Lý do chọn đề tài Từ lâu nghệ thuật tạo hình đã sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình để diễn tả không gian trong tranh cũng như phản ánh không gian xã hội, diễn đạt tình cảm của con ngư
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ lâu nghệ thuật tạo hình đã sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình để diễn tả không gian trong tranh cũng như phản ánh không gian xã hội, diễn đạt tình cảm của con người và của thiên nhiên, từ chỗ mô phỏng rồi mô tả sự vật mang đến sức biểu cảm của hình tượng, sáng tạo ra hình tượng tạo nên giá trị thẩm mỹ
Nét, màu sắc và không gian không những diễn tả được hình khối, tạo chất mà còn diễn tả được sự vận động tĩnh tại của sự vật và cao hơn nữa còn biểu đạt được những trạng thái tình cảm của con người và thái độ của con người với sự vật đó
Người ta cho rằng đặc trưng của ngôn ngữ đồ họa là nghệ thuật dùng nét, mảng thật ra như thế chưa đúng hoàn toàn nhưng như thế cho thấy nét, mảng làm nên không gian trong tranh, có vị trí rất quan trọng trong tạo hình
đồ họa
Ở đồ họa, các yếu tố tạo hình thường gắn với nhau thành một khối thống nhất như màu sắc, không gian ánh sáng, bút pháp thể hiện đồng thời gây sức hấp dẫn ở yếu tố tạo hình đồ họa có thể sử dụng riêng nét, mảng, chấm, có khi thể hiện sự kết hợp ba yếu tố đó đặc điểm tâm sinh lý thị giác của con người có quan hệ với đường nét qua ảo giác của mắt trước đường nét hay tổ hợp đường nét gây cho ta liên tưởng: hướng ngang chỉ sự bình lặng, trầm hơi buồn, bình lặng, tạo nên không gian riêng của từng bức tranh
Ở Việt Nam nghệ thuật đồ họa xuất hiện từ rất sớm Cách chúng ta hàng nghìn năm có những hình chạm khắc nó đã tồn tại và phát triển qua mấy trăm năm nay đã đi vào đời sống nhân dân được nhân dân yêu thích giữ gìn
Qua nghiên cứu nội dung và phương pháp thể hiện các nhà nghiên cứu
mỹ thuật nước ta đã phân chia các loại tranh khắc gỗ như sau:
Trang 2Tranh dân gian bao gồm tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Làng Sình Huế, tranh Kim Hoàng - Hà Tây và tranh thờ Miền Núi.
Tranh khắc gỗ hiện đại bao gồm: tranh khắc gỗ đen trắng và tranh khắc
gỗ màu vậy thú chơi tranh của nhân dân ta từ mấy trăm năm nay là gì?
Bằng những ngôn ngữ đồ họa trong tranh khắc gỗ cũng đem lại hiệu quả về không gian trong trong tranh cho tác phẩm
Tranh khắc gỗ cho ta hiểu biết hơn về nguồn gốc, tính đân tộc cũng như tri thức, kỹ năng kỹ xảo và cách đơn giản hóa về hình mảng để kế thừa và phát triển tranh khắc gỗ nói riêng hòa cùng dòng chảy mỹ thuật Việt Nam Đó là lý
do để tôi chọn: Đề tài “ Không gian trong tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam”.
Từ việc hiểu được ý nghĩa của đề tài nghiên cứu rất cần thiết đối với bản thân, trên cơ sở đề tài đã cho để tìm hiểu đi sâu vào phân môn thường thức mỹ thuật để làm giàu ngôn ngữ truyền đạt và vững vàng trong phương pháp giảng dạy mỹ thuật ở phổ thông
Hơn nữa thường thức mỹ thuật là phân môn rất khó, đòi hỏi người giảng dạy phải có cách tập hợp kiến thức, nội dung phù hợp logic sao cho ngắn gọn, cô đọng và dễ hiểu để người nghe dễ tiếp thu và có hào hứng đón chờ tiết thường thức mỹ thuật Để đạt được điều đó chúng ta phải tìm hiểu nội dung và hình thức nghệ thuật của các tác phẩm, xem xét phân tích các bố cục đường nét màu sắc làm nên các không gian sống động của các tác phẩm đó
Không gian trong tranh chính là khoảnh khắc điển hình Nói đến không gian là nói đến hình dáng, kích thước , khối lượng, khoảng cách giữa các nhân vật Đó là thuộc tính cơ bản của không gian Bất cứ một sự vật hiện tượng nào trong hiện thực đều tồn tại trong không gian cụ thể
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều nhà nghiên cứu viết về tranh dân gian như Nguyễn Thái Lai – Làng tranh Đông Hồ, NXB Mỹ thuật – 2002 Viết về làng tranh Đông
Trang 3Hồ, tác giả tập có đề cập đến lịch sử tranh Đông Hồ, các thể loại tranh và phân tích nội dung tranh Còn các tác giả: Chu Quang Trứ, Phạm Thị Chỉnh, Nguyễn Thái Lai Lược sử mỹ thuật học NXB Giáo dục – 1998 lại viết về tranh dân gian một cách khái lược, tổng hợp và có so sánh những đặc điểm
cơ bản của từng dòng tranh
Còn nhiều tác giả nữa nghiên cứu về tranh dân gian Việt Nam ở những khía cạnh khác nhau nhưng chưa có ai nghiên cứu sâu về không gian trong tranh dân gia Việt Nam Tất cả những nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tư liệu quý cho tôi thực hiện nghiên cứu về không gian trong tranh dân gian Việt Nam của tôi
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của tôi khi nghiên cứu đề tài là muốn nghiên cứu về cách nhìn và cách diễn đạt "không gian" của nghệ nhân dân gian xưa trong nghệ thuật khắc gỗ dân gian
