Với mục đích đó, đề tài Đổi mới quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình để nâng cao hiệu quả hoạt động của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã được lựa chọn với mong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ TẠO NGÂN
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGÔ TẠO NGÂN
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN HẢI
Hà Nội, 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài nghiên cứu của luận văn này sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ nhiệt tình và tận tâm của TS Trần Văn Hải - Người hướng dẫn khoa học Xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Thầy
Xin gửi lòng biết ơn đến ban lãnh đạo hai trường: Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn – Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cùng các Thầy, Cô Khoa Khoa học quản lý, Phòng đào tạo sau đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiện học tập tốt nhất cho em trong suốt thời gian tham gia khóa học vừa qua Cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô giảng dạy trong khóa học cao học này đã cho em có nền tảng để hoàn thành luận văn
Em cũng xin cảm ơn lãnh đạo Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tổng Giám đốc Đài, Ban phụ trách các đơn vị trong Đài đã hết lòng hỗ trợ và tạo điều kiện cho em thực hiện nhiều phần quan trọng trong luận văn
Cuối cùng xin được cảm ơn các đồng nghiệp, bạn học cùng những anh chị các khóa trước đã cung cấp cho tôi những tài liệu, thông tin có giá trị và quý báu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, với
sự hướng dẫn của TS Trần Văn Hải Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Luận văn có tham khảo và trích dẫn một số sách báo và tài liệu, được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Tác giả luận văn Ngô Tạo Ngân
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 6
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Phạm vi nghiên cứu 12
5 Mẫu khảo sát 12
6 Câu hỏi nghiên cứu 13
7 Giả thuyết nghiên cứu 13
8 Phương pháp nghiên cứu 14
9 Kết cấu của Luận văn 14
CHƯƠNG 1 15
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 15
1.1 Lý luận về đổi mới quản lý 15
1.1.1 Khái niệm quản lý 15
1.1.2 Khái niệm đổi mới 18
1.1.3 Khái niệm đổi mới quản lý 26
1.2 Lý luận về công nghệ 28
1.2.1 Khái niệm công nghệ 28
1.2.2 Các đặc điểm của công nghệ 29
1.2.3 Quản lý công nghệ 32
1.3 Lý luận về chương trình truyền hình 33
1.3.1 Khái niệm chương trình truyền hình 33
1.3.2 Đặc điểm của chương trình truyền hình 35
1.3.3 Công nghệ sản xuất chương trình truyền hình 36
1.3.4 Quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình 39
1.4 Lý luận về hiệu quả hoạt động 40
1.4.1 Khái niệm hiệu quả 40
1.4.2 Khái niệm hiệu quả hoạt động 41
1.5 Mối quan hệ giữa công nghệ sản xuất chương trình truyền hình và hiệu quả hoạt động của đài truyền hình 42
1.5.1 Mối quan hệ dưới tác động của môi trường bên ngoài 42
1.5.2 Mối quan hệ dưới tác động của môi trường bên trong 43
* Kết luận Chương 1 44
CHƯƠNG 2 45
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT 45
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 45
TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 45
2.1 Tổng quan về sự phát triển của Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh 45
2.1.1 Vị trí và chức năng 45
2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 45
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 46
2.1.4 Hình thức quản lý tài chính 50
2.2 Thực trạng công nghệ sản xuất chương trình của HTV 50
2.2.1 Công tác sản xuất chương trình truyền hình hiện nay của HTV 50
2.2.2 Những tồn tại và thách thức trong công nghệ sản xuất chương trình truyền hình của HTV 52
