TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCHTRẦN THỊ DUNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU CHUYÊN NGÀNH: SƯ PHẠ
Trang 1TRẦN THỊ DUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU
Trang 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRẦN THỊ DUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU
CHUYÊN NGÀNH: SƯ PHẠM MỸ THUẬT GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths LÊ THỊ THANH
Trang 3Tôi xin cam đoan đề tài “Một số biện pháp giáo dục nhằm nâng cao
chất lượng giảng dạy phân môn vẽ tranh ở Trường tiểu học Quảng Châu”
là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của giảng viên Ths.
Lê Thị Thanh Kết quả nghiên cứu được nêu trong đề tài là trung thực,không trùng lặp Các số liệu, trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng Nếu có điều gìsai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 12 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Dung
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH TRONG DẠY HỌC MĨ THUẬT Ở BẬC TIỂU HỌC 5
1.1 Khái quát về dạy học mĩ thuật ở bậc tiểu học 5
1.1.1 Mục tiêu 5
1.1.2 Nhiệm vụ 5
1.1.3 Chương trình 5
1.2 Phân môn vẽ tranh trong dạy học ở bậc tiểu học 6
1.2.1 Khái niệm và nhiệm vụ về vẽ tranh 6
1.2.2 Các hình thức vẽ tranh 6
1.2.3 Khả năng cảm nhận của học sinh Tiểu học 7
1.2.4 Kỹ thuật trong vẽ tranh 9
1.3 Phương pháp dạy học phân môn vẽ tranh ở bậc tiểu học 12
1.3.1 Khái niệm về phương pháp dạy học 12
1.3.2 Các phương pháp dạy học phân môn vẽ tranh ở bậc tiểu học 12
Tiểu kết chương 1 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU 18
2.1 Khái quát về trường tiểu học Quảng Châu 18
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên mĩ thuật ở trường tiểu học Quảng Châu. .19
2.3 Thực trạng dạy học phân môn vẽ tranh ở trường tiểu học Quảng Châu 19
2.3.1 Chuẩn bị 19
Trang 72.3.4 Đánh giá thông qua chất lượng dạy học tại trường tiểu học Quảng
Châu 21
Tiểu kết chương 2 23
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH TRONG DẠY HỌC MĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU 24
3.1 Đối với cấp quản lý 24
3.2 Đối với giáo viên 24
3.2.1 Giải pháp chung 25
3.2.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn vẽ tranh ở tiểu học 25
3.2.3 Áp dụng hình thức dạy học theo phương pháp mới của SAEPS - Đan Mạch vào phân môn vẽ tranh ở trường tiểu học Quảng Châu 28
3.2.4 Kết quả đạt được khi áp dụng dạy học mới của Đan Mạch vào phân môn vẽ tranh tại trường tiểu học Quảng Châu 40
Tiểu kết chương 3 41
C PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
1 Kết luận 42
2 Kiến nghị 42
2.1 Đối với cơ sở đào tạo (Trường Đại học VH, TT&DL Thanh Hóa): 42
2.2 Đối với trường tiểu học Quảng Châu 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC ẢNH 45
Trang 9A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Môn Mĩ Thuật là một môn học thuộc lĩnh vực năng khiếu, mà khôngphải bất kỳ em học sinh nào cũng có năng khiếu Mĩ thuật Vì thế, môn mĩthuật ở trường tiểu học không nhằm đào tạo ra những họa sĩ chuyên nghiệp
mà nhằm giáo dục thẩm mĩ cho các em là chủ yếu, tạo điều kiện cho các emtiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp thông qua cáchcảm nhận ngây thơ trong sáng của các em Từ đó, các em biết vận dụng cáiđẹp trong cuộc sống hằng ngày và những công việc cụ thể mai sau
Ngày nay, khoa học kĩ thuật ngày một phát triển, nhu cầu xã hội ngàycàng cao, đòi hỏi con người cũng cần có những phẩm chất, nhân cách của mộtcon người XHCN mới có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ,…Bởi vậy,việc dạy học mĩ thuật đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng tìm tòi vàsáng tạo Ngoài việc dạy học sinh những kiến thức cơ bản thì việc học mĩthuật còn phải đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh, làm cho các em nhìn
ra cái đẹp, thấy cái đẹp ở trong mình và thấy xung quanh mình trở nên gầngũi đáng yêu hơn
Trong chương trình mĩ thuật ở tiểu học gồm có 5 phân môn: Vẽ theomẫu; Vẽ trang trí; Vẽ tranh; Thường thức mĩ thuật; Tập nặn tạo dáng
Ở phân môn Vẽ tranh, một số học sinh không hứng thú học môn này vì:Các em chưa quen sắp xếp bố cục như: sắp xếp hình mảng trong tranh thế nàocho cân đối, cho rõ chính phụ Nên việc dạy học giáo viên thường mất nhiềuthời gian dẫn đến bài vẽ của học sinh không đủ thời gian hoàn thành tại lớp
Chính vì những lý do trên, nên em quyết định chọn đề tài: “Một số biện
pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn vẽ tranh ở Trường tiểu học Quảng Châu” cho bài viết của mình.
