TÓM T ẮT LUẬN VĂNĐề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên tỉnh Quảng Ngãi” được thực hiện nhằm mục tiêu: 1 Khám phá, xác định
Trang 1B Ộ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
-
HU ỲNH TẤN DŨNG
HƯƠNG LÀM VIỆC SAU KHI TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
Trang 2B Ộ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
-
HU ỲNH TẤN DŨNG
HƯƠNG LÀM VIỆC SAU KHI TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Các y ếu tố ảnh hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên tỉnh Quảng Ngãi” là công trình
nghiên cứu của quá trình học tập và làm việc nghiêm túc của bản thân tôi Các số liệu điều tra, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ tài liệu nào khác
Học viên
HUỲNH TẤN DŨNG
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin được tỏ lòng biết ơn chân thành đến
TS Lê Cao Thanh, người hướng dẫn khoa học cho luận văn của tôi, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu, và giải quyết các vấn đề xảy ra trong quá trình nghiên cứu
Ngoài ra, trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm, góp ý, hỗ trợ quý báu của Quý Thầy Cô, bạn bè, người thân, đồng hương Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
• Quý Thầy Cô khoa Quản Trị Kinh Doanh và khoa Sau Đại học-Trường Đại Học Tài Chính Marketing đã hết lòng và tận tâm truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tại trường
• Bạn bè, đồng hương, sinh viên Quảng Ngãi đang học tập và làm việc tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành bảng câu hỏi khảo sát nhằm cung cấp dữ liệu cho quá trình nghiên cứu
• Các lãnh đạo Sở ban ngành tỉnh Quảng Ngãi, các cựu sinh viên đã nhiệt tình cùng tôi thảo luận trong phần nghiên cứu định tính
Mặc dù đã cố gắng hết sức để hoàn thiện luận văn song cũng không thể tránh khỏi sai sót Rất mong nhận được những thông tin đóng góp, chia sẻ, phản hồi quý báu từ Quý Thầy Cô và bạn đọc
TP.Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2015
Người Viết
Huỳnh Tấn Dũng
Trang 5M ỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
1.6 BỐ CỤC CỦA NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI 5
2.1.1 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) của Ajzen và Fishbein 5
2.1.2 Thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen 6
2.1.3 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng của Kotler 8
2.2 MARKETING ĐỊA PHƯƠNG VÀ CÁC THÀNH PHẦN CỦA NÓ 16
2.2.1 Địa phương 17
2.2.2 Marketing địa phương 17
2.2.3 Nhà marketing địa phương 18
2.2.4 Thị trường mục tiêu của marketing địa phương 18
2.2.5 Sự cần thiết phải thu hút nhân lực, lao động 18
2.2.6 Phương pháp thu hút lao động 19
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 21
2.3.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới 21
2.3.2 Một số mô hình nghiên cứu trong nước 22
2.4 KHÁI QUÁT VÙNG MIỀN NGHIÊN CỨU 25
2.4.1 Tình hình phát triển kinh tế 25
2.4.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh ( PCI) 25
2.4.3 Thực trạng lực lượng lao động đang làm việc trên địa bàn tỉnh 27
2.4.4 Chính sách thu hút và ưu đãi của tỉnh Quảng Ngãi 28
Trang 62.5.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 30
2.5.2 Các giả thuyết nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 35
3.2 NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 37
3.3 LẬP BẢNG CÂU HỎI 42
3.4 NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 42
3.4.1 Chọn mẫu nghiên cứu 42
3.4.2 Thu thập dữ liệu 43
3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU 43
3.5.1 Phân tích hệ số Cronbachk alpha 44
3.5.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 44
3.5.3 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 45
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ THẢO LUẬN 48
4.1 THỐNG KÊ MẪU NGHIÊN CỨU 48
4.1.1 Mẫu dữ liệu nghiên cứu 48
4.1.2 Thống kê mô tả biến định tính 48
4.2 ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ THANG ĐO 51
4.2.1.Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 51
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 54
4.2.3 Diễn giải và đặt tên nhân tố 58
4.3 MÔ HÌNH ĐIỀU CHỈNH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT 59
4.4 PHÂN TÍCH HỒI QUY TUYẾN TÍNH 59
4.4.1 Phân tích tương quan 59
4.4.2 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 60
4.5 KIỂM ĐỊNH SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH QUAY VỀ QUÊ HƯƠNG LÀM VIỆC VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN 65
4.6 THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN ĐỘC LẬP TRONG MÔ HÌNH 70
4.7 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 71
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
Trang 75.1 KẾT LUẬN 74
5.2 KIẾN NGHỊ 74
5.2.1 Kiến nghị với chính quyền Quảng Ngãi 74
5.2.2 Kiến nghị với các doanh nghiệp tại Quảng Ngãi 78
5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 79
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 79
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 8DANH M ỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Mô hình hành động hợp lý (TRA) 5
Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB) 7
Hình 2.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người mua (Philip Kotler, 2005) 9
Hình 2.4: Thứ bậc của nhu cầu theo Maslow 11
Hình 2.5: Quá trình ra quyết định mua hàng (Philip Kotler, 2005) 13
Hình 2.6: Những yếu tố kìm hãm quá trình biến ý định mua hàng thành quyết định mua hàng (Philip Kotler, 2005) 15
Hình 2.7 : Mô hình nghiên cứu đề xuất các yếu yếu tố hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên 31
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 36
Hình 4.1: Biểu đồ thống kê mẫu có hay không có dự định quay về 48
Hình 4.2: Biểu đồ thống kê mẫu về đặc điểm thời gian quay về làm việc 49
Hình 4.3 : Mô hình nghiên cứu đã điều chỉnh 59
Hình 4.4: Biểu đồ phân tán phần dư và giá trị dự đoán ý định quay về quê hương làm việc 62
Hình 4.5: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 62
Trang 9DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả một số nghiên cứu liên quan 24
Bảng 2.2: Bảng điểm và vị thứ của các chỉ số thành phần PCI Quảng Ngãi trên bảng xếp hạng 63 tỉnh thành từ năm 2012 – 2014 26
Bảng 2.3: Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo, năm 2013 27
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn, năm 2013 28
Bảng 3.1: Bảng thang đo nháp 37
Bảng 3.2 Bảng thang đo chính thức 40
Bảng 4.1: Thống kê mẫu về đặc điểm có hay không có dự định quay về 48
Bảng 4.2:Thống kê mẫu về đặc điểm thời gian quay về làm việc 49
Bảng 4.3: Thống kê mẫu về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, chuyên ngành, tình trạng hôn nhân, thu nhập trung bình 50
Bảng 4.4 : Cronbach’s Alpha của thang đo điều kiện làm việc tại địa phương 51
Bảng 4.5 : Cronbach’s Alpha của thang đo tình cảm quê hương 52
Bảng 4.6 : Cronbach’s Alpha của thang đo tình cảm gia đình 52
Bảng 4.7 : Cronbach’s Alpha của thang đo chi phí sinh hoạt tại quê hương 52
Bảng 4.8: Cronbach’s Alpha của thang đo mức lương bình quân tại địa phương 52
Bảng 4.9 : Cronbach’s Alpha của thang đo chính sách ưu đãi của địa phương 53
Bảng 4.10 : Cronbach’s Alpha của thang đo ý định quay về 53
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett của các biến độc lập 55
Bảng 4.12 : Bảng kết quả phân tích phương sai tổng thể của các biến độc lập 55