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
"Không gian" trong tranh dân gian Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam bao gồm tranh Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng, tranh thờ Miền núi
5 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin, tiếp cận, so sánh cùng phương pháp tư duy logic, nghiên cứu đánh giá những dòng tranh, đồng thời chỉ ra được những yếu tố đặc sắc trong tranh dân gian Đông Hồ
Phương pháp đối chứng so sánh
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trang 4Phương pháp tổng hợp, hệ thống phân tích Các phương pháp được áp dụng sử lý các thông tin khai thác để so sánh, đối chiếu trong khi trình bày tiểu luận
Phương pháp tổng kết đánh giá
6 Những đóng góp mới của đề tài
Giúp cho bản thân, cử nhân mỹ thuật hiểu hơn về "Không gian" của tranh khắc gỗ Việt Nam hiện đại
Cung cấp cho người xem kiến thức và kinh nghiệm để tiếp cận với nghệ thuật khắc gỗ Việt Nam cũng như khu vực và trên thế giới, gìn giữ và phát triển các dòng tranh dân gian đã bị mai một nhất là tranh thờ Miền Núi
7 Cấu trúc của đề tài
Chương 1: Nguồn gốc tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam
1.1 Vài nét về quá trình phát triển tranh khắc gỗ Việt Nam
1.2 Nguồn gốc tranh khắc gỗ dân gian
1.2.1.Nguồn gốc tranh Đông Hồ
1.2.2 Nguồn gốc của tranh Hàng Trống
1.2.3 Nguồn gốc của tranh Kim Hoàng
1.2.4 Nguồn gốc tranh làng Sình
1.2.5 Nguồn gốc tranh thờ Miền núi
Tiểu kết chương 1
Chương 2: Ngôn ngữ đồ họa tạo nên không gian trong tranh dân gian
2.1 Khái niệm về ngôn ngữ đồ họa
2.1.1 Bố cục
2.1.2 Hình
2.1.3 Đường nét
2.1.4 Màu sắc
Trang 52.2 Khái niệm về không gian trong tranh khắc gỗ
2.2.1 Không gian ba chiều trong tranh đồ họa
2.2.2 Không gian hai chiều trong tranh đồ họa
2.3 Ngôn ngữ trong tranh dân gian
2.3.1 Đường nét và không gian
3.3 Giá trị phản ánh chân thực xã hội trong tranh dân gian
3.4 Bài học của việc sử dụng ngôn ngữ đồ họa (tranh dân gian trong sáng tạo nghệ thuật hiện đại)
Tiểu kết chương 3
C PHẦN KẾT LUẬN
Trang 6PHẦN B: NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC TRONG TRANH KHẮC GỖ DÂN GIAN VIỆT NAM 1.1 Vài nét về quá trình phát triển tranh khắc gỗ Việt Nam
Bắt nguồn từ nghệ thuật nguyên thuỷ, nghệ thuật tranh dân gian đã nảy sinh từ thời xa xưa… Xuất hiện từ thời Lý (1010-1225) đến nhà Hồ (1400-1414), được duy trì, phát triển mạnh dưới thời Hậu Lê (1533 - 1789), song song với việc in và phát hành tiền giấy, cũng như cùng với Đạo Phật thịnh hành Năm 1396, vào cuối thời Trần, Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy gọi
là “Thông báo Hội Sao” Các đồng bạc đều in hình vẽ khác nhau tuỳ theo giá trị của chúng: sóng, mây, rùa, lân, phượng và rồng Nghệ thuật vẽ tiền đạt đến đỉnh cao, kỹ thuật khắc in rất tinh tế, từng tờ in đều hết sức chuẩn xác Nhưng
kỹ thuật in không là độc quyền của Nhà Nước Vẫn có người như Nguyễn Nhữ Các trốn vào núi Thiết Sơn in tiền giả Và mấy thập kỷ sau, Lương Nhữ Hộc (người Hải Dương) đỗ Thám Hoa đời Lê Thái Tông (1434-1442) đi sứ nhà Minh có tìm hiểu thêm về nghề in ván gỗ của Trung Quốc Về nước ông cải tiến ván khắc và in cổ truyền của ta, rồi dạy cho dân làng Hồng Lục và Liễu Tràng quê mình Lương Nhữ Hộc trở thành “Tổ sư” nghề in khắc ván từ đấy Thế Kỷ XVII tranh dân gian phát triển khá mạnh Chẳng những được người dân thôn quê ưa thích, tranh dân gian còn thâm nhập tự nhiên vào nhà quyền quý, khá giả ở kinh thành Nhà thơ Hoàng Sĩ Khải (người làng Lai Xá,
Hà Bắc) khi tả cảnh Tết ở Thăng Long, trong bài thơ nổi tiếng "Tứ thời khúc vịnh" đã ghi lại:
"Chung Quỳ khéo vẽ nên hình Bùa đào cấm quỷ phòng linh ngăn tà Tranh vẽ gà cửa treo thiếp yểm Dưới thềm hoa điểm Thọ Dương"
Trang 7Hình "Chung Quỳ" và bức "Bùa Đạo" mà nhà thơ nói đến ở đây là hai bức vẽ thần Thân Thư và Uất Luật (Còn gọi là Thần Trà và Uất Luỹ) có thể xua đuổi tà ma theo quan niệm dân gian bấy giờ, về hình tượng và ý nghĩa có thể liên tưởng đến bức tranh "Ông tướng" canh cổng sau này Bức tranh “Gà” cũng biểu tượng cho quan niệm đó - gà gáy lên sẽ xua tan đêm tối cùng tất cả
ma quỷ, giữ yên vui cho mọi nhà Vì thế, tranh Gà rất phổ biển trong các dùng tranh dân gian của ta, từ tranh Đông Hồ, Hàng Trống, đến Kim Hoàng Sang thế kỷ XVIII, tranh dân gian phát triển khá mạnh Theo gia phả dòng họ Nguyễn Đăng, một họ lớn làm tranh ở trung tâm sản xuất tranh dân gian Đông Hồ thì dòng họ này đã 20 đời làm nghề in tranh, tức trải qua trên dưới
500 năm, tương đương thời gian mà Hoàng Sĩ Khải nói đến các bức tranh