Trang 10từ Trung học sư phạm lên Cao đẳng sư phạm; biên soạn các mô đun bồidưỡng giáo viên nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhậtnhững đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kếtquả giáo dục tiểu học theo chương trình, sách giáo khoa tiểu học mới.
- Giáo trình Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học– Nxb GD, tài liệunhằm cung cấp cho giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục tiểu học ở các cơquan quản lí giáo dục, các trường tiểu học những kiến thức và kĩ năng về đổimới phương pháp dạy học nói chung, về phương pháp dạy học các môn họctheo chương trình - sách giáo khoa mới ở tiểu học nói riêng
- SKKN “Nâng cao chất lượng phân môn vẽ tranh ở trường tiểu học”của Phan Thị Vân Tuyến - Trường Th Tràm Chim 3, nghiên cứu về nội dungphương pháp giảng dạy để góp phần nâng cao chất lượng phân môn vẽ tranhnhằm giúp học sinh có thể đễ tiếp thu, mở rộng thêm kiến thức để làm nền tảnhọc tập về sau
Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết từng phương pháp dạy học
mĩ thuật tiểu học, phương pháp dạy học phân môn vẽ tranh và những biệnpháp nâng cao chất lương phân môn vẽ tranh nói riêng
Tuy nhiên các tài liệu trên vẫn chưa làm rõ được vấn đề biện pháp giáodục nhằm nâng cao chât lượng giảng dạy trong phân môn vẽ tranh ở tiểu học,
Trang 11nên nay em viết bài tiểu luận này trên cơ sở tiếp cận, lĩnh hội kiến thức củanhững tác giả trước, tổng hợp những gì đã đạt được của các bài viết liên quan
và nghiên cứu tiếp những phần còn hạn chế của các tài liệu đó, đồng thờiđóng góp một phần cá nhân của mình trong việc tìm ra tính mới của đề tài:
“Một số biện pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phân
môn vẽ tranh ở Trường tiểu học Quảng Châu”
3 Mục đích ngiên cứu:
Nghiên cứu về nội dung biện pháp giảng dạy để góp phần nâng caochất lượng giảng dạy phân môn vẽ tranh nhằm giúp học sinh có thể đễ tiếpthu, mở rộng thêm kiến thức để làm nền tảng học tập về sau
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Chương trình Mĩ thuật, phương pháp dạy Mĩ thuật
- Giáo viên, học sinh của một số trường tiểu học trong địa bàn QuảngChâu
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Học sinh từ khối 1 đến khối 5 trường Tiểu học Quảng Châu và một sốtrường khác ở địa phương
5 Phương pháp nghiên cứu:
a) Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết (Nghiên cứu qua các vănbản, chương trình, giáo trình, tài liệu sách báo về phương pháp dạy học môn
Mĩ thuật.)
b) Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra phỏng vấn tình hình học sinh
- Dự chuyên đề trao đổi, dự giờ, rút kinh nghiệm về phương pháp giảngdạy môn Mĩ thuật
Trang 12- Thực hành giảng dạy theo phương pháp mới.
- Tìm giải pháp rút kinh nghiệm
- Cho HS hoạt động ngoài trời, tham quan, toạ đàm
- Phương pháp thực nghiệm dạy thí điểm ở một số lớp bằng phươngpháp mà mình đề ra
6 Những đóng góp mới của đề tài:
Giúp giáo viên nắm chắc phương giảng dạy phân môn vẽ tranh nhằmhướng dẫn học sinh hoàn thiện kiến thức và các kĩ năng, kĩ xảo về nghệ thuậthội hoạ đặc biệt là trong phân môn vẽ tranh
7 Cấu trúc đề tài:
Tiểu luận gồm 43 trang ngoài phần mở đầu (4 trang), kết luận (2 trang),tài liệu tham khảo (1 trang), phụ lục (8 trang), được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của dạy học phân môn vẽ tranh trong dạy học
mĩ thuật ở bậc tiểu học (12 trang)
Chương 2 Thực trạng và tình hình dạy học phân môn vẽ tranh tạitrường tiểu học Quảng Châu (6 trang)
Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn vẽ tranhtrong dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học Quảng Châu (18 trang)
Trang 13B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH TRONG
DẠY HỌC MĨ THUẬT Ở BẬC TIỂU HỌC
1.1 KHÁI QUÁT VỀ DẠY HỌC MĨ THUẬT Ở BẬC TIỂU HỌC
- Bồi dưỡng năng lực quan sát, phân tích, phát triển trí tuệ, phát huy trítưởng tượng, sáng tạo, góp phần hình thành nhân cách người lao động mới
- Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu mĩ thuật của học sinh
1.1.2 Nhiệm vụ.
- Giáo dục thẩm mĩ là chính
- Giúp học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận, thưởng thức và bằngkiến thức, kinh nghiệm của bản thân thể hiện cái hay, cái đẹp trong thiênnhiên, trong cuộc sống; đồng thời vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vàosinh hoạt, học tập hàng ngày
- Góp phần tạo dựng môi trường thẩm mĩ cho xã hội
Trang 14Trong đó, các bài lý thuyết viết dưới dạng giới thiệu theo trình tự nộidung và cuối bài là câu hỏi hướng dẫn Các bài thực hành viết dưới dạng:quan sát, nhận xét; tìm và chọn nội dung đề tài; cách vẽ; bài tập.
Về nội dung: giải thích các khái niệm, nêu lên đặc điểm của từng phânmôn để các em tìm ra cách học, cách vẽ, cung cấp những kiến thứ cơ bảnnhất cho từng phân môn, bài tập ứng dụng
1.2 PHÂN MÔN VẼ TRANH TRONG DẠY HỌC Ở BẬC TIỂU HỌC.
1.2.1 Khái niệm và nhiệm vụ về vẽ tranh.
Tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, tìm hiểu thế giới xung quanh, tìm
ra đặc điểm và vẻ đẹp của đối tượng, có thói quen quan sát cuộc sống và thiênnhiên
Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm yêu thiên nhiên, đất nước, con người
1.2.2 Các hình thức vẽ tranh.
1.2.2.1 Vẽ tranh đề tài.
Vẽ tranh đề tài là vẽ tranh về một đề tài cho trước mà học sinh khôngđược chọn, mà phải vẽ theo Trong mỗi đề tài có nhiều cách thể hiện hay nóicách khác cùng một đề tài nhưng cách thể hiện nội dung khác nhau, tùy thuộcvào người vẽ mà suy nghĩ, tìm tòi, sao cho tranh của mình đúng đề tài màcách thể hiện nhẹ nhàng, dí dỏm tình cảm hơn Muốn vẽ tranh đề tài, học sinh
Trang 15cần nắm được kiến thức cơ bản, ngoài ra phải là người chăm quan sát thựctiễn, chịu khó tìm hiểu cuộc sống xung quanh Bởi trong tranh đề tài phản ánhcuộc sống bằng ngôn ngữ hội họa thể hiện ở bố cục, hình vẽ, màu sắc thôngqua ngôn ngữ làm cho người xem hiểu về cuộc sống hay nói cách khác các
em vẽ theo ý tưởng và cảm xúc của mình trong tranh bằng hình ảnh quenthuộc trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày
1.2.2.2 Vẽ tự do.
Vẽ tự do hay vẽ theo ý thích chính là vẽ tranh về đề tài nào đó do người
vẽ tự lựa chọn theo ý của mình Cách khai thác đề tài sắp xếp bố cục chọnhình tượng và màu sắc giống như tranh đề tài cho trước
1.2.3 Khả năng cảm nhận của học sinh Tiểu học.
- Đặc điểm tâm lý
Lứa tuổi học sinh Tiểu học tuổi từ 6-10 đang theo học từ lớp 1 đến lớp
5, là lứa tuổi ngây thơ trong sáng, biểu hiện tình cảm yêu ghét rõ ràng Đây làlứa tuổi mà trẻ bắt đầu làm quen với cái mới, hình thành những kiến thức cơbản, cần thiết về đường nét, hình khối, đậm nhạt, màu sắc, bố cục Các em bắtđầu tập quan sát, qua đó phát triển tư duy, trí tưởng tượng, sáng tạo, bước đầucảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống, con người Biết vận dụngnhững kĩ năng đó vào trong cuộc sống Tuy nhiên, do đặc điểm lứa tuổi, các
em thường có cảm nhận rất ngộ nghĩnh về cuộc sống và mọi vật xung quanh.Trong quá trình làm bài, các em thường e ngại, sợ sai nên phần nào hạn chế,không thể hiện được hết ý tưởng của các em
Sự phát triển thể chất tâm lý, trí tuệ của các em thường không đồngđều, không phải em nào cũng có năng khiếu mĩ thuật Đa phần các em còn bỡngỡ vụng về trong khi vẽ, điều chỉnh hình vẽ nét bút không theo suy nghĩ củabản thân Và lứa tuổi này còn ở tuổi ham thích vui chơi hoạt động, do đó
Trang 16trong bài vẽ đặc biệt là các bức tranh đề tài thể hiện rõ dấu ấn của sự trẻ trunghồn nhiên ngây thơ, ngộ nghĩnh và hết sức chân thành.
