Tình hình nghiên cứu của đề tài Như ở trên đã đề cập, mặc dù luồng ra của đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đức đang tăng lên nhanh chóng, trở thành hiện tượng gây chú ý với giới học giả,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN ĐÀ GIANG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA ĐỨC VÀO VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Đức
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các
số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Đà Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được tỏ lòng biết ơn và gửi lời cám ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Thanh Đức - người trực tiếp hướng dẫn luận văn đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, tìm kiếm tài liệu, xử lý và phân tích số liệu, giải quyết vấn đề… nhờ đó tôi mới có thể hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình
Ngoài ra, trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm, góp ý, hỗ trợ quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và người thân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Cha mẹ
và những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian qua Đặc biệt trong thời gian tôi theo học khóa Thạc sĩ tại trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, quý thầy cô Khoa Quản lý kinh tế và quý thầy cô Khoa Sau đại học nhà trường đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt hai năm học vừa qua
Tôi xin chân thành cám ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Đà Giang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5
5 Những đóng góp mới của đề tài 6
5 Kết cấu và nội dung của luận văn 6
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA ĐỨC VÀO VIỆT NAM 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 7
1.1.2 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI 11
1.1.4 Các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài 17
1.1.5 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nước nhận đầu tư 19 1.2 Cơ sở thực tiễn của việc thu hút FDI của Đức vào Việt Nam 25
1.2.1 Kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc 25
1.2.2 Kinh nghiệm thu hút FDI của Malaysia 27
1.2.3 Kinh nghiệm thu hút FDI của Thái Lan 28
1.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 30
Trang 6Chương 2 CHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 32
2.2.2 Phương pháp phân tích thông tin 33
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 35
Chương 3 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI cỦA ĐỨC VÀO VIỆT NAM 36
3.1 Thực trạng đầu tư của Đức vào Việt Nam 36
3.1.1 Giai đoạn 1993 - 1999 36
3.1.2 Giai đoạn 2000 - 2003 37
3.1.3 Giai đoạn 2004-2007 42
3.1.4 Giai đoạn 2008 - 2014 46
3.2 Đánh giá FDI của Đức vào Việt Nam giai đoạn 1993-2014 49
3.2.1 Những tác động tích cực 49
3.2.2 Một số vấn đề tồn tại 62
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA ĐỨC VÀO VIỆT NAM 77
4.1 Định hướng thu hút đầu tư của Đức vào Việt Nam trong những năm tới 77
4.1.1 Phát triển quan hệ đầu tư giữa hai nước là khá lớn 77
4.1.2 Định hướng thu hút FDI của Đức vào Việt Nam trong thời gian tới 79
4.2 Cơ hội và thách thức quan hệ đầu tư giữa hai nước Đức - Việt 80
4.2.1 Cơ hội 81
4.2.2 Thách thức 84
Trang 74.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI của Đức vào
Việt nam trong thời gian tới 88
4.3.1 Hoàn thiện hệ thống luật pháp 89
4.3.2 Nâng cao tính cạnh tranh của môi trướng đầu tư 91
4.3.3 Quy hoạch phát triển vùng, ngành kinh tế 93
4.3.4 Cải thiện cơ sở hạ tầng 95
4.3.5 Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 96
4.3.6 Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư đối với các nhà đầu tư Đức 97
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.Xu hướng FDI của Đức vào Việt Nam 38
Bảng 3.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước EU tại Việt Nam, 1988-2003 38
Bảng 3.3 Đầu tư của Đức vào Việt Nam phân theo ngành 40
Bảng 3.4 FDI của Đức tại Việt Nam phân theo vùng lãnh thổ 41
Bảng 3.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 01/01/2007- 22/12/2007 44
Bảng 3.6 Số lượng dự án mới, vốn đăng ký mới giai đoạn 2008 - 2014 47
Bảng 3.7 Thành phố dẫn đầu trong thu hút FDI của Đức 48
Bảng 3.8 Chi phí lương tại một số thành phố lớn trong khu vực châu Á 62
Bảng 3.9 Chi phí kinh doanh tại một số thành phố lớn 75
Bảng 4.1 FDI ra nước ngoài của Đức 81
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Tình hình đầu tư của Đức vào Việt Nam giai đoạn 2008-2013 46
Sơ đồ 3.2 Thu hút FDI phân theo khu vực các quốc gia giai đoạn 1995-2013
và dự báo 2014-2016 (tỷ USD) 61
Sơ đồ 3.3 Top 20 quốc gia đầu tư FDI lớn nhất thế giới năm 2013 63
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó khi mà lượng vốn FDI đóng vai trò như là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong nhiều năm qua Những thành tựu tăng trưởng đầy ấn tượng của Việt Nam giai đoạn từ 2000-2007 có sự đóng góp quan trọng của FDI Với dấu mốc quan trọng là sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã bắt đầu quá trình mở cửa hội nhập, và tiếp nhận dòng vốn FDI như một yếu tố bổ sung cho sự thiếu hụt vốn đầu tư trong nước Kể từ đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam tăng đáng kể
cả về chất và lượng và đã góp phần quan trọng trong việc hình thành nhiều ngành kinh tế mới, tạo ra nhiều việc làm, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng hiện đại hoá
Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, nền kinh tế Việt Nam đối mặt với những khó khăn đặc biệt: sự sụt giảm tăng trưởng, sự suy giảm xuất khẩu, tình hình tài chính - tiền tệ bất ổn định, nợ công cao, thâm hụt ngân sách lớn, hệ thống doanh nghiệp đình trệ, phá sản nhiều… Trong những năm tới, nền kinh tế nước ta vừa phải khắc phục hậu quả của khủng hoảng kinh tế
2008, vừa bắt đầu tái cơ cấu kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới Việc thiếu vốn đầu tư là hiển nhiên đối với nền kinh tế nước ta hiện nay cũng như trong những năm sắp tới Trong bối cảnh đó, có thể khẳng định rằng, FDI tiếp tục là nguồn vốn quốc tế quan trọng nhất đối với Việt Nam, khi viện trợ phát triển (ODA) đang có xu hướng giảm, khi đầu tư gián tiếp khá bấp bênh
Chúng ta quan tâm đến FDI của Đức do một số lý do sau Đức là một nước lớn trên thế giới, không chỉ là cường quốc thương mại mà còn là cường quốc đầu tư trên thế giới Hiện nay, Đức xếp thứ 3 thế giới về đầu tư ra nước
Trang 11ngoài Tuy nhiên, đầu tư của Đức tại Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của hai nước Tại Việt Nam, Đức đang xếp thứ 22 trên tổng số 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Mặc dù quy mô đầu tư vào Việt nam còn thấp, nhưng hiệu quả đầu tư của Đức vào Việt nam khá cao
Mặt khác, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU sẽ được ký kết vào cuối năm 2014, qua đó sẽ gia tăng nhu cầu đầu tư tại mỗi quốc gia Đức
có thể hỗ trợ Việt Nam chuyển giao công nghệ tốt hơn trong khi hàng hóa tiêu dùng của Việt Nam như dệt may, giày dép, thủy sản có thể có thêm nhiều cơ hội xuất khẩu tại EU
Trước tình hình đó, Việt Nam không thể bỏ lỡ cơ hội thu hút FDI của Đức, đẩy mạnh thu hút FDI từ Đức nhằm thực hiện nhiệm vụ phục hồi và tái
cơ cấu nền kinh tế sau khủng hoảng
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn FDI và tính cấp thiết của vấn
đề thu hút FDI của Đức vào Việt Nam, học viên đã lựa chọn đề tài: “Đầu tư
trực tiếp của Đức vào Việt Nam - Thực trạng và những vấn đề đặt ra”