Bảng 4.13: Kết quả phân tích nhân tố các biến độc lập 56
Trang 10Bảng 4.14: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett của biến phụ thuộc 57
Bảng 4.15 : Kết quả phân tích phương sai tổng thể của biến phụ thuộc 57
Bảng 4.16 : Kết quả phân tích nhân tố biến phụ thuộc 57
Bảng 4.17: Bảng tóm tắc thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên tỉnh Quảng Ngãi 58
Bảng 4.18: Ma trận tương quan giữa các biến 60
Bảng 4.19: Kết quả phân tích hồi quy bội 61
Bảng 4.20: Kết quả đánh giá độ phù hợp của mô hình 63
Bảng 4.21: Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình 63
Bảng 4.22: Bảng kiểm định các giả thuyết 65
Bảng 4.23: Kết quả kiểm định Independent T-test cho biến giới tính 65
Bảng 4.24: Kết quả kiểm định Independent T-test cho biến độ tuổi 66
Bảng 4.25: Kết quả kiểm định Independent T-test cho biến nghề nghiệp 67
Bảng 4.26: Kết quả kiểm định Independent T-test cho biến tình trạng hôn nhân 67
Bảng 4.27: Kiểm định sự đồng nhất phương sai giữa các nhóm học vấn vàthu nhập 68
Bảng 4.28: Kết quả phân tích ANOVA 69
Bảng 4.29: Bảng thống kê mô tả thang đo Mức thu nhập tại địa phương 70
Bảng 4.30: Bảng thống kê mô tả thang đo tình cảm gia đình 70
Bảng 4.31: Bảng thống kê mô tả thang đo tình cảm quê hương 71
Trang 11DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Anova: Phân tích phương sai ( Analysis Of Variance)
EFA: Phân tích nhân tố khám phá – Exploring Factor Analysing
SPSS: Chương trình phân tích thống kê khoa học (Statistical Pachage for the Social Sciences)
WTO: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization)
AEC : Cộng đồng kinh tế ASEAN ( ASEAN Economic Community)
TPP: Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement)
QN: Quảng Ngãi
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12TÓM T ẮT LUẬN VĂN
Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc sau khi
tốt nghiệp của sinh viên tỉnh Quảng Ngãi” được thực hiện nhằm mục tiêu: (1) Khám
phá, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên người Quảng ngãi; (2) Lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố ảnh hưởng đến ý định quay về địa phương làm việc; (3) Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nhằm nâng cao tính hấp dẫn của địa phương trong việc thu hút sinh viên quay về địa phương làm việc sau khi tốt nghiệp
Dựa vào lý thuyết marketing địa phương, thuyết hành vi của người tiêu dùng, kết quả của các nghiên cứu trước đây, kết hợp với quá trình nghiên cứu sơ bộ (phỏng vấn chuyên gia), tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay
về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên tỉnh Quảng Ngãi như sau: (1) Điều kiện làm việc tại địa phương; (2) Tình cảm quê hương; (3) Tình cảm gia đình; (4) Chi phí sinh hoạt tại địa phương; (5) Mức lương bình quân tại địa phương; (6) Chính sách ưu đãi của địa phương
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng với 246 mẫu khảo sát thu thập từ các sinh viên người Quảng Ngãi Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 để kiểm định và phân tích số liệu Đầu tiên, tác giả kiểm định thang đo bằng
hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Kế đến, tác giả sử dụng phân tích hồi quy để kiểm định các giả thuyết và xác định tầm quan trọng của các nhân
tố ảnh hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp Kết quả có 3 giả thuyết được chấp nhận tương ứng với 3 yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc xếptheo thứ tự tầm quan trọng giảm dần gồm:(1)Tình cảm quê
hương;(2)Tình cảm gia đình; (3)Mức thu nhập tại địa phương; Cuối cùng, tác giả tiến hành kiểm định xem có sự khác biệt trong xu hướng quay về giữa các nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, học vấn, thu nhập, chuyên ngành Tuy nhiên chỉ có duy nhất nhóm chuyên ngành là có sự khác biệt
Dựa vào kết quả nghiên cứu tác giả đưa ra một số kiến nghị cho chính quyền địa phương và các doanh nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU.
Nguồn nhân lực luôn là một yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói chung và địa phương nói riêng Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và có ý nghĩa quyết định của nhân tố con người
Như chúng ta đã biết, hàng năm có khoảng trăm ngàn sinh viên từ các địa phương trên cả nước theo học ở các trung tâm thành phố lớn, đặc biệt là TPHCM và
Hà Nội Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp ra trường, theo quy luật tự nhiên, sinh viên ở lại làm việc ở những trung tâm đang có điều kiện để phát triển kinh tế , văn hóa – xã hội
Ở những nơi đó có mức sống, mức thu nhập cao hơn những vùng khác, có điều kiện để phát huy tài năng hơn nên đa phần sinh viên đã đem hết trí tuệ, kiến thức, sức lực của
họ để cống hiến và làm việc, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ
và chính điều đó làm ảnh hưởng đến mức độ phát triển giữa các trung tâm thành phố lớn và các địa phương, tỉnh thành
Với những hiện trang trên, việc thu hút nhân lực quay về làm việc ở địa phương cũng đã được nhiều nhà lãnh đạo tỉnh đặt ra từ nhiều năm nay như Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định…với những chính sách thu hút khá hấp dẫn như
hỗ trợ về mặt tài chính khi đến địa phương nhận công tác, đất đai, nhà ở và bố trí công tác Bên cạnh đó, họ còn được gửi đào tạo bồi dưỡng về kiến thức quản lý Nhà nước, tin học, ngoại ngữ, bồi dưỡng tiền công vụ…
Tuy nhiên với những chính sách mà các địa phương đưa ra vẫn còn gặp nhiều hạn chế, chưa đủ để thực sự thu hút nhân lực và chưa đạt hiệu quả cao vì số lượng chưa được nhiều hoặc một số thành phần đã được thu hút rồi lại bỏ việc để quay lại những trung tâm kinh tế - xã hội lớn của Việt Nam Và địa phương Quảng Ngãi cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Theo thống kê sơ bộ của Sở GD & ĐT, trong 5 năm qua , toàn tỉnh có khoảng 60 nghìn sinh viên đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng Đây là nguồn nhân lực trẻ, có tri thức, năng động, sáng tạo và luôn cống hiến hết mình với công việc Họ sẽ là lực lượng bổ sung quan trọng cho đội ngũ tri thức, khoa học, công nghệ và nguồn lao động chất lượng cho tỉnh
Trang 14Tuy nhiên, sau khi ra trường đa số ở lại Thành Phố hay các tỉnh lân cận để lập nghiệp Cũng có một số ít sau khi tốt nghiệp vì điều kiện nào đó đã quay về làm việc tại tỉnh nhà nhưng sau một thời gian lam việc, số ít ổn định cuộc sống, số còn lại tìm cách trở lại Thành Phố để sinh sống hoặc học tập
Vậy làm thế nào để thu hút được những con người này quay về địa phương đóng góp tri thức, kinh nghiệm của họ và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tỉnh nhà? Những yếu tố nào tác động đến xu hướng quay về làm việc ở địa phương? Đó là câu hỏi mà các nhà lãnh đạo địa phương nói chung và Quảng Ngãi nói riêng cần phải tìm ra lời giải đáp, tạo tiền đề cho sự thu hút nguồn nhân lực quay về làm việc ở địa phương
1.8 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích nghiên cứu của luận văn này bao gồm những mục đích chính như sau:
- Khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên người Quảng ngãi
- Lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay về địa phương làm việc
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao tính hấp dẫn của địa phương trong việc thu hút sinh viên quay về địa phương làm việc sau khi tốt nghiệp