2.3 Thực trạng nguồn lực cho công nghệ sản xuất chương trình truyền hình của HTV53 2.3.1 Hiện trạng về cơ chế tài chính và khai thác dịch vụ của HTV 53
2.3.2 Công tác đầu tư nguồn nhân lực tham gia sản xuất chương trình của HTV 55
Trang 62.4 Mô hình công nghệ sản xuất chương trình truyền hình của HTV 59
2.4.1 Nhận nhiệm vụ & Hình thành ý tưởng công nghệ 59
2.4.2 Công tác sản xuất các chương trình tuyên truyền giáo dục truyền thống cách mạng 61
2.4.3 Công tác sản xuất các chương trình tuyên truyền trong hoạt động văn hoá- nghệ thuật, giải trí, giáo dục 63
2.4.4 Công tác sản xuất các chương trình dịch vụ truyền hình nhằm tạo nguồn thu theo cơ chế tự chủ tài chính 65
2.5 Cơ chế quản lý nhà nước tác động đến công tác sản xuất chương trình truyền hình của HTV 69
2.5.1 Môi trường pháp lý trong quản lý ngành và sự cạnh tranh trong lĩnh vực truyền hình 69
2.5.2 Chính sách tài chính đầu tư cho truyền hình còn nhiều khó khăn 72
* Kết luận Chương 2 74
CHƯƠNG 3 76
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT 76
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 76
TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 76
3.1 Nhóm giải pháp liên quan đến công nghệ sản xuất chương trình truyền hình 76
3.1.1 Liên kết giữa HTV và các nguồn lực công nghệ khác 76
3.1.2 Phối hợp giữa công nghệ “hình” và công nghệ “âm” để tăng cường tính hấp dẫn về nội dung và sức lan tỏa của chương trình truyền hình 84
3.1.3 Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất chương trình truyền hình từ giai đoạn thiết kế đến thành phẩm 89
3.2 Nhóm giải pháp liên quan đến tài chính để sản xuất chương trình truyền hình 90
3.2.1 Tạo nguồn thu theo cơ chế tự chủ tài chính khi sản xuất chương trình truyền hình 91
3.2.2 Gắn giá thành khi sản xuất chương trình truyền hình thương mại 94
3.2.3 Trao quyền tự chủ về tài chính đối với các dự án công nghệ sản xuất chương trình truyền hình 97
* Kết luận Chương 3 98
KẾT LUẬN 99
KHUYẾN NGHỊ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Tính đặc thù của chương trình truyền hình ……… ………34
Bảng 1.2: Tổng quát về dây chuyền công nghệ truyền hình ……… …… 37
Bảng 1.3: Quy trình sản xuất chương trình truyền hình………….…………38
Bảng 1.4: Quy trình phân phối chương trình truyền hình………… …… 39
Bảng 2.1: Nhân lực của Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh 48
Biểu 2.1: Tỉ lệ giữa các chức danh Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh 49
Bảng 2.2 Cấu trúc dịch vụ truyền hình ……… 50
Bảng 2.3 : Kinh phí đào tạo và số lượng nhân lực đào tạo hàng năm 56
Biểu 2.2 : Kinh phí sử dụng cho công tác đào tạo của Đài 57
Bảng 2.4: Điểm mạnh và điểm yếu kỹ thuật của HTV … … 62
Bảng 2.5 : Các mối liên hệ cung- cầu trong hoạt động truyền hình… 68
Bảng 2.6 : Kế hoạch đầu tư phát triển Đài giai đoạn 2011- 2020 73
Bảng 3.1: Kế hoạch thực hiện cầu truyền hình năm 2012 81
Trang 9
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với sự phát triển kinh tế , văn hóa, xã hội và bùng nổ thông tin hiện nay tại Việt Nam đã đôi phần đáp ứng được nhu cầu của xã hội về đời sống tinh thần, vật chất Xã hội phát triển, con người khi một phần đã được thỏa mãn về mặt vật chất thì lúc đó nhu cầu về mặt tinh thần sẽ đòi hỏi cao hơn,
và truyền hình là một trong những giải đáp đáp ứng được yếu tố giải trí thông tin … về mặt tinh thần
Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc của ngành kỹ thuật vũ trụ,
kỹ thuật điện tử, thì truyền hình cũng đang trong giai đoạn phát triển vượt bậc Ngành truyền hình Việt Nam cũng không nằm ngoài sự phát triển này, trong giai đoạn này ta vừa học vừa kế thừa được những thành tựu trong lĩnh vực truyền hình đã đạt được Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh là Đài Truyền hình địa phương trong hệ thống bao gồm Đài Truyền hình Quốc gia và các Đài Truyền hình địa phương Nằm trong một tổng thể chung các Đài Truyền hình của cả nước nhưng Đài Truyền hình Quốc gia và Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh có ưu thế hơn là nhờ biết vận dụng hiệu quả những thành tựu của ngành truyền hình