"Gà", "Chung Quỳ", "Bùa đào" Những hiện vật lưu giữ được tại Viện Bảo Tàng lịch sử Việt Nam, trong số ván khắc tranh Hàng Trống còn giữ được có các ván khắc mang kí hiệu I.5484a.b.c khắc cả hai mặt, đề tài lấy trong kinh Phật, tích truyện cổ Mặt ván có khắc niên đại "Quý Mùi lục nguyệt khởi Minh Mệnh tứ niên" (Năm Quý Mùi, tháng Sáu, tức năm Minh Mệnh thứ tư) tức là khắc vào năm 1823 Đến thời Pháp thuộc, do ảnh hưởng của thời cuộc, giấy dó không có, giấy báo cũng hết, tranh dân gian phải in trên giấy học sinh
đã viết với số lượng ít, lại in rất xấu Đến nay chỉ còn làng tranh Đông Hồ (Hà Bắc) còn giữ được nghề cho đến sau này, với tính cách là một nghề phụ thủ công, chủ yếu làm tranh điệp và chủ yếu là hàng xuất khẩu
1.2 Nguồn gốc tranh khắc gỗ dân gian
1.2.1.Nguồn gốc tranh Đông Hồ
Xuất hiện vào khoảng thời lý (1010 – 1225) và Hồ (1400 – 1414) được phát triển vào thời Hậu Lê (1533 – 1789) Các nhà nghiên cứu cho rằng thời
kỳ hưng thịnh nhất vào khoảng thế kỷ XVII và cuối thế kỷ XIX Tranh Đông
Hồ lưu hành khắp cả nước
Trang 8Làng Đông Hồ thuộc huyện Thuận Thành - Bắc Ninh nằm bên bờ sông Đuống quanh năm bồi đắp phù xa mầu mỡ cho nhân dân hai bên bờ sông Có dòng họ Nguyễn Đăng nổi tiếng vẽ mẫu, khắc ván Đây là nơi nổi tiếng về nghề in tranh bằng bản khắc gỗ vì lẽ đó Nghề thủ công này có tên là Đông Hồ
Tranh Đông Hồ là một trong những thể loại tranh dân gian được người Việt mấy trăm năm đã trở thành món ăn tinh thần, người bạn gần gũi của người dân, là một dòng tranh có nghệ thuật độc đáo và mang đậm tính dân tộc bởi kỹ thuật khắc in mẫu mực ổn định do trải qua nhiều thế hệ
1.2.2 Nguồn gốc của tranh Hàng Trống
Dòng tranh Hàng Trống phát triển ở các phố Hàng Trống, Hàng Nón, Hàng Quạt nhưng nhiều nhất ở phố Hàng Trống Trong đó có dòng họ lê văn nổi tiếng cùng với các hộ cư dân bản địa lâu đời Cũng có nhiều thợ vẽ tài hoa từ các nơi khác đến đây làm thuê cho các chủ xưởng in tranh Do buôn bán cạnh tranh nên thường in kèm theo tên hiệu Thanh An, Vĩnh Lợi hay Phúc Bình …
Các bản in cổ nhất được khắc 2 mặt của dòng tranh Hàng Trống chỉ còn thấy ở bảo tàng lịch sử Việt Nam Đó là 1 số bản in có niên hiệu “Quý mùi lục nguyệt khởi Minh Mạng tứ niên” nghĩa là được khắc vào tháng 6 năm
1823 đời Minh Mạng, thời Nguyễn Những nhà nghiên cứu đã tìm thấy những dòng ghi chép về tranh dân gian Hàng Trống trong nhiều sách cổ Thi sĩ Hoàng Sĩ khải (Thế kỉ XVI) cũng đã nhắc đến tục chơi tranh Hàng Trống trong ngày tết qua bài thơ tả quang cảnh tết ở kinh thành Thăng Long Tranh Hàng Trống chủ yếu là tranh thờ phục vụ cho những điện thờ mang màu sắc đạo giáo hoặc tín ngưỡng Bên cạnh đó tranh Hàng Trống thể hiện ước vọng của tầng lớp trên và thị dân (H1)
Có ý kiến cho rằng nguồn gốc tranh Hàng trống là từ Đông Hồ - BắcNinh Do người Đông Hồ đi làm ăn rồi định cư và làm tranh ngay tại HàngTrống có ý kiến lại cho rằng điều kiện vận chuyển và cách chơi tranh ở đô
Trang 9thành khác với miền quê nên người đô thành tiếp thu và cải tiến dòng tranhĐông Hồ Cũng có thể tranh Hàng Trống là do người dân ở đây sáng tạo
ra, tồn tại song song với các dòng tranh dân gian khác tranh Kim Hoàng - Hà Tây, tranh Làng Sình - Huế, và tranh thờ Miền Núi
Hiện nay vẫn chưa có tài liệu nào cho biết đích xác thời điểm ra đời còn nhiều điều kiện ra đời tranh Hàng Trống Thời kì hưng thịnh nhất của tranh Hàng Trống vào thế kỷ XVII, cuối thế kỷ XIX
1.2.3 Nguồn gốc của tranh Kim Hoàng
Tranh Kim Hoàng là tên thường gọi của một dòng tranh dân gian phát triển khá mạnh từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 của làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ, nay là Hà Nội
Tương truyền, dòng họ làm tranh đầu tiên là dòng họ Nguyễn Sĩ người Thanh Hoá theo mẹ ra Thăng Long rồi lập nghiệp ở làng Kim Hoàng Thế kỷ
19, tranh Kim Hoàng phát triển mạnh, nhưng rồi bắt đầu bị thất truyền từ trận lụt năm 1915, khi làng mạc từ Phùng đến Cầu Giấy bị ngập trắng, nhiều ván
in tranh của làng bị cuốn trôi Đến năm 1945 thì tranh hoàn toàn không còn được sản xuất nữa Ngày nay, chỉ còn một vài ván in của dòng tranh này được lưu giữ tại Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam
Tranh của làng Kim Hoàng có đủ loại tranh thờ cúng, tranh chúc tụng như một số dòng tranh khác cùng thời (Đông Hồ, Hàng Trống) Nhưng tranh Kim Hoàng lại biết kết hợp nhiều ưu điểm của hai dòng tranh đó Tranh Kim Hoàng
có nét khắc thanh mảnh, tỉ mỉ hơn tranh Đông Hồ; màu sắc lại tươi như tranh Hàng Trống Chính vì thế nó tạo cho dòng tranh này những giá trị riêng (H2)
1.2.4.Nguồn gốc tranh làng Sình
Là một dòng tranh dân gian Việt Nam Đây là dòng tranh mộc bản được
sử dụng phổ biến ở cố đô Huế với mục đích cúng lễ Tranh làng Sình khác