1.9 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Do quĩ thời gian, nhân lực và các điều kiện khác của tác giả dành cho nghiên cứu còn hạn chế, vì vậy tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu các sinh viên người Quảng Ngãi chuẩn bị tốt nghiệp và đã tốt nghiệp ở các trường Cao đẳng, Đại học ở TPHCM trong vòng 10 năm trở lại
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên tỉnh Quảng Ngãi
- Đối tượng khảo sát: là những sinh viên người Quảng Ngãi đang học hoặc đã tốt nghiệp và đi làm tại TPHCM
Trang 151.10 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức:
- Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính Phỏng vấn các chuyên gia để khám phá, tìm hiểu các yếu tố khách quan mà sinh viên quan tâm nhiều đến việc quay về làm việc ở quê hương
- Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng Sau khi tìm ra được các yếu tố tác động đến xu hướng quay về làm việc ở địa phương, tác giả tiến hành nghiên cứu điều tra với kỹ thuật phỏng vấn nhiều đối tượng để thu thập, thống kê ý kiến của số đông sinh viên về ý định quay
về làm việc ở địa phương thông qua bảng câu hỏi định lượng được thiết kế với thang đo Likert 5 mức độ để đo lường mức độ quan trọng của các yếu tố rút ra từ nghiên cứu định tính Việc điều tra nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện
Việc nghiên cứu đề tài: “ Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên tỉnh Quảng Ngãi” một lần nữa khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương Quảng Ngãi cũng như quốc gia nói chung, qua đó góp phần nâng cao nhận thức của con người về vai trò và vị trí của nguồn nhân lực, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay
Về ý nghĩa thực tiễn cho thấy: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định quay trở về quê hương làm việc có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà lãnh đạo tỉnh nhà Vì vậy nghiên cứu các yếu tố này sẽ giúp các nhà lãnh đạo hiểu rõ hơn và áp dụng tốt hơn trong việc điều chỉnh chính sách thu hút nhân lực quay về đã đề ra đồng thời tìm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của địa phương trong việc thu hút nhân lực Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học và khách quan giúp các nhà lãnh đạo tìm ra những yếu
tố nào cần tập trung nhất nhằm thu hút họ về làm việc và cống hiến cho tỉnh nhà, góp phần xây dựng địa phương ngày càng phát triển
Trang 161.12 B Ố CỤC CỦA NGHIÊN CỨU
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan lý luận
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả khảo sát và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm t ắt chương 1:
Kết thúc chương 1, tác giả đã trình bày một cách tổng quan về đề tài nghiên cứu để người đọc có cái nhìn khái quát về nội dung cũng như phương pháp nghiên cứu
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) của Ajzen và Fishbein:
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và
Fishbein xây dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20, được hiệu chỉnh mở rộng trong thập niên 70 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly và Chaiken 1993; Olson và Zanna 1993; Sheppard, Hartwick và Warshaw 1988)0F
1 Thuyết TRA được sử dụng để dự báo hành vi tự nguyện và giúp đỡ những người khác trong việc nhận ra yếu tố tâm lý của mình Nó được thiết kế dựa trên giả định rằng con người thường hành động một cách hợp lý, họ xem xét các thông tin có sẵn xung quanh và những hậu quả từ hành động của họ
Hình 2.1: Mô hình hành động hợp lý (TRA)
(Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975)
Theo TRA, hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó Ý định là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện hành vi; là một yếu tố dẫn đến thực hiện hành vi Vì thế, ý định hành vi (Behavior Intention - BI) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi và chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố là thái độ đối với hành vi (Attitude
Trang 18
Toward Behavior - AB) và chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN), đóng vai trò như các chức năng để một người dẫn đến thực hiện hành vi (Hình 2.1)
Nghĩa là, ý định hành vi (BI) là một hàm gồm thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan đối với hành vi đó
BI = W1.AB + W2.SN
Trong đó, W1 và W2 là các trọng số của thái độ (AB) và chuẩn chủ quan (SN)
Thái độ (Attitude Toward Behavior) là yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực, đồng tình hay phản đối của một người tiêu dùng đối với hành vi và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó Chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức, suy nghĩ về những người ảnh hưởng (có quan hệ gần gũi với người có ý định thực hiện hành vi như: người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) cho rằng nên thực hiện hay không nên thực hiện hành vi (Ajzen 1991, tr 188)
Hạn chế của mô hình TRA:
Hạn chế lớn nhất của thuyết này là hành vi của một cá nhân đặt dưới sự kiểm soát của ý định Nghĩa là, thuyết này chỉ áp dụng đối với những trường hợp cá nhân có ý thức trước khi thực hiện hành vi Vì thế, thuyết này không giải thích được trong các trường hợp như hành vi không hợp lý, hành động theo thói quen, hoặc hành vi được coi là không ý thức (Ajzen 1985)
2.1.2 Thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Ajzen
Trên cơ sở thuyết hành động hợp lý của Ajzen và Fishbein (1975), Ajzen (1991) phát triển Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planed Behavior - TPB) để dự báo và làm sáng tỏ hành vi con người trong một bối cảnh cụ thể Nó sẽ cho phép dự đoán cả những hành vi không hoàn toàn điều khiển được với giả định một hành vi có thể được
dự báo hoặc được giải thích bởi ý định để thực hiện hành vi đó (Kolvereid 1996) Theo
đó, TPB cho rằng ý định là nhân tố động cơ dẫn đến hành vi và được định nghĩa như là mức độ nỗ lực cá nhân để thực hiện hành vi Ý định là tiền đề gần nhất của hành vi và được dự đoán lần lượt bởi thái độ; chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi (Hình 2.2)
Trang 19Hình 2.2: Mô hình thuy ết hành vi hoạch định (TPB)
Trong đó:
‒ Thái độ (Attitude Toward Behavior - AB) được hiểu như là cảm xúc tích cực hay tiêu cực cá nhân bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý và các tình huống đang gặp phải
‒ Chuẩn chủ quan (Subjective Norm - SN) hay nhận thức về ảnh hưởng từ phía cộng đồng xã hội được định nghĩa là “nhận thức về áp lực xã hội đến thực hiện hoặc không thực hiện hành vi” (Ajzen 1991) Đó là ảnh hưởng của những người quan trọng
và gần gũi có thể tác động đến cá nhân thực hiện hành vi
‒ Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavirol Control - PBC) phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát, hạn chế hay không Ajzen (1991) đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến ý định thực hiện hành vi và nếu chính xác trong nhận thức của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi
TPB giả định thêm rằng những phần hợp thành ý định lần lượt được xác định bởi kỳ vọng nổi bật nhất và ước lượng kỳ vọng cho mỗi thành phần đó Trong đó, kỳ vọng về thái độ đối với một hành vi có sẵn, hoặc kỳ vọng cụ thể về kết quả của việc thực hiện
Niềm tin về chuẩn
chủ quan
Nhận thức kiểm soát hành vi Niềm tin
về kiểm soát
Trang 20hành vi; kỳ vọng về chuẩn chủ quan đó là nhận thức của những người quan trọng khác