Ở học sinh Tiểu học đa số các em thích vẽ theo suy nghĩ, ý thích củamình hơn là vẽ theo sự hướng dẫn của giáo viên Nghĩ gì và vẽ nấy, đặt bútvào là vẽ không theo trình tự khuôn khổ các bước vẽ Mặt khác, các em cũngthường làm giống với những bài mẫu tham khảo được Chính vì vậy, ngườigiáo viên cần hiểu và hướng dẫn các em dần dần, để các em nắm bắt và thấyđược tác dụng của việc vẽ tranh đúng đem lại cho bài vẽ của mình có một kếtquả tốt
- Khả năng cảm nhận của học sinh Tiểu học trong phân môn vẽ
tranh
Học sinh Tiểu học có ngôn ngữ tạo hình rất đơn giản nhưng không vìthế mà thiếu đi sự sáng tạo phong phú Các em thường vẽ tranh theo nhiều nộidung đề tài khác nhau, một số em cũng đã tìm cho mình được nội dung vàcách thể hiện rất dí dỏm, có nhiều bố cục lạ, đẹp mắt Tuy nhiên cũng không
ít bố cục thể hiện sự lỏng lẻo vụng về, lúng túng của các em trong khi xâydựng bố cục Về hình tượng thì đa phần các em chưa có suy nghĩ tìm tòi vềdáng, hình, động tác và nhất là những đặc điểm điển hình trong từng loại đềtài hay nội dung mà các em chọn Bởi hình tượng các em chọn để vẽ cònchung chung, thiếu cái động, tĩnh, thiếu chiều sâu bức tranh Các em vẽ tranhđơn giản chỉ là kể, tả lại những hoạt động, động tác của nhân vật, nguời hayvật hay một quang cảnh nào đó Đa số học sinh thể hiện màu sắc trong tranhthường rực rỡ đôi khi trở nên đối lập về màu sắc khiến cho tranh trở nên khôcứng Những đề tài được các em ưa thích nhất là thường là tranh phong cảnh,bởi vì đó là những thứ gần gũi được các em quan sát thu nhận một cáchthường xuyên thể hiện trí tưởng tượng ghi nhớ của các em hết sức phong phú
Trang 17đa dạng nghệ thuật ngôn ngữ tạo hình cũng từ đó mà được hình thành Bộc lộvới những đặc trưng riêng của từng lứa tuổi.
Chất liệu mà các em thể hiện chủ yếu là màu sáp và bút dạ ngoài ra cònmàu nước Chính vì thế mà tranh các em thường là nhưng gam màu rất sốngđộng, tươi vui Vì vậy đa phần những bài vẽ của các em có sự chênh lệch vềgam màu đậm nhạt rất lớn Ở lứa tuổi từ 6 – 7 các em thường chưa ý thức rõcách thể hiện màu sắc, chủ yếu các em tô màu theo ý thích, cảm nhận về vẻđẹp của các em cũng hết sức đơn giản, ngây ngô
1.2.4 Kỹ thuật trong vẽ tranh.
Đối với học sinh tiểu học các em có cách cầm bút vẽ đứng, dễ dànghơn, hoạt động các khớp linh hoạt, thần kinh tương đối vững vàng nên điềukhiển nét vẽ, hình vẽ theo ý muốn, nét vẽ mạch lạc rõ ràng, chi tiết làm rõ đốitượng Nhưng nhìn chung từ nét vẽ cho đến cách sử dụng màu của học sinhcòn theo cảm tính, theo suy nghĩ và ý thích riêng chưa theo một nguyên tắcnào bởi vậy trong tranh của các em màu sắc tươi sáng, ngộ nghĩnh
1.2.4.1 Khai thác nội dung chọn hình tượng.
Vẽ tranh đề tài rất thu hút học sinh tiểu học, các em có thể vẽ tranh vềcác loại đề tài, tìm được ý hay, dí dỏm có nhiều bố cục lạ, đẹp Riêng về hìnhtượng trong tranh chưa có nhiều suy nghĩ về hình dáng và những nét điểnhình nên tranh của các em hình tượng còn chung chung, thiếu cái động, cáitĩnh, thiếu chiều sâu Vì vậy học sinh chưa “giải phóng” được cách thể hiệnnội dung và xây dựng hình tượng, vẫn còn tình trạng chung chung Bài vẽ đạtyêu cầu nhiều hơn khá, giỏi