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Như ở trên đã đề cập, mặc dù luồng ra của đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đức đang tăng lên nhanh chóng, trở thành hiện tượng gây chú ý với giới học giả, và vấn đề thu hút FDI của Đức vào Việt Nam là quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng số lượng các nghiên cứu về lĩnh vực này vẫn chưa nhiều Càng có ít nghiên cứu liên quan trực tiếp đến chủ đề: “Đầu tư trực tiếp của Đức vào Việt Nam - Thực trạng và những vấn đề đặt ra”
Dưới đây, tác giả xin điểm ra các công trình đã được các học giả đã tiến hành nghiên cứu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận văn
* Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Changwatchai, tháng 8 năm 2010, công trình nghiên cứu “The
determinants of FDI inflows by industry to Asean (Indonesia, Malaysia,
Trang 12Philippines, Thailand and Vietnam” Mục tiêu của nghiên cứu này là phân
tích yếu tố quy định FDI ở cấp quốc gia và cấp ngành công nghiệp trong năm nước ASEAN, gồm: Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam Nghiên cứu đã dựa vào biến động của FDI từ ba nền công nghiệp lớn gồm:
EU, Nhật Bản, và Mỹ để tìm ra mối quan hệ giữa qui mô trung bình của FDI theo ngành công nghiệp
Alexander Lipponer, tháng 9 năm 2006, công trình nghiên cứu “German
foreign direct investment relationships: recent trends and macroeconomic effects” Các nghiên cứu được thực hiện đã chỉ ra rằng nguồn vốn FDI ra nước
ngoài của các doanh nghiệp Đức sẽ không có ảnh hưởng bất lợi cho sự phát triển kinh tế và sự đầu tư trong nội bộ nước Đức trong thời gian dài Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô, sự gia tăng và gây mất việc làm ở Đức, hơn nữa FDI của Đức ra nước ngoài còn làm cho nền kinh tế Đức mang tính cạnh tranh hơn Do vậy, chính phủ Đức nên đẩy mạnh FDI của Đức ra nước ngoài
Axel Mierke, tháng 11 năm 2003, công trình nghiên cứu: “Inputs and
Strategy Approaches for the Promotion of German Direct Investment in Vietnam” đã nghiên cứu tổng quan tình hình và sự phát triển đầu tư trực tiếp
của Đức trên thế giới, sự hài lòng và những kinh nghiệm của các nhà đầu tư Đức tại Việt Nam, tình hình cơ cấu tổ chức trong lĩnh vực xúc tiến đầu tư tại Việt Nam với mục tiêu thu hút mạnh các nhà đầu tư Đức Nghiên cứu cũng đã làm rõ các điểm mạnh và những hạn chế của Việt Nam trong vấn đề thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đức, đồng thời đưa ra các khuyến nghị về chính sách nhằm đẩy mạnh thu hút FDI từ Đức
T Apotheke (2000), “Báo cáo cho Ủy ban châu Âu”, đã phân tích
thương mại và đầu tư Việt nam Đây là một công trình nghiên cứu lớn, được tiến hành hàng năm nhằm phân tích quan hệ thương mại và đầu tư của Việt nam với các nước lớn và chủ chốt trên thế giới, trong đó có đề cập đến đầu tư
Trang 13của EU và Đức vào Việt nam hàng năm Công trình này đã đánh giá hiệu quả của đầu tư của Đức vào Việt nam với những phương pháp khoa học
* Các nghiên cứu trong nước:
Trong khi số lượng các nghiên cứu về luồng FDI đầu tư ra nước ngoài của Đức là tương đối nhiều và hứa hẹn sẽ còn tiếp tục gia tăng cùng với thực
tế bùng nổ luồng vốn FDI từ Đức đổ ra thế giới, thì hầu như có rất ít nghiên cứu về luồng vốn FDI của Đức vào Việt Nam Những nghiên cứu này chủ yếu
là nghiên cứu nguồn vốn FDI của EU vào Việt Nam hay FDI của Đức vào một số nước Châu Á khác Trong đó, đáng chú ý nhất là:
TS.Nguyễn Thanh Đức (2004), sách “Quan hệ thương mại và đầu tư
Việt Nam - CHLB Đức”, NXB Khoa học xã hội Cuốn sách đã phân tích sâu
sắc và toàn diện về FDI của Đức vào Việt nam từ năm 1999-2003 Tác giả đã nghiên cứu thực trạng đầu tư của Đức vào Việt Nam, đưa ra những đánh giá chính xác về hiệu quả của FDI của Đức tại Việt Nam Đặc biệt tác giả đã có những dự báo dài hạn về nguồn vốn FDI của Đức vào Việt Nam, và có những
đề xuất gợi ý về các giải pháp mà phía Việt Nam cần phải thực hiện nhằm thúc đẩy việc thu hút FDI của Đức vào Việt Nam trong những năm tới
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong ngoài nước về vấn đề đầu
tư trực tiếp nước ngoài của Đức vào Việt Nam là những tài liệu giá trị, có nhiều đóng góp quý báu cho việc nghiên cứu FDI của Đức vào Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu Tuy nhiên số lượng các công trình nghiên cứu còn rất ít
và vẫn còn thiếu vắng các vấn đề như:
Thứ nhất, các công trình nói trên chưa đi sâu nghiên cứu những đặc
điểm của quan hệ đầu tư Việt - Đức trong những năm gần đây, kể từ năm
2006 đến nay sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Thứ hai, các tác giả đi trước chưa chú ý đi sâu nghiên cứu vai trò của
nhân tố Chính phủ, hay tác động của chính sách của cả Đức và Việt Nam đến đặc điểm đầu tư của Đức vào Việt Nam
Trang 14Thứ ba, các tác giả đi trước cũng chỉ tập trung nghiên cứu về phía Việt
Nam, mà chưa chú ý nghiên cứu đối tác Đức
Có thể nói, đây là khoảng trống trong nghiên cứu về hoạt động FDI của Đức vào Việt Nam Trong luận văn này, học viên sẽ cố gắng khắc phục những nhược điểm của các công trình nghiên cứu đi trước, đưa ra một nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống về vấn đề nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của luận văn này là tìm hiểu động thái, đặc điểm của dòng FDI từ Đức vào Việt Nam, từ đó đưa ra những gợi ý về giải pháp nhằm thúc đẩy FDI của Đức vào Việt nam trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt mục tiêu, luận văn cần hoàn thành các nhiệm vụ sau:
Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Đức
Phân tích thực trạng tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đức vào Việt Nam giai đoạn 1993- 2014
Đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của đầu tư của Đức vào Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đức tại Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi không gian: FDI của Đức vào Việt Nam nói chung, tại một số tỉnh thành chủ yếu thuộc lãnh thổ Việt Nam
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp của Đức vào Việt Nam từ 1993 đến 2014
Trang 155 Những đóng góp mới của đề tài
- Phân tích thực trạng của dòng FDI từ Đức vào Việt Nam, những mặt tích cực, tiêu cực, nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp kiến nghị cho Việt Nam trong việc thu hút luồng vốn FDI từ Đức một cách hiệu quả
5 Kết cấu và nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 4 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến FDI của
Đức vào Việt Nam;
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Thực trạng đầu tư trực tiếp của Đức vào Việt Nam giai
đoạn 1993-2014;
Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nguồn vốn FDI
của Đức vào Việt Nam trong thời gian tới
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
CỦA ĐỨC VÀO VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Khoản 1, Điều 2, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”
Theo Khoản 1 điều 2, Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”
Luật đầu tư năm 2005 có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”,
“đầu tư nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”:
- Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc
vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư
- Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp
Trang 17Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực
tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại một quốc gia
là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó để được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình
1.1.2 Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Theo quy định của Pháp luật Việt Nam
Căn cứ vào Điều 21, Luật đầu tư năm 2005, có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành 6 hình thức sau đây:
- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT
Theo điều khoản 16, điều 1, Luật đầu tư năm 2005: “Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.”
