếu kém, công tác khai thác không hiệu quả, người sử dụng vô ý thức và cố ý phá hoại công trình, gây ra hậu quả là vốn đầu tư đã
bỏ ra mà không thu hồi được, công trình xuống cấp nhanh chóng, gây thiệt hại lớn cho
xã hội và cộng đồng
1.3.1.3 Về quy hoạch và quyết định chủ trương đầu tư
Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch ngành, lĩnh vực phải đi trước một bước Việc xác định chủ trương đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của dự án đầu tư xây dựng Sai lầm về chủ trương đầu tư sẽ gây mất hiệu quả đầu tư, gây lãng phí, thất thoát Quyết định đầu tư phải phù hợp với quy hoạch và kế hoạch phát triển KTXH của địa
Trang 3724
phương, nếu đầu tư không có quy hoạch, không theo quy hoạch, chất lượng quy hoạch chưa cao, quy hoạch không phù hợp với kinh tế của từng vùng thì mục tiêu của dự án không đạt được
Kết quả đầu ra của các dự án ĐTXDCB là số người sử dụng công trình, lợi ích kinh tế - xã hội mà nó đem lại cho người dân, và nguồn thu từ dự án đem lại Tuy nhiên nếu những điều này không được dự báo chính xác, sẽ dẫn đến hiện tượng công trình bị khai thác quá nhiều, hoặc công trình không được khai thác hết công suất, điều này sẽ gây lãng phí cho dự án dẫn đến làm giảm hiệu suất, hiệu quả tài chính, kinh tế
xã hội của dự án
1.3.2 Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tăng cường cơ sở vật chất kỹ
thuật của nền kinh tế
1.3.2.1 Về công tác tư vấn khảo sát thiết kế, lập dự án đầu tư XDCB
Các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng có chức năng cung cấp thông tin về văn
bản quy phạm pháp luật, về cơ chế chính sách đầu tư và xây dựng, lập và quản lý dự
án, thiết kế, soạn thảo hồ sơ mời thầu, giám sát và quản lý quá trình thi công xây lắp, quản lý chi phí xây dựng, nghiệm thu công trình Tổ chức tư vấn là người theo dõi hoạt động thực hiện dự án từ khi triển khai đến khi hoàn thành dự án nên có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả dự án đầu tư Với chức năng giám sát và quản lý quá trình thi công, nếu tổ chức tư vấn hoạt động tốt sẽ giúp chủ đầu tư kiểm soát và tiết kiệm chi phí trong công tác xây dựng cũng như đảm bảo chất lượng công trình, ngược lại sẽ làm thất thoát lãng phí vốn đầu tư
1.3.2.2 Về công tác quản lý vốn đầu tư XDCB
Phải xây dựng kế hoạch đầu tư trung hạn gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng giai đoạn Bố trí vốn đầu tư phải theo quy hoạch phát triển KTXH và kế hoạch đầu tư trung hạn
Công tác bố trí vốn chuẩn bị đầu tư phải đảm bảo, chủ động thực hiện việc chuẩn bị đầu tư, đảm bảo các dự án bố trí vốn khởi công mới phải đảm bảo thủ tục đầu
tư trước
Công trình khởi công không được bố trí vốn, khối lượng XDCB hoàn thành không có vốn thanh toán dứt điểm gây tác động nặng nề, gây thiệt hại về kinh tế cho
Trang 3825
các nhà thầu, làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công, tiến độ đưa dự án vào hoạt động Triển khai kế hoạch giải ngân hàng năm bị chậm, bố trí vốn chậm Đồng thời với việc chậm và thiếu vốn sẽ gây tiêu cực là chạy theo chỉ tiêu kế hoạch, chạy vốn Đây là một trong những các yếu tố gây hậu quả làm lãng phí, thất thoát làm cho đồng vốn sử dụng kém hiệu quả Các yếu tố trên xảy ra là do cơ chế phân bổ vốn chưa rõ ràng, nhất quán Vì thế vốn sử dụng lãng phí, sai mục đích, không đúng chế độ dẫn đến tình trạng nợ đọng vốn
1.3.2.3 Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng chuẩn bị đầu tư
Hiệu quả dự án đầu tư bằng vốn NSNN chịu ảnh hưởng bởi công tác giải phóng mặt bằng mà công tác này lại bị chi phối bởi sự kết hợp giữa các ban ngành Nếu không có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Chủ đầu tư, UBND các cấp cũng như các đơn
vị có liên quan thì khó có thể tiến hành công tác giải phóng mặt bằng Nếu không giải phóng mặt bằng sẽ không thể thi công theo tiến độ đề ra, làm tăng vốn đầu tư và gây khó khăn cho quản lý dự án đầu tư Đây là một trong những lĩnh vực nhạy cảm cả về kinh tế lẫn xã hội, rất dễ bộc lộ những sơ hở gây ra yếu tố tiêu cực như đền bù giải phóng mặt bằng không đúng đối tượng, không thỏa đáng, kê khai khống khối lượng đền bù, áp giá sai, làm giả hồ sơ để nhận tiền đền bù của dân, dẫn đến hậu quả là làm tăng thêm vốn đầu tư xây dựng công trình gây lãng phí NSNN
Dự án bàn giao mặt bằng xây dựng không đúng thời hạn quy định làm chậm tiến độ thi công công trình Nguyên nhân có thể do cơ chế đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư chưa rõ ràng, thỏa đáng, bất cập về giá, chế độ đền bù dẫn đến những khó khăn khi tiến hành triển khai thực hiện giải phóng mặt bằng, gây tác động đến hiệu quả của dự án Đối tượng chịu tác động của yếu tố không chỉ là chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn mà cộng đồng người dân là đối tượng chịu tác động nhiều hơn cả