Trang 10với tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), tranh Hàng Trống (Hà Nội) bởi chức năng duy nhất là phục vụ thờ cúng, cúng xong là đốt Vì vậy, đến nay chỉ còn những bản khắc gỗ là hiện vật quý giá còn lưu giữ được ở nhà ông Kỳ Hữu Phước - một nghệ nhân làm tranh lâu năm ở làng Sình Làng Sình là một làng nằm ven sông Hương được thành lập vào khoảng thế kỷ 15, đối diện bên kia sông là Thanh Hà, một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Đàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh, một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế Đây còn là một trung tâm văn hóa của vùng cố đô, có chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa Nghề làm tranh ra đời tại làng không biết từ bao giờ, và tranh làm ra chủ yếu là để phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng Ngày nay, tranh làng Sình đang mất dần đi yếu tố truyền thống xưa Các bản khắc cũ còn lại với số lượng rất ít, các bản khắc mới đã xa rời với yếu tố gốc và người làm nghề cũng đã dùng chất liệu sơn công nghiệp thay cho các chất liệu màu truyền thống Tranh làng Sình có nhiều loại kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25x35), pha ba (25x23) hay pha tư (25x17) Các đề tài tranh chủ yếu phản ánh tín ngưỡng cổ xưa Ngoài các đề tài về tín ngưỡng, phục vụ thờ cúng còn có tranh Tố Nữ, tranh tả cảnh sinh hoạt xã hội Tranh phục vụ tín ngưỡng có thể chia làm ba loại: Tranh nhân vật, chủ yếu là tranh tượng bà, thường vẽ một người phụ nữ xiêm y rực rỡ với hai nữ tì nhỏ hơn đứng hầu hai bên Tượng bà còn chia thành ba loại: tượng
đế, tượng chùa, và tượng ngang Loại tranh này dán trên bàn thờ riêng thờ quanh năm Tranh còn ảnh, gồm hai loại: ảnh xiêm vẽ hình đàn ông đàn bà; Các loại nhân vật còn lại là tranh ông Điệu, ông Đốc và Tờ bếp (có lẽ là tranh
vẽ Táo quân)
1.2.5 Nguồn gốc tranh thờ Miền núi
Trang 11Nguồn gốc và xuất xứ tranh thờ Miền núi gắn với giáo lý ở nước ta thời
Lý - Trần Tranh thờ Miền Núi ra đời tồn tại song song với đình chùa và giáo
lý của đất nước qua các triều đại và đến nay
Tranh thờ Miền Núi có ba loại: tranh thờ tổ tiên, tranh thờ phật giáo, tranh thờ đạo giáo (H3, H4)
Tranh thờ tổ tiên: tranh vẽ chân thật, phù hợp với các lễ nghi, phong tục tập quán, sinh hoạt, sản xuất của dân tộc mình Hoặc kể lại công đức, lịch
sử của tổ tiên Nội dung, hình tượng nghệ thuật có tính hiện thực, dân tộc loại tranh này gồm có: Cúng chay, Cúng mặn, Thần nông, Bà mụ, Cầu hoa, Nam đường, Thượng phúc, Bàn cổ
Tranh thờ phật giáo: phổ biến tranh “ Thập Điện Diêm Vương” Theo quan niệm của đạo phật thì khi chết đi linh hồn đều trải qua mười cửa địa ngục để định công, luận tội Sau đó tùy thuộc vào nặng nhẹ mà được đầu thai kiếp khác thoát khỏi địa ngục Tranh Thập Điện Diện Diêm Vương của Miền Núi tập trung những cảnh trừng phạt tội nhân trong các cửa ngục do quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa tiến hành
Trang 12Tiểu kết chương 1
Tranh dân gian đã chứng tỏ sự thống nhất, hoàn chỉnh trong nếp nghĩ
và lao động của một dân tộc và tính sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động, vì thế mang bản sắc dân tộc đậm đà Tuy nhiên, tranh dân gian cũng như các loại hình nghệ thuật dân gian khác có nguồn gốc bản địa, ăn sâu trong tâm hồn của người dân nhưng cần có sự giao lưu văn hoá của khu vực và thế giới thì mới học tập thêm để nâng cao
Trang 13CHƯƠNG 2 NGÔN NGỮ ĐỒ HỌA TẠO NÊN KHÔNG GIAN
TRONG TRANH DÂN GIAN 2.1 Khái niệm về ngôn ngữ đồ họa
Nghệ thuật bắt nguồn từ lao động, do đó luôn gắn liền với cuộc sống Các môn nghệ thuật đến với con người thông qua "cửa ngõ" thị giác và cùng chung một hệ thống ngôn ngữ là: đường nét, hình khối, màu sắc như: Kiến trúc, Điêu khắc, Hội hoạ, Đồ hoạ gọi là nghệ thuật tạo hình hay được quen gọi
là Mỹ thuật
Khái niệm chung về mỹ thuật như sau: Mỹ thuật là từ chỉ những loại hình nghệ thuật có quan hệ đến sự thụ cảm bằng mắt và sự tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đưa lên mặt phẳng (gỗ, giấy, vải, trần nhà, tường) hoặc một không gian (ngoài trời hoặc trong phòng) nào đấy Ngôn ngữ mỹ thuật bao gồm các yếu tố như: Hình - khối, Đường - nét, màu - sắc, sự sắp xếp bố cục, nhịp điệu Mỗi loại hình có cách biểu hiện khác nhau tuỳ thuộc vào đặc trưng ngôn ngữ của từng loại
Là loại hình Nghệ thuật đặc trưng bởi sự biểu hiện không gian trên bề mặt, đó là một không gian ảo chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác Mặt khác mỗi vật thể tồn tại trong không gian để có một hình dạng, màu sắc nhất định Ánh sáng giúp ta nhận ra hình dáng, kích thước và màu sắc của chúng Như vậy đặc trưng nữa đó là tính tạo hình trực tiếp bằng các yếu tố ngôn ngữ tạo hình như hình khối, màu sắc, đường nét, hình và màu là 2 yếu tố cơ bản trong Đồ hoạ Hình là yếu tố quan trọng đóng vai trò chủ yếu Màu sắc giúp biểu hiện tình cảm và làm cho Đồ hoạ phong phú, hấp dẫn
