1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hiện ở tỉnh bạc liêu

97 373 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 835,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---TRẦN THANH HẢI ĐỔI MỚI QUY TRÌNH XÉT CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NHU CẦU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN THANH HẢI

ĐỔI MỚI QUY TRÌNH XÉT CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NHU CẦU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

VÀO THỰC TIỄN Ở TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội - 2014

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN THANH HẢI

ĐỔI MỚI QUY TRÌNH XÉT CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NHU CẦU NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

VÀO THỰC TIỄN Ở TỈNH BẠC LIÊU

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60 34 04 12

Hà Nội - 2014

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU 8

PHẦN MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11

3 Mục tiêu nghiên cứu 13

4 Phạm vi nghiên cứu 13

5 Mẫu khảo sát 13

6 Câu hỏi nghiên cứu 14

7 Giả thuyết nghiên cứu 14

8 Phương pháp nghiên cứu 14

9 Kết cấu của Luận văn 15

PHẦN NỘI DUNG 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÉT CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NHU CẦU 16

1.1 Một số khái niệm có liên quan 16

1.1.1 Đề tài, dự án 16

1.1.2 Đề tài, dự án KH&CN 17

1.1.3 Hoạt động KH&CN 19

1.2 Việc ứng dụng kết quả NCKH 21

1.3 Nhu cầu về sản phẩm NCKH 22

1.4 Lý thuyết về thị trường 24

1.4.1 Khái niệm thị trường 24

1.4.2 Quy luật vận hành của thị trường 25

1.4.3 Những dạng khiếm khuyết của thị trường 26

1.4.4 Đặc thù của thị trường công nghệ 27

1.5 Chính sách “khoa học và công nghệ đẩy” và “thị trường kéo” 28

Trang 4

4

1.5.1 Khái niệm chính sách “khoa học và công nghệ đẩy” 28

1.5.2 Khái niệm chính sách “thị trường kéo” 30

1.6 Vai trò của KH&CN trong phát triển KT - XH 32

1.6.1 Mối quan hệ giữa Khoa học và Công nghệ 32

1.6.2 Mối quan hệ giữa KH&CN và phát triển KT - XH 33

1.7 Quy trình xây dựng nhiệm vụ KH&CN của Việt Nam 35

* Tiểu kết chương 1 36

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG QUY TRÌNH XÉT CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TỈNH BẠC LIÊU 37

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, KT - XH tỉnh Bạc Liêu ảnh hưởng đến hoạt động NCKH 37

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, KT - XH 37

2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của tỉnh 39

2.2 Thực trạng xét chọn đề tài/dự án và ứng dụng kết quả NCKH tại tỉnh Bạc Liêu 41

2.2.1 Nhiệm vụ quản lý KH&CN cấp tỉnh 41

2.2.2 Quy trình đề xuất, xét chọn nhiệm vụ KH&CN tỉnh Bạc Liêu 42

2.2.3 Kết quả triển khai đề tài/dự án NCKH giai đoạn 2006 - 2010 ở tỉnh Bạc Liêu 45

2.3 Nguyên nhân kết nghiên cứu của các đề tài/dự án không ứng dụng được và không nhân rộng được 55

2.3.1 Ý tưởng đề xuất nhiệm vụ không xuất phát từ đời sống thực tiễn nên không có khả năng ứng dụng 55

2.3.2 Đề xuất nhiệm vụ thiếu thông tin về thị trường 57

2.3.3 Sản phẩm nghiên cứu không hoàn chỉnh, thiếu tính dự báo 58

2.3.4 Chưa đủ cơ sở pháp lý cho việc áp dụng kết quả nghiên cứu 59

2.3.5 Thiếu chính sách hỗ trợ đầu ra đối với sản phẩm đề tài/dự án 60

* Tiểu kết chương 2 61

Trang 5

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUY TRÌNH XÉT CHỌN ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NHU CẦU 62

3.1 Đổi mới xây dựng nhiệm vụ KH&CN định hướng nhu cầu 63

3.1.1 Đổi mới cơ chế đề xuất, xét chọn đề tài/dự án theo hình thức đặt hàng 63

3.1.2 Đánh giá triển vọng quy trình đề xuất, xét chọn đề tài/dự án theo cơ chế đổi mới 67

3.2 Đổi mới cách thức tổ chức Hội đồng KH&CN 69

3.3 Đổi mới cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động KH&CN 70

3.3.1 Đổi mới tổ chức thực hiện các nhiệm vụ R&D hướng vào hỗ trợ doanh nghiệp 70

3.3.2 Nâng cao hiệu quả các hoạt động dịch vụ KH&CN nhằm thúc đẩy phát triển và gắn kết hoạt động R&D trong doanh nghiệp 72

3.4 Đổi mới phương thức chuyển giao và ứng dụng kết quả NCKH vào sản xuất nông nghiệp 73

3.4.1 Biện pháp chuyển giao công nghệ theo chương trình đa ngành 74

3.4.2 Biện pháp chuyển giao công nghệ theo dự án chuyên ngành 74

3.4.3 Biện pháp chuyển giao công nghệ bằng tập huấn và tham quan mô hình 74

3.5 Tổ chức NCKH theo định hướng nhu cầu của xã hội 76

3.5.1 Các nhân tố quyết định mối quan hệ chặt chẽ giữa NCKH và nhu cầu KT - XH 76

3.5.2 Gắn kết NCKH và nhu cầu KT - XH 77

* Tiểu kết chương 3 82

KẾT LUẬN 83

KHUYẾN NGHỊ 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 86

Trang 6

6

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và làm luận văn Chương trình cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trong Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa và Ban lãnh đạo nhà trường đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và làm luận văn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Học, người đã dành nhiều thời gian, công sức tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em thực hiện hoàn thành luận văn này

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, cùng tất cả cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bạc Liêu và các Sở, Ban, Ngành, Đơn

vị trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tài liệu, điều tra, thu thập số liệu phục vụ cho luận văn này

Tuy bản thân đã có cố gắng, nhưng do năng lực còn hạn chế nên chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết, rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của các thầy, cô giáo, các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu này

Tác giả luận văn

Trần Thanh Hải

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KH&CN: Khoa học và Công nghệ

KT - XH: Kinh tế - xã hội

NCKH: Nghiên cứu khoa học

NC&PT: Nghiên cứu và phát triển

R&D: Research and development (Nghiên cứu và triển khai)

SXKD: Sản xuất kinh doanh

UBND: Uỷ ban Nhân dân

UNESCO: United nations Educational, Scientific and Cutural Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc)

OECD: Organization for Economic Cooperation and Development (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)

ESCAP: Economic and Social Commission for Asia and the Pacific (Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương)

Trang 8

8

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU

Hình 1.1 Sơ đồ “công nghệ đẩy”……… 29

Hình 1.2 Sơ đồ “thị trường kéo”……… 29

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình đề xuất, xét chọn nhiệm vụ KH&CN hằng năm ở địa phương 41

Bảng 2.1 Đề xuất nhiệm vụ KH&CN hằng năm 42

Bảng 2.2 Số liệu đề tài/dự án và kinh phí thực hiện giai đoạn 2006 - 2010 44

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ đề tài/dự án phân theo lĩnh vực……… 45

Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ kinh phí thực hiện đề tài/dự án phân theo lĩnh vực… 46

Bảng 2.3 Số liệu đề tài/dự án do các đơn vị thực hiện đã nghiệm thu giai đoạn 2006 - 2010 47

Bảng 2.4 Kết quả NCKH chưa bám vào thị trường và thực tiễn yêu cầu……… 54

Bảng 2.5 Thiếu thông tin thị trường……… 55

Bảng 2.6 Kết quả nghiên cứu không hoàn chỉnh, thiếu tính toán tổng thể 56

Bảng 2.7 Kết quả nghiên cứu chưa được phê duyệt 57

Bảng 2.8 Thiếu hỗ trợ đầu ra đối với kết quả nghiên cứu 58

Bảng 2.9 Cần thiết đặt đề bài định hướng cho đề xuất đề tài/dự án 62

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình xây dựng ưu tiên phục vụ cơ chế đặt hàng nhiệm vụ KH&CN……… 63

Hình 3.2 Sơ đồ quy trình tuyển chọn chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN……… 65

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử phát triển nhân loại, KH&CN đóng một vai trò hết sức to lớn, vai trò đó có thể tạo ra sự thay đổi và duy trì sự phát triển nền văn minh Trong thời đại ngày nay, KH&CN tiếp tục có tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội Những thành tựu to lớn của KH&CN đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo

sự chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia Có thể khẳng định rằng, không có quốc gia nào lại không nhận thức được vị trí quan trọng của KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế của mình Chính vì vậy mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã

khẳng định “Khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát

triển kinh tế, xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội” Tại Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta

tiếp tục khẳng định “Phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu là

nền tảng và là động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Trong bối cảnh hội nhập và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, KH&CN thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, đang đặt ra những yêu cầu mới, những thách thức mới hết sức khó khăn cho hoạt động quản lý KH&CN

ở nước ta Làm sao để KH&CN thật sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển

KT - XH Muốn làm được điều này, trước hết công tác quản lý KH&CN phải không ngừng nâng cao, đổi mới để đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, hoạt động KH&CN phải theo hướng nhu cầu thị trường mới có thể gắn kết KH&CN với sản xuất