Trước những yếu điểm của truyền hình analog, như dễ bị nhiễu làm giảm chất lượng, hiệu quả truyền dẫn không cao, số lượng kênh sóng hạn chế, đứng trước nguy cơ cạn kiệt tần số nhiều nước đã đưa ra lộ trình đào thải công nghệ truyền hình analog cũ và chuyển sang sử dụng công nghệ truyền hình số nhằm để tối ưu hoá cho lĩnh vực này Nằm trong xu thế chung
đó HTV đã có những bước đi rất đúng đắn trong việc đầu tư phát triển các công nghệ mới nhằm tiến tới thay thế dần những công nghệ cũ đã lạc hậu và nhiều hạn chế
Khi công nghệ truyền hình đã hoàn chỉnh thì người dân dù ở đâu cũng
có thể bắt được sóng, điều đó giúp cho mọi chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước đều được thông tin đến người dân một cách chính xác, đầy đủ,
Trang 10ngay lập tức kể cả cho những kiều bào ở nước ngoài Khán giả sẽ xem được nhiều kênh hơn và có thể chọn lựa kênh truyền hình mà mình yêu thích một cách dễ dàng với chất lượng hình ảnh và âm thanh tuyệt hảo, hơn hẳn so với truyền hình tương tự analog hiện nay Các chương trình truyền hình sẽ phong phú hơn, hấp dẫn hơn, hướng đến nhu cầu khán giả nhiều hơn của các Đài Truyền hình nhằm đảm bảo nguồn thu từ quảng cáo và các dịch vụ truyền hình khác Sự cạnh tranh quyết liệt của các Đài Truyền hình sẽ là các sản phẩm, các chương trình và các dịch vụ truyền hình Sự cạnh tranh càng cao, chương trình càng phong phú, dịch vụ tốt hơn thì càng có lợi cho người xem
Trong bối cảnh đó, HTV cũng đang có những hướng đi thích hợp để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng đầu tư hiện đại hoá công nghệ truyền dẫn phát sóng và sản xuất chương trình, phát triển mạng lưới truyền hình Cáp và truyền hình số nhằm thông tin kịp thời, chính xác đầy đủ và đáp ứng nhu cầu nắm bắt thông tin và nhu cầu giải trí của mọi tầng lớp khán giả truyền hình Từ đó củng cố vị thế của Đài để tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồn thu từ dịch vụ quảng cáo và tăng cường các nguồn thu từ các dịch vụ khác trong quá trình phát triển sự nghiệp của Đài
Để tiếp tục phát triển và phát huy HTV cần phải chú trọng xây dựng một chiến lược phát triển dài hạn để tận dụng cơ hội và ứng phó với những
thách thức đang và sẽ đặt ra trong tương lai Với mục đích đó, đề tài Đổi
mới quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình để nâng cao hiệu quả hoạt động của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã được lựa
chọn với mong muốn được áp dụng các kiến thức về quản lý khoa học và công nghệ vào thực tế phân tích những mặt hạn chế và tích cực trong quản
lý công nghệ sản xuất chương trình hiện tại của HTV để đề xuất những giải pháp hợp lý cụ thể cho phù hợp với giai đoạn hiện nay, phải vừa kế thừa những thành quả và kinh nghiệm vừa đáp ứng yêu cầu của tiến trình đổi mới hiệu quả, hội nhập quốc tế
Trang 112 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cơ chế quản lý hoạt động của các Đài Truyền hình nói chung và quản
lý công nghệ sản xuất chương trình tại các Đài Truyền hình nói riêng đã được nghiên cứu khá nhiều cả ở trong nước phát triển Nhưng đối với Việt Nam vấn đề này chỉ mới ở bước chập chững tìm tòi và học hỏi, vì vậy mức
độ hiệu quả còn chưa cao cần có nhiều đổi mới để phù hợp với thời đại
Gần đây Đài Truyền hình Việt Nam đại diện cho các đài truyền hình