CHƯƠNG 2 NGÔN NGỮ ĐỒ HỌA TẠO NÊN KHÔNG GIAN
TRONG TRANH DÂN GIAN
Trang 142.1 Khái niệm về ngôn ngữ đồ họa
Nghệ thuật bắt nguồn từ lao động, do đó luôn gắn liền với cuộc sống Các môn nghệ thuật đến với con người thông qua "cửa ngõ" thị giác và cùng chung một hệ thống ngôn ngữ là: đường nét, hình khối, màu sắc như: Kiến trúc, Điêu khắc, Hội hoạ, Đồ hoạ gọi là nghệ thuật tạo hình hay được quen gọi
là Mỹ thuật
Khái niệm chung về mỹ thuật như sau: Mỹ thuật là từ chỉ những loại hình nghệ thuật có quan hệ đến sự thụ cảm bằng mắt và sự tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật chất bên ngoài để đưa lên mặt phẳng (gỗ, giấy, vải, trần nhà, tường) hoặc một không gian (ngoài trời hoặc trong phòng) nào đấy Ngôn ngữ mỹ thuật bao gồm các yếu tố như: Hình - khối, Đường - nét, màu - sắc, sự sắp xếp bố cục, nhịp điệu Mỗi loại hình có cách biểu hiện khác nhau tuỳ thuộc vào đặc trưng ngôn ngữ của từng loại
Từ các hình cơ bản đó mỗi ngành lại có sự nhìn nhận và phát triển theo hướng riêng Vậy đối với mĩ thuật hình là hình gì? Hình có liên quan đến nét? Hiện nay có rất nhiều chất liệu mới cũng như giải pháp tạo nên sự phong phú
và đa dạng về hình thể
Trang 15Các nghệ nhân dân gian đã sử dụng hình dạng và đường nét như các yếu tố biểu đạt chính cho tranh dân gian Sự sắp xếp các hình thể hay quan hệ giữa các hình thể đó tạo nên khoảng cách Các khoảng cách đó gợi lên không gian cho bức tranh
Nét có vai trò quan trong trong tranh, bức tranh “phong cảnh” khắc gỗ của họa sỹ Munch, một bậc thầy của tranh khắc gỗ Châu Âu thế kỷ XX Chỉ bằng hướng và mật độ cũng như chất biểu cảm của nét đã tạo ra hiệu quả không gian cho bức tranh Rõ ràng chỉ bằng nét thôi, tác giả cho người xem thấy một phong cảnh rừng cây, thành phố ngập trong tuyết trắng của một chiếu đông phương Tây ( H5)
Những cảm giác về nét trong mỹ thuật:
Hướng chéo chỉ sự giao động: chéo: cho cảm giác vui khỏe và có sự phát triển chéo, gây cảm giác buồn xuống dốc
Phối hợp nét cong và nét thẳng gây nên cảm giác niềm vui được nhân lên cho ta sự thỏa mãn thị giác mắt nhìn
Nét dài, nét ngắn kết hợp với nhau với tỉ lệ phù hợp nhất định tạo nên
sự bền vững chặt chẽ và thỏa mãn tâm lý thị giác tốt nhất
Trang 16Nét to, nét nhỏ phối hợp với tỉ lệ tương ứng vừa phải cho cảm giác linh hoạt
Nếu ta tách riêng và xét các nét ở trạng thái độc lập của nó thì thông thường nó có những đặc tính, tính chất tương đối rõ nét và ngược lại nếu xét khi kết hợp với những đối tượng thị giác khác biệt thì nét kết hợp với nét cong nét thẳng, thẳng với thẳng, hoặc cong thẳng kết hợp với nhau cho ta cảm giác đặc tính khác nhau phụ thuộc vào tổng thể của chúng sự kết hợp hình thức lối trùng điệp lối xen kẽ với tổng hợp tạo hiệu quả bất ngờ phụ thuộc vào cảm hứng người nghệ sỹ
Nét có khả năng làm trung hòa các mảng màu định hình hỗn thể trong tranh
2.1.4 Màu sắc
Thuật sử dụng màu sắc trong tranh dân gian rất tài tình, có thể nói đã đạt đến chuẩn mực tuyệt mỹ Mỗi tranh mỗi vẻ Những tranh tô màu phẩm xanh, đỏ, vàng thì có những hoà sắc tương phản rực rỡ mà không sặc sỡ, loè loẹt Dù màu thuốc cái ở tranh điệp hay màu hoá chất ở nhiều dòng tranh khác thì cũng đều đằm thắm, chỉ rất ít màu, thiên về ánh sáng, hầu như không cần đến màu ghi trung gian Những màu ấy dù in hay vẽ đều khiêm tốn, chỉ vài màu nhưng do cách chế biến, kỷ thuật in chồng, in lệch lại tạo thêm màu cổ truyền gọi là thuốc cái như son đỏ thắm được ghiền ra từ thứ đất đồi Màu
đỏ vàng được chiết từ gỗ cây vang Màu vàng ấm lấy từ hoè hay dành dành Màu xanh chàm lấy từ cây chàm Màu đen xốp được nghiền từ than lá tre hoặc than rơm Màu trắng óng ánh được tạo ra từ vỏ con điệp Còn tranh hàng Trống là để phục vụ cho tầng lớp trung lưu và thị dân nên đường nét trong tranh thường mảnh mai trau chuốt, tinh tế; nghệ thuật thì công phu và sáng tạo Màu thường dùng là màu phẩm nhuộm nguyên chất, song nhờ độ đậm nhạt của nét bút đã tạo được sự hài hoà, lung linh và chiều sâu của bức tranh
Trang 17Màu sắc trong tranh “Hàng Trống mang tính trang trí cao” do tô bằng tay nên màu rất đa dạng phong phú, kỹ thuật dùng màu ẩn hiện tạo không khí hư hư, thực thực của các bức tranh thờ Ánh sáng dường như trên cao đổ xuống đều các đồ vật và người không có bóng Màu sắc trong tranh thờ tự nhiên, ít pha trộn và dùng cả màu vàng bạc óng ánh bằng ngân nhũ, kim nhũ, tạo hiệu quả đối chọi, tươi tắn.