Hiện nay, hoạt động KH&CN ở các địa phương nói chung và ở tỉnh Bạc Liêu nói riêng chưa thật sự phát huy hết hiệu quả của mình Kể từ ngày tái lập tỉnh (ngày 01/01/1997), hoạt động KH&CN đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh rất quan tâm, tuy kinh phí đầu tư cho hoạt động KH&CN đến nay chưa đạt 2% chi ngân sách của tỉnh nhưng đối với một tỉnh nghèo như tỉnh Bạc

Trang 10

hoặc không nhân rộng được mà một số tác giả bài báo gọi là “đề tài xếp ngăn

kéo” Điều này cho thấy hiệu quả hoạt động NCKH ở tỉnh Bạc Liêu chưa cao

Tỷ lệ các đề tài/dự án mà kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng vào thực

tiễn sản xuất còn thấp, tỷ lệ các đề tài/dự án rơi vào tình trạng “đề tài xếp

ngăn kéo” còn cao dẫn đến: làm lãng phí ngân sách nhà nước; lãng phí chất

xám của các nhà khoa học; không đáp ứng được nhu cầu bức xúc của xã hội

và yêu cầu của sự phát triển KH&CN trong bối cảnh hội nhập

Có rất nhiều nguyên nhân của thực trạng nêu trên, trong đó hoạt động quản lý KH&CN mà cụ thể là công tác xây dựng kế hoạch nhiệm vụ KH&CN/quy trình xét chọn đề tài NCKH còn nhiều bất cập, mang tư duy chủ quan, chậm đổi mới, không theo định hướng nhu cầu là một nguyên nhân quan trọng cần phải được quan tâm, xem xét thấu đáo Bởi vậy, tôi chọn

nghiên cứu đề tài “Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học

theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn ở tỉnh Bạc Liêu” với mong mốn sẽ góp phần lý giải những

vấn đề thực tiễn còn bất cập cần khắc phục trong hoạt động quản lý KH&CN tại địa phương

Ý nghĩa lý luận: Bổ sung luận cứ khoa học giúp cho việc xây dựng chính sách về đổi mới quản lý Nhà nước về KH&CN địa phương nói chung

và tỉnh Bạc Liêu nói riêng

Trang 11

Ý nghĩa thực tiễn: Giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN của địa phương có những giải pháp quản lý cụ thể để từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH trên địa bàn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Một văn bản chính sách quan trọng, tưởng như năm ngoài mục tổng quan này là Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ (ban hành kèm theo Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 của Thủ tướng Chính phủ) Tuy nhiên, đây là kết quả cuối cùng của một loạt các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN và Viện Chiến lược - Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trước tiên, đó là đề tài “Đổi mới quản lý KH&CN địa phương của Đăng Trọng Khánh năm 2001; tiếp theo, đề tài của Lê Thành Ý “Đổi mới phương thức lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong nông nghiệp và nông thôn” năm 2001; Lê Đăng Doanh với đề tài “Đổi mới căn bản cơ chế quản lý KH&CN ở nước ta” năm 2002 và xuất bản thành sách cùng năm; Hoàng Ngọc Doanh năm 2002 với đề tài “Nghiên cứu các chỉ số lựa chọn và đánh giá đề tài nghiên cứu khoa học”; Hoàng Xuân Long với đề tài “Phân tích thực trạng quản lý KH&CN địa phương và giải pháp tháo gỡ” năm 2003 v.v… Các đề tài kể trên đã làm rõ về cơ bản lý luận

về quản lý KH&CN nói chung và địa phương nói riêng, sự cần thiết phải đổi mới quản lý KH&CN theo hướng thị trường, trong đó nhấn mạnh khâu lựa chọn đề tài (làm đúng việc thay vì chỉ làm việc đúng), đánh giá trước, trong

và sau nghiệm thu nhằm phổ dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đời

sống Tuy nhiên, việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện một cách có hệ thống

các chính sách ở địa phương chưa được đề cập rõ nét, do mỗi địa phương có những điều kiện, đặc điểm riêng, điều mà các tác giả nói trên chưa kịp đề cập trong các công trình của mình

Những năm gần đây, có một số đề tài nghiên cứu liên quan thực trạng nêu trên như:

- Đề tài: “Giảm thiểu rủi ro trong việc áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học” Tác giả Phạm Văn Bình - Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương

Trang 12

- Đề tài: “Xây dựng tiêu chí lựa chọn đề tài, dự án theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học tỉnh An Giang” Tác giả Phan Anh Thi - Sở Khoa học và Công nghệ An Giang

Các nghiên cứu này tuy có đề cập đến những bất cập trong quy trình xét chọn đề tài NCKH hiện nay, nhưng chỉ ở mức độ khái quát, chưa có nghiên cứu nào tập trung phân tích sâu để đưa ra giải pháp đổi mới quy trình xét chọn đề tài NCKH theo định hướng nhu cầu Như vậy, có thể nói đây là một vấn đề mới, cần được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện

để có thể tháo gỡ được vướng mắc trong khâu xét chọn đề tài NCKH nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu của các đề tài/dự án vào thực tiễn sản xuất

Cũng cần nhấn mạnh rằng, hằng năm ngân sách Nhà nước cấp một khoản kinh phí khá lớn cho hoạt động NCKH, lực lượng trí thức đã dành nhiều thời gian, chất xám và tâm huyết để thực hiện những đề tài/dự án NCKH, nhưng một lượng lớn những đề tài/dự án đó rơi vào tình trạng không

có khả năng ứng dụng hoặc khả năng ứng dụng rất thấp với đủ các lý do khác nhau Thực trạng này là một điểm yếu trong hoạt động nghiên cứu và triển khai áp dụng kết quả NCKH ở hầu hết các tỉnh trong cả nước chứ không riêng

gì tỉnh Bạc Liêu hiện nay Một số tác giả đã có những nghiên cứu tìm ra nguyên nhân của vấn đề này, song những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại theo cách tiếp cận của mỗi người Vấn đề là ở chỗ chúng ta cần nghiên cứu theo hướng tiếp cận của hoạt động quản lý KH&CN trong bối cảnh hiện tại, để có thể đề xuất, đưa ra những giải pháp quản lý mang tính chiến lược nhằm đổi

Trang 13

mới hoạt động KH&CN mà cụ thể là đổi mới quy trình xét chọn đề tài NCKH theo nhu cầu

3 Mục tiêu nghiên cứu

áp dụng kết quả vào thực tiễn

- Đánh giá thực trạng áp dụng kết quả nghiên cứu các đề tài/dự án trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu giai đoạn từ năm 2006 - 2010 trong mối quan hệ với quy trình xét chọn hiện hành

- Xác định nguyên nhân các đề tài/dự án không ứng dụng, nhân rộng được kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất

- Đề xuất giải pháp chuyển hướng xét chọn đề tài, dự án khoa học theo định hướng nhu cầu thực tiễn

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Luận văn giới hạn nghiên cứu một số nội dung sau:

Cơ sở lý luận về xét chọn đề tài và xét chọn đề tài định hướng nhu cầu; thực trạng xét chọn đề tài và giải pháp đổi mới công tác xét chọn đề tài theo định hướng nhu cầu tại tỉnh Bạc Liêu

- Phạm vi không gian: Tỉnh Bạc Liêu

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2006 - 2010

Trang 14

14

- Một số đơn vị ứng dụng các kết quả NCKH vào thực tiễn

6 Câu hỏi nghiên cứu

6.1 Câu hỏi chính

Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu có nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn không?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu sẽ nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

- Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu sẽ khắc phục được tình trạng chỉ số áp dụng và nhân rộng thấp, lựa chọn và thực hiện đề tài

- Đổi mới quy trình trình tự đề xuất các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học theo hướng người sử dụng đề xuất hoặc tham gia trong quá trình đề xuất

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các tài liệu, số liệu về hoạt động NCKH ở tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010; các văn bản pháp luật, chính sách khoa học và công nghệ của nhà nước

- Phương pháp điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu: Thực hiện điều tra theo bảng câu hỏi dành riêng cho từng nhóm đối tượng là chủ nghiêm đề tài/dự án; đơn vị áp dụng kết quả đề tài/dự án; thành viên hội đồng xét chọn/nghiệm thu đề tài/dự án Tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng là cán

bộ quản lý đại diện cho các lĩnh vực công tác, chuyên môn khác nhau; chủ nhiệm đề tài/dự án; cán bộ quản lý hoạt động KH&CN; các chuyên gia

Trang 15

thường xuyên tham gia thẩm định, xét chọn/nghiệm thu các đề tài, dự án khoa học của tỉnh giai đoạn 2006 - 2010

- Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát được sử dụng để kiểm chứng thêm thông tin trong mẫu khảo sát

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung Luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu

Chương 2 Hiện trạng quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học tại tỉnh Bạc Liêu

Chương 3 Giải pháp đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu

Trang 16

16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÉT CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG NHU CẦU

1.1 Một số khái niệm có liên quan

1.1.1 Đề tài, dự án

Theo Vũ Cao Đàm, Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa

học, trong đó có một nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hóa trong hoạt động thực tế

Dự án là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh

tế xã hội Dự án có những đòi hỏi khác đề tài như: Đáp ứng một nhu cầu được

nêu ra; chịu sự rằng buộc của kỳ hạn và thường là ràng buộc về nguồn nhân

lực [1;51]