Theo điều khoản 17, điều 1, Luật đầu tư năm 2005: “Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
Theo điều khoản 18, điều 1, Luật đầu tư năm 2005: “Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư
Trang 18chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.”
Theo điều khoản 19, điều 1, Luật đầu tư năm 2005: “Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là hình thức đầu tư được
ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT.”
b.Theo hình thức xâm nhập
Theo tiêu chí này, FDI được chia làm 2 hình thức:
- Đầu tư mới (Greenfield Investment): là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại Hình thức này thường được các nước nhận đầu tư đánh giá cao vì nó có khả năng tăng thêm vốn, tạo thêm việc làm và giá trị gia tăng cho nước này
- Sát nhập và Mua lại (Merger and Acquisition): Theo quy định tại Điều 17, Luật cạnh tranh được Quốc hội Việt Nam thông qua tháng 12 năm 2014 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2005:
“Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.”
“Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.”
Như vậy, với mua lại, ta quan tâm đến việc chuyển giao quyền sở hữu của doanh nghiệp, còn khi nói sáp nhập là nói đến một quy trình mang tính
Trang 19pháp lý nhiều hơn, có thể có, cũng có thể không xảy ra sau khi mua lại Ngày nay, những giao dịch mua lại mà sau đó không xảy ra sáp nhập khá phổ biến trên thế giới
c.Theo quan hệ ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu từ và đối tượng tiếp nhận đầu tư
Theo tiêu chí này, FDI được chi thành 3 hình thức như sau:
- FDI theo chiều dọc (vertical FDI): nhằm khai thác nguyên, nhiên vật liệu hoặc để gần gũi với người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh phân phối ở nước nhận đầu tư Như vậy, doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư nằm trong cùng một dây chuyền sản xuất và phân phối sản phẩm cuối cùng
- FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu
tư đã sản xuất ở nước chủ đầu tư Như vậy, yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của hình thức FDI này chính là sự khác biệt của sản phẩm Thông thường FDI theo chiều ngang được tiến hành nhằm tận dụng các lợi thế độc quyền hoặc độc quyền nhóm, đặc biệt là khi việc phát triển ở thị trường trong nước vi phạm luật chống độc quyền
- FDI hỗn hợp (conglomerate FDI): Doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau
d.Theo định hướng của nước nhận đầu tư
Theo tiêu chí này, FDI được chia thành 3 hình thức:
- FDI thay thế nhập khẩu: hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất
và cung ứng cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm mà trước đây nước này phải nhập khẩu Các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến hình thức FDI này
là dung lượng thị trường, các rào cản thương mại của nước nhận đầu tư và chi phí vận chuyển
- FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm tới không phải hoặc không chỉ dừng lại ở nước nhận đầu tư mà là các thị
Trang 20trường rộng lớn hơn trên toàn thế giới và có thể có cả thị trường ở nước chủ đầu tư Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến dòng vốn FDI theo hình thức này là khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào với giá rẻ của các nước nhận đầu tư như nguyên vật liệu, bán thành phẩm
- FDI theo định hướng khác của Chính phủ: Chính phủ nước nhận đầu
tư có thể áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư để điều chỉnh dòng vốn FDI chảy vào nước mình theo đúng ý đồ của mình, ví dụ như tăng cường thu hút FDI để giải quyết tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán
e.Theo nhân tố tác động trong quá trình đầu tư
Theo tiêu chí này, FDI được chia thành 2 hình thức như sau:
- FDI phát triển (expansionary FDI): nhằm khai thác các lợi thế về quyền sở hữu của doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư Hình thức đầu tư này giúp chủ đầu tư tăng lợi nhuận bằng cách tăng doanh thu nhờ mở rộng thị trường ra nước ngoài
- FDI phòng ngự (defensive FDI): nhằm khai thác nguồn lao động rẻ ở các nước nhận đầu tư với mục đích giảm chi phí sản xuất và như vậy, lợi nhuận của các chủ đầu tư cũng sẽ tăng lên
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
1.1.3.1 Nhân tố về chính trị
a Tình hình chính trị của nước thu hút đầu tư
Sự ổn định chính trị - xã hội có ý nghĩa quyết định đến việc huy động và
sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Tình hình chính trị không ổn định, đặc biệt là thể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp) thì mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu cũng thay đổi Hậu quả
là lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài bị giảm do phải gánh chịu một phần hay toàn bộ các thiệt hại đó, nên lòng tin của các nhà đầu tư bị giảm sút
Mặc khác, khi tình hình chính trị - xã hội không ổn định, Nhà nước không đủ khả năng kiểm soát hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài, hậu
Trang 21quả là các nhà đầu tư hoạt động theo mục đích riêng, không theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư Do đó hiệu quả sử dụng vốn FDI rất thấp
Kinh nghiệm cho thấy, khi tình hình chính trị -xã hội bất ổn thì các nhà đầu tư sẽ ngừng đầu tư hoặc không đầu tư nữa Tuy nhiên, nếu chính phủ thực hiện chính sách cởi mở hơn nữa thì chỉ làm giảm khả năng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, cá biệt có trường hợp trong chiến tranh vẫn thu hút được FDI song đó chỉ là trường hợp ngoại lệ đối với các công ty thuộc tổ hợp công nghiệp quân sự muốn tìm kiếm cơ hội buôn bán các phương tiện chiến tranh hoặc là sự đầu tư của chính phủ thông qua hình thức đa phương hoặc song phương nhằm thực hiện mục đích riêng Rõ ràng, trong trường hợp này, việc
sử dụng FDI không đem lại hiệu kinh tế - xã hội cho nước tiếp nhận đầu tư
b Tình hình chính trị trong khu vực và thế giới
Tình hình này tác động đến không chỉ các nhà đầu tư đang tìm kiếm đối tác, mà còn tới cả các dự án đang triển khai
Khi môi trường chính trị trong khu vực và thế giới ổn định, không có
sự biến động khủng hoảng thì các nhà đầu tư sẽ tập trung nguồn lực để đầu tư
ra bên ngoài và các nước tiếp nhận đầu tư có thể thu hút được nhiều vốn FDI
Ngược lại, khi môi trường chính trị trong khu vực và thế giới có biến động thì các nhà đầu tư sẽ giảm hoặc ngừng hẳn việc đầu tư ra nước ngoài, do vậy nước chủ nhà cũng rất khó thu hút được FDI
1.1.3.2 Nhân tố về thị trường
Với mong muốn hoạt động kinh doanh đem lại hiệu quả và lợi nhuận cao, nhà đầu tư sẽ quan tâm đến các yếu tố như: dung lượng thị trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng của thị trường; khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của người tiêu dùng ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường
Đối với các chủ đầu tư muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thì dung lượng thị trường của nước nhận đầu tư là một yếu tố rất quan trọng khi
Trang 22chủ đầu tư cân nhắc để lựa chọn địa điểm đầu tư Một nước với dân số đông, GDP bình quân đầu người cao, GDP tăng trưởng với tốc độ cao, sức mua lớn
sẽ có sức hấp dẫn đối với FDI vì đem lại cho chủ đầu tư cơ hội tăng thị phần
và lợi nhuận
Bên cạnh thị trường trong nước, các chủ đầu tư nước ngoài ngày càng quan tâm nhiều hơn đến khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới của nước nhận đầu tư Trong xu thế tăng cường liên kết kinh tế quốc tế và khu vực ngày nay, những nước tham gia vào nhiều liên kết quốc tế sẽ có lợi thế trong thương mại quốc tế vì hàng hóa từ nước này xuất khẩu sang các nước thành viên khác trong liên kết sẽ được hưởng chế độ thương mại ưu đãi hơn hàng hóa từ các nước không phải thành viên chảy vào Chính vì vậy chủ đầu
tư nước ngoài chỉ cần đầu tư vào một nước có tham gia vào nhiều các liên kết kinh tế khu vực và thế giới sẽ có cơ hội tiếp cận một thị trường rộng lớn hơn rất nhiều thị trường nước nhận đầu tư Đây là một lợi thế mà các chủ đầu tư nước ngoài không thể bỏ qua khi cân nhắc lựa chọn địa điểm đầu tư
1.1.3.3 Nhân tố về nguồn nhân lực
Nguồn lao động là nhân tố rất quan trọng để sử dụng có hiệu quả FDI Con người với trình độ kỹ thuật cao, khả năng kinh doanh và quản lý giỏi, trình độ ngoại ngữ tốt sẽ tạo ra năng suất lao động cao và lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Hơn nữa, nếu nguồn nhân lực được đào tạo tốt thì giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ giảm được một phần chi phí đào tạo và bớt được thời gian đào tạo nên tiến độ và hiệu quả của các dự án sẽ đạt đúng theo mục tiêu đề ra
Trình độ thấp kém của nguồn nhân lực sẽ làm cho nước chủ nhà thua thiệt, đặc biệt là ở các khâu của quá trình quản lý hoạt động FDI Sai lầm của các cán bộ quản lý có thể làm thiệt hại về thời gian, tài chính cho nhà đầu tư nước ngoài và cho nước chủ nhà
Trang 23Đặc biệt, những ngành, lĩnh vực, những dự án đầu tư đòi hỏi công nghệ cao thường kèm theo yêu cầu về lao động có trình độ, có tay nghề và được đào tạo bài bản
1.1.3.4 Nhân tố về tài nguyên thiên nhiên
Việc có sẵn các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đã từng là yếu
tố cơ bản thu hút FDI của các nước Vào thế kỷ 19, phần lớn vốn FDI từ Châu
Âu, Mỹ và Nhật Bản hướng vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên Cho đến Đại chiến Thế giới lần thứ hai, 60% tổng FDI trên thế giới liên quan đến việc tìm các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguyên nhân là do trong thời kỳ
đó lĩnh vực nông nghiệp và khai khoáng là những lĩnh vực giữ vai trò quan trọng trong sản xuất toàn cầu Các nước chủ đầu tư, vốn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu thô trên thị trường thế giới, muốn giảm bớt sự phụ thuộc này để đảm bảo tính ổn định cho nền kinh tế Họ tìm cách đầu tư trực tiếp sang các nước có nhiều tài nguyên để có được quyền khai thác lâu dài các nguồn tài nguyên đó Trong khi đó phần lớn các nước đang phát triển đều thiếu vốn, đặc biệt là thiếu thiết bị, công nghệ khai thác, kỹ thuật bán hàng, cơ
sở hạ tầng, để khai thác các nguồn lực của mình Chình vì vậy trong giai đoạn này FDI vào khai thác tài nguyên tăng mạnh
Khi trình độ phát triển đã được nâng cao, khả năng tích lũy vốn trong nội bộ nền kinh tế được cải thiện, nhiều doanh nghiệp trong nước nhận đầu tư
có đủ vốn và công nghệ thích hợp để tự tiến hành khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên, vì vậy nên các ngành này sẽ không cần đến FDI nữa
1.1.3.5 Nhân tố về vị trí địa lý
Khi quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó thì vị trí địa lý là một trong những yếu tố quan trọng Nếu vị trí địa lý thuận lợi sẽ giảm đáng kể chi phí vận chuyển cho nhà đầu tư, từ đó làm tăng phần nào lợi nhuận cho họ
1.1.3.6 Nhân tố về cơ sở hạ tầng
Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng là một trong những nhân tố hấp dẫn và thu hút FDI Có sở hạ tầng hiện đại là nhân tố thúc đẩy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng, thuận lợi có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất
Trang 24kinh doanh Đây thường là là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trước khi ra quyết định đầu tư vào một nước Quốc gia có hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông vận tải, năng lượng, hệ thống cấp thoát nước, các
cơ sở dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại không những tạo thuận lợi cơ bản cho các dự án FDI phát triển thành công, mà còn hệ thống cơ sở hạ tầng còn có tác dụng giảm đáng kể thời gian và các chi phí giao dịch (chi phí vận chuyển, thông tin ) của các dự án FDI tại nước chủ nhà
1.1.3.7 Nhân tố về cơ chế chính sách
Luật pháp về dầu tư nước ngoài của nước chủ nhà cũng như các chính sách nhà nước có liên quan trực tiếp đến FDI có ảnh hưởng đáng kể đến các
quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài
a Các quy định của luật pháp và chính sách liên quan trực tiếp đến FDI
Các quy định này ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng và kết quả của hoạt động FDI, gồm có:
- Việc thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp FDI
- Cơ chế hoạt động của thị trường trong đó có sự tham gia của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Các qui định về thuế đối với các doanh nghiệp FDI
- Các qui định về chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đối với các nhà đầu
tư nước ngoài
Các quy định thông thoáng, có nhiều ưu đãi, không có hoặc ít có các rào cản, hạn chế hoạt động FDI sẽ góp phần tăng cường thu hút FDI vào và tạo thuận lợi cho các dự án FDI trong quá trình hoạt động Ngược lại, hành lang pháp lý và cơ chế chính sách có nhiều quy định mang tính chất hạn chế
và ràng buộc đối với FDI sẽ khiến cho FDI không muốn vào hoặc khó vào đầu tư tại nước chủ nhà
Các quy định của luật pháp và chính sách sẽ được điều chỉnh tùy theo định hướng, mục tiêu phát triển của từng quốc gia trong từng thời kỳ, thậm chí có tính đến cả các quy hoạch về ngành và vùng lãnh thổ
Trang 25b Các quy định, chính sách trong một số ngành, lĩnh vực khác
- Chính sách thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọn
địa điểm đầu tư vì FDI gắn với sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ Ví dụ các nước theo đuổi chiến lược phát triển sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu sẽ thu hút được nhiều FDI vào sản xuất các hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu trong nước nhưng sau đó một thời gian khi thị trường đã bão hòa nếu
nước đó không thay đổi chính sách thì sẽ không hấp dẫn được FDI
- Chính sách tư nhân hóa liên quan đến việc cổ phần hóa, bán lại các
công ty Những nước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình tư nhân hóa sẽ tạo cho các nhà đầu tư nước ngoài nhiều cơ hội, nhiều