1.2.4.2 Về bố cục.
Điểm chung nổi bật của các em khi tiến hành bài vẽ là không tuân theotrình tự các bước vẽ, nhiều em vẽ thẳng hình vào giấy nghỉ gì là thể hiện ra
mà không chú ý đến bố cục sắp xếp chính phụ, dẫn đến bố cục bị to bị lệch,
Trang 18có em thì bố cục lỏng lẻo, có em lại chật chội vv dẫn đến kết quả bài vẽkhông cao Các em ở lứa tuổi 6 – 7 thường chỉ vẽ được những hình đơn giản,bước đầu làm quen với đường nét, màu sắc Còn những em ở độ tuổi lớn hơn
đã phần nào ý hiểu được thế nào là bức tranh đẹp Nhưng ý thức về bố cụccủa các em chưa được rõ ràng Bố cục như thế nào là đẹp? Và như thế nào là
bố cục? Khi làm bài các em thường bỏ qua một bên không cần biết chính phụ
là gì Điều đó cho thấy giữa thực hành và lý thuyết còn cả một khoảng cáchlớn đối với các em có lẻ thực hành là một chuyện, lý thuyết lại là một chuyệnkhác cái cốt yếu là mình thích mình vẽ, nói thế nhưng củng có một số em ýthức được bố cục đẹp và hợp lý đưa lại kết quả cao cho bài vẽ…
Vì vậy mà người giáo viên phải biết được đặc trưng đường nét ngônngữ tạo hình ở lứa tuổi của các em để có cách nhận xét đánh giá cho phù hợp.Tuy nhiên cũng cần có phương pháp nắm bắt và uốn nắn dần tỉ mĩ cho các
em, để các em vẽ bài linh hoạt hơn nâng cao kỹ năng vẽ hình cho các em, làmtiền đề cho các em học tốt môn học này ở những bậc học cao hơn
Trang 19vẽ thường vượt ra khỏi bố cục đã phác, hoặc nhỏ hơn dẫn đến hình vẽ khôngcân đối.
1.2.4.5 Màu sắc trong tranh.
Màu sắc là yếu tố đặc biệt tạo được hứng thú nhất cho học sinh phầnlớn do màu sắc là yếu tố tác động mạnh đến thị giác của con người, nhất làlứa tuổi học sinh Tiểu học Đại đa số các em thích vẽ màu, đặc biệt là ở phânmôn vẽ tranh, phần vẽ hình vẽ đường nét được các em vẽ nhanh, và các emdành phần lớn thời gian để vẽ màu Một số em chưa ý thức được rằng màu sắcgóp phần quan trọng tạo nên vẻ đẹp của bức tranh nên các em vẽ màu cẩu thả.Cũng có những em yếu về kĩ năng tô màu nên màu vẽ thường không đều màunhất là ở những mảng hình lớn Một số khác vẽ màu kĩ, những màu sắc sặc
sở, bắt mắt thường là những màu được các em sử dụng nhiều nhất Bên cạnh
đó một số học sinh có cách nhìn màu rất tốt, sự cảm thụ màu hết sức nhạycảm Các em đã bắt đầu có sự suy nghĩ tìm tòi, đầu tư về màu sắc trong bài vẽcủa mình Có những em đã biết cách pha màu, chồng màu kéo màu từ mảngchính ra xung quanh một cách hợp lý, làm nổi bật trọng tâm bài vẽ nhưng vẫntạo được sự hài hoà về màu sắc
Trang 20Tuy nhiên nhiều em còn chưa thể hiện được độ đậm nhạt ở trong bứctranh làm cho bức tranh đều đều, màu sắc dàn trải, không tạo được chiều sâucủa bức tranh là “ gần thì tỏ, xa thì mờ” Nên đa phần tranh của các em mangđậm tính chất trang trí.
1.3 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở BẬC TIỂU HỌC.
1.3.1 Khái niệm về phương pháp dạy học
Phương pháp dạy - học là cách thức hoạt động của giáo viên và họcsinh, trong đó giáo viên là người chỉ đạo, tổ chức các hoạt động dạy và học;học sinh là người tổ chức, chủ động tham gia các các hoạt động học tập nhằmđạt được các mục tiêu dạy - học
1.3.2 Các phương pháp dạy học phân môn vẽ tranh ở bậc tiểu học
a) Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được thể hiện qua cách giáo viên hướng dẫn chohọc sinh cách nhìn, cách ngắm đối tượng với mục đích nhất định để có nhữngnhận xét, đánh giá chính xác về đối tượng, …
Có thể vận dụng phương pháp quan sát như sau:
• Cần xác định mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát cho học sinh
• Hướng dẫn học sinh quan sát có trọng tâm, cần nêu được đặc điểmcủa mỗi bài
• Hướng dẫn cho học sinh cách quan sát đối tượng:
- Quan sát từ bao quát đến chi tiết
- Quan sát cần đối chiếu, so sánh để rút ra nhận xét đúng, khách quan b) Phương pháp trực quan