2.2 Khái niệm về không gian trong tranh khắc gỗ
2.2.1 Không gian ba chiều trong tranh đồ họa
Là sử dụng tổ hợp ngôn ngữ đồ họa (màu sắc, đường nét, mảng, đậm nhạt ) để diễn tả sự vật trong tranh với ba chiều, đó là chiều cao, chiều rộng
và chiều sâu
2.2.2 Không gian hai chiều trong tranh đồ họa
Là sử dụng tổ hợp ngôn ngữ đồ họa (màu sắc, đường nét, mảng, đậm nhạt ) để diễn tả sự vật trong tranh với hai chiều, đó là chiều cao, chiều rộng, chiều thứ ba được các họa sĩ, nghệ nhân ước lệ bằng cách sử dụng các thủ pháp ngôn ngữ đồ họa để tạo ra như vật ở trước đặt xuống dưới, vật ở sau đặt lên trên Không gian hai chiều còn gọi là không gian ước lệ
Khi người cổ đại khởi đầu việc sáng tạo mỹ thuật với những hình vẽ trên vách hang động, họ đã sử dụng không gian hai chiều Trong không gian
đó, chiều sâu của sự vật không được lưu ý tới, hay nói đúng hơn là không được biểu đạt một cách chính xác Các vật thể ở xa thường được vẽ phía trên các vật thể ở gần, nhưng kích cỡ của chúng vẫn tương đương nhau thay vì tỷ
lệ theo vị trí trong tranh
Đồ họa dân gian Việt Nam vận dụng rất ít không gian ba chiều Các nghệ nhân Việt cổ thậm chí hầu như không có ý thức cố gắng tả bóng để làm nổi bật hình khối các vật thể trong tranh Trái lại, họ tìm cách phẳng hóa sự vật Những sự vật vốn dĩ không phẳng trong đời sống, khi vào hình họa được
Trang 18cách điệu hóa để trở nên phẳng một cách hợp lý theo ý thức thẩm mỹ của người sáng tạo Biểu tượng chim lạc trên các mặt trống đồng cổ là một ví dụ
Tư duy không gian hai chiều trên bề mặt trống đồng cổ, trong tranh dân gian Đông Hồ và tranh Hàng Trống ngày nay là những di vật phản ánh một dòng chảy có cội nguồn sâu xa và có thể phần nào phản ánh một số tố chất trong tâm hồn người sáng tạo Thứ nhất, do không được mô tả hình khối nên tất cả các sự vật trong tranh dễ bị có cảm giác thiếu chiều sâu và trở nên căng cứng trên bề mặt tác phẩm Người nghệ nhân chỉ được phép vận dụng các nét rạch ròi, sắc cạnh trên các mặt phẳng Điều này đòi hỏi tính chính xác rất cao Mỗi nét là một câu trả lời thẳng thắn dứt khoát, có hoặc không Ở đây không
có chỗ cho những bóng mờ với vai trò làm mềm hóa ấn tượng về vật thể, giúp thỏa hiệp với mắt nhìn của người xem Thứ hai, không mô tả hình khối sự vật cũng có nghĩa là người nghệ nhân bớt bị ràng buộc vào ý thức cố gắng mô tả hiện thực một cách chính xác Tùy vào mục đích, điều này có thể tốt, cũng có thể không tốt Nếu mục đích của người nghệ sỹ là biểu đạt tình cảm hay quan niệm thẩm mỹ - những sự vật trừu tượng cao - thì việc cố gắng mô tả chính xác vẻ bề ngoài của sự vật rất có thể trở thành một gánh nặng, làm phân tán năng lượng và tư tưởng của người nghệ sỹ, ngăn cản họ tự do biểu đạt nội tâm sâu kín bên trong Lựa chọn Không gian hai chiều chính là một cách để người nghệ sỹ từ bỏ thế giới nhìn thấy được trong hiện thực để đổi lấy khả năng tự
do biểu đạt sự phong phú, phức tạp của sự vật
2.3 Ngôn ngữ trong tranh dân gian
2.3.1 Đường nét và không gian
Như chúng ta đã biết nét là một tập hợp các điểm thành các đường (đường nét) hay là qũy đạo của một điểm di động trong không gian Trong hội họa và đồ họa, nét là một quy ước của con người để phân định ranh giới giữa
cá hình thể của sự vật và không gian xung quanh trên mặt phẳng Sự tách biệt
Trang 19giữa vật thể này với vật thể kia trong không gian trước hết là ở các giới hạn bao quanh hình ấy
Các đường nét gợi lên sự duy trì của sự chuyển động Một đường nét như thế, dẫu ngang qua mặt tranh hoặc tiến sâu vào trong, giúp chỉ ra sự hiện diện của không gian Ta thấy chỉ bằng những đường nét đã tạo ra không gian trên bề mặt hai chiều Một không gian ảo mà ta tưởng như có sự xuất hiện của chiều thứ ba trên mặt phẳng hai chiều đó
Hướng và mật độ của nét có thể tạo cảm giác nặng, nhẹ, gần xa, đặc, rỗng… khả năng thể hiện nét tăng lên nhiều khi sử dụng sự thay đổi về hướng của nét thẳng và nét cong Tính chất động do hướng của nét thay đổi được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực mỹ thuật, nhất là trong nghệ thuật đồ họa Trong tranh dân gian những mảng màu được giới hạn bởi nét Đường nét
là một thủ pháp biểu hiện của hội hoạ Đường nét tạo nên sự uyển chuyển, nhịp nhàng, khoẻ khoắn của tranh Tác dụng cơ bản của đường nét là bao ngoài xác định giới hạn của hình ảnh Tuy nhiên đường nét không chỉ là đường viền hình thể, trong tranh được tả nhiều chất khác nhau
Trong tranh dân gian, giữa mảng màu nọ và mảng màu kia được giới hạn bởi nét, nét để tạo hình, tạo mảng và phân tích hình, màu nền với nền tranh, đó là những đường viền to và đậm là đường phân cách, các mảng mầu tạo nên sự khác biệt giữa phong cách sử dụng mảng mầu và nét của trang dân gian Đông Hồ và tranh khắc gỗ Nhật bản, Trung Quốc
Tranh “Hứng dừa” là sự tổ hợp nét cong uyển chuyển cộng vào đó là không gian trong tranh, được cấu trúc nhịp nhàng, mềm mại, kết hợp với sự chuyển động trong cách sắp xếp bố cục tạo nên một không khí tươi vui hạnh phúc Hàng loạt bức tranh như: Vinh hoa, phú quý… đều dùng những nét mềm mại nhằm diễn tả sự sung túc, tròn trặn, viên mãn Nét ở đây đã tạo ra không gian phong phú trong từng bức tranh Ở mỗi tranh nét lại diễn đạt một
Trang 20cách khác nhau tạo nên không gian khác nhau như tranh “Hứng dừa” nét to khỏe của cây dừa, khác với nét khắc nhân vật, tạo nên không gian cũng như miêu tả hình tượng trong tranh (H6).