sự lựa chọn hơn trước khi quyết định đầu tư
- Chính sách tiền tệ và chính sách thuế có ảnh hưởng quan trọng đến sự
ổn định của nền kinh tế Các chính sách này ảnh hưởng đến tốc độ lạm phát, khả năng cân bằng ngân sách của nhà nước, lãi suất trên thị trường Nhìn chung, các chủ đầu tư đều muốn đầu tư vào các thị trường có tỷ lệ lạm phát thấp, có các loại thuế thấp
- Chính sách tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá các tài sản ở nước nhận đầu tư, giá trị các khoản lợi nhuận các chủ đầu tư thu được và năng lực cạnh tranh của các hàng hóa xuất khẩu của các chi nhánh nước ngoài Một nước theo đuổi chính sách đồng tiền quốc gia yếu sẽ có lợi trong việc thu hút đầu tư nước ngoài và xuất khẩu hàng hóa Chính vì vậy chính sách này ảnh hưởng đến FDI
- Chính sách lao động; chính sách giáo dục, đào tạo; chính sách y tế, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động cung cấp cho các dự án FDI
- Các quy định trong các hiệp định quốc tế mà nước nhận đầu tư tham gia ký kết Ngày nay, các quy định này thường tạo thuận lợi cho FDI vì nó bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư, hướng tới không phân biệt các chủ đầu
tư theo quốc tịch,
Trang 26Nhìn chung các chủ đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những nước
có hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và có thể dự đoán được Điều này đảm bảo cho sự an toàn của vốn đầu tư
1.1.4 Các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Lý thuyết chu kỳ sống
Lý thuyết này giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh từ xuất khẩu sang thực hiện FDI Lý thuyết cho rằng đầu tiên các nhà sản xuất tại chính quốc đạt được lợi thế độc quyền xuất khẩu nhờ việc cho ra đời những sản phẩm mới, sản xuất vẫn tiếp tục tập trung tại chính quốc này ngay cả khi chi phí sản xuất ở nước ngoài có thể thấp hơn Trong thời kỳ này, để xâm nhập thị trường nước ngoài thì các nước thực hiện việc xuất khẩu hàng hoá Tuy nhiên khi sản phẩm bước sang thời kỳ suy thoái, các nhà sản xuất khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng chi phí sản xuất thấp và quan trọng hơn là ngăn chặn khả năng lỗi thời và chu kỳ suy thoái của sản phẩm
- Lý thuyết về quyền lợi thị trường
Lý thuyết cho rằng FDI tồn tại do những hành vi đặc biệt của độc quyền nhóm trên phạm vi quốc tế như phản ứng độc quyền nhóm, hiệu quả kinh tế bên trong do quy mô sản xuất và sự liên kết đầu tư nước ngoài theo chiều rộng Tất cả những hành vi này đều nhằm hạn chế cạnh tranh mở rộng thị trường và ngăn không cho đối thủ khác xâm nhập vào ngành
FDI theo chiều rộng tồn tại khi các công ty xâm nhập vào nước khác và sản xuất các sản phẩm trung gian, sau đó các sản phẩm này được xuất ngược trở lại và được sản xuất với tư cách là đầu vào cho sản xuất của chủ nhà hay tiêu thụ những sản phẩm đã hoàn thành cho những người tiêu thụ cuối cùng
Theo thuyết này các công ty thực hiện FDI vì một số lý do: thứ nhất: do nguồn cung cấp nguyên liệu ngày càng khan hiếm các công ty địa phương
Trang 27không đủ khả năng thăm dò khai thác Do vậy các công ty đa quốc gia tranh thủ lợi thế cạnh tranh trên cơ sở khai thác nguyên liệu tại địa phương Điều đó giải thích tại sao FDI theo chiều rộng được thực hiện ở các nước đang phát triển Thứ hai, thông qua các liên kết FDI dọc, các công ty độc quyền nhóm lập nên các hàng rào không cho các công ty khác tiếp cận tới những nguồn nguyên liệu của chung Thứ ba, FDI theo chiều rộng còn tạo ra lợi thế về chi phí thông qua việc cải tiến kỹ thuật bằng cách phối hợp sản xuất và chuyển giao các sản phẩm giữa các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất
- Lý thuyết về tính không hoàn hảo của thị trường
Lý thuyết này cho rằng khi xuất hiện trên thị trường các yếu tố không hoàn hảo, làm cho hoạt động kinh doanh kém hiệu quả đi, các công ty thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm khuyến khích hoạt động kinh doanh và vượt qua yếu tố không hoàn hảo đó Có hai yếu tố không hoàn hảo của thị trường là rào cản thương mại và kiến thức đặc biệt Cụ thể:
+ Các rào cản thương mại thuế và hạn ngạch…
+ Kiến thức đặc biệt là chuyên môn kỹ thuật của các kỹ sư hay khả năng tiếp thị đặc biệt của các nhà quản lý Khi các kiến thức này chỉ là chuyên môn kỹ thuật thì các công ty có thể bán cho các công ty nước ngoài với một giá nhất định, để họ có thể sản xuất sản phẩm tương tự Nhưng khi kiến thức
đó nằm trong con người, thì giải pháp duy nhất để sử dụng cơ hội thị trường tại nước ngoài là thực hiện FDI Mặt khác nếu các công ty bán các kiến thức đặc biệt cho nước ngoài thì họ sẽ tạo ra đối thủ cạnh tranh trong tương lai
- Lý thuyết chiết trung
Các công ty sẽ thực hiện FDI khi hội tụ đủ ba lợi thế: địa điểm, sở hữu, nội địa hoá:
+ Địa điểm là các ưu thế có được do tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại một địa điểm nhất định Những ưu thế về địa điểm có thể là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động lãnh nghề và rể…
Trang 28+ Sở hữu là ưu thế của một công ty có cơ hội tham gia sở hữu một
số tài sản nhất định như nhãn hiệu sản phẩm, kiến thức kỹ thuật hay cơ hội quản lý…
+ Nội địa hóa là ưu thế đạt được cho việc nội hoá hoạt động sản xuất thay vì chuyển nó đến một thị trường kém hiệu quả hơn
Thuyết này khẳng định rằng khi hội tụ đầy đủ các lợi thế trên, các công
Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các nước kém phát triển
là vốn đầu tư và kỹ thuật Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động vv Từ đó tạo tiền
đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội
Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới
Do đó vốn nước ngoài sẽ là một cú hích để góp phần tạo nên điểm đột phá, khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho các nước nhận đầu tư, góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt dộng dịch vụ cho FDI
Trang 29b.Chuyển giao công nghệ
Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại,
kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến Khi đầu tư vào một nước nào
đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển vào nước đó vốn bằng tiền mà còn chuyển
cả vốn hiện vật như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị thường Do vậy, về lâu dài, đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư
FDI đem lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư, thông qua những chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm FDI còn mang lại cho họ những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi tiếp nhận công nghệ của các nước nhận đầu
tư FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo những kỹ sư, những nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài
c Tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực
FDI đã tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, thu hút khối lượng đáng kể người lao động ở nước nhận đầu tư vào làm việc Điều đó góp phần đáng kể làm giảm bớt nạn thất nghiệp, giúp các nước đang phát triển triển tận dụng được lợi thế
về nguồn lao động dồi dào
Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vào việc đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động Với tiêu chí coi hiệu quả làm việc là ưu tiên hàng đầu trong tuyển dụng và sử dụng lao động, các doanh nghiệp có vốn FDI thường xây dựng được một đội ngũ công nhân, nhân viên lành nghề, có tác phong công
nghiệp, có kỷ luật cao
Đội ngũ cán bộ của nước nhận đầu tư tham gia quản lý hoặc phụ trách
kỹ thuật trong các dự án FDI trưởng thành nhiều mặt Phần lớn số lao động cấp cao này được tham gia đào tạo, huấn luyện ở trong và ngoài nước, được tiếp thu những kinh nghiệm quản lý điều hành của các nhà kinh doanh nước
Trang 30ngoài Đặc biệt với hình thức doanh nghiệp liên doanh, chủ đầu tư của nước chủ nhà tham gia quản lý cùng các nhà đầu tư nước ngoài nên có điều kiện tiếp cận và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài trong sản
xuất kinh doanh, nâng dần kiến thức kinh doanh hiện đại của mình lên
d Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
Yêu cầu dịch chuyển nền kinh tế không chỉ là đòi hỏi của sự phát triển nội tại nền kinh tế, mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh
tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại Thông qua đầu tư, các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế Sự dịch chuyển
cơ cấu kinh tế của nước nhận đầu tư mà phù hợp với trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế Bởi vì:
Một là, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở các nước nhận đầu tư
Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp vào sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ thuật công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế
Ba là, một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cũng có nhiều ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa bỏ
e Góp phần tích cực vào các cân đối lớn của nền kinh tế
- FDI đối với cung cầu hàng hóa trong nước
Khu vực có vốn FDI đáp ứng một phần nhu cầu hàng hóa trong nước, làm giảm căng thẳng cung cầu, giảm sự phụ thuộc hàng nhập khẩu Trong
Trang 31những năm sau, khi FDI vào sản xuất vật chất ngày càng tăng thì các doanh nghiệp có vốn FDI tham gia cung ứng ngày càng nhiều các loại hàng hóa cho tiêu dùng trong nước Trong cơ cấu nhập khẩu, tỷ trọng hàng tiêu dùng giảm xuống Thêm vào đó, chất lượng hàng hóa đáp ứng được nhu cầu trong nước, chủng loại hàng hóa phong phú, từ hàng tiêu dùng cá nhân, hàng tiêu dùng gia đình đến hàng tiêu dùng cao cấp
- FDI đối với xuất nhập khẩu
Không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa, FDI ngày càng hướng mạnh vào xuất khẩu Nguồn ngoại tệ đáng kể từ xuất khẩu đã giúp các nước nhận đầu tư cải thiện cán cân thương mại
Do nhu cầu hàng hóa trong nước được đáp ứng tốt hơn và có nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu mà nhập khẩu cũng thay đổi theo hướng tích cực Cơ cấu nhập khẩu thay đổi mạnh, tỷ trọng hàng máy móc thiết bị, công cụ sản xuất tăng
FDI còn có những tác động tích cực đến cán cân vãng lai và cán cân thanh toán nói chung Ngoài nguồn thu từ xuất khẩu, các nguồn thu khác trong cán cân vãng lai cũng chịu ảnh hưởng dây chuyền từ hoạt động FDI Các dịch vụ phục vụ các nhà đầu tư thu ngoại tệ được mở rộng và phát triển Khách quốc tế đến các nước đang phát triển với mục đích tìm hiểu cơ hội đầu
tư tăng lên, dịch vụ du lịch, khách sạn, vận chuyển hàng không, … cũng theo
đó mà phát triển
- FDI đối với tăng trưởng GDP và thu ngân sách Nhà nước
FDI giúp các nước nhận đầu tư tăng GDP Ở nhiều nước đang phát triển, tốc độ tăng trưởng của khu vực có vốn FDI thường cao hơn tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế có vốn trong nước Chính vì vậy, FDI góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển Tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn FDI trong cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế ngày càng tăng Khu vực này liên tục có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình của nền kinh tế
Trang 32FDI cũng góp phần tăng thu cho ngân sách nước nhận đầu tư thông qua thuế và tiêu dùng các dịch vụ công cộng
f Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới
Vai trò này của FDI thể hiện rất rõ nét ở các nước áp dụng chính sách thu hút FDI hướng vào xuất khẩu Sự xuất hiện của các dự án FDI đi kèm với công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại đã giúp các nước nhận đầu tư nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu Các dự án FDI tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế hơn Bên cạnh đó thông qua các mối quan hệ sẵn có của các nhà đầu tư nước ngoài, hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn FDI tiếp cận được thị trường thế giới
Như vậy, FDI đã vừa làm tăng năng lực xuất khẩu vừa mở rộng thị trường xuất khẩu cho các nước nhận đầu tư Ở nhiều nước kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn FDI chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
g Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng có ý nghĩa và vai trò quan trọng Quan hệ đầu tư góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển Cam kết bảo đảm cho hoạt động FDI và hiệu quả của các dự án FDI là cơ sở để các nước đang phát triển thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác như ODA, tín dụng quốc tế,
Quan hệ thương mại của các nước mở rộng theo quá trình phát triển của các doanh nghiệp có vốn FDI Các doanh nghiệp này trong giai đoạn xây dựng cơ bản có nhu cầu nhập khẩu rất lớn Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp này lại có nhu cầu nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu và xuất khẩu sản phẩm
Trang 33Ngoại thương của nước nhận đầu tư được mở rộng cả về chủng loại hàng hóa cũng như thị trường nhờ rất nhiều vào các doanh nghiệp có vốn FDI Thông qua các dự án FDI, nhất là các dự án của các công ty đa quốc gia, các nước đang phát triển từng bước tham gia vào phân công lao động quốc tế và vào hệ thống sản xuất thế giới
Hoạt động FDI góp phần làm phong phú, đa dạng và sâu sắc các quan
hệ kinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển Nền kinh tế trong nước dần dần tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới Điều này tạo thuận lợi cho các nước tham gia vào các hiệp định hợp tác kinh tế song phương, đa phương
1.1.5.2 Tác động tiêu cực
- Giảm sút năng lực sản xuất của các công ty địa phương
Cùng với đó, sự gia tăng dòng vốn FDI cũng tạo nên những nỗi lo mới:
sự chèn lấn của doanh nghiệp FDI với các thành phần kinh tế khác trên thị trường thương mại và trong khu vực sản xuất Hầu như ở lĩnh vực nào cũng thấy sự có mặt của doanh nghiệp FDI, từ sản xuất thức ăn chăn nuôi, phân bón, đến sản xuất thép, rồi du lịch, khách sạn Các sản phẩm của doanh nghiệp FDI tràn lan trên thị trường từ kẹo bánh, nước giải khát, đến mỹ phẩm