là tán thành hay không tán thành thực hiện hành vi; kỳ vọng về nhận thức kiểm soát hành vi liên quan tới những điều kiện thuận tiện hay cản trở việc thực hiện hành vi Ajzen (1988) khẳng định những kỳ vọng này là những thông tin nền tảng của hành vi
và nguyên nhân dẫn đến hành vi một cách cơ bản là bởi những kỳ vọng này (Scholten, Kemp và Ompta 2004) Vì thế, sự thay đổi một trong những kỳ vọng trên có thể dẫn đến sự thay đổi về hành vi Dựa vào nguyên nhân căn bản này, một số nhà nghiên cứu
đã tạo ra sự can thiệp thay đổi kỳ vọng để xác định xem người ta có thay đổi hành vi hay không Một số khác đã khám phá sự ảnh hưởng của chính sách can thiệp bằng cách kiểm tra sự thay đổi kỳ vọng sau khi áp dụng chính sách
TPB đã được áp dụng thành công để dự đoán và giải thích các hành vi khác nhau như quyết định bỏ phiếu, giảm cân, ngừng hút thuốc, vi phạm giao thông,
Hạn chế của mô hình TPB:
Th ứ nhất, TPB như là một sự thay thế cho giới hạn kiểm soát ý chí của TRA và cho
rằng hành vi là có chủ ý và có kế hoạch Tuy nhiên TPB dựa trên niềm tin rằng mọi người đều có suy nghĩ hợp lý và đưa ra những quyết định hợp lý dựa trên thông tin sẵn
có Vì thế, động cơ vô thức không được đưa vào xem xét trong mô hình TPB
Thứ hai, thực tế các yếu tố để xác định ý định không giới hạn bởi thái độ, chuẩn chủ
quan và kiểm soát hành vi như Ajzen (1991) Vì thế, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng chỉ có 40% biến thiên ý định của hành vi có thể được giải thích bằng TPB của Ajzen (1991) Do đó, đã xuất hiện các biến thể của TPB
2.1.3 Lý thuy ết hành vi người tiêu dùng của Kotler
Đề tài nghiên cứu ở khía cạnh tiếp thị, dưới góc nhìn tiếp thị thì các địa phương
là nơi cung cấp dịch vụ còn sinh viên là những khách hàng Vì vậy, các lý thuyết về hành vi người tiêu dùng sẽ được dùng làm cơ sở lý luận cho hành vi chọn địa phương làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp
Trang 21Hình 2.3: Các y ếu tố ảnh hưởng đến hành vi người mua (Philip Kotler, 2005)
Như đã đề cập ở trên các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng sẽ được trình bày sau đây:
- Văn hóa: Hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, có nghĩa là một tổng thể
phức hợp bao gồm các kiến thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, phong tục và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội
Văn hóa là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và hành vi của con người
- Nhánh văn hóa: Mỗi nền văn hóa đều có những nhánh văn hóa nhỏ hơn tạo
nên những đặc điểm đặc thù hơn và mức độ hội nhập với xã hội cho những thành viên của nhánh văn hóa Nhánh văn hóa bao gồm: các dân tộc, tôn giáo, gồm các chủng tộc
và các vùng địa lí Nhiều nhánh văn hóa tạo nên những khúc thị trường quan trọng và những người làm marketing thường thiết kế các sản phẩm và chương trình marketing theo nhu cầu của nhánh văn hóa
- Tầng lớp xã hôi: Các tầng lớp xã hội là những bộ phận tương đối đồng nhất
và bền vững trong xã hội, được xếp theo thứ bậc và gồm những thành viên có chung những giá trị, mối quan tâm và hành vi
Hành vi của người tiêu dùng cũng được qui định bởi những yếu tố mang tính
Trang 22chất xã hội như: Nhóm tham khảo, gia đình, vai trò và địa vị xã hội
- Nhóm tham khảo: Của một người bao gồm những nhóm có ảnh hưởng trực
tiếp (mặt đối mặt) hay gián tiếp đến thái độ hay hành vi của người đó Những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp đến một người gọi là những nhóm thành viên Đó là những nhóm
mà người đó tham gia và có tác động qua lại Có những nhóm là nhóm sơ cấp, như gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng, và đồng nghiệp, mà người đó có quan hệ giao tiếp thường xuyên Các nhóm sơ cấp thường là có tính chất chính thức hơn và ít đòi hỏi phải có quan hệ giao tiếp thường xuyên hơn
Gia đình: Các thành viên trong gia đình có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của
người mua Người dạy bảo trong gia đình là bố mẹ, con người được cha mẹ dạy bảo
về tôn giáo, chính trị, kinh tế, danh dự, lòng tự trọng, tình yêu Ngay cả khi người mua không còn có tác động qua lại chặt chẽ với cha mẹ mình thì ảnh hưởng của họ đối với hành vi không ý thức được của người mua có thể vẫn rất đáng kể Ở những nước mà cha mẹ và con cái vẫn tiếp tục sống chung với nhau thì ảnh hưởng của cha mẹ có thể
là quyết định
- Vai trò và địa vị xã hội: Một người đều có mặt trong nhiều loại nhóm: gia
đình, câu lạc bộ, tổ chức Vị trí của người ấy trong mỗi nhóm có thể xác định trong khuôn khổ vai trò và địa vị Mỗi vai trò đều sẽ ảnh hưởng đến hành vi mua của họ Mỗi vai trò đều gắn liền với một địa vị (status) phản ảnh sự kính trọng nói chung của
xã hội, phù hợp với vai trò đó Vì vậy, người mua thường lựa chọn các sản phẩm nói lên vai trò và địa vị của họ trong xã hội Người làm marketing cần nhận thức rõ khả năng thể hiện địa vị xã hội của các sản phẩm và nhãn hiệu Tuy nhiên, các biểu tượng địa vị không chỉ thay đổi tùy theo các tầng lớp xã hội, mà còn khác nhau theo các vùng địa lý nữa
- Giới tính: Giới tính là yếu tố cá nhân đầu tiên có ảnh hưởng tiên quyết đến
quyết đinh tiêu dùng Do những đặc điểm tự nhiên, phụ nữ và đàn ông có nhu cầu tiêu dùng khác nhau và cách lựa chọn hàng hóa cũng khác nhau
- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp có ảnh hưởng nhất định đến tính chất của hàng
hoá và dịch vụ được chọn mua
- Tình trạng kinh tế: Tình trạng kinh tế của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến
Trang 23cách lựa chọn hàng hoá dịch vụ của họ Nó được xác định căn cứ vào phần dư trong thu nhập, phần tiết kiệm, phần có, khả năng vay và những quan điểm chi đối lặp với tích luỹ
- Lối sống: Là những hình thức tồn tại bền vững của con người trong thế giới,
được thể hiện ra trong hoạt động, sự quan tâm và trong niềm tin của nó
Lối sống phát họa “bức chân dung toàn diện” của con người trong sự tác động qua lại giữa nó với môi trường xung quanh
- Nhân cách và tự ý thức: Mỗi người đều có một kiểu nhân cách hết sức đặt
thù, có ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người đó Nhân cách là một tập hợp những đặc điểm tâm lý của con người đảm bảo sự phản ứng đáp lại môi trường xung quanh của người tiêu dùng có trình độ tương đối và ổn định
Các yếu tố có tính chất tâm lý
- Động cơ: Là nhu cầu đã trở thành khẩn thiết đến mức độ buộc con người
phải tìm cách và phương thức thỏa mãn nó
Lý thuyết động cơ của Maslow: Abraham Maslow cố gắng giải thích tại sao trong những thời gian khác nhau con người lại bị thoi thúc bởi những nhu cầu khác nhau Tại sao con người này lại hao phí thời gian và sức lực để tự vệ còn người kia thì lại cố gắng giành được sự kính trọng của những người xung quanh? Ông cho rằng những nhu cầu của con người được sắp xếp trật tự theo thứ bậc ý nghĩa quan trọng, từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết nhất
Thứ bậc của Maslow được trình bày trong hình sau:
Hình 2.4: Th ứ bậc của nhu cầu theo Maslow
Trang 24- Cá tính: Nói đến hành động kiên định của một người hoặc sự phản ứng đối với những tình huống diễn ra có tính lặp lại, các nhà nghiên cứu cho rằng đây là những nét chính ảnh hưởng đến sự ưa thích nhãn hiệu và loại sản phẩm/dịch vụ
- Nhận thức: Là quá trình một cá nhân chọn lựa, tổ chức và diễn giải thông tin