Nói một cách bao quát hơn, từ “dự án”, theo đại bách khoa toàn thư

điện tử Wikipedia, được định nghĩa là: “Điều người ta có ý định làm từ trước” hay “cái mà xảy đến trước khi điều gì khác được thực hiện” Ta có thể nhận thấy hai yếu tố nổi bật gắn liền với thuật ngữ dự án là: tính ý tưởng, ý đồ, ý

muốn và tính hành động, sự nỗ lực đưa những ý tưởng, ý muốn thành vào thực tế.1

Dự án là một chuỗi những hành động nhằm thực hiện được những mục tiêu rõ ràng đã được xác định trước trong một khoảng thời gian xác định và với một nguồn ngân sách xác định

Một dự án phải có:

- Các bên liên quan được xác định rõ ràng, bao gồm các nhóm mục tiêu

cơ bản và những lợi ích tài chính;

- Có sự điều phối, quản lý và sắp xếp tài chính rõ ràng;

- Một hệ thống đánh giá và kiểm tra (để hỗ trợ việc quản lý);

1

http://en.wikipedia.org/wiki/Project

Trang 17

- Một cấp độ phân tích kinh tế và tài chính thích hợp, để từ đó xác định được lợi nhuận thu được sẽ vượt quá chi phí ban đầu

Mặc dù trong lĩnh vực NCKH ta thường dùng lẫn hai khái niệm đề tài

và khái niệm dự án, nhưng không thể đánh đồng hai khái niệm này với nhau

Như đã trình bày ở trên, dự án có thể hiểu là một loại đề tài nhưng là một loại

đề tài “hành động”, nhằm tạo ra những sản phẩm có ứng dụng cụ thể vào đời sống KT - XH, cũng có thể hiểu dự án là giai đoạn cần thiết, tiếp sau giai đoạn thực hiện đề tài nhằm đưa những kết quả nghiên cứu về mặt học thuật

của đề tài vào đời sống Nói đến đề tài khoa học, ta cần chú trọng đến cấu trúc

logic của nó, bao gồm:

- Sự kiện khoa học

- Vấn đề nghiên cứu

- Giả thuyết nghiên cứu

- Luận điểm khoa học

- Phương pháp chứng minh luận điểm

- Luận cứ khoa học

Tóm lại, từ những phân tích khái niệm đề tài, dự án trên đây, Luận văn

nhận định: Đề tài hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, còn dự án thiên về cách hiểu là sự hiện thực hóa trong hoạt động thực tế

1.1.2 Đề tài, dự án KH&CN

Trong NCKH và áp dụng các kết quả NCKH, trên cơ sở nội hàm chung của khái niệm đề tài, dự án, cũng phải nhận định rằng: Đề tài, dự án khoa học hướng kết quả của nó vào việc nghiên cứu, triển khai và áp dụng Hai khái

niệm này được định nghĩa trong “Quy chế quản lý các chương trình, đề tài,

dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp tỉnh”, ban hành kèm

theo Quyết định số 94/2005/QĐ-UBND ngày 10 tháng 3 năm 2005 của UBND tỉnh Bạc Liêu như sau:

Đề tài KH&CN cấp tỉnh là một hình thức tổ chức nghiên cứu nhằm giải quyết một hoặc nhiều vấn đề trong các lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn,

Trang 18

Một đề tài/dự án khoa học nói chung phải có những đặc điểm đặc trưng sau:

- Có tính cấp thiết

- Có ý nghĩa khoa học thể hiện ở những đóng góp vào nội dung lý thuyết của khoa học nhằm bổ sung, nhận thức về một vấn đề khoa học, phát hiện ra các quy luật đang tồn tại

- Có ý nghĩa thực tiễn

- Có tính khả thi

- Có tính ứng dụng

- Có tính phù hợp

Đối với một đề tài/dự án KH&CN cấp tỉnh, yêu cầu được đặt ra:

- Phải lý giải những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc định hướng phát triển chung của tỉnh hoặc đáp ứng một cách có hiệu quả và thiết thực những nhu cầu, bức xúc về KH&CN trong quá trình phát triển KH - XH, bảo

vệ an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh

- Phải có tính mới, tính sáng tạo, tính tiên tiến so với hiện trạng trên địa bàn tỉnh và có tính khả thi Việc xác định mục tiêu, đối tượng của đề tài/dự án phải căn cứu vào việc đánh giá khách quan thực trạng phát triển KH&CN trong tỉnh, thành tựu phát triển KH&CN trong nước, trên thế giới, nguồn lực KH&CN của tỉnh và khả năng hợp tác với các cơ quan nghiên cứu, đào tạo hoặc các tỉnh, thành phố khác

Trang 19

- Các kết quả thực hiện đề tài/dự án phải có địa chỉ ứng dụng trong sản xuất, đời sống, an ninh quốc phòng; phải có tác động tích cực đến phát triển KH&CN, KT - XH của tỉnh

1.1.3 Hoạt động KH&CN

Theo UNESCO hoạt động KH&CN (scientific and technological

activities) được định nghĩa là: “các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ

với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và

kỹ thuật (scientific and technical knowledge) trong mọi lĩnh vực của khoa học

và công nghệ, là các khoa học tự nhiên và công nghệ, các khoa học y học và nông nghiệp, cũng như các khoa học xã hội và nhân văn” [2;13]

Định nghĩa này được đặc trưng bởi hai khía cạnh cơ bản: Khía cạnh thứ nhất liên quan tới bản chất của các hoạt động KH&CN; chúng tập trung và gắn chặt với việc sản xuất, phân bố và sử dụng các kiến thức khoa học và kỹ thuật Chính trong phạm vi hoạt động KH&CN mà các kiến thức khoa học và

kỹ thuật được tạo ra, truyền bá, thu thập, sửa đổi, cải biến, làm cho phù hợp với nhu cầu và được sử dụng Khía cạnh thứ hai liên quan tới các lĩnh vực được các hoạt động này bao quát

Hoạt động KH&CN theo nghĩa này bao gồm:

- Hoạt động NCKH, bao gồm nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng) và triển khai, viết tắt tiếng Anh là R&D

- Hoạt động chuyển giao công nghệ

- Hoạt động phát triển công nghệ

- Hoạt động dịch vụ KH&CN

Theo hệ phân loại này của UNESCO, những hoạt động sau đây không được kể vào hoạt động KH&CN: Giáo dục phổ thông và công tác đào tạo

không chính quy trong công nghiệp (học việc, vừa học vừa làm,…); các hoạt

động thường nhật của các nhà xuất bản, các cơ quan phát thanh và truyền hình; các dịch vụ y tế; sản xuất công nghiệp và phân phối hàng hóa và dịch vụ (bao gồm cả sản xuất thử sau khi thử nghiệm thành công các vật mẫu -

Trang 20

20

prototype) Họ cho rằng sản xuất các vật mẫu là thuộc chức năng của sản xuất

Trên đây là quan điểm của UNESCO trình bày vào giữa những năm

1970 và đặt trong khuôn khổ quan niệm “hoạt động KH&CN” ở Châu Âu Nhưng trên thực tế ở nhiều quốc gia, và ngay cả ở nước ta, hoạt động sản xuất các prototype trong các xưởng pilot vẫn được xếp trong phạm trù của giai đoạn cuối cùng của nghiên cứu và triển khai

Theo Luật khoa học và công nghệ (2013), hoạt động khoa học và công

nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ [7;1]

Như vậy có thể nói quy định này tiếp cận theo khía cạnh thứ hai mà UNESCO định nghĩa như trên đã trình bày

Trong khuôn khổ nội dung của Luận văn và từ tiếp cận hai định nghĩa trên, Luận văn sử dụng khái niệm hoạt động KH&CN của UNESCO được mô

tả lại theo hình dưới đây

STS

FR Nghiên cứu cơ bản

AR Nghiên cứu ứng dụng

D Triển khai (Technological Experimental Development)

T Chuyển giao tri thức (bao gồm chuyển giao công nghệ)

TD Phát triển công nghệ trong sản xuất (Technology Development) STS Dịch vụ KH&CN

Trang 21

1.2 Việc ứng dụng kết quả NCKH

Trong hoạt động KH&CN như mô tả trên, “điểm giao thoa” giữa khoa học với thực tế chính là triển khai, áp dụng kết quả đề tài, dự án khoa học khi triển khai nhân rộng vào thực tế Quản lý KH&CN chính là cầu nối giữa các nhà nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất - đời sống

Việc ứng dụng công nghệ trong các lĩnh vực KT - XH trong những năm qua đã được quan tâm và ngày càng được đẩy mạnh; góp phần nâng cao năng xuất, chất lượng hàng hoá, dịch vụ, tạo ra các ngành nghề mới và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra một số sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Một số lĩnh vực ứng dụng công nghệ ở nước ta hiện nay:

- Công nghệ thông tin được ứng dụng khá sâu rộng trong nhiều lĩnh vực kinh tế quốc dân và hoạt động xã hội như ngân hàng, dầu khí, hàng không, bưu chính viễn thông Đến năm 2005, có khoảng 50% doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, sản xuất kinh doanh và trên 30% doanh nghiệp kết nối Internet

- Ứng dụng công nghệ sinh học thể hiện nổi bật nhất ở việc sử dụng công nghệ, thiết bị nhập từ nước ngoài cùng với nguyên liệu trong nước để sản xuất ra một số loại vắc-xin và chế phẩm sinh học phục vụ chuẩn đoán bệnh đạt tiêu chuẩn tiên tiến trong khu vực Trong trồng trọt, công nghệ sinh học đã tạo ra khả năng làm chủ và phổ biến công nghệ nuôi cấy mô để nhân nhanh những giống cây trồng có giá trị kinh tế và năng suất cao, công nghệ vi sinh đã chọn tạo được nhiều sinh phẩm để sản xuất nấm ăn từ các sản phẩm phụ của nông nghiệp Trong y tế, công nghệ sinh học đã được ứng dụng để sản xuất kháng sinh phòng các bệnh hiểm nghèo