- Tăng cường Độc quyền nếu không có một hệ thống chính sách cạnh tranh
- Mặt trái của công nghệ lạc hậu
Nước nhận đầu tư có thể sẽ nhận được nhiều kỹ thuật lạc hậu không thích hợp Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, máy móc công nghệ ở chính quốc nhanh chóng trở thành lạc hậu Vì vậy họ thường chuyển giao những máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư để đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng của sản phẩm của chính nước họ
Mặt khác, vào giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều sử dụng công nghệ, sự dụng lao động Tuy nhiên sau một thời gian phát triển, giá
Trang 34lao động sẽ tăng dẫn đến giá thành sản phẩm cao Vì vậy họ muốn thay đổi công nghệ bằng những công nghệ có hàm lượng cao để hạ giá thành sản phẩm
Do vậy việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây thiệt hại cho các nước nhận đầu tư như là:
+ Giá trị thực của những máy móc chuyển giao khó xác định Do đó nước nhận đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong các doanh nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận
+ Gây tổn hại môi trường sinh thái
+ Chất lượng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao làm cho sản phẩm khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới
- Chảy máu chất xám Vì các doanh nghiệp FDI thường trả lương cao hơn, do vậy, nhiều lao động, kỹ sư, chuyên gia giờ đã rời bỏ các doanh nghiệp trong nước để chạy sang làm việc cho các doanh nghiệp FDI Quá trình này thường được gọi là “hiện tượng chảy máu chất xám”
- Làm tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng,giữa nông thôn và thành thị và sự mất cân đối này có thể gây ra mất ổn định về chính trị Vì mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vào những nơi có lợi nhất,
đó là các vùng kinh tế phát triển, nhiều ưu đãi, cơ sở hạ tầng phát triển,…
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc thu hút FDI của Đức vào Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm thu hút FDI của Trung Quốc
Có thể nói Trung Quốc là một nước đạt được những thành tự to lớn trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Để đạt được những thành tựu đó, Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc đã quyết định thực hiện đẩy nhanh tốc độ cải cách và mở cửa với những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm khuyến khích FDI vào Trung Quốc Đó là:
- Chính sách đầu tư qua các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội:
Trong giai đoạn 1992 - 2000, chủ trương xây dựng thể chế kinh tế thị trường được đẩy mạnh, đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc tăng nhanh Năm
Trang 351993, Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia thu hút FDI nhiều nhất thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ) Phương thức "lợi dụng vốn ngoại" của Trung Quốc trong giai đoạn này là cùng góp vốn với công ty nước ngoài, khuyến khích doanh nghiệp FDI nghiên cứu và thực nghiệm tại Trung Quốc Từ năm 1995, FDI của Trung Quốc tập trung vào nhóm ngành công nghiệp, xây dựng (chiếm khoảng 70%), trong đó ngành chế tạo chiếm tỷ trọng lớn…Sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào cuối năm 2001, chính sách thu hút FDI của Trung Quốc có sự điều chỉnh phù hợp với các quy định của WTO với việc từng bước mở cửa thu hút đầu tư FDI vào các ngành dịch vụ, bất động sản, tiền tệ…Trong giai đoạn 2010 - 2020, Trung Quốc nêu rõ quan điểm thu hút FDI vào các ngành kỹ thuật cao, kinh nghiệm quản lý, nhân lực chất lượng cao Trung Quốc cũng tiến hành sửa đổi bổ sung "Danh mục hướng dẫn ngành nghề đầu tư nước ngoài", đồng thời cho phép chính quyền địa phương được phê chuẩn dự án đầu tư từ 100 triệu USD lên 300 triệu USD
-Quy trình, thủ tục đầu tư:
Theo quy trình cũ, để đăng ký thành công một dự án đầu tư cần phải có
70 con dấu thì nay quá trình này được rút ngắn tối đa và chỉ cần một con dấu của cơ quan thẩm quyền cao nhất Ngoài ra TQ còn mở rộng quyền hạn cho từng địa phương, các nhà chức trách tỉnh, thành phố có quyền phê chuẩn những dự án đầu tư dưới 30 triệu USD
- Mở rộng địa bàn thu hút FDI từng bước, nhiều tầng, ra mọi hướng Trung Quốc đã tiến hành mở cửa từng khu vực, bắt đầu từ việc thành lập 5 đặc khu kinh tế, sau đó là việc mở 14 thành phố ven biển, 13 thành phố ven biên giới nhằm mở rộng thương mại và đầu tư vùng biên
- Môi trường pháp luật
Cho đến nay, Trung Quốc đã ban hành trên 500 văn bản gồm các bộ luật và pháp quy liên quan đến thương mại và FDI Luật pháp được xây dựng trên nguyên tắc: Bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng tập quán quốc tế
Trang 36- Tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hoạt động FDI Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách trên nhiều lĩnh vực để tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài Các chủ trương, biện pháp được hướng vào cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các ưu đãi (như ưu đãi thuế với khu vực đầu tư, ưu đãi thuế theo kỳ hạn kinh doanh và ưu đãi thuế trong tái đầu tư), đa dạng hóa các hình thức đầu tư
1.2.2 Kinh nghiệm thu hút FDI của Malaysia
- Chính sách đầu tư qua các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội:
Sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu năm 1985 - 1987, Malaysia khuyến khích thu hút FDI trong ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu, các dự án đầu
tư tạo việc làm, đầu tư mở rộng, cải thiện cơ cấu ngành công nghiệp và phát triển tại các khu vực nông thôn Từ năm 1996, Malaysia đã chuyển hướng khuyến khích đầu tư cho các dự án có công nghệ, giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa cao, có liên kết công nghiệp Hiện tại, Malaysia khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, quang điện tử, công nghệ không dây và vật liệu tiên tiến, thực hiện chuyển sang định hướng thu hút ĐTNN có chất lượng
- Cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài theo định hướng
Nhằm mục tiêu thu hút FDI vào các ngành công nghệ cao, cơ chế cấp phép tại Malaysia được quy định như sau: để bắt đầu một dự án sản xuất mới, nhà đầu tư nước ngoài cần có Giấy phép sản xuất và Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh Tiêu chí phê duyệt dự án đầu tư ở Malaysia được xây dựng dựa trên tỷ lệ vốn đầu tư cho mỗi lao động (C/E) Các dự án có tỷ lệ C/E nhỏ hơn 55.000 RM được xác định là dự án sử dụng nhiều lao động và do đó không đủ điều kiện cấp giấy phép sản xuất để nhận ưu đãi về thuế Tuy nhiên, một dự án sẽ được xem là ngoại lệ so với quy định trên nếu đáp ứng ít nhất một trong 3 tiêu chí sau: giá trị gia tăng là 30% trở lên; có chỉ số MTS (tỷ lệ cán bộ quản lý, kỹ thuật và giám sát trên tổng số nhân viên) từ 15% trở lên;