nhận được để tạo ra một bức tranh có ý nghĩa về thế giới Nhận thức có chọn lọc là quan trọng bởi vì con người nhận thức có chọn lọc đều họ muốn và ảnh hưởng theo cách mà con người xét đến rủi ro trong việc mua như thế nào
Nhận thức có chọn lọc là kết quả của nhiều quá trình nhận thức, đã được mô tả bởi nhiều lý thuyết khác nhau Cơ bản là con người muốn duy trì tính thống nhất giữa niềm tin và thực tế, thậm chí khi nó xung đột với thực tế Sự chọn lọc này có tính cá nhân và có những mức độ khác nhau tùy thuộc vào việc con người cần bao nhiêu niềm tin và/hoặc cần phải làm điều gì khi không chắc chắn về nó
(1) Khuynh hướng chọn lọc là quá trình chú trọng tới những thông điệp phù hợp với thái độ và niềm tin của một người và bỏ qua những thông điệp không phù hợp
(2) Nhận thức có chọn lọc bao gồm việc diễn giải thông tin để phù hợp với thái độ
và niềm tin của người đó
(3) Ghi nhớ có chọn lọc nghĩa là người tiêu dùng không hoàn toàn nhớ tất cả thông tin mà họ đã thấy, đọc hoặc nghe
(4) Nhận thức có tính tiềm thức nghĩa là người ta thấy hoặc nghe những thông điệp
mà không có ý thức về nó, đây còn là vấn đề gây tranh cãi với nhiều ý kiến chống đối hơn ủng hộ Các luận chứng, nghiên cứu cho rằng những thông điệp như vậy chỉ có mức ảnh hưởng hạn chế lên hành vi
(5) Rủi ro có nhận thức thể hiện ở sự cảm thấy lo lắng của người tiêu dùng khi mua sản phẩm có thể dẫn đến hậu quả tiêu cực và có những mức độ không chắc chắn trong quá trình mua Các nhà tiếp thị cố gắng làm giảm rủi ro có nhận thức của người tiêu dùng bằng cách cung cấp những sản phẩm dùng thử miễn phí, tìm sự ủng hộ của người
có ảnh hưởng, cung cấp sự đảm bảo và sản phẩm được bảo hành
Quá trình thông qua quyết định mua hàng của người tiêu dùng trải qua 5 giai đoạn: nhận thức vấn đề, tìm hiểu thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua hàng và thái độ sau khi mua hàng
Trang 25Hình 2.5: Quá trình ra quyết định mua hàng (Philip Kotler, 2005)
Xét theo mô hình thì người tiêu dùng phải trải qua tất cả các giai đoạn trên trong mỗi lần mua hàng bất kỳ Tuy nhiên khi thực hiện mua hàng thường ngày họ bỏ qua một vài giai đoạn hay thay đổi trình tự của chúng
+ Nhu cầu: Là sự mất cân đối trong trạng thái thực tế
+ Cơ hội: Là những khả năng để đạt được trạng thái lý tưởng
Khi sự khác nhau giữa trạng thái lý tưởng và thực tế đủ lớn, sẽ gây ra một cảm giác tâm lý (và đôi khi vật lý) bực bội khó chịu (muốn) thúc đẩy con người hành động
Người tiêu dùng bị kích thích có thể bắt đầu và cũng có thể là sẽ không bắt đầu tìm kiếm thông tin bổ sung
Giai đoạn tìm kiếm thông tin là để làm rõ những chọn lựa mà người tiêu dùng được cung cấp, bao gồm 2 bước:
- Tìm kiếm thông tin bên trong: Liên quan tới việc tìm kiếm trong ký ức để
khơi dậy những kinh nghiệm hoặc hiểu biết trước đây liên quan đến công việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề (tìm kiếm các kinh nghiệm, lời khuyên, quảng cáo ) Thông tin bên trong thường phục vụ cho sản phẩm mua thường xuyên
- Tìm kiếm thông tin bên ngoài: Cần thiết khi những kinh nghiệm hoặc hiểu
biết trong quá khứ không đủ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng
Các nguồn thông tin bên ngoài chủ yếu là:
Nhận thức
vấn đề Tìm kiếm thông tin
Đánh giá các phương án Quyết định mua
Hành vi sau mua
Trang 26+ Nguồn thông tin cá nhân (bạn bè, gia đình và người quen)
+ Nguồn thông tin công cộng (những dịch vụ đánh giá như các báo cáo người tiêu dùng)
Những nguồn thông tin có ảnh hưởng của người tiếp thị (quảng cáo hoặc người bán hàng)
- Tìm kiếm kết hợp: Là kết hợp cả tìm kiếm bên trong và bên ngoài, thông
dụng nhất cho các sản phẩm tiêu dùng
• Đánh giá các chọn lựa
Khi người tiêu dùng quyết định, họ có thích phương án được chọn hay không Giai đoạn đánh giá các chọn lựa bắt đầu bằng việc khảo sát tiêu chuẩn đánh giá của người tiêu dùng cả đặc tính “khách quan” của một nhãn hiệu và những yếu tố “chủ quan” mà người tiêu dùng cho là quan trọng Những tiêu chuẩn này hình thành từ hồi
ức được gợi lên trong người tiêu dùng, nhóm các nhãn hiệu người tiêu dùng xem xét khi mua trong số những nhãn hiệu cùng loại mà họ đã từng biết đến
Đánh giá các phương án chọn lựa có 2 phần:
+ Nhà quảng cáo giúp người tiêu dùng trong quá trình chọn lựa bằng cách “gợi ý” các tiêu chuẩn cho người tiêu dùng sử dụng
+ Nhà quảng cáo nên diễn đạt tiêu chuẩn đánh giá theo những lợi ích của người tiêu dùng, đặc biệt khi những lợi ích này không rõ ràng Lợi ích là “kết quả sử dụng”
Sau khi đánh giá các phương án người tiêu dùng sẽ xếp hạng các đối tượng trong bộ phận nhãn hiệu lựa chọn Trong đầu người tiêu dùng hình thành ý định mua hàng, nhưng phải là thứ hàng ưa thích nhất Tuy nhiên trên đường từ chỗ có ý định đến chỗ thông qua quyết định còn có 2 yếu tố nửa can thiệp vào việc quyết định (xem sơ
đồ sau):
Trang 27Hình 2.6: Những yếu tố kìm hãm quá trình biến ý định mua hàng thành quyết
định mua hàng (Philip Kotler, 2005)
Thái độ phản đối hay không đồng tình của người khác càng quyết liệt và người
đó càng gần gũi với người tiêu dùng thì người tiêu dùng càng quan tâm hơn trong việc xem xét lại ý định mua hàng của mình để ngã về phía này hay phía kia
Ý định mua hàng còn chịu tác động của những yếu tố bất ngờ của tình huống Ý định được hình thành trên cơ sở thu nhập dự kiến của gia đình, giá cả dự kiến và những lợi ích dự kiến của việc mua sắm đó Những yếu tố bất ngờ của tình huống có thể phát sinh đột ngột và làm thay đổi ý định mua hàng vào đúng thời điểm mà người tiêu dùng đã sẵn sàng hành động
Quyết định mua là quyết định cư xử có ý thức theo một cách nào đó (mua bây giờ hoặc tương lai) Quyết định mua liên quan đến việc đánh giá các chọn lựa và thường bị ảnh hưởng bởi đặc điểm, khích lệ của người bán tại điểm mua
Sau khi mua sản phẩm, người tiêu dùng sẽ cảm thấy hài lòng hay không hài lòng
ở một mức độ nào đó Người tiêu dùng cũng sẽ có những hành động sau khi mua và những cách sử dụng sản phẩm đáng để cho người làm marketing quan tâm Công việc của người làm marketing chưa kết thúc khi sản phẩm đã được mua mà còn tiếp tục cả trong thời kỳ sau khi mua, tiếp tục tìm hiểu khách hàng
Tóm lại:
Hành vi tiêu dùng là hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm mua, sử dụng, đánh giá và loại bỏ các sản phẩm dịch vụ mà người tiêu dùng mong muốn sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ Hành vi tiêu dùng tập trung vào việc cá nhân ra quyết định như thế nào để sử dụng các nguồn lực hiện có (thời gian, tiền bạc, công
Trang 28sức) vào việc tiêu thụ các mặt hàng có liên quan
Với góc nhìn ở khía cạnh tiếp thị, các địa phương là nơi cung cấp dịch vụ còn sinh viên là những khách hàng Các hành vi lựa chọn nơi làm việc của sinh viên ảnh hưởng đến nhu cầu về sử dụng nguồn nhân lực cũng như thành bại trong việc phát triển kinh tế ở các địa phương Vì vậy để thành công trong việc thu hút nguồn nhân lực, nhất là trong thị trường phát triển nhanh chóng và năng động như hiện nay, các địa phương cần hiểu rõ cá nhân và nhóm ảnh hưởng đến các quyết định lựa chọn của sinh viên và các quyết định này được đưa ra như thế nào Việc nghiên cứu hành vi chọn địa phương làm việc là một phần quan trọng trong nghiên cứu marketing địa phương với mục đích tìm hiểu xem tại sao những sinh viên có dự định quay về quê hương làm việc hay không