Phương pháp trực quan được thể hiện qua cách giáo viên trình bày nộidung, kiến thức của bài học qua vật thật, hình tượng hay hình ảnh nhằm giúphọc sinh hiểu bài được dễ dàng và vững chắc hơn
Có thể vận dụng phương pháp trực quan như sau:
Trang 21- Trình bày đồ dùng dạy - học (ĐDDH) phải khoa học, đúng lúc, rõràng, phù hợp với nội dung; giới thiệu hay cất ĐDDH phải hợp lí, có thể:
• Giới thiệu xong từng đơn vị kiến thức nên cất đi vì một số học sinhthường rập khuôn, sao chép lại mẫu
• Lời giới thiệu nội dung hoặc các câu hỏi gợi ý học sinh suy nghĩ củagiáo viên phải ăn khớp cùng thời điểm với sự xuất hiện ĐDDH
• Giáo viên cần chỉ vào những nơi cần thiết ở ĐDDH để nhấn mạnhtrọng tâm của bài … Không để học sinh bị các chi tiết lôi cuốn mà không tậptrung vào những điểm chính
- Không lạm dụng quá nhiều ĐDDH hoặc kéo dài thời gian làm chohọc sinh dễ phân tán chú ý
- Cho học sinh vận dụng nhiều giác quan (nghe, nhìn, ngửi, sờ, …)
- Trình bày bảng: Bảng cũng là ĐDDH khi lên lớp, do đó giáo viên cầnlưu ý:
* Trình bày bảng gồm có kênh hình và kênh chữ, trình bày khoa học,thẩm mĩ, rõ ràng…Chữ viết phải to vừa phải, kiểu chữ chân phương, các đềmục phải rõ ràng Kênh hình phải trình bày có hệ thống, không chen lấn kênhchữ…
c) Phương pháp gợi mở
Phương pháp gợi mở được thể hiện qua những câu hỏi hợp với đốitượng của giáo viên để tác động đúng lúc, đúng chỗ, có mức độ, có chất lượngcho học sinh giúp các em suy nghĩ thêm, tự tìm tòi và giải quyết được bài tậphay nâng cao chất lượng bài vẽ bằng khả năng của mình
Môn mĩ thuật lấy thực hành là chủ yếu, sau khi được hướng dẫn cách
vẽ, học sinh phải tự giải quyết bài tập bằng chính khả năng của mình Vì vậylàm việc cá nhân giữa thầy giáo và học sinh lúc này rất quan trọng, quyết địnhđến kết quả bài vẽ của mỗi em
Trang 22Có thể vận dụng phương pháp gợi mở như sau:
• Giáo viên gợi mở trên thực tế bài vẽ của học sinh, phù hợp với từngđối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình
• Các câu gợi mở phải mang tính khích lệ, động viên, không mang tínhphủ định hay mệnh lệnh
• Lời nhận xét, gợi mở luôn ở dạng nghi vấn
Ví dụ với đề tài Ngày nhà giáo Việt Nam, học sinh có thể vẽ một số nộidung như: vẽ chân dung thầy, cô giáo; vẽ về buổi lễ kỉ niệm Ngày nhà giáoViệt Nam, về cảnh học sinh đang chúc mừng thầy, cô, … Với bài có nội dung
vẽ chân dung, nếu học sinh chỉ vẽ hình ảnh người thầy, giáo viên có thể gợimở: “Bài vẽ chân dung đẹp quá vì hình thầy to, rõ, màu rất đẹp, nhưng có mộtmình thầy thì buồn quá, làm sao để có không khí ngày lễ nhỉ?”, …
d) Phương pháp luyện tập
Phương pháp luyện tập được thể hiện thông qua các hoạt động giữagiáo viên và học sinh để các em hoàn thành bài tập nhằm củng cố những kiếnthức đã tiếp thu được từ bài học, từ thực tế cuộc sống
Kiến thức cơ bản của mĩ thuật được lặp đi lặp lại và nâng cao dần quacác bài tập, do vậy đối với từng phân môn, giáo viên cần hướng dẫn kĩ cách
vẽ ở những bài đầu, những bài sau chỉ cần nhắc lại những ý chính, dành thờigian cho học sinh thực hành
Có thể vận dụng phương pháp luyện tập như sau:
• Cung cấp kiến thức chung cho tất cả, những bài đầu của mỗi loại bàitập cần hướng dẫn kỹ phương pháp thực hiện, những bài sau chỉ hướng dẫnnhững ý chính, để thời gian cho học sinh luyện tập thực hành
• Ra bài tập và nêu yêu cầu cần đạt để học sinh nắm được trước khi làmbài
Trang 23• Khi học sinh làm bài, giáo viên không vẽ giúp cho học sinh, cần kếthợp với phương pháp gợi mở
e) Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ là cách tổ chức, hướngdẫn hoạt động học tập tập thể của học sinh theo từng nhóm nhỏ dưới sự chỉđạo của giáo viên
Có thể vận dụng phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ qua cácbước như sau:
• Chia nhóm (từ 5–6 em), học sinh tự đặt tên cho nhóm, cử nhómtrưởng
• Giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách làm việc cho các nhóm (làm bàitập thực hành, phân tích tranh, tượng…)