cả nước có tổ chức các hội thảo khoa học giới thiệu về thiết bị công nghệ truyền hình của một số hãng nổi tiếng trên thế giới như Sony (Nhật), Ross (Canada), Sennheiser (Đức) … trong đó có “Hội thảo khoa học giới thiệu công nghệ truyền hình số và ứng dụng tại Việt Nam”, nhằm giúp các Đài Phát thanh - Truyền hình trong cả nước cập nhật xu hướng phát triển của công nghệ truyền hình trên thế giới hiện nay, trao đổi những vấn đề công nghệ sản xuất chương trình, kỹ thuật trong quá trình sản xuất, lưu trữ, phát
sóng, … các dịch vụ và chương trình truyền hình Tham gia hội thảo có đại
diện các Đài Truyền hình, Đài Phát thanh, Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại các khu vực… Hội thảo đã đánh giá công nghệ truyền hình nước ta hiện nay, Việt Nam đang hòa vào dòng chảy số hóa mạnh mẽ của công nghệ truyền hình trên thế giới Một xu hướng tất yếu của số hóa và những nhu cầu thưởng thức mới của người xem buộc các đài truyền hình phải chuyển động
để đáp ứng Có nhiều câu hỏi thảo luận đã được đưa ra, nhưng đa phần đều xoáy quanh vấn đề : Làm thế nào để các quá trình số hóa có thể tăng hiệu quả công việc mà vẫn không bị lạc hậu trong thời gian tới Các vấn đề định hướng phát triển về công nghệ, đầu tư đồng bộ và xuyên suốt, đạt hiệu quả cao cũng như hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững Làm thế nào để quản lý hiệu quả công nghệ sản xuất chương trình, công nghệ phát sóng … Đây là các vấn đề thời sự của ngành truyền hình Việt Nam, đòi hỏi phải có những nghiên cứu khảo sát thực tiễn kết hợp với tham khảo từ những những nước có ngành truyền hình phát triển để rút ra những kinh nghiệm và đề xuất những biện pháp cụ thể cho áp dụng vào từng Đài Truyền hình tuỳ theo điều
Trang 12kiện của mỗi Đài, trong đó HTV là một trong những Đài lớn cần phải có những đổi mới mạnh mẽ để đáp ứng với yêu cầu phát triển và đồng thời là người dẫn đường cho các Đài Truyền hình bạn, vì điều kiện phát triển của từng Đài không giống nhau và những hạn chế khách quan mà các Đài khác gặp phải
Trong khuôn khổ các luận văn chuyên ngành Quản lý KH&CN được thực hiện có liên quan đến Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể:
- Luận văn của Ông Cao Anh Minh với đề tài Đổi mới quản lý hoạt
động công nghệ ngành truyền hình Việt Nam nhằm đổi mới các quan điểm về
cơ chế quản lý hoạt động truyền hình cũng như hoạt động công nghệ truyền hình để thúc đẩy phát triển các hoạt động công nghệ trên toàn ngành truyền hình Việt Nam trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay
- Luận văn của Ông Lê Quang Trung với đề tài Ảnh hưởng của kinh tế
thị trường đối với hoạt động KH&CN ở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đánh giá tác động của kinh tế thị trường đối với hoạt động quản
lý KH&CN tại HTV khi chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế tự chủ về tài chính và đề xuất các giải pháp đổi mới trong công tác quản lý KH&CN tại HTV cho phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa như nước ta hiện nay
- Luận văn của Ông Ngô Huy Hoàng với đề tài Đổi mới cơ chế quản lý
nguồn nhân lực KH&CN tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh nhằm
mục tiêu phân tích, đánh giá và chỉ ra những bất cập trong công tác quản lý nguồn nhân lực KH&CN đồng thời đưa ra các giả pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTV
- Luận văn của Ông Vũ Quốc Đạt với đề tài Huy động các nguồn lực
để nâng cao năng lực công nghệ sản xuất các chương trình truyền hình (Nghiên cứu trường hợp Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) nhằm tìm
ra các giải pháp để huy động các nguồn lực nhằm nâng cao năng lực công nghệ sản xuất các chương trình truyền hình tại HTV, thông qua việc khảo sát,
Trang 13đánh giá thực trạng việc huy động các nguồn lực để sản xuất các chương trình truyền hình tại HTV
- Luận văn của ông Kiều Quang Vũ với đề tài Nâng cao năng lực tiếp
nhận và làm chủ công nghệ truyền hình (Nghiên cứu trường hợp Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) nhằm nghiên cứu về thực trạng tiếp nhận và