Vai trò của marketing đối với việc phát triển kinh tế của các quốc gia đã được các nhà quản trị và marketing đề cập đến từ nhiều thập niên và marketing thường được xem như là một động cơ trong sự phát triển của một nền kinh tế (Kotler, 2005) Tuy nhiên, nhiều nước đang phát triển thường không chú trọng đến vai trò của marketing địa phương và thường tập trung nhiều vào các vấn đề sản xuất, tài chính, đầu tư, vv (Reddy & Campbell, 1994)
Như chúng ta cũng đã thấy, nhiều quốc gia đã thành công trong việc phát triển kinh tế của quốc gia mình, tuy nhiên cũng không ít quốc gia mà ở đó việc phát triển kinh tế không được như ý muốn Những khó khăn trong việc phát triển kinh tế của quốc gia này không phải là họ làm sai, nhưng là do họ theo đuổi các chính sách phát triển không còn phù hợp trong nền kinh tế thế giới hiện nay nữa (Fairbanks & Lindsay, 1997) Một điểm cần lưu ý là một số quốc gia đã vực được nền kinh tế của mình lên như Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia không có những lợi thế so sánh về các yếu tố sản xuất cơ bản như tài nguyên thiên nhiên hay lao động rẻ Sự tin tưởng quá mức vào lý thuyết lợi thế so sánh do Ricard đưa ra từ đầu thế kỷ XIX có thể
là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên sự thất bại trong việc phát triển kinh
tế địa phương
Bên cạnh đó, những thách thức trong lĩnh vực cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi các quốc gia, thành phố, địa phương thay đổi cách nhìn của họ Lợi thế so sánh của các
Trang 29yếu tố sản xuất cơ bản không còn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế nữa Lý
do là tất cả đều mang tính tương đối Khi nền kinh tế ngày càng có xu hướng toàn cầu hóa, thì lợi thế trong việc xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên hay lao động rẻ ngày càng
mờ nhạt (Fairbanks & Lindsay, 1997) Chính vì vậy mà trong thời đại ngày nay, hoạt động marketing không chỉ dừng lại ở phạm vi doanh nghiệp, lĩnh vực, ngành nghề hay một sản phẩm nào đó mà nó đang được phát triển và chú trọng đến trong phạm vi một quốc gia, một vùng, một địa phương (tỉnh, thành phố)
Một cách nhìn về địa phương mà nhiều nhà hoạch định chính sách đều đồng ý đó
là việc xem một địa phương như là một thương hiệu gọi là thương hiệu địa phương để tiếp thị nó (Kotler, 2005)
2.2.1 Địa phương
Theo cách nhìn của marketing địa phương thì khái niệm về địa phương được định nghĩa như sau:
Là một lãnh thổ, không gian địa lý, chính trị
Là một địa điểm các yếu tố văn hóa, lịch sử
Là một khu vực hay quốc gia
Là một thành phố trung tâm hay khu vực chung quanh
Là một thị trường với những thuộc tính xác định
Là địa bàn hoạt động của một ngành công nghiệp, quần thể ngành nghề và các nhà cung ứng của chúng
Là một thuộc tính tâm lý về mối quan hệ của những người bên trong địa phương và quan điểm của họ đối với người bên ngoài
2.2.2 Marketing địa phương
Marketing địa phương là một kế hoạch tổng hợp đồng bộ giới thiệu về một địa phương với những đặc điểm nổi bật, các ưu thế hiện có và viễn cảnh phát triển lâu dài của địa phương đó nhằm thu hút các nhà đầu tư, kinh doanh, những người du lịch, những cư dân đến địa phương đó tìm những cơ hội đầu tư kinh doanh hay thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng của mình, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Để thúc đẩy một địa phương phát triển, chúng ta cần sự nỗ lực từ bên trong địa phương và đồng thời cũng cần có sự trợ lực từ bên ngoài để kích thích tiềm năng bên
Trang 30trong Do vậy, ta cần giới thiệu địa phương ta với khách hàng bên ngoài để họ nhận ra địa phương ta có tiềm năng, nhiều cơ hội làm ăn, nhiều chính sách mà họ cần quan tâm Để làm tốt công tác tiếp thị ta xem địa phương như là một sản phẩm hàng hóa
Việc xác định nhà marketing địa phương nhiều khi không phải dễ dàng như việc xác định các nhà marketing trong các doanh nghiệp (Kotler, 2005) Tuy nhiên, như đã
đề cập, theo quan điểm hiện đại của marketing thì công việc marketing không phải là nhiệm vụ của bộ phận marketing mà là của tất cả các thành viên trong công ty Nếu vận dụng quan điểm này thì nhà marketing địa phương là tất cả thành viên trong địa phương bao gồm chính quyền địa phương, các doanh nghiệp tại địa phương và cư dân tại địa phương đó Những thành phần này tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào việc hoạch định kế hoạch marketing cho một địa phương
2.2.4 Thị trường mục tiêu của marketing địa phương
Cũng như marketing thương hiệu sản phẩm hay một dịch vụ nào đó, nhà marketing địa phương cần xác định thị trường hay khách hàng mục tiêu của địa phương mình Thị trường mục tiêu của một địa phương có thể chia thành bốn nhóm khách hàng chủ yếu, đó là:
Thu hút các nhà đầu tư và sản xuất kinh doanh Thu hút khách du lịch, hội nghị Thu hút nguồn nhân lực, lao động, cư dân Thu hút các nhà xuất khẩu
2.2.5 Sự cần thiết phải thu hút nhân lực, lao động
Với xu thế toàn cầu hóa và việc tham gia tích cực vào các tổ chức kinh tế khu vực & thế giới của Việt Nam như WTO, TPP, AEC để một địa phương hội nhập thành công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương thì việc thu hút lao động luôn luôn được quan tâm và chú trọng đến Do vậy, một địa phương không những chỉ thu hút các nhà đầu tư, sản xuất kinh doanh, du khách mà còn cần thiết phải thu hút và giữ chân các cư dân theo kế hoạch xây dựng một cộng đồng phát triển và tồn tại Trong quá trình thực hiện, địa phương tìm cách thu hút một số nhóm
cụ thể như những nhà chuyên môn, nhà đầu tư, người giàu, gia đình trẻ, sinh viên, người hưu trí và công nhân có kỹ năng đặc biệt hay có kỹ năng thích hợp
Trang 31Các nhóm lao động mà các địa phương thường thích thú và kích thích họ đến định cư tại địa phương của mình là những người có những kỹ năng chuyên môn trong ngành nghề mà địa phương mình cần như các nhà quản trị, những người có
trình độ cao, các chuyên viên trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau Cạnh tranh để có được những người lao động có kỹ năng không phải chỉ diễn ra trong các đơn vị sản xuất kinh doanh mà còn ở bất kỳ tổ chức nào, và các địa phương không phải là trường hợp ngoại lệ Chính vì vậy, các địa phương luôn cạnh tranh để thu hút những đối tượng đó ví dụ như các địa phương ở khu vực Châu Á thường có những chính sách khuyến khích những người được đào tạo và làm việc ở những nơi có trình
độ khoa học cao trở về địa phương mình làm việc Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, các tỉnh - thành phố của Việt Nam cũng đồng loạt đưa ra những chính sách hấp dẫn để thu hút lao động chất lượng cao về làm việc ở địa phương Hiện nay, các nền kinh tế đã phát triển của Châu Á như Úc, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản đang hối hả tuyển dụng các nhà chuyên môn thuộc mọi lĩnh vực, đặc biệt là giới kỹ sư và chuyên viên công nghệ Từ kết quả của sự cạnh tranh thu hút chất xám này, dịch vụ tuyển dụng việc làm đại trà kiểu cũ đã phát triển thành hoạt động “săn đầu người” có tính chọn lọc cao và qui hoạch ngành nghề quản
lý Thực ra, săn đầu người và săn địa phương đi liền với nhau Nhiều điểm nóng Châu
Á đang cung cấp các dịch vụ tái định cư chuyên nghiệp cho những cư dân mục tiêu và gia đình họ Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp của Singapore
2.2.6 Phương pháp thu hút lao động
Chính quyền bang Nam Úc, tự quảng bá như sau: “Nam Úc còn hơn cả một cơ hội đầu tư Nơi đây cung cấp chất lượng cuộc sống mà khó có thành phố nào, nơi nào trên thế giới có thể sánh kịp Nơi đây cung cấp một phong cách sống hấp dẫn, không