Tính trang trí, cách điệu thể hiện rất rõ trong những chữ như Phúc, Lộc, Thọ… Đều như những bức tranh mang tính thư pháp cao
Tranh Đông Hồ thành công nổi bật là sự kết hợp hài hòa giữa việc sử dụng không gian và các mảng màu, khéo léo trong cách tổ chức không gian nét trong các mảng màu tất cả những yếu tố đó tạo nên sự hòa quyện giao hòa của ngôn ngữ Đồ họa làm nổi bật khả năng diễn tả nội dung cũng như thần thái của nhân vật trong tranh Đó là những nét chung tạo nên sự độc đáo của tranh dân gian Đông hồ dưới bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Việt Nam
Yếu tố đường nét được người Việt Nam khai thác và sử dụng rất hiệu quả trong tranh dân gian Nếu như đường nét trong tranh khắc gỗ Việt Nam to khỏe, mộc mạc, chất phác mang hơi thở và tâm hồn của người Việt Nam Còn người Nhật lại có những đường nét mảnh và tinh vi hơn Người Trung Quốc lại có những đường nét gọt giũa mềm mại thanh mảnh hơn, khai thác đường nét đến tối đa Đường nét đôi khi là tiếng nói của hình (chặn hình) hay sự gối chồng lên nhau của các nét tạo ra không gian và chiều sâu cho tác phẩm Nếu như hòa sắc là yếu tố quan trọng nhất đối với một tác phẩm sơn dầu thì đối với tranh khắc gỗ lại là sự phô diễn của các kĩ năng, kỹ sảo Nét phối màu, mảng hình với nền dẫn đến hiệu quả cuối cùng là những tác phẩm tranh khắc gỗ hay, đẹp với hai vị đặc trưng là: Mộc vị và Đao vị Mộc vị là khí vị đọng ở trên tranh, mang tinh thần mộc mạc của chất gỗ Còn Đao vị là hơi thở của nhát đao, mang cảm xúc và tình cảm của người họa sỹ Tùy thuộc vào mức độ và cách thể hiện mà tạo ra được phong phú, chất biểu cảm của nhát dao (đường nét)
Trang 21Xem tác phẩm “Mưa trên tầng than” của họa sỹ Phùng Phẩm Ta thấy đường nét xuất hiện toàn bộ bề mặt tranh Với phương pháp chuyển hoán, mật
độ và hướng của đường nét đã tạo ra hiệu quả cao cho tác phẩm Nhìn tổng thể bức tranh ta thấy những đường nét chạy dài, chéo và xuyên suốt bề mặt tranh cho ta cảm giác về một khoảnh khắc mưa giông, bão chớp, những hạt nước rơi rất nhanh trong những đường nét đó được hoán chuyển tại một đường chéo Kết thúc không gian của bầu trời núi non để đến với con đường hay mặt phẳng đất hơi dốc và trơn do trời mưa ở trên một vùng mỏ Cái áo mưa mỏng được kết cấu bởi đường nét ngang đã phá thế những đường chéo lập lại trạng thái cân bằng cho tác phẩm
Sự chuyển hoán và hướng cũng như mật độ của đường nét đã tạo ra cái
áo mưa mỏng và trong suốt bằng một thứ chất liệu mới nào đó khác với những chiếc áo tơi được làm từ lá cây mà ông cha ta thường dùng Những nét chặn hình khỏe khoắn tạo nên sức mạnh cơ bắp của những người công nhân thợ mỏ thì trên chính những mảnh đen của quần để sót lại những nét trắng đã tạo nên sự mềm mại của một chất liệu vải khác với chất liệu nhựa trong của chiếc áo choàng che mưa Những nét đen lớn của khung xe đẩy chắc khỏe để mang trên mình những thùng than Những nét đen lớn không đều mà dấu tích trơn trượt trên mặt đường được tạo ra bởi những bước chân của hai người công nhân Những nét trắng nhỏ rích rắc chạy cắt những đường chéo thẳng chạy dài đã tạo sự cân bằng thị giác và gợi lên một không gian sâu rộng với những ngôi nhà, những cánh của sổ hay những cây cột điện trên vùng mỏ với những đồi núi lô nhô Chỉ với những đường chéo xuyên suốt mặt tranh tưởng chừng như đơn điệu, nhưng với phương pháp chuyển hoán tác giả đã làm đường nét phong phú và giàu chất biểu cảm
Đường nét đã được các nghệ nhân tranh dân gian khai thác và sử dụng rất hiệu quả Xem tranh “Bát thiên náo hải ” tranh hàng trống Hà Nội Các
Trang 22nghệ nhân đã sử dụng đường nét với vai trò chất biểu cảm chính Những đường nét cong được sắp xếp một cách chật tự đã gợi lên không gian sôi động náo nhiệt Phía trên những đường rích rắc cuồn cuộn trên không trung đã tạo
ra những đám mây Mặt biển với những đường nét được sắp xếp theo một trật
tự nhất định đối lập với những đám mây có những đường nét rích rắc tự do, thậm chí được buông ở một số chỗ đã gợi lên sự đối lập lớn trên mặt tranh, gợi lên không khí của một cuộc đại náo của hai thế lực thiên thần ở trên trời
sự gối chồng liên tiếp lên nhau đã gợi lên không gian của mặt biển sâu rộng Như vậy đường nét góp phần quan trọng trong việc xây dựng một bức tranh, nó suất hiện từ khi tác phẩm mới được bắt đầu cho đến khi hoàn thành Nhất là trong lĩnh vực nghệ thuật đồ họa mà tranh khắc gỗ là một điển hình Đường nét không chỉ là định hướng ban đầu hay chặn hình, giới hạn hình mà quan trọng hơn là góp phần tạo ra không gian và chiều sâu cho tác phẩm
Xem kĩ các bức tranh của Đông Hồ: "Gà đại cát, gà đàn, vinh hoa, phú quý, phúc lộc song toàn …" nét có chỗ mau, chỗ thưa có mảng để trống, có nét lông dày cứng, vuốt nhọn như lưỡi mác, có những nét lông cổ chỉ là những vạch ngắn song song cách đều Cũng có lông đuôi mẹ vểnh lên, lại có lông đuôi gà trống rủ cong xuống duyên dáng, có khi lông cổ và lưng lại xếp nhưng gói lợp Trong tranh “Gà đàn” đầu cánh mẹ được tả bằng các chấm xếp hàng đều đặn, chắc là để tả lông nhỏ xốp, mềm mà cũng là thay đổi các phương án cho đỡ nhàm mắt Tất cả gợi tả không gian đàn gà đông đúc, thể
Trang 23hiện được nhiều góc nhìn của đàn gà và sự phong phú của thể hiện hét biều hiện hình và không gian (H7).