Trang 37dự án liên quan đến các hoạt động hoặc sản xuất các sản phẩm trong “Danh sách các sản phẩm và hoạt động được khuyến khích - Công ty công nghệ cao”; hoặc trước đây công ty đã được cấp giấy phép sản xuất
Nhằm tăng giá trị xuất khẩu, Malaysia áp dụng các ưu đãi như giảm 10% thuế giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu, giảm 5% giá nguyên liệu đầu vào nội địa để sản xuất hàng xuất khẩu, cũng như chi phí quảng cáo, nghiên cứu thị trường Nhằm tạo việc làm và khuyến khích đầu tư mở rộng của doanh nghiệp, Malaysia đã đưa ra điều kiện để được hưởng ưu đãi là lao động thường xuyên từ 500 người trở lên hoặc vốn giải ngân đạt từ 25 triệu
RM trở lên
Từ năm 2006 đến nay, nhằm khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, các ưu đãi cơ bản về thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất được thực hiện trên nền chính sách “nhà đầu tư tiên phong” và chính sách “trợ cấp thuế đầu tư” Việc xác định tình trạng nhà đầu tư tiên phong hoặc đủ điều kiện được hưởng chính sách trợ cấp thuế đầu tư dựa trên những tiêu chí như: mức độ giá trị gia tăng, công nghệ được sử dụng và các mối liên kết công nghiệp của dự án
- Quy trình, thủ tục đầu tư:
Để bắt đầu một dự án sản xuất mới tại Malaysia, nhà đầu tư nước ngoài ngoài việc cần được ủy ban Doanh nghiệp của Malaysia (CCM) cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh còn phải được Cơ quan phát triển đầu tư Malaysia (MIDA) phê duyệt giấy phép sản xuất Các công ty sản xuất với vốn góp cổ đông từ 2,5 triệu RM trở lên hoặc sử dụng từ 75 lao động toàn thời gian trở lên phải xin giấy phép sản xuất
1.2.3 Kinh nghiệm thu hút FDI của Thái Lan
- Chính sách đầu tư qua các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
Từ những năm 1980 đến đầu những năm 1990, Thái Lan ý thức được
sự cần thiết phải mở cửa hơn nữa và tăng cường sự cạnh tranh của nền kinh
Trang 38tế Tuy vậy, một số lĩnh vực vẫn duy trì hạn chế tỷ lệ tham gia của nhà đầu
tư nước ngoài Sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1996 - 1997, để cải thiện môi trường đầu tư, Thái Lan tăng cường tính minh bạch hóa, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, công khai các kế hoạch phát triển kinh tế từng thời kỳ đưa ra các ưu đãi thuế cho nhà đầu tư nước ngoài, chú trọng xây dựng cơ
sở hạ tầng Hiện tại, Thái Lan rất chú trọng tới phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, các hoạt động R&D, dự án công nghệ cao, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo…
- Cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài theo định hướng:
Cơ chế cấp phép: áp dụng chính sách hai giấy phép gồm Giấy phép kinh doanh và Giấy phép ưu đãi đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài Đầu tiên, nhà đầu tư phải xin Giấy phép kinh doanh Sau khi đi vào hoạt động, nếu dự
án đầu tư thuộc diện được hưởng ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư nước ngoài xin cấp Giấy phép ưu đãi đầu tư Tuy nhiên, hà đầu tư có thể tiến hành song song việc xin cấp giấy phép kinh doanh và giấy phép ưu đãi đầu tư
Nhằm bảo hộ hàng hóa trong nước, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài muốn nhập khẩu máy móc, thiết bị hoặc hàng hóa đầu vào sẽ phải nộp
Hồ sơ xin phê duyệt Danh mục máy móc thiết bị nhập khẩu và hàng hóa là nguyên liệu đầu vào tới cơ quan quản lý đầu tư Chỉ những loại máy móc thiết
bị và hàng hóa mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất không đảm bảo chất lượng, yêu cầu thì mới được phép nhập khẩu
Ngành, lĩnh vực và địa bàn được hưởng ưu đãi: Ủy ban đầu tư là cơ quan cấp ưu đãi đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước và nước ngoài Các dự
án đầu tư thuộc diện được hưởng ưu đãi đầu tư phải thuộc địa bàn và lĩnh vực
ưu đãi do Chính phủ quy định Thái Lan chia đất nước ra làm 3 vùng 1, 2, 3
và phân loại các hoạt động khuyến khích đầu tư thành 7 nhóm để áp dụng các chính sách ưu đãi khác nhau Theo từng thời kỳ, Ủy ban đầu tư công bố hình thức, quy mô cũng như các điều kiện được hưởng ưu đãi đầu tư
Trang 39Ngoài ra, Thái Lan còn áp dụng ưu đãi cho các dự án mở rộng đầu tư,
dự án đổi mới công nghệ, dự án thân thiện với môi trường, dự án sử dụng năng lượng thay thế, dự án đầu tư cho R&D, ưu đãi cho doanh nghiệp chuyển
từ địa bàn thuộc Vùng 1, 2 sang địa bàn thuộc Vùng 3
- Quy trình, thủ tục đầu tư
Thông thường, để được phép hoạt động kinh doanh và hưởng ưu đãi đầu tư tại Thái Lan, nhà đầu tư nước ngoài cần phải có hai giấy phép gồm: Giấy phép thành lập doanh nghiệp và có thể cần thêm giấy phép kinh doanh nước ngoài (áp dụng đối với một số hoạt động kinh doanh) và Giấy phép ưu đãi đầu tư Sau đó khi đi vào hoạt động nếu đáp ứng được các điều kiện hưởng ưu đãi đầu tư thì nhà đầu tư nước ngoài xin chứng nhận ưu đãi đầu tư tại BOI Nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể tiến hành song song việc xin phép tại Bộ Thương mại Thái Lan và BOI
1.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu, so sánh chính sách đầu tư của Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan ở trên, có thể rút ra một số kinh nghiệm đối với Việt Nam như sau:
Một là, điều chỉnh kịp thời chính sách đầu tư qua từng giai đoạn: Chính
sách đầu tư cần phải được sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh một cách kịp thời qua từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm ứng phó và thích ứng với những biến động tích cực, tiêu cực bên trong và bên ngoài của đất nước, để hướng tới việc đạt được mục tiêu và định hướng phát triển đề ra
Hai là, cơ chế cấp phép đầu tư, cấp ưu đãi đầu tư rõ ràng, minh bạch
thông qua cơ chế cấp phép một cửa đối với đầu tư nước ngoài, đồng thời phải gắn với việc triển khai hệ thống thông tin điện tử để hỗ trợ cho việc cấp phép, cung cấp thông tin và theo dõi
Việc cấp phép, cấp ưu đãi đầu tư phải gắn với tiêu chí đánh giá cụ thể
và cơ chế theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện sau khi cấp phép được
Trang 40thực hiện một cách nghiêm túc và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan
có liên quan để kịp thời giải quyết các vấn đề vướng mắc phát sinh hoặc thu hồi giấy phép hay ưu đãi khi phát hiện có vi phạm
Ba là, đưa ra ưu đãi đầu tư có chọn lọc: Việc đưa ra các ưu đãi đầu tư
phải có chọn lọc đối với ngành, lĩnh vực nhất định phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển theo từng giai đoạn Các chính sách ưu đãi cần được rà soát và điều chỉnh có chọn lọc cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và khu vực
Bốn là, việc phân cấp đầu tư phải gắn với điều kiện, năng lực thực hiện
và áp dụng chính sách đầu tư nhất quán
Năm là, định kỳ theo dõi, kiểm tra, giám sát về đầu tư nước ngoài và kịp
thời phối hợp giải quyết các vấn đề vướng mắc, khó khăn Điều này giúp nâng cao chất lượng đầu tư và hạn chế các tác động tiêu cực của quá trình đầu tư