có sự chen chúc, ô nhiễm và những mối đe dọa đến sự an toàn cá nhân như ở nhiều thành phố lớn hơn” Qua đó ta thấy được địa phương nào cũng muốn thể hiện khả năng tiếp nhận một lưu lượng lớn các nhà chuyên môn, nhà quản lý, kỹ thuật gia, quan chức cấp cao, cán bộ quản lý nhà nước và gia đình của họ Có thể nêu ra những nét tương đồng giữa tiếp thị để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và tiếp thị để thu hút lao động Những phương pháp lồng ghép, kết hợp các yếu tố thu hút kinh doanh và
Trang 32con người vào cùng một thông điệp là phổ biến Như vậy, những chào mời
về địa điểm cư trú an toàn, sạch sẽ, tiện lợi đều được kết hợp thành chương trình tiếp thị địa phương trọn gói
Trong cạnh tranh thu hút nhân tài, các địa phương cố đưa ra những lời mời gọi hấp dẫn Theo Kotler(2005), có ba thành phần chính tạo nên sự hấp dẫn của địa phương cho việc thu hút lao động như:
Thứ nhất, họ có thể tiếp thị vốn quí độc đáo của riêng địa phương đang có hoặc
có tiềm năng nhưng chưa khai thác với người lao động
Thứ hai, các địa phương có thể chào mời những gói dịch vụ nhắm đến những con
người cụ thể và gia đình của họ, trong đó có thể bao gồm nhiều pha trộn giữa các yếu
tố cứng và mềm Ở một thái cực, địa phương có thể chào mời các yếu tố rất cứng (không có thuế) hoặc có thể nhấn mạnh đến các yếu tố mềm (phong cách sống) Phong cách sống đã trở thành một yếu tố quyết định đối với nhiều người ra quyết định
Thứ ba, một địa phương có thể cung cấp dịch vụ tái định cư theo các mức độ
khác nhau Thỉnh thoảng dịch vụ này được tổ chức và cung cấp độc quyền bởi một cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm marketing địa phương
Mặt khác, nó có thể do công ty tư nhân độc lập hoặc có liên kết với cơ quan nhà nước đứng ra tổ chức Các dịch vụ tái định cư sẽ ngày càng quan trọng và sẽ là một phần không thể thiếu trong các chương trình thu hút địa phương khác, nhưng không có
mô hình duy nhất nào trong tổ hức loại hình dịch vụ này
Tóm lại:
Thị trường mục tiêu của một địa phương có thể chia thành bốn nhóm khách hàng chủ yếu, đó là: Thu hút các nhà đầu tư và sản xuất kinh doanh; Thu hút khách du lịch, hội nghị; Thu hút nguồn nhân lực, lao động, cư dân; Thu hút các nhà xuất khẩu Tùy theo từng đối tượng cụ thể mà có những chiến lược thu hút riêng Trong đề tài này tác giả lựa chọn thị trường về nhân lực, lao động làm đối tượng thu hút
Ngày nay, sự lưu chuyển tự do hàng hóa và con người trên thị trường nội địa, việc mở ra các thị trường mới và sự khao khát như nhau trong việc giành lấy lao động trí thức ở cả nền kinh tế đã phát triển và đang phát triển đã đưa đến sự cạnh tranh càng gay gắt hơn nhằm thu hút nhân tài Sự tiếp cận của địa phương với nguồn vốn trí thức thể hiện một trong những yếu tố quan trọng nhất trong phát triển địa phương Với sự
Trang 33cạnh tranh khốc liệt trong quá trình phát triển các sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, cuộc đua chung quy xoay quanh vấn đề chất lượng của lực lượng lao động Thu hút con người do đó chính là đầu tư chiến lược cho địa phương Dựa trên các phương pháp của lý thuyết marketing địa phương những chào mời về địa đlểm cư trú
an toàn, sạch sẽ, tiện lợi đều được kết hợp thành chương trình tiếp thị địa phương trọn gói Các địa phương thể đưa ra những lời mời gọi hấp dẫn nhằm thu hút lao động dựa trên những cái vốn quí độc đáo của riêng địa phương đang có hoặc có tiềm năng nhưng chưa khai thác với người lao động Các địa phương cũng có thể chào mời dựa trên những chính sách ưu đãi, những gói dịch vụ nhắm đến những con người cụ thể và gia đình của họ Địa phương nào thu hút thành công những nguồn nhân lực giỏi sẽ có lợi thế hơn so với các địa phương lân cận trong xu thế cạnh tranh hiện nay
2.3.1 M ột số mô hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề di cư nói chung cũng như vấn đề liên quan đến quyết định lựa chọn nơi làm việc của người lao động Từ đó, các nghiên cứu đã đưa ra các mô hình và đánh giá trong từng trường hợp cụ thể Ví dụ như nghiên cứu của Nichapa Morathop (2010), nghiên cứu của Jennifer và Peter (2009), mô hình
về lao động di cư của Torato (1969) Sau đây tác giả sẽ điểm qua một số nghiên cứu này
Nghiên cứu của Nitchapa Morathop& các cộng sự (2010), Ý định làm việc tại quê nhà của một người: Sinh viên năm 4 Đại học Naresuan, tỉnh Phitsanulok, tạp chí khối lượng nhân khẩu học Đề tài nghiên cứu phỏng vấn 400 sinh viên năm cuối của Đại học Naresuan Các mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng, sử dụng khoa như là một tiêu chí để phân chia sinh viên thành các nhóm Theo đó, ba nhóm của các biến độc lập đã được nghiên cứu: (1) Các yếu tố dân số: cụ thể là giới tính, chương trình giáo dục, lớp, và ý thức quê hương; (2) Các yếu tố gia đình, cụ thể
là tuổi tác của cha mẹ, các thành viên gia đình, sự nghiệp trong đơn vị, gia đình và thu nhập gia đình; (3) Các yếu tố môi trường, cụ thể là nơi cư trú trong khu vực, thời gian giáo dục, quan hệ gia đình, kỳ vọng của sự nghiệp tại quê hương, kỳ vọng thu nhập đó, thái độ đối với sẽ trở lại quê hương và các chỉ tiêu của chủ quan của các nhóm tham khảo
Trang 34Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng phần lớn (58,4%) sinh viên không có ý định làm việc tại quê hương của họ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định quay trở về quê hương làm việc sau khi tốt nghiệp của các sinh viên này là:
có 4 nhân tố quan trọng đó là công việc, hỗ trợ kịp thời và công bằng của cấp quản lý;
hỗ trợ liên quan đến gia đình (nhà tập thể), và hỗ trợ dụng cụ làm việc ảnh hưởng đến quyết định nên đi hay ở lại trường của các giáo viên Trong đó, yếu tố về hỗ trợ liên quan đến gia đình là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng quyết định nên ở lại hay nên đi của các giáo viên Nghiên cứu chỉ giới hạn ở những người trong ngành giáo viên mà chưa mở rộng sang những ngành nghề khác Nhưng nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc của các giáo viên
và đây là cơ sở để tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và các thang đo cho nghiên cứu của mình
Mô hình của Torado (1969) về vấn đề lao động di cư nông thôn thành thị, theo
mô hình nghiên cứu này thì trong nền kinh tế thị trường và lao động được tự do dịch chuyển thì hai yếu tố cơ hội việc làm phi nông nghiệp và tiền lương cao có ảnh hưởng lớn đến quyết định chọn nơi làm việc của các cá nhân là nên ở thành thị hay ở quê nhà Mặc dù, thị trường lao động ở thành thị vẫn tồn tại một tỷ lệ thất nghiệp khá cao
Mô hình đã thành công trong việc đưa ra tác động của các yếu tố đến sự di cư và đây
là cơ sở để tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và các thang đo cho nghiên cứu của mình
2.3.2 M ột số mô hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về vấn đề này gần đây nhất là nghiên cứu của Lê Trần Thiên Ý, Nguyễn Hồ Anh Khoa và Mã Bình Phú (2013), các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định
về quê làm việc của sinh viên kinh tế, trường Đại học Cần Thơ, Tạp chí khoa học
Trang 35trường đại học Cần Thơ, được tiến hành trên 385 sinh viên kinh tế, Trường Đại học Cần Thơ sau tốt nghiệp Thông qua phương pháp phân tích nhân tố và mô hình hồi quy nhị nguyên, kết quả rút ra được 5 nhân tố tác động đến quyết định về quê làm việc của sinh viên sau tốt nghiệp, xếp theo thứ tự tầm quan trọng: (1) Điều kiện làm việc tại địa phương, (2) Tình cảm quê hương, (3) Chi phí sinh hoạt ở địa phương, (4) Mức lương bình quân tại địa phương, (5) Chính sách ưu đãi của địa phương