1.3.2.4 Công tác lựa chọn nhà thầu
Nhà thầu thực hiện dự án chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về những nội dung đã cam kết trong hợp đồng bao gồm: chất lượng công trình, thời gian thực hiện công trình, hướng dẫn sử dụng công trình trước khi bàn giao đưa vào sử dụng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về an toàn của công trình Nhà thầu là người tác động trực tiếp đến chất lượng công trình cũng như tiến độ xây dựng Sự chậm trễ trong tiến độ, chất lượng công trình kém sẽ làm lãng phí vốn đầu tư và gây khó khăn cho công tác
Trang 39tế - xã hội dự án đầu tư
1.3.2.5 Công tác thi công xây dựng công trình
Thi công công trình là quá trình biến ý tưởng đầu tư trên giấy thành sản phẩm, quá trình thi công đạt được mục tiêu đề ra có nghĩa là: Hoàn thành công trình đúng tiến độ về thời gian, chi phí không vượt quá dự kiến và chất lượng công trình đạt yêu cầu Trong quá trình thi công, nghiệm thu khối lượng có thể xảy ra việc áp dụng định mức, đơn giá sai, thi công không đảm bảo khối lượng xây lắp theo thiết kế được phê duyệt, một số khối lượng xây lắp không đủ so với thiết kế được duyệt nhưng vẫn được thanh toán; các yếu tố do kê khai, do kê khống khối lượng hoặc đánh giá sai chất lượng công trình, khi thẩm định thẩm tra không đúng làm tăng giá trị công trình hoặc
là yếu tố do áp lực đẩy nhanh tiến độ cũng làm tác động đến dự án về mặt chất lượng công trình
1.3.2.6 Công tác thanh toán, quyết toán dự án đầu tư XDCB và quản lý, khai thác công trình
- Để công tác thanh toán kịp thời, chính xác phải có sự kết hợp giữa Ban quản
lý dự án, đơn vị tư vấn, nhà thầu và giám sát của cơ quan quản lý nhà nước để đẩy nhanh tiến độ thi công, đảm bảo chất lượng công trình Nghiệm thu khối lượng, thanh toán phải chặt chẽ, kiểm soát áp dụng định mức, đơn giá, đảm bảo khối lượng xây lắp theo thiết kế được phê duyệt, chất lượng công trình Trong khâu nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng cũng có thể xảy ra nhiều vấn đề như nợ đọng, khó khăn về tài chính, không xác định rõ nguồn vốn, không có vốn gây hậu quả là nhà thầu sẽ bị thiệt hại về mặt kinh tế
Các yếu tố do quá nhiều thủ tục trong quá trình thanh toán, gây tác động tiêu
Trang 4027
cực đến việc hoàn thành mục tiêu của dự án, và làm kéo dài thời gian của dự án Yếu
tố do chưa đủ điều kiện, thủ tục, hồ sơ hoàn công để có thể thanh toán vốn đầu tư gây nhiều tác động bất lợi như làm kéo dài thời gian, gây phát sinh chi phí cho nhà thầu cà chủ đầu tư Hoặc thanh quyết toán khống khối lượng so với giá trị thực hiện hiện, bớt xén, sử dụng chi phí công trình không đúng theo quy định, gây thất thoát cho NSNN
- Việc quản lý và khai thác chưa chặt chẽ, triệt để còn xảy ra các hiện tượng do quản lý yếu kém, công tác khai thác không hiệu quả, người sử dụng vô ý thức và cố ý phá hoại công trình, gây ra hậu quả là vốn đầu tư đã bỏ ra mà không thu hồi được, công trình xuống cấp nhanh chóng, gây thiệt hại lớn cho xã hội và cộng đồng Công trình hoàn thành thì chủ đầu tư phải thực hiện quyết toán công trình hoàn thành, bàn giao cho cơ quan quản lý, đối tượng sử dụng, đồng thời bố trí kinh phí duy tu, bảo trì thường xuyên duy trì tuổi thọ dự án
1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XDCB
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Với đặc điểm nền kinh tế thị trường phát triển ở trình độ tư nhân hóa cao, các nước phát triển dành vốn đầu tư XDCB vào phát triển cơ sở hạ tầng, các cơ sở kinh tế lớn mà tư nhân không có khả năng đầu tư Các doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn kinh doanh chủ yếu đầu tư vào các cơ sở sản xuất Các nước như Nhật Bản, Singapore …
là những nước sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư XDCB hơn so với các nước trong khu vực
Nhật Bản: Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, Chính phủ đã tập trung vốn đầu
tư từ NSNN để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Thời kỳ 1967 – 1971, Chính phủ Nhật bàn đầu tư cho cơ sở hạ tầng gần gấp 2 lần so với giai đoạn 1964 – 1965 đặc biệt dành cho các đô thị lớn, Nhật Bản dùng vốn NSNN để tập trung đầu tư cho hệ thống giao thông vận tải, giao thông đô thị, nhà ở đô thị, hệ thống cấp nước, thoát nước, trường học, bệnh viện
Singapore: Chính phủ Singapore đã dành một lượng vốn đầu tư thích đáng từ NSNN để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, xây dựng nhiều khu công nghiệp tập trung tạo ra những tiền đề vật chất thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài
Từ những năm 1970 nền kinh tế Singapore đã đạt được những thành tựu đáng kể, từ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng sang lĩnh vực đào tạo lực lượng lao động, hiện đại hoá