- Tự động hoá được ứng dụng trong các ngành khai thác dầu khí; viễn thông; điện lực; vật liệu xây dựng; hàng không, v.v góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh

Trang 22

22

- Nhiều loại vật liệu tiên tiến đã được ứng dụng trong các lĩnh vực xây dựng, cơ khí, chế tạo, điện tử ứng dụng, tàu thủy, nông nghiệp, giao thông vận tải

Có thể khẳng định, trên thực tế công nghệ không chỉ trở thành một bộ phận quan trọng mà còn bước đầu thể hiện ý nghĩa đầu tàu đưa nền KH&CN đất nước tiến lên Những ảnh hưởng trên của công nghệ vừa làm thay đổi trình độ, tốc độ phát triển, vừa góp phần làm thay đổi chất lượng của sự phát triển ở nước ta theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững

Nhìn chung hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ vẫn chưa tạo

ra được nhiều công nghệ mang tính đột phá, một số kết quả nghiên cứu không

áp dụng được vào sản xuất vì công nghệ chưa thực sự ổn định và hoàn chỉnh Nhu cầu ứng dụng thực sự công nghệ còn nhỏ hẹp, do quy mô nhỏ bé của một nền kinh tế chưa thật sự thoát khỏi tình trạng lạc hậu Sự phát triển trong thời gian vừa qua của các ngành công nghiệp công nghệ cao chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực công nghệ thông tin Phần lớn những doanh nghiệp được gọi là công nghệ cao của Việt Nam hiện chủ yếu ở trình độ lắp ráp Doanh nghiệp không được khuyến khích và ít quan tâm nhập khẩu các bí quyết công nghệ cao để tạo dựng năng lực cạnh tranh dài hạn Quan hệ với các công ty đa quốc gia thông qua quá trình đầu tư nước ngoài chủ yếu còn dừng ở mức đưa vốn vào đầu tư

Hoạt động chuyển giao công nghệ nói chung và chuyển giao công nghệ cao nói riêng để sản xuất sản phẩm công nghệ cao còn tuỳ thuộc vào kế hoạch chủ quan của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, vai trò của các công ty này trong việc đưa công nghệ cao vào Việt Nam chưa rõ rệt

1.3 Nhu cầu về sản phẩm NCKH

Xét trên mọi khía cạnh của cuộc sống, sản phẩm của hoạt động NCKH

có vai trò to lớn góp phần làm thúc đẩy hoạt động sản xuất, nâng cao trình độ của con người, là nền tảng của tiến bộ xã hội Ngược lại tri thức của con người ngày càng được nâng cao tạo ra những sản phẩm khoa học tiên tiến và

Trang 23

ưu việt hơn Tuy nhiên hiện nay, các quốc gia đang phát triển lại chưa đặt vấn

đề phát triển KH&CN vào trong kế hoạch phát triển của quốc gia mình, chưa thực sự coi trọng vấn đề phát triển KH&CN

Vai trò của công nghệ đang nổi lên như là chìa khóa cho sự phát triển Hầu hết các nước đang phát triển đang cố gắng định hướng lại cách tiếp cận của họ trong quá trình lập kế hoạch phát triển ở cấp quốc gia và ngành, nhằm hướng vào thực hiện một chiến lược dựa vào công nghệ Tuy nhiên những cố gắng đó dường như không mang lại kết quả mong muốn do những nguyên nhân sau:

- Nhiều nước đang phát triển không có cơ chế để gắn kết vấn đề công nghệ vào kế hoạch phát triển Quốc gia Điều đó thể hiện ở chỗ không có đủ

sự cam kết chính trị rõ ràng để nhìn nhận công nghệ như một yếu tố chiến lược quan trọng

- Các kế hoạch cấp ngành thường không nhận thức được các công nghệ cần đưa vào và những ảnh hưởng liên quan ngành của chúng Điều này được chứng minh bằng một thực tế là các quá trình đánh giá và thẩm định các dự án không đặt vấn đề công nghệ đúng mức độ cần thiết Các ưu tiên khác thường được đặt lên trên công nghệ

- Công nghệ được chuyển giao vào các ngành khác nhau chỉ dừng ở

mức tỉnh tại Các cơ sở nhận công nghệ thường thiếu các cơ chế tổ chức (các

cơ quan nghiên cứu và triển khai thích hợp) để sử dụng các thành phần động

của công nghệ nước ngoài để khai thác tối đa lợi ích từ các tác dụng khác của chúng

Khi không có một kế hoạch phát triển dựa trên công nghệ hay một chính sách thận trọng về tự lực công nghệ, việc ra các quyết định công nghệ thường chịu sự ảnh hưởng của hệ thống giá cả và sự ưa thích cá nhân của các

cơ quan và cá nhân khác nhau, thường phải đấu tranh với sự áp đặt của các cơ quan bên ngoài trong các dự án do nước ngoài hỗ trợ

Các vấn đề này nảy sinh dường như do thực tế là các nhà làm chính sách và kế hoạch thường không thống nhất được với nhau về cách xác định

Trang 24

24

các nhu cầu công nghệ Một trong những lý do không đạt được sự thống nhất

đó là do các quan điểm của các nhà lập kế hoạch truyền thống và các nhà chuyên môn khác thường rất khác nhau, đặc biệt là khi liên quan đến công nghệ

Trên thực tế ở nước ta đang có nhu cầu lớn về phát triển công nghệ phục vụ phát triển KT - XH và ngày càng trở thành yếu tố quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Phát triển công nghệ liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và là trách nhiệm chung của toàn xã hội Những hạn chế đã nêu ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò, tác dụng của công nghệ đối với phát triển KT - XH ở nước ta Những tác động tích cực của công nghệ thường được nhắc đến trên thế giới và Việt Nam như “mang lại sự phát triển đột biến, có giá trị chiến lược đối với Quốc gia” vẫn chưa được thể hiện rõ ràng và đầy đủ trong thực tiễn phát triển KT - XH hiện nay của nước ta

1.4 Lý thuyết về thị trường

1.4.1 Khái niệm thị trường

Hiện nay trong các tài liệu nghiên cứu, khái niệm thị trường có nhiều cách diễn giải khác nhau tùy theo cách tiếp cận, quan điểm và mục đích khác nhau Nhưng về cơ bản được chia thành ba nhóm sau:

- Nhóm thứ nhất, đó là cách diễn đạt thị trường như là phương tiện phân bố các nguồn tài nguyên thiên nhiên Cách hiểu về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu về môi trường và phát triển bền vững Ở đó sự quan tâm là vấn đề phân bố hiệu quả và bình đẳng các nguồn tài nguyên nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững

- Nhóm thứ hai, thị trường được hiểu là nơi mà những người mua và người bán tiến hành giao dịch Đây cũng chính là cách hiểu về thị trường tương đối phổ biến ở trong nước và trên thế giới “Nơi” ở đây không nhất thiết phải là địa điểm có tọa độ địa lý Mạng Internet và các sàn giao dịch trực tuyến, giúp cho người mua và người bán thực hiện các giao dịch mà không nhất thiết phải gặp mặt nhau cũng là thị trường Các diễn giải về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích về phát triển hệ

Trang 25

thống, mạng lưới dịch vụ và thương mại của từng quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể

- Nhóm thứ ba, một cách hiểu khác về thị trường của các nhà kinh tế nhấn mạnh vào thể chế Các nhà kinh tế tân cổ điển coi thị trường là một thể chế phân bố nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh Theo cách tiếp cận kinh tế học chi phí giao dịch (transaction cost economics), thị trường được xem như là một thể chế kinh tế (economic institution) để thực hiện các giao dịch kinh tế

Như vậy, mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về thị trường, song những cách diễn giải đó không mâu thuẫn nhau, chúng phản ánh sự đa dạng của khái niệm thị trường tương ứng với mỗi nghiên cứu cụ thể Với cách nhìn tổng thể, (ngoài yếu tố hàng hoá - là điều kiện cần phải có) xét về mặt tổ chức, thị trường hàng hóa gồm bốn yếu tố cơ bản: (1) Tập hợp người bán (cung); (2) Tập hợp người mua (cầu); (3) Dịch vụ cho quá trình mua bán; (4) Tập hợp các quy định, thỏa thuận (để điều tiết hoạt động mua, bán) hay chính

là những thể chế

1.4.2 Quy luật vận hành của thị trường

Thị trường được vận hành trên cơ sở hai quy luật cơ bản: quy luật giá trị và quy luật cung cầu Theo quy luật giá trị, sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động giá cả hàng hóa Vì giá trị là cơ sở của giá

cả, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị; hàng hóa nào nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại

Thị trường vận hành có sự tham gia của hai lực lượng cơ bản đó là những người mua và những người bán Quyền lợi của những người mua - bán trên thị trường được phản ánh thông qua tương tác giữa cung - cầu; trên cơ sở