• Cả nhóm tham gia hoàn thành nhiệm vụ (thảo luận hoặc phân côngcông việc cho cá nhân thực hiện)
• Các nhóm trưng bày sản phẩm, đại diện nhóm trình bày kết quả họctập của nhóm
• Học sinh phân tích, đánh giá kết quả học tập của các nhóm khác(đúng, chưa đúng nội dung, hoặc đẹp, chưa đẹp) đồng thời nêu lí do rồi xếploại, giáo viên nhận xét, bổ sung, đánh giá kết quả của từng nhóm và độngviên, khích lệ tinh thần làm việc chung của học sinh
g) Phương pháp dạy-học tích hợp
Phương pháp dạy-học tích hợp được thể hiện:
• Giáo viên nêu được mối quan hệ kiến thức giữa các môn học, giữacác sự vật, hiện tượng trong một tổng thể thống nhất
• Kiến thức mĩ thuật có liên quan đến kiến thức các môn học khác nhưtoán, văn, lịch sử, địa lí, sinh vật, nhạc, giáo dục công dân, … liên quan đến
Trang 24cuộc sống xung quanh, giáo viên cần lưu ý cho học sinh những mối quan hệtrên, cần chọn lọc kiến thức các môn học khác một cách phù hợp, linh hoạt
Trang 25Tiểu kết chương 1
Dạy học mĩ thuật ở trường tiểu học, giáo dục thẩm mĩ là chính, giúphọc sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận, thưởng thức và bằng kiến thức, kinhnghiệm của bản thân thể hiện cái hay, cái đẹp trong thiên nhiên, trong cuộcsống; đồng thời vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào sinh hoạt, học tậphàng ngày
Môn mĩ thuật là môn rèn luyện trí thẩm mĩ và rèn luyện tư duy sáng tạocho học sinh, làm cho các em hồn nhiên, vui tươi, nhận thấy được cái hay cáiđẹp trong cuộc sống xung quanh qua nhiều đề tài Học sinh rất say mê tronggiờ học mĩ thuật Bên cạnh có một số phụ huynh học sinh xem nhẹ môn mĩthuật (không phải là môn chính) nên ảnh hưởng đến môn mĩ thuật thấp đi vàchất lượng giáo dục thẩm mĩ cũng thấp đi Môn mĩ thuật là môn nghệ thuật,giáo viên bộ môn phải say mê, nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo và nâng dần chấtlượng và đồng bộ số quan niệm xem nhẹ môn mĩ thuật Chính vì thế tôinghiên cứu và tích luỹ những phương pháp mới tổ chức cho học sinh học tậpthoải mái, nhẹ nhàng nhưng đạt kết quả cao
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ TÌNH HÌNH DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH
TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU.
- Lịch sử:
Trường thành lập năm 1952, sau nhiều lần chia tách cấp 1 và cấp 2.Tháng 1 năm 1996 trường chính thức mang tên là trường tiểu học QuảngChâu Dưới sự lãnh đạo của nhà giáo ưu tú Đinh Văn Khôi nhà trường liêntục là lá cờ đầu của ngành giáo dục tỉnh Thanh Hóa, được nhận huân chươnglao động hạng 3 do nhà nước trao tặng năm 1986, trường liên tục là trườngtiên tiến cấp huyện cấp tỉnh
Trường được công nhận chuẩn quốc gia giai đoạn 1996 – 2000, đượccông nhận lại trường chuẩn quốc gia mức độ 1 năm 2007, năm 2012 nhàtrường được công nhận chuẩn mức độ 2 Năm 2013 – 2014 được hội đồng thiđua cấp tỉnh đề nghị Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen, trường là mộttrong những trường tốp đầu của huyện về chất lượng dạy và học
- Đội ngũ chung:
Trường có 36 giáo viên, nhân viên trong đó có 3 cán bộ quản lý: 1 hiệutrưởng, 2 hiệu phó, 22 giáo viên dạy văn hóa, 1 giáo viên dạy mĩ thuật, 1 giáoviên thể dục, 3 giáo viên tiếng anh, 2 giáo viên tin học, 1 giáo viên đoàn đội,
1 nhân viên văn thư, 1 nhân viên thư viện, 1 nhân viên kế toán
- Cơ sở vật chất:
Trường tiểu học Quảng Châu là trường đạt chuẩn mức độ 2 nên đượcBan giám hiệu nhà trường và các cấp lãnh đạo quan tâm đầu tư về cơ sở vậtchất phương tiện dạy học rất đầy đủ và hiện đại Trường có phòng học mĩthuật riêng có trang bị máy tính, máy chiếu, màn hình chiếu để phục vụ cho
Trang 27việc giảng dạy, có các giá vẽ và tủ đựng đồ dùng phục vụ cho giáo viên vàhọc sinh có các loại tranh ảnh phục vụ cho giáo viên và học sinh, có các loạitranh ảnh phục vụ cho bài vẽ tranh của từng khối lớp.