Nghiên cứu của Trần Văn Mẫn & Trần Kim Dung (2006) về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc của sinh viên tốt nghiệp Qua khảo sát 360 sinh viên ngành quản trị kinh doanh chuẩn bị tốt nghiệp của Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy, có tám nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nơi làm việc của sinh viên sắp tốt nghiệp bao gồm: (1)Việc làm; (2) Thông tin và thủ tục thoáng; (3)Tình cảm quê hương; (4) Chính sách ưu đãi; (5) Vị trí và môi trường; (6) Con người; (7) Điều kiện giải trí; (8) Chi phí sinh hoạt rẻ
Nghiên cứu của La Nguyễn Thùy Dung và Huỳnh Trường Huy (2011), Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc Trường hợp sinh viên Đại học Cần Thơ Qua khảo sát 200 sinh viên năm cuối thuộc các khoa khác nhau tại Trường Đại học Cần Thơ thì có gần 60% sinh viên ở các tỉnh khác sau khi tốt nghiệp có xu hướng ở lại Thành phố Cần Thơ để làm việc Nguyên nhân dẫn đến quyết định này xuất phát từ cơ hội phát triển nghề nghiệp, học tập và thu nhập tốt hơn tại thành phố này Ngoài ra, tác giả cũng chứng minh có sự khác biệt về xu hướng ở lại Thành phố Cần Thơ để tìm việc dựa trên các yếu tố như ngành nghề, giới tính, quan hệ gia đình Những trường hợp trở về địa phương tìm việc gắn liền với yếu tố gia đình là chủ yếu Ngoài yếu tố gia đình và môi trường làm việc thì bản thân sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định ở lại Thành phố Cần Thơ làm việc Điều này xuất phát từ nhận thức, hiểu biết của họ về thị trường lao động tại Thành phố Cần Thơ Kết quả nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng có 3 yếu tố bao gồm: (1) Môi trường làm việc; (2) Gia đình và bạn bè; (3) Yếu tố cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc
Trang 36B ảng 2.1 Tổng hợp kết quả một số nghiên cứu liên quan
Nitchapa Morathop & các
- Nhóm tham khảo Jennifer và Peter (2009) Quyết định chọn nơi làm
việc của giáo viên khu vực thành thị
- Công việc
- Hỗ trợ kịp thời và công bằng của cấp quản lý
- Hỗ trợ liên quan đến gia đình
- Hỗ trợ dụng cụ làm việc
thành thị
- Cơ hội việc làm phi nông nghiệp
- Tiền lương cao
Lê Trần Thiên Ý, Nguyễn
Hồ Anh Khoa, và Mã Bình
Phú (2013)
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định về quê làm việc của sinh viên kinh tế trường đại học Cần Thơ
- Điều kiện làm việc tại địa phương
- Tình cảm quê hương
- Chi phí sinh hoạt ở địa phương
- Mức lương bình quân tại địa phương
- Chính sách ưu đãi của địa phương
Trần Văn Mẫn và Trần
Kim Dung (2006)
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc của sinh viên tốt
- Việc làm
- Thông tin và thủ tục thoáng
Trang 37nghiệp - Tình cảm quê hương
- Chính sách ưu đãi
- Vị trí và môi trường
- Con người
- Điều kiện giải trí
- Chi phí sinh hoạt
La Nguyễn Thùy Dung&
Huỳnh Trường Huy (2011)
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc
- Môi trường làm việc
2.4.2 Ch ỉ số năng lực cạnh tranh ( PCI)
Kết quả công bố năng lực cạnh tranh PCI ngày 16/4/2015 của Phòng thương mại
và Công nghiệp Việt nam (VCCI), PCI của Quảng Ngãi xếp thứ hạng 20/63 tỉnh thành với tổng số điểm đạt được 59,55 điểm giảm 3,07 điểm và giảm 13 bậc trên bảng xếp hạng so với năm 2013, tụt xuống nhóm xếp thứ hạng khá
Trang 38B ảng 2.2 : Bảng điểm và vị thứ của các chỉ số thành phần PCI Quảng Ngãi trên
số hạng Thứ Điểm số hạng Thứ Điểm số hạng Thứ
Điểm
số (+,-)
Thứ hạng (+,-)
Điểm
số (+,-)
Thứ hạng (+,-)
Nguồn Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Quảng Ngãi
Qua tổng hợp, phân tích đánh giá kết quả PCI năm 2014 và những năm trước cho thấy PCI của Quảng Ngãi chưa ổn định và bền vững, luôn có sự tăng giảm qua các năm Cụ thể sau nhiều năm PCI nằm ở nhóm xếp hạng trung bình, năm 2011 tăng lên nhóm xếp hạng tốt, năm 2012 lại tụt xuống nhóm xếp hạng khá, năm 2013 tăng lên nhóm xếp hạng rất tốt và năm 2014 lại tụt xuống nhóm xếp hạng khá với vị trí xếp hạng 20, điều đó đã chỉ ra những nhược điểm cần nhanh chóng khắc phục để cải thiện PCI năm 2015 và những năm tiếp theo
Trang 392.4.3 Th ực trạng lực lượng lao động đang làm việc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trong năm 2013, cả tỉnh có 88.340 người, tương ứng với 12,1% đã được đào tạo đang tham gia làm việc trên tổng số 730.661 người đang làm việc
Nhìn vào bảng 2.3 cho thấy có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo giữa nam và nữ mức chênh lệch 4,4% (nam là 14,5% và nữ là 10,1%) Tương tự vậy, cũng có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ lao động đang làm việc
đã qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn, mức chênh lệch này là 22,5% (thành thị là 25,9% và nông thôn là 10,1%)
Trong dãy số liệu ta thấy rằng, xu hướng học cao đẳng và sử dụng trình độ cao đẳng trong nền kinh tế thấp, do đó tỉ lệ chênh lệch về lao động đang làm việc đã qua đào tạo cũng không đáng kể giữa nam và nữ cũng như thành thị và nông thôn ở nhóm trình độ này Chất lượng việc làm của tỉnh còn thấp và không đồng đều giữa các vùng Lao động có kỹ năng, đặc biệt là lao động sản xuất trực tiếp là tiền đề quan trọng cho
sự phát triển bền vững, thu nhập cao và đáp ứng được yêu cầu của các ngành trong việc sử dụng công nghệ hiện đại và hoạt động quản lý
Bảng 2.3: Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo, năm 2013
N guồn niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2014
Cơ cấu lao động có việc làm theo trình độ học vấn
Trong bảng 2.3, tỷ trọng lao động có việc làm chưa bao giờ đi học chiếm khá cao 9% trong tổng số lao động, trong đó nữ không đi học chiếm rất nhiều so với nam (74,2%), lực lượng này chủ yếu ở nông thôn đặc biệt là vùng sâu vùng xa Hơn một nửa số lao động trong nền kinh tế tốt nghiệp từ tiểu học (28,6%) đến trung học cơ sở (26,2%) Ở các trình độ học vấn thấp (từ chưa bao giờ đi học cho đến tốt nghiệp tiểu
Trang 40học) thì nữ chiếm số đông hơn nam, tuy nhiên càng ở các trình độ cao thì nam lại chiếm số đông hơn nữ Điều này cho thấy, vẫn còn sự bất bình đẳng về giới trong giáo dục phổ thông của lực lượng lao động
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn, năm 2013
N guồn niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2014
2.4 4 Chính sách thu hút và ưu đãi của tỉnh Quảng Ngãi
Chính sách thu hút
1.Các đối tượng được thu hút tại Quy định này ngoài việc hưởng lương, phụ cấp và các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành của Nhà nước còn được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi hỗ trợ kinh phí một lần khi nhận nhiệm vụ, với mức cụ thể như sau:
- Giáo sư: 350.000.000 đồng/người;
- Phó giáo sư: 300.000.000 đồng/người;
- Tiến sĩ: 250.000.000 đồng/người;
- Tiến sĩ y khoa, bác sĩ chuyên khoa II (chuyên ngành sản phụ khoa): 300.000.000 đồng/người;
- Bác sĩ chuyên khoa II, dược sĩ chuyên khoa II: 250.000.000 đồng/người;
- Thạc sĩ y khoa, bác sĩ chuyên khoa I (chuyên ngành sản phụ khoa), bác sĩ nội trú (chuyên ngành sản phụ khoa): 250.000.000 đồng/người;
- Bác sĩ chuyên khoa I, dược sĩ chuyên khoa I, bác sĩ nội trú: 230.000.000 đồng/người;
- Bác sĩ, dược sĩ đại học (tốt nghiệp loại giỏi): 220.000.000 đồng/người;
- Bác sĩ, dược sĩ đại học (tốt nghiệp loại khá): 200.000.000 đồng/người;