đó, giá cân bằng (hay giá thị trường) được xác lập Ở đây, “cầu” được xác định là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua (willing

to purchase) ở một mức giá cụ thể; còn cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch

vụ mà người bán có thể sẵn sàng bán (willing to sell) ở một mức giá cụ thể

Trang 26

26

1.4.3 Những dạng khiếm khuyết của thị trường

Thị trường được phân thành nhiều thị trường có cấu trúc khác nhau Trong đó, thị trường cạnh tranh hoàn hảo (perfect competition market) là thị trường có ba yêu cầu cơ bản sau: (1) Có số lượng người mua và người bán đủ lớn để không một cá thể tham gia vào thị trường nào có thể tác động được đến giá thị trường; (2) Hàng hóa và dịch vụ bán ra phải đạt tiêu chuẩn hóa mà trong đó người mua không cảm nhận được sự khác biệt của cùng một loại sản phẩm của những người bán khác nhau và người mua có thông tin đầy đủ về giá cả của những hàng hóa và dịch vụ trên thị trường; và (3) Những người cung cấp hàng hóa và dịch vụ có thể dễ dàng tham gia vào hoặc rút khỏi thị trường Thị trường vi phạm một trong ba yêu cầu này là thị trường không hoàn hảo (hay thị trường cạnh tranh không hoàn hảo) Thị trường cạnh tranh hoàn hảo giúp cho việc phân bố tài nguyên hiệu quả nhất mà xã hội mong muốn

Trong thực tiễn, đại đa số các thị trường vi phạm một hoặc nhiều yêu cầu của thị trường cạnh tranh hoàn hảo Theo mức độ vi phạm các yêu cầu của thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường trở nên khiếm khuyết ở những mức độ khác nhau Trong các tài liệu về kinh tế và phát triển, những khiếm

khuyết của thị trường này thường được gọi là những thất bại thị trường

(market failures) - là những trường hợp mà thị trường không thể phân bố hàng hóa và dịch vụ hiệu quả ở mức xã hội mong muốn

Thất bại thị trường có những trường hợp chủ yếu sau: (1) Độc quyền thị trường, là trường hợp khi thị trường chỉ do một (monopoly) hoặc một số ít (oligopoly) các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ chi phối thị trường; (2) Tác động ngoại lai (trong một số tài liệu còn gọi là ngoại ứng) xảy ra khi hành động của một đối tượng có ảnh hưởng đến phúc lợi của đối tượng khác mà ảnh hưởng này không được bồi thường hoặc khen thưởng Tác động ngoại lai

là những tác động không được phản ánh trong các giao dịch hay là trong giá

cả thị trường; (3) Hàng hóa công cộng là hàng hóa hoặc dịch vụ mà việc một

cá nhân sử dụng không ngăn cản những cá nhân khác cùng đồng thời sử dụng

Trang 27

hàng hóa đó; và (4) Bất bình đẳng thông tin khi thông tin mang tính hàng hóa công cộng, có nghĩa là việc sử dụng thông tin không mang tính cạnh tranh hoặc là tình trạng một bên tham gia giao dịch trên thị trường có đầy đủ thông tin hơn bên kia

1.4.4 Đặc thù của thị trường công nghệ

Công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt được giao dịch trên thị trường,

có những điểm khác biệt cơ bản so với các hàng hóa tiêu dùng phổ dụng khác

Thứ nhất, đó là sự khác biệt giữa cung cầu của hàng hóa phổ dụng và

hàng hóa công nghệ trên thị trường Hàng hóa phổ dụng có số lượng người mua, người bán lớn đáp ứng tiêu chí đầu tiên của thị trường cạnh tranh hoàn hảo và đó thường là những thị trường tiếp cận gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo Vì vậy, việc xác định giá cả của hàng hóa phổ dụng không khó khăn Trong khi đó công nhệ là hàng hóa có số lượng người mua, bán hạn chế, một công nghệ mới chưa hẳn đã tìm được người muốn mua

Thứ hai, hàng hóa công nghệ bao hàm các tài sản vô hình rất khó định

giá trong khi thị trường cho loại hàng hóa này chưa phát triển; nó rất dễ xâm phạm vào quyền sở hữu trí tuệ, có tính loại trừ không cao Như vậy, theo tính chất của hàng hóa công cộng, hàng hóa công nghệ có khả năng mang tính chất của hàng hóa công cộng, không khuyến khích được khu vực tư nhân đầu tư vào sản xuất

Thứ ba, hàng hóa phổ dụng được quảng cáo thường xuyên trên các

phương tiện thông tin đại chúng Có thể dễ dàng tìm ra người bán, địa điểm bán, cách thức mua bán nhưng hàng hóa công nghệ ít khi được quảng cáo nên khó khăn trong việc tìm kiếm, đặt mua sản phẩm

Thứ tư, việc mua bán hàng hóa phổ dụng rất dễ dàng trong khi để

chuyển giao một công nghệ rất phức tạp, hợp đồng chuyển giao công nghệ phải chặt chẽ vì nó nhiều rủi ro khó dự đoán được

Trang 28

28

1.5 Chính sách “khoa học và công nghệ đẩy” và “thị trường kéo”2

1.5.1 Khái niệm chính sách “khoa học và công nghệ đẩy”

Thuật ngữ KH&CN đẩy (Science and Technology Push) được hiểu là

kết quả nghiên cứu, công nghệ đưa vào sản xuất và tiêu thụ trên thị trường mà không cần tính đến mục đích tồn tại của doanh nghiệp và nhu cầu của người tiêu dùng [6;43]

Để làm rõ khái niệm KH&CN đẩy, trước hết cần khảo sát các triết lý tồn tại quản lý KH&CN, theo Vũ Cao Đàm thì trong lịch sử khoa học của thế giới có 3 triết lý tồn tại của nền khoa học:

- Triết lý 1: Hoạt động KH&CN xuất hiện thuần túy do nhu cầu nội tại

của các cá nhân hoặc các nhóm tư nhân Nhà nước không có bất kỳ mối quan tâm nào đối với hoạt động KH&CN

- Triết lý 2: Hoạt động KH&CN bắt đầu được các nhà nước quan tâm

Có hai hình thức quan tâm: (1) Nhà nước công bố các chính sách vĩ mô tạo thuận lợi cho hoạt động KH&CN, định hướng ưu tiên thông qua các chính sách vĩ mô; (2) Nhà nước tài trợ một cách không vị lợi cho các hoạt động KH&CN của bất kỳ tổ chức nào trong xã hội Trong cả hai hình thức này, nhà nước không can dự dưới bất kỳ hình thức nào vào các hướng nghiên cứu, trừ trường hợp Nhà nước muốn đặt hàng nghiên cứu để giải quyết một vấn đề nào

đó mà Nhà nước quan tâm Người ta gọi đó là mô hình của một “thiết chế tự

trị trong khoa học” (Autonomous institution of Science) Đây là triết lý tổ chức

KH&CN phổ biến hiện nay trên thế giới

- Triết lý 3: Nhà nước chỉ huy hoạt động KH&CN thông qua các

chương trình, đề tài các cấp của Nhà nước; Nhà nước thành lập các tổ chức KH&CN “của” Nhà nước; Nhà nước đào tạo “đội ngũ” “cán bộ” KH&CN

“của” Nhà nước; Nhà nước phân bổ ngân sách của Nhà nước cho các tổ chức KH&CN “của” Nhà nước để thực hiện các chương trình/đề tài “của” Nhà nước Đây là triết lý tổ chức KH&CN trong tất cả các nước xã hội chủ nghĩa

2

Khi biên soạn mục này, Luận văn đã sử dụng bài viết của Vũ Cao Đàm (6.2012): Các giải pháp đột phá về đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động KH&CN, đưa KH&CN thực sự trở thành động lực then chốt của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 29

Chính sách KH&CN đẩy là chính sách chủ động “đẩy” KH&CN vào sản xuất và đời sống Chính sách này có giá trị nổi bật trong chiến tranh, khi các chính phủ muốn tận dụng mọi thành tựu KH&CN để tạo ra những vũ khí phục vụ chiến tranh Triết lý này kéo dài từ cách mạng công nghiệp (thế kỷ XVII - XVIII), và nổi bật nhất trong thập niên 1950 - 1960, nhất là trong thời gian phục hồi kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai

Vẫn theo khảo sát của Vũ Cao Đàm, thì:

- Việt Nam hiện vẫn đang đi theo “chính sách KH&CN đẩy”, với những chương trình/đề tài do Nhà nước chủ trì và do Nhà nước đặt kế hoạch

áp dụng Đó là một chính sách thịnh hành vào những thập niên thuộc nửa đầu thế kỷ XX, nghĩa là về triết lý chính sách KH&CN, Việt Nam đã lạc hậu so với thế giới trên nửa thế kỷ

- Hệ thống KH&CN nước ta là một hệ thống KH&CN do Nhà nước chỉ huy theo triết lý “KH&CN đẩy” trong một hệ thống kinh tế đang chuyển hướng theo thị trường, nhưng lại thêm “định hướng xã hội chủ nghĩa”, với kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nghĩa là vẫn giữ quyền Nhà nước chỉ huy nghiêm ngặt

Sau khi tham khảo từ tài liệu Martin, Michael J.C (1994) và Vũ Cao Đàm (6.2012) về chính sách KH&CN đẩy, Luận văn đưa ra nhận định:

- Việc nghiên cứu và triển khai được thực hiện theo “kế hoạch” mà không căn cứ vào nhu cầu thực tiễn của thị trường

- Đa số kết quả nghiên cứu và triển khai trong trường hợp này không đạt hiệu quả kinh tế, một số trong đó không thể đưa vào áp dụng trong đời sống, sản xuất, mà buộc phải “cất ngăn kéo”