Ngoài ra các nghệ nhân Đông Hồ tả cọng sen rất tài tình ở tranh "Chăn trâu thổi sáo": Cọng sen tả gai bằng các nét băm, một tập hợp các nét băm ngắn, xếp dài đều đặn vừa cho ta thấy cọng sen vừa gợi ý có lắm gai Con trâu dưới cằm, thân hình của nó có lớp lông tơ mềm mại bằng các nét băm song song lượn công đều nhau rất uyển chuyển (H6)
Trong tranh " Phú quý, chăn trâu thả diều" ta cũng bắt gặp nét băm này Mỗi cách tả nét lại cho chúng ta một hình dạng đa chiều trong không gian, đồng thời tả chất của hình tượng trong tranh (H9), (H10)
Nét mở rộng thành mảng, mảng co thành nét, “Tranh đám cưới chuột”, các con chuột đang khúm núm, nét từ đuôi chạy đến lưng bỗng mở ra thành mảng rồi co lại để đến phải gồng mình, lên gần tay và có cơ đùi, lấy hết can đảm tiến đến hối lễ lão mèo khủng khiếp Tạo cho không gian giữa hai vật mèo và chuột có một khoảng cánh tâm lý đặc biệt (H11)
Nét gợi khối trong tranh "Phú quý" cổ con vịt là hai đường chạy song song tạo cảm giác bẹt nhưng cổ con vịt được cài các nét ngắn, hơi cong nhằm
tả nét gấp khi cổ vịt co lại
Một điều thú vị nữa về nét là mỗi bé kiểu tóc khác nhau ở tranh Đông
Hồ Thoạt nhìn ta tưởng bé chỉ là một, dù ôm gà hay vịt, cóc hay cá Nhưng nếu nhìn kĩ sẽ phải thán phục các nghệ nhân xưa: mỗi bé một kiểu tóc Vẫn chỉ là một loạt các nét ngắn nhưng với cách xếp khác nhau sẽ cho ra những cấu trúc tóc khác nhau (H9)
Tranh Đông Hồ phục vụ bà con nông dân nên tranh có viền dứt khoát khoẻ khoắn làm bức tranh sinh động, chất đồ hoạ và biểu cảm cao
Tranh Hàng Trống phục vụ cho những đối tượng là tầng lớp trung lưu
và thị dân nên đường nét trong tranh thường mảnh mai trau chuốt và tinh tế
Trang 24Bức tranh "Ngũ hổ" của Hàng Trống nét đen mảnh trau chuột, màu tô bằng tay nên nét viền đen của tranh "Ngũ hổ" nhiều chỗ lẫn với màu Ngoài ra những nét mặt, chùm râu, ánh mắt và những đường vằn vện toàn thân được cách điệu rõ ràng, nhịp của đường vằn, dáng vẻ uy nghi tạo nên sức mạnh và
sự thiêng liêng, của tính chất tranh thờ (H12)
Những bức tranh Hàng Trống như: thất đồng, tử tôn vạn đại, tam đa… Nét còn diễn tả sự mềm mại của quần áo hay căng tròn, mũm mĩm của da thịt
em bé Đường nét trên khuôn mặt các ông Hoàng, bà chúa gần gũi đôn hậu
Đường nét trong tranh Hàng Trống mảnh nhỏ, trau chuốt nhiều khi chìm lẫn trong màu sắc thể hiện sự công phu và tính sáng tạo
Đường nét cũng là một yếu tố quan trọng trong tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống để tạo nên những bức tranh độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc
- Vai trò của nét trong việc diễn tả không gian trong tranh
Từ lâu Nghệ thuật tạo hình đã sử dụng nét - một hiện tượng trong tự nhiên làm ngôn ngũ biểu hiện, diễn đạt tình cảm của con người và của thiên nhiên Nó từ chỗ mô phỏng rồi mô tả sự vật mang đến sức biểu cảm của hình tượng, tạo nên giá trị thẩm mỹ
Nghệ thuật hang động cách chúng ta hàng vạn năm cũng đã cho con người thời đó biết sử dụng đường nét để tạo hình vẽ, diễn tả thế giới tự nhiên, như hươu nai…
Nét không những diễn tả được khối, không gian, tạo chất mà còn diễn
tả được sự vận động tĩnh tại của sự vật Và cao hơn, còn biểu đạt được những trạng thái tình cảm của con người và thái độ của con người đối với sự vật đó Người ta thường cho rằng, đặc trưng của ngôn ngữ đồ họa là nghệ thuật dùng nét và mảng, thật ra như thế chưa đúng hoàn toàn, nhưng như thế cũng cho thấy nét, chấm và mảng có vị trí rất quan trọng trong tạo hình đồ họa
Trang 25Ở hội họa, các yếu tố thường gắn với nhau thành một khối thống nhất, như màu sắc không gian, ánh sáng, bút pháp được thể hiện một cách đồng thời và gây sức hấp dẫn
Đặc điểm tâm sinh lý thị giác của con người có quan hệ với đường nét, qua ảo giác của mắt, trước đường nét hay tổ hợp đường nét gây cho ta liên tưởng khác nhau, như hướng ngang chỉ sự bình lặng: Hướng chéo chỉ sự ngăn cấm: đường cong lên biểu hiện sự phát triển: đường cong xuống chỉ sự suy sụp… Qua đường nét, chúng ta có thể thấy được tình cảm, phong cách tâm hồn hay quan niệm nghệ thuật của từng vùng, từng dân tộc, từng cá nhân tác giả Đối với bố cục thì nét không được cắt nhau, không được có nét kết thúc: các cụm nét được tổ chức dầy hay thưa, to hay nhỏ, cong hay thẳng tùy ý: cụm nét nọ chui qua, luồn sâu xuống cụm nét kia, không được dùng các nét sát nhau thành mảng đen: trên mặt tranh, bố cục không có chỗ bỏ giấy trắng Tranh khắc gỗ cũng được biến chuyển theo thời đại, kỹ thuật khắc cũng được thay đổi phù hợp với phương pháp tạo hình mới, trong đó có sử dụng, vận dụng một cách sáng tạo như định luật tạo hình, như xa gần, sáng - tối… kết hợp với phương pháp tạo hình truyền thống khắc gỗ dân tộc: đó là sự cách điệu về đường nét, ước lệ trong cách tạo không gian và xây dựng hình tượng
Đường nét là phương tiện chủ yếu tạo hình của nghệ thuật Đồ họa nói chung và tranh dân gian Đồng Hồ nói riêng Đường nét là thủ pháp sử dụng biểu hiện nghệ thuật Đồ họa, do con người sáng tạo ra Thị giác con người kết hợp với cảm quan hình thức của đường nét với tính năng của sự vật cho nên
có thể nói "Đường nét là biểu hiện thống nhất giữa cảm tính thị giác và lý tính phân tích" Quỹ tích chuyển động của điểm, hình thành đường nét động: đường cắt của mặt và mặt hoặc đường biên là đường nét tĩnh Đường nét không chỉ biểu hiện vật thể hữu hình mà còn biểu hiện ý tượng vô hình, vì thế