Giáo viên trong trường được trang bị tương đối đầy đủ sách giáo khoa,tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học của môn mĩ thuật
Ngoài ra giáo viên còn được cung cấp sách giáo viên, sách thiết kế bàigiảng
Học sinh trường được cung cấp mẫu tượng thạch cao, các vật mẫu hìnhcầu, lọ hoa, ấm, chén đĩa, bát
Ban giám hiệu nhà trường đều nhận thức tăng cường giáo dục Mĩ thuậtcho học sinh nhằm phát triển khả năng tư duy sáng tạo và bồi dưỡng óc thẩm
mỹ cho học sinh, giúp học sinh hiểu khái quát về cách vẽ tranh, biết tạo ranhững bức tranh đẹp Đồng thời qua phân môn này giáo dục học sinh thêmyêu thiên nhiên cuộc sống và con người Từ đó, các em có ý thức quan sáttinh tế về sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, là cơ sở để học tốt các môn họckhác
2.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MĨ THUẬT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU.
Nhà trường có 1 giáo viên dạy mĩ thuật, 28 tuổi, có trình độ chuyênmôn tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Mĩ thuật, có năng lực nghiệp vụ giảng dạytốt
2.3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÂN MÔN VẼ TRANH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG CHÂU.
Trang 28Tranh sử dụng cho học sinh xem đa dạng về các loại đề tài, và đủ lớn.Các tranh minh họa có cách vẽ khác nhau về bố cục, về hình tượng và về màusắc.
- Phương pháp hoạt động theo nhóm nhỏ
- Phương pháp liên hệ thực tiễn
- Phương pháp trò chơi
- Phương pháp luyện tập thực hành
- Phương pháp đánh giá
Giáo viên đã sử dụng các phương pháp trên phù hợp với đặc trưng môn
mĩ thuật với nội dung bài dạy phân môn vẽ tranh
2.3.3 Phương tiện trực quan của GV và HS trường tiểu học Quảng Châu.
Giáo viên.
Có đầy đủ tranh, ảnh, tranh minh họa, các bài của học sinh khóa trước,tranh vẽ mô phỏng các bước tiến hành bài vẽ quan sát Các phương tiện dạyhọc như máy chiếu, máy tính
Trang 292.3.4 Đánh giá thông qua chất lượng dạy học tại trường tiểu học Quảng Châu.
2.3.4.1 Giáo viên
Ưu điểm:
Giáo viên dạy nhiệt tình sôi nổi, giảng dạy đủ nội dung trọng tâm,chính xác, khoa học Giáo viên dạy đảm bảo tính hệ thống, làm rõ được trọngtâm thể hiện được giáo dục thẩm mĩ, giáo dục được tình cảm đạo đức của họcsinh Giáo viên đã liên hệ được với cuộc sống hàng ngày Đồ dùng dạy họcchuẩn bị chu đáo, sử dụng các phương pháp phù hợp với đặc trưng, nội dungbài dạy, kết hợp tốt các phương pháp trong hoạt động dạy và học phân môn
vẽ tranh Giáo viên sử dụng phương tiện thiết bị dạy học phù hợp với nộidung và kiểu bài lên lớp Giáo viên trình bày bảng, trình bày đồ dùng có hệthống thẩm mĩ
Hạn chế:
Giáo viên chưa bao quát được hết tất cả các em học sinh trong lớp, đặcbiệt là học sinh yếu, kém Tiết học còn trầm, học sinh học tập chưa tích cực,chưa chủ động sáng tạo Giáo viên chưa gần gũi thân thiện với học sinh, sửdụng các phương pháp vào trong quá trình dạy học chưa linh hoạt, các thaotác đang còn chậm
Hạn chế:
Trang 30Nhiều em còn vẽ chưa xong bài, đề tài xác định chưa rõ ràng, bố cụccòn lỏng lẻo, rời rạc, hình nhỏ mang tính liệt kê, giàn trải, ít có chính phụ,dáng người còn chung chung, màu sắc còn rời rạc đôi lúc còn lòe loẹt chưahài hòa, nhiều em chưa chú ý học, còn làm việc riêng trong giờ học.
Sau tiết dạy học của giáo viên thì phỏng vấn một số em vừa mới học xong tiết học vẽ tranh đề tài:
Một số em có ý thức học tập phấn khởi và hứng thú khi học, nhưng cónhững em chưa hứng thú học tập vì lí do ý thức kém, chuẩn bị đồ dùng họctập chưa đầy đủ, thiếu giấy thiếu màu vẽ dẫn đến lười nhác ảnh hưởng đến kếtquả học tập bộ môn, không những vậy còn ảnh hưởng tới các môn khác