- Việc chủ động “đẩy” KH&CN vào đời sống, sản xuất khi kết quả nghiên cứu và triển khai được thực hiện theo “kế hoạch” có thể dẫn đến tình trạng sản phẩm không được thị trường chấp nhận vì không đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

Trang 30

30

- Khi tuân theo chính sách KH&CN đẩy có thể dẫn đến nguồn kinh phí

để tái đầu tư cho hoạt động KH&CN bị ảnh hưởng, vòng lẩn quẩn lại tác động đến kết quả thấp cho hoạt động KH&CN

Tóm lại, chính sách KH&CN đẩy là chính sách chỉ có tác dụng trong một số trường hợp nhất định, đổi mới có thể khởi đầu bằng “lực đẩy” của KH&CN nhưng điều đó chỉ thành công khi nó đáp ứng được nhu cầu rõ ràng của thị trường hoặc giải quyết một số vấn đề kỹ thuật quan trọng

1.5.2 Khái niệm chính sách “thị trường kéo”

Trong quá trình đổi mới, sức kéo của thị trường có tầm quan trọng đặc biệt có thể đầu tư nhiều thời gian và tiền của cho công tác nghiên cứu và triển khai để phát triển sản phẩm, nhưng nếu như không nhìn rõ nhu cầu của thị trường thì ngay cả những sáng chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cũng sẽ chỉ nằm trong “ngăn kéo”

Để khảo sát thuật ngữ chính sách thị trường kéo, Luận văn tham khảo nghiên cứu của Vũ Cao Đàm (6.2012) về các thuật ngữ sau đây:

- Công nghệ kéo (Technology Pull/Driven), một chính sách xuất phát từ

nhu cầu công nghệ của sản xuất, và công nghệ sẽ “kéo” khoa học đi theo Chính sách này xuất hiện khi các nhà sản xuất đề xướng triết lý lấy công nghệ

để giành thế mạnh cạnh tranh Triết lý này kéo dài suốt nửa cuối thập niên

1960

- Sản phẩm kéo (Product Pull/Driven), triết lý này là sự kế tiếp triết lý

“Công nghệ kéo” Các nhà kinh doanh cho rằng, cái họ cần chính là sản phẩm, chứ không phải là công nghệ Chính từ sản phẩm sẽ kéo công nghệ theo, và đến lượt mình, công nghệ lại kéo khoa học theo Triết lý này diễn ra vào đầu thập niên 1970, và kéo dài đến thập niên 1980

- Thị trường kéo (Market Pull/Driven), là chính sách phát triển trong

điều kiện hệ thống kinh tế thế giới thành một thị trường mở Và thị trường sẽ cuốn hút KH&CN đi theo nó, phục vụ cho các mục tiêu hợp tác và cạnh tranh Chính sách này bắt đầu từ những thập niên 1980 - 1990 và kéo dài cho đến ngày nay

Trang 31

- Nhu cầu kéo (Demand Pull/Driven), là sự mở rộng của chính sách thị

trường kéo trên quy mô không chỉ trên thị trường, mà trên toàn xã hội

Để khái quát mục chính sách KH&CN đẩy, chính sách thị trường kéo, Luận văn lấy sơ đồ do Martin, Michael J.C đưa ra [6;44]

Hình 1.1 Sơ đồ “công nghệ đẩy”

Hình 1.2 Sơ đồ “thị trường kéo”

- Ở mô hình “công nghệ đẩy”: khâu R&D được thực hiện trước tiên, đưa ra sản phẩm và “đẩy” vào thị trường Trong mô hình này khoa học là cơ

sở, tri thức, tiền đề của đổi mới công nghệ, hoạt động R&D là nhân tố thúc đẩy đổi mới công nghệ, Tuy nhiên nếu đổi mới công nghệ chỉ dựa vào khâu R&D mà không xuất phát từ nhu cầu thị trường, sẽ có khả năng xảy ra rủi ro

là sản phẩm có thể không có thị trường tiêu thụ

- Ở mô hình “thị trường kéo”: khâu khảo sát nhu cầu của thị trường được thực hiện trước tiên, sau đó mới tiến hành R&D Trong mô hình này nhu cầu thị trường là tác nhân khởi thủy của các ý tưởng đổi mới có được thông qua quá trình tiếp xúc với khách hàng, nhu cầu này sẽ tạo cơ hội cho sản phẩm mới, quy trình mới và qua đó thúc đẩy hoạt động R&D

Tóm lại, sau khi khảo sát quan niệm của Martin, Michael J.C (1994) và

Vũ Cao Đàm (6.2012) về chính sách thị trường kéo, Luận văn đưa ra các nhận định sau đây về hoạt động KH&CN theo mô hình thị trường kéo:

- Để tiến hành cho khâu R&D, điều kiện tiên quyết phải dựa vào nhu cầu của người tiêu dùng và đòi hỏi của thị trường

R&D

Nhu cầu Thị trường

đã biết Tiếp thị

Chế tạo

Trang 32

32

- Một khi kết quả của khâu R&D được mua bán trên thị trường thì sẽ có nguồn kinh phí thu từ hoạt động này để tái đầu tư cho R&D, kéo theo hoạt động KH&CN đạt hiệu quả cao hơn

- Hoạt động NCKH theo mô hình “thị trường kéo” sẽ khắc phục được tình trạng kết quả nghiên cứu không ứng dụng được vào thực tiễn, vì sản phẩm của nó có nơi tiêu thụ

1.6 Vai trò của KH&CN trong phát triển KT - XH

1.6.1 Mối quan hệ giữa Khoa học và Công nghệ

Giai đoạn đầu của lịch sử phát triển KH&CN, công nghệ phát triển trên

cơ sở các kinh nghiệm tích lũy được và qua đó kích thích khoa học phát triển

để giải thích những kinh nghiệm đó Từ cuộc cách mạng công nghiệp ở cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, nhiều lĩnh vực, ngành công nghệ rất xa nhau đã có sự tăng trưởng phi thường dựa trên các nền tảng thành tựu của khoa học Tại thời điểm đó, đã hình thành xu hướng công nghệ đi sau khoa học, ngược lại với quá trình trước kia Mối quan

hệ giữa Khoa học và Công nghệ đã trở nên rõ nét, gắn bó hơn và hình thành hai cách tiếp cận:

- Có thể tìm kiếm cơ hội triển khai công nghệ mới từ các phát triển trong NCKH

- Sự triển khai giải pháp công nghệ mới nhằm đáp ứng một nhu cầu KT

- XH sẽ kích thích các NCKH Việc áp dụng các thành tựu khoa học giúp rút ngắn được thời gian triển khai các công nghệ mới Về phần mình, công nghệ lại cung cấp phương tiện giúp nâng cao năng lực, rút ngắn thời gian trong NCKH

Như vậy, quan hệ giữa Khoa học và Công nghệ là mối quan hệ hữu cơ giữa hai lĩnh vực không tách rời nhau, cùng tác động vào nhau và thúc đẩy nhau phát triển

Trang 33

Tuy nhiên cũng cần lưu ý đến những điểm khác biệt giữa Khoa học và Công nghệ Theo Vũ Cao Đàm3, có các điểm khác nhau cơ bản sau:

- Tri thức về khoa học là tri thức hiểu: Hệ thống tri thức về quy luật sự vật Tri thức về công nghệ là tri thức làm: hệ thống tri thức về các giải pháp hành động

- Sản phẩm của khoa học khó định hình trước Sản phẩm của công nghệ được xác định trước theo thiết kế, nếu sai so thiết kế bị xem là phế phẩm

- Hoạt động khoa học luôn đổi mới, có kế thừa, không lặp lại Hoạt động của công nghệ lặp lại theo chu kỳ chế tạo sản phẩm

- Quá trình hoạt động khoa học mang tính xác suất, có tính rủi ro Quá trình hoạt động của công nghệ mang tính tin cậy cao trên cơ sở một quy trình

đã được nhà chế tạo chuẩn hóa và được người sản xuất làm chủ

- Sản phẩm khoa học (phát minh, phát hiện) tồn tại mãi với thời gian Sản phẩm công nghệ (sáng chế) tồn tại nhất thời và tiêu vong theo sự tiến bộ

kỹ thuật

- Lao động khoa học mang tính linh hoạt và sáng tạo Lao động công nghệ được định khuôn chặt chẽ theo quy trình

1.6.2 Mối quan hệ giữa KH&CN và phát triển KT - XH

Quan hệ giữa phát triển KH&CN với phát triển KT - XH, về mặt lý luận có thể xem xét trên cơ sở phân tích hai nguyên lý: Nguyên lý phát triển

KT - XH dựa trên KH&CN và vai trò động lực của KH&CN đối với phát triển KT - XH

Trước đây, sự tăng trưởng/phát triển kinh tế thường được nhận thức dựa vào các yếu tố là đất đai, lao động và vốn Nếu xa xôi hơn nữa thì kinh tế học chính trị cổ điển chỉ coi có đất đai và lao động là nguồn gốc của mọi của cải Nguyên lý phát triển KT - XH dựa trên KH&CN được đề xuất lần đầu tiên tại khóa họp hằng năm lần thứ 40 của ESCAP của Liên Hiệp Quốc tổ

3

Vũ Cao Đàm (2011), Bài giảng môn Khoa học luận đại cương

Trang 34

34

chức tháng 4 năm 1984 Nghị quyết của khóa họp này đã nhấn mạnh rằng tiến

bộ của công nghệ là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế

Chính xuất phát từ vai trò và sự đóng góp to lớn, ngày càng tăng của KH&CN trong phát triển KT - XH mà ESCAP đã khẳng định rằng: Nếu có kế hoạch sử dụng công nghệ thích hợp, nó có thể là chìa khóa cho một xã hội phồn vinh Một khuyến cáo của Ủy ban này cho rằng “Việc duy trì một nền KH&CN cơ bản mạnh là điều cần thiết cho tăng trưởng kinh tế, lành mạnh xã hội và cạnh tranh quốc tế” Lý luận và thực tiễn về quá trình tiến hóa và phát triển xã hội loài người đều chỉ ra vai trò ngày càng tăng và có tính chất quyết định của KH&CN Chính vì vậy phát triển và ứng dụng các thành tựu của KH&CN là phương thức nhanh nhất để đạt mục tiêu phát triển KT - XH và chính các mục tiêu KT - XH lại tạo ra nhu cầu về phát triển KH&CN, bởi lẽ công nghệ là yếu tố của quá trình sản xuất Mục tiêu phát triển KT - XH cao thì nhu cầu về KH&CN càng lớn Khoa học tạo ra tiến bộ công nghệ, tiến bộ công nghệ tạo ra phần lớn sự tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng KT - XH tạo ra nhu cầu đối với KH&CN Các mối quan hệ này gắn bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển Về phần mình sự cạnh tranh trong tốc độ phát triển

KT - XH thúc đẩy hoạt động NCKH ráo riết hơn, rộng lớn hơn và thiết thực hơn, và như vậy kết quả nghiên cứu không còn là để trưng bày hay “xếp ngăn kéo” mà kết quả nghiên cứu phải được chuyển giao cho sản xuất, được ứng dụng phục vụ cho các mục tiêu phát triển KT - XH

Như vậy, hoạt động KH&CN vừa là kết quả của sự phát triển KT - XH, vừa là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi tích cực về mọi mặt đời sống xã hội

Sự phát triển của KH&CN, tiến bộ của kỹ thuật phải căn cứ vào những mục tiêu, yêu cầu của nền kinh tế, của xã hội đặt ra cho mỗi thời kỳ/giai đoạn phát triển Thế nhưng chính khi xác định những mục tiêu, yêu cầu của nền kinh tế, các nhà quản lý cũng không thể không căn cứ vào khả năng thực tế của KH&CN có thể làm cơ sở cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển

Trang 35

Tóm lại, có thể nói KH&CN ngày nay có ý nghĩa sống còn với sự phát triển KT - XH Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một điều rằng: Các nhà kinh tế cũng lại đã có những con số tổng kết từ thực tiễn cho thấy nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao không hẳn là hệ quả tất yếu của việc vận dụng tiến bộ KH&CN 1.7 Quy trình xây dựng nhiệm vụ KH&CN của Việt Nam

Hằng năm Bộ Khoa học và Công nghệ thay mặt Nhà nước có công văn hướng dẫn xây dựng nhiệm vụ KH&CN gửi các Bộ, ngành, địa phương và yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương báo cáo và xây dựng nhiệm vụ KH&CN của bộ, ngành, địa phương mình theo đúng với những chương, mục đã được hướng dẫn gửi về Bộ KH&CN, sau đó Bộ giao cho các Ban chủ nhiệm chương trình làm nhiệm vụ tổng hợp, xét chọn, khi các nhiệm vụ KH&CN đã được xét chọn bởi các Ban chủ nhiệm và được gửi về Bộ, nó sẽ được Bộ thành lập các Hội đồng chuyên ngành để thẩm định lại Căn cứ kết quả thẩm định của các Hội đồng, Bộ trưởng Bộ KH&CN quyết định phê duyệt danh mục các nhiệm vụ KH&CN và báo cáo với Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư để hai bộ này trình Quốc hội phê duyệt nguồn kinh phí cho năm kế hoạch Số kinh phí trình Quốc hội phê duyệt là tùy thuộc vào đề xuất của Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ KH&CN không được thông báo trước Sau khi được phân bổ kinh phí, tùy vào số kinh phí nhiều hay ít, Bộ KH&CN lựa chọn những nhiệm vụ KH&CN ưu tiên để đưa ra thông báo tuyển chọn hoặc giao trực tiếp cho tổ chức, cá nhân triển khai thực hiện

Về lý thuyết, qui trình trên là rất hợp lý và chặt chẽ nhưng trong thực tế việc triển khai thực hiện vẫn rất khó khăn, mất nhiều thời gian qua nhiều khâu xét chọn, thẩm định, và chờ phê duyệt nguồn kinh phí Mặt khác, khâu xác định nhiệm vụ KH&CN ở các Bộ, ngành, địa phương chưa thật sự sát với nhu cầu thực tiễn Các Bộ, ngành, địa phương thông thường khi có yêu cầu của Bộ KH&CN lại đưa yêu cầu xuống các đơn vị trực thuộc, các đơn vị trực thuộc

đề xuất các nhiệm vụ trong phần lớn các trường hợp không căn cứ theo kế hoạch hoạt động, theo chiến lược phát triển của Bộ, ngành, địa phương mình, không đánh giá kết quả của các chương trình dự án đầu tư từ các năm trước,

Trang 36

36

không khảo sát nhu cầu thực tiễn xã hội mà theo ý kiến chủ quan của các cán

bộ làm công tác NCKH của Bộ, ngành, địa phương và không quan tâm đến việc mình được phân bổ bao nhiều kinh phí, được phân bổ bao nhiều thì sử dụng bấy nhiêu Điều này dẫn đến mặc dù các nhiệm vụ được các Bộ, ngành, địa phương đề xuất nhưng khi thực hiện thành công về mặt kỹ thuật lại không triển khai được kết quả nghiên cứu vào thực tiễn do không phù hợp với nhu cầu xã hội hoặc thiếu nguồn kinh phí để đưa vào áp dụng

Tóm lại, từ phân tích trên Luận văn nhận định: Quy trình xây dựng

nhiệm vụ KH&CN của nước ta vẫn theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, tuân theo cơ chế quản lý hành chính, nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý vẫn đóng vai trò chủ đạo, trong khi vai trò của các nhân tố khác như nhu cầu xã hội, doanh nghiệp, nhà khoa học chưa được đề cao, hay nói cách khác việc lập

kế hoạch nhiệm vụ KH&CN ở nước ta hiện nay vẫn đang ở triết lý 3 của hoạt

động KH&CN mà Luận văn đã trình bày ở mục 1.5.1 chương này và sự đổi mới là cần thiết

* Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, Luận văn đã trình bày và phân tích cơ sở lý luận, bao gồm: Khái niệm đề tài/dự án, đề tài/dự án KH&CN, hoạt động KH&CN; lý luận về ứng dụng kết quả NCKH, nhu cầu về sản phẩm NCKH; lý thuyết về

thị trường; đồng thời, đã phân tích khái niệm chính sách “khoa học và công

nghệ đẩy”, chính sách “thị trường kéo”, trong đó nêu rõ sự lạc hậu của chính

sách “khoa học và công nghệ đẩy”, muốn nâng cao khả năng ứng dụng kết

quả nghiên cứu vào thực tiễn thì cần phải tiến hành đổi mới hoạt động quản lý

KH&CN theo mô hình “thị trường kéo” Luận văn cũng đã phân tích vai trò

của KH&CN trong phát triển KT - XH được thể hiện qua mối quan hệ hữu cơ giữa Khoa học và Công nghệ và giữa KH&CN với phát triển KT - XH Chương 1 cũng đã nhận diện được quy trình xây dựng nhiệm vụ KH&CN

chung hiện nay vẫn đang ở triết lý 3 của chính sách “khoa học và công nghệ

đẩy”

Trang 37

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG QUY TRÌNH XÉT CHỌN ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI TỈNH BẠC LIÊU

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, KT - XH tỉnh Bạc Liêu ảnh hưởng đến hoạt động NCKH

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, KT - XH

Bạc Liêu là tỉnh thuộc duyên hải vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên bán đảo Cà Mau, vùng đất cực Nam của Việt Nam Địa giới của tỉnh về phía Bắc giáp các tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau, Đông và Đông Nam giáp Biển Đông Diện tích tự nhiên của Bạc Liêu là 2.570 km2, bằng 1/16 diện tích vùng đồng bằng Sông Cửu Long, có bờ biển dài 56 km với các cửa biển quan trọng như: Gành Hào, Nhà Mát, Cái Cùng là nơi trung chuyển hàng hóa của nhiều cơ sở SXKD trong và ngoài tỉnh Các đơn vị hành chính của tỉnh gồm thành phố Bạc Liêu và 6 huyện: Hồng Dân, Phước Long, Hòa Bình, Vĩnh Lợi, Giá Rai và Đông Hải Thành phố Bạc Liêu là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, đào tạo của tỉnh, cách thành phố Hồ Chí Minh 280 km, thành phố Cần Thơ 110 km về phía Bắc và cách thành phố Cà Mau 67 km về phía Nam

Bạc Liêu có địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu nằm ở độ cao trên dưới 1,2m so với mặt biển, còn lại là những giồng cát và một số khu vực trũng ngập nước quanh năm Địa hình có xu hướng dốc từ bờ biển vào nội đồng, từ Đông Bắc xuống Tây Nam

Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất 257.094 ha Trong đó:

- Đất nông nghiệp: 224.621 ha

- Đất phi nông nghiệp: 22.250 ha

- Đất có mặt nước biển: 10.221 ha

Chiếm diện tích lớn nhất trong đất nông nghiệp là đất nuôi trồng thủy sản 114.184 ha, kế đến là đất sản xuất nông nghiệp 102.824 ha, đất lâm nghiệp 4.708 ha, đất làm muối 2.875 ha và đất nông nghiệp khác 28 ha Được thiên nhiên ưu đãi chia thành hai vùng sinh thái khác nhau (vùng sinh thái

Trang 38

38

ngọt phía Bắc Quốc lộ 1A, vùng sinh thái mặn phía Nam Quốc lộ 1A), cùng với diện tích đất nông nghiệp lớn, Bạc Liêu có lợi thế trong sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản

Cơ cấu phát triển kinh tế chủ yếu của tỉnh là công nghiệp - xây dựng, nông nghiệp - thủy sản và dịch vụ Trong đó, cơ cấu kinh tế nông nghiệp - thủy sản chiếm tỷ trọng cao nhất, giai đoạn 2006 - 2010, ngành công nghiệp - xây dựng đóng góp khoảng 2,94%, ngành dịch vụ 3,68%, ngành nông nghiệp

- thủy sản là 4,95% vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong giai đoạn này là 11,57 %/năm (giai đoạn 2001 - 2005 là 15,6

%/năm) cao hơn so với mức tăng trưởng trung bình cả nước nhưng vẫn còn thấp hơn một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long có ngành công nghiệp

và dịch vụ phát triển Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế của Bạc Liêu chưa bền vững, chủ yếu là do đóng góp của ngành nông nghiệp, đóng góp của ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ còn thấp và hạn chế

Số doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay tại Bạc Liêu là 971 doanh nghiệp, trong đó có 6 doanh nghiệp Nhà nước, 959 doanh nghiệp ngoài Nhà nước và 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã giải quyết việc làm cho khoảng 23.158 lao động Cũng giống như các địa phương khác trong vùng, các doanh nghiệp tại Bạc Liêu chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhiều hình thức tổ chức gồm từ doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp và các công

ty tư nhân đến các hợp tác xã… Có quy mô vốn hoặc lao động nhỏ; khả năng quản lý hạn chế; trình độ công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu và triển khai; trình độ tay nghề của người lao động thấp, chưa qua đào tạo bài bản; khả năng tiếp cận thị trường và năng lực cạnh tranh kém, quy mô thị trường thường bó hẹp trong phạm vi địa phương do khả năng tài chính cho hoạt động marketing không lớn; phần lớn sử dụng chính diện tích đất riêng của mình làm mặt bằng SXKD mà không có được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

Bạc Liêu có hệ thống giao thông thủy, bộ khá thuận tiên Giao thông bộ với 3 tuyến chính: Tuyến Quốc lộ 1A, tuyến Nam Sông Hậu và tuyến Quản

Lộ - Phụng Hiệp; giao thông thủy có hai tuyến chính: Tuyến kênh Bạc Liêu -

Trang 39

Cà Mau và tuyến kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp Đây là những tuyến giao thông huyết mạch vận chuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế với các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh

Bạc Liêu có bờ biển dài 56 km, ngư trường khai thác tự nhiên trên 40.000 km2, có cảng biển Gành Hào là điều kiện thuận lợi và thế mạnh lâu dài

để Bạc Liêu phát triển kinh tế biển

Dân số Bạc Liêu hiện nay là 376.171 người, mật độ dân số trung bình

341 người/km2, dân tộc Kinh chiếm 90%, dân tộc Hoa chiếm 2%, dân tộc Khmer chiếm 8% Số người trong độ tuổi lao động là 261.233 người, đây là nguồn lao động dồi dào, là nguôn nhân lực quan trọng trong phát triển kinh tế

Bạc Liêu có lịch sử văn hóa đặc sắc, là cái nôi của loại hình nghệ thuật đơn ca tài tử Nam bộ với bản “Dạ cổ Hoài Lang” tiền thân của nghệ thuật hát vọng cổ ngày nay vừa được UNESCO công nghận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đã và đang thu hút nhiều nhà khoa học xã hội và du khách các vùng trong cả nước đến tìm hiểu và giao lưu Cùng với loại hình văn hóa độc đáo này, Bạc Liêu cũng có nhiều di tích lịch sử, thắng cảnh đẹp như: Vườn chim, vườn nhãn, khu lưu niệm cố nhạc sỹ Cao Văn Lầu (cha đẻ của bản Dạ cổ Hoài Lang), khu Phật Bà Nam Hải, khu nhà thờ Tắc Sậy, cụm nhà Công tử Bạc Liêu, di tích Đồng Nọc Nạng, đền thờ Bác Hồ… là những điểm hấp dẫn thu hút khách du lịch đến Bạc Liêu

Thực hiện chủ trương, chính sách về KH&CN của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay KH&CN tỉnh Bạc Liêu đã triển khai nhiều đề tài/dự án trên nhiều lĩnh vực và đã có những đóng góp nhất định vào

Trang 40

- Với điều kiện thuận lợi về hạ tầng giao thông, có 4 tuyến quốc lộ và

dự kiến 1 tuyến cao tốc chạy qua tỉnh Bạc Liêu kết nối hầu hết các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và các vùng khác là cơ hội cho Bạc Liêu thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp có nhiều lợi thế như chế biến nông, thủy sản, cơ khí nông nghiệp, sửa chữa tàu biển … kéo theo nhu cầu thị trường công nghệ phát triển, đây là điều kiện thuận lợi cho hoạt động NCKH phát triển

- Tỉnh đã có quy hoạch xây dựng khu công nghệ sinh học, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đây cũng là điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà khoa học từ nơi khác về làm việc tại Bạc Liêu, mở ra cơ hội mới cho KH&CN của tỉnh phát triển

* Khó khăn:

- Hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động NCKH chưa phát triển, các tổ chức KH&CN tại Bạc Liêu hầu hết là các tổ chức KH&CN công lập, vẫn còn được Nhà nước bao cấp kinh phí hoạt động, chưa đủ khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, năng lực nghiên cứu và triển khai còn hạn chế

- Nguồn nhân lực tuy dồi dào nhưng lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao làm việc trong lĩnh vực KH&CN của tỉnh còn chiếm

tỷ lệ thấp Phát triển kinh tế của tỉnh chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chưa phát triển, nên nhân lực có trình độ chuyên môn có xu hướng dịch chuyển ra các trung tâm kinh tế lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Cần thơ, Bình Dương làm việc

Ngày đăng: 28/01/2016, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2005
2. Vũ Cao Đàm (2005), Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2005
3. Vũ Cao Đàm (2005), Khoa học chính sách, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học chính sách
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
4. Vũ Cao Đàm (2011), Bài giảng môn Khoa học luận đại cương, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn Khoa học luận đại cương
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội
Năm: 2011
6. Martin, Michael J.C (1994). Managing Innovation and Entrepreneurship in Technology-based Firms. Wiley-IEEE, ISBN 0-471-57219-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing Innovation and Entrepreneurship in Technology-based Firms
Tác giả: Martin, Michael J.C
Nhà XB: Wiley-IEEE
Năm: 1994
7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật khoa học và công nghệ
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
5. Vũ Cao Đàm (6.2012), Các giải pháp đột phá về đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN, đưa KH&CN thự sự trở thành động lực then chốt của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khác
8. Sở Khoa học và công nghệ Bạc Liêu (2010), Báo cáo Tổng kết tình hình hoạt động KH&CN tỉnh Bạc Liêu giai đoạn từ năm 2006 - 2010 Khác
9. UBND tỉnh Bạc Liêu (2005), Quyết định số 94/2005/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế quản lý các đề tài, dự án NCKH và phát triển công nghệ tỉnh Bạc Liêu Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ “công nghệ đẩy” - Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hiện ở tỉnh bạc liêu
Hình 1.1. Sơ đồ “công nghệ đẩy” (Trang 31)
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình đề xuất, xét chọn nhiệm vụ KH&CN - Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hiện ở tỉnh bạc liêu
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình đề xuất, xét chọn nhiệm vụ KH&CN (Trang 43)
Bảng 2.2. Số liệu đề tài/dự án và kinh phí thực hiện giai đoạn 2006 - 2010 - Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hiện ở tỉnh bạc liêu
Bảng 2.2. Số liệu đề tài/dự án và kinh phí thực hiện giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 46)
Bảng 2.4. Kết quả NCKH chưa bám vào thị trường và thực tiễn yêu cầu - Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hiện ở tỉnh bạc liêu
Bảng 2.4. Kết quả NCKH chưa bám vào thị trường và thực tiễn yêu cầu (Trang 56)
Bảng 2.5. Thiếu thông tin thị trường - Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hiện ở tỉnh bạc liêu
Bảng 2.5. Thiếu thông tin thị trường (Trang 57)
Hình 3.1. Sơ đồ quy trình xây dựng ưu tiên phục vụ cơ chế đặt hàng - Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hiện ở tỉnh bạc liêu
Hình 3.1. Sơ đồ quy trình xây dựng ưu tiên phục vụ cơ chế đặt hàng (Trang 65)
Hình 3.2. Sơ đồ quy trình tuyển chọn chủ trì thực hiện - Đổi mới quy trình xét chọn đề tài nghiên cứu khoa học theo định hướng nhu cầu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hiện ở tỉnh bạc liêu
Hình 3.2. Sơ đồ quy trình tuyển chọn chủ trì thực hiện (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w