làm chủ công nghệ truyền hình của HTV về các mặt như: hoạt động Khoa học và Công nghệ, nhân lực Khoa học và Công nghệ, công nghệ sản xuất chương trình truyền hình, chính sách tài chính cho công nghệ sản xuất chương trình truyền hình… và đề xuất giải pháp để nâng cao năng lực tiếp
nhận và làm chủ công nghệ truyền hình của HTV
Các luận văn nêu trên chưa đề cập đến việc quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình để nâng cao hiệu quả hoạt động của Đài Truyền
hình Thành phố Hồ Chí Minh Điểm khác biệt cơ bản của đề tài Đổi mới
quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình để nâng cao hiệu quả hoạt động của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh với các nghiên cứu
đi trước là đề xuất các giải pháp quản lý nhằm phát huy vai trò của lực lượng lao động với tư cách chủ thể KH&CN để HTV phát triển bền vững trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đổi mới quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình để nâng cao hiệu quả hoạt động của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Đề ra cơ sở lý luận của Luận văn, bao gồm các khái niệm: quản lý, đổi mới quản lý, công nghệ, quản lý công nghệ, chương trình truyền hình, hiệu quả hoạt động…
Trang 14- Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình hiện tại của HTV.
- Xử lý các thông tin đã thu thập được để xác định các điểm bất cập, tìm nguyên nhân của các bất cập đó, đề xuất các giải pháp đổi mới quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTV
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi nội dung : trên cơ sở phân tích các nhiệm vụ chiến lược chính
trị của Đài, để làm cơ sở phân tích năng lực và lợi thế của Đài, từ đó đề ra giải pháp về vấn đề quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình
4.2 Phạm vi thời gian: nghiên cứu quản lý công nghệ sản xuất chương trình
truyền hình của HTV từ năm 2011 đến nay (2013)
4.3 Phạm vi khách thể: các tài liệu như các báo cáo , bài viết, phỏng vấn, tài
liê ̣u chuyên khảo, … liên quan đến viê ̣c quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình
5 Mẫu khảo sát
5.1 Các số liệu thông tin thứ cấp
Khảo sát về cơ chế quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình tại HTV Cụ thể là khảo sát cơ cấu tổ chức, quy trình sản xuất các chương trình truyền hình với các mối quan hệ ngang và quan hệ dọc trong yếu tố nhân lực, tài chính Theo quan điểm công nghệ sản xuất chương trình truyền hình là tập hợp các phương pháp, tổ chức, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm - tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Nguồn số liệu dự kiến thu thập từ:
Do điều kiện hạn chế , các số liệu dẫn chứng được sử dụng chủ yếu từ nguồn của HTV Một vài số liệu khác được tổng hợp từ các báo cáo chuyên
đề trong các hội nghị ngành, các tạp chí chuyên ngành hoặc từ các thông tin tổng hợp trên trang Web của các bộ Tài chính, Thông tin truyền thông Ngoài một số thực tiễn của ngành truyền hình Việt nam, trong quá trình
Trang 15nghiên cứu, luận văn cũng sử dụng một số thực tiễn và lý luận của ngành truyền hình một số nước trên thế giới
5.2 Các số liệu thông tin sơ cấp
Số liệu sơ cấp là các số liệu thực tế về tình hình công nghệ sản xuất chương trình truyền hình tại HTV
Kết hợp với phương pháp lấy ý kiến các chuyên gia:
- Ban Tổng Giám đốc, Ban Giám đốc Trung tâm Sản xuất chương trình, Trung tâm dịch vụ, Ban Quản lý kỹ thuật và một số Trưởng phòng,
Ban của HTV
6 Câu hỏi nghiên cứu
Cần tiến hành những giải pháp gì để đổi mới quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTV?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Để đổi mới quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTV, cần tiến hành hai nhóm giải pháp chủ đạo sau:
- Nhóm giải pháp liên quan đến công nghệ sản xuất chương trình truyền hình, bao gồm các giải pháp cụ thể:
+ Liên kết giữa HTV và các nguồn lực công nghệ khác;
+ Phối hợp giữa công nghệ “hình” và công nghệ “âm” để tăng cường tính hấp dẫn về nội dung và sức lan tỏa của chương trình truyền hình;
+ Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất chương trình truyền hình từ giai đoạn thiết kế đến thành phẩm
- Nhóm giải pháp liên quan đến tài chính để sản xuất chương trình truyền hình, bao gồm các giải pháp cụ thể:
+ Tạo nguồn thu theo cơ chế tự chủ tài chính khi sản xuất chương trình truyền hình;
+ Gắn giá thành khi sản xuất chương trình truyền hình thương mại; + Trao quyền tự chủ về tài chính đối với các dự án công nghệ sản xuất chương trình truyền hình
Trang 168 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp sau để chứng minh luận điểm:
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
- Phân tích tài liệu sơ cấp: các số liệu đều do tác giả trực tiếp thu thập
từ nguồn của HTV
- Quan sát tham dự: với tư cách là thành viên trong Ban quản lý một Trung tâm sản xuất chương trình lớn trong HTV, tác giả quan sát và phân tích việc quản lý tại đơn vị của mình
- Quan sát không tham dự: tác giả quan sát và phân tích việc quản lý tại các đơn vị sản xuất khác của HTV
- Phương pháp chọn mẫu
- Sử du ̣ng phương pháp thống kê để phân tích số liệu
- Sử du ̣ng phương pháp phi thực nghiê ̣m: phỏng vấn, điều tra, khảo sát thực tế Tác giả Luận văn đã tiến hành phỏng vấn : các nhà quản lý về nhân lực KH&CN Cách phỏng vấn là : đưa trước câu hỏi , trực tiếp gặp đối tượng
để nghe kết quả trả lời
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của Luận văn
Chương 2 Thực trạng công nghệ sản xuất chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Giải pháp quản lý công nghệ sản xuất chương trình truyền hình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1.1 Lý luận về đổi mới quản lý
1.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý về cơ bản và trước hết là tác động đến con người để họ thực hiện, hoàn thành những công việc được giao, để họ làm những điều bổ ích,
có lợi Điều đó đòi hỏi ta phải hiểu rõ và sâu sắc về con người như : cấu tạo thể chất, những nhu cầu, các yếu tố năng lực, các quy luật tham gia hoạt động
Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó; điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận
Có nhiều học giả thuộc các trường phái khác nhau đã đưa ra những khái niệm về quản lý theo các cách tiếp cận khác nhau:
Các Mác cho rằng quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp
"Quản lý một cách khoa học là một cuộc cách mạng tư tưởng hoàn toàn của công nhân , về trách nhiệm của công nhân đối với công việc của họ , về cách đối xử của họ đối với những người đồng sự và đối với chủ Nếu không có những cuộc cách mạng như vậy thì không thể có việc quản lý một cách khoa học", F.W.Taylor - Mỹ (1856-1915)
"Quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra",
H.Fayol - Pháp (1841-1925)
M.Weber - Đức (1864-1920), đã đưa ra một thể chế quản lý hành chính, tức là "thể chế quan liêu", có nghĩa rằng tổ chức này tiến hành công việc quản lý thông qua chức vụ hoặc chức vị
Trang 18"Quản lý là tổ chức sự hợp tác tự phát, tức là vận dụng tri thức khoa học xã hội để đảm bảo sự tận tụy của cá nhân đối với mục tiêu và hoạt động sản xuất của tổ chức", G.E.W.Mayor - úc (1880-1949)
Khái niệm quản lý theo trường phái hiện đại: Quản lý là một tập hợp những hệ thống con trong một tổ chức hiệp tác, nhằm đạt được sự nhất trí cao nhất giữa tổ chức với môi trường làm việc và giữa các hệ thống con của một tổ chức Quá trình quản lý chỉ diễn ra khi có hai yếu tố là chủ thể quản lý
và đối tượng quản lý Chủ thể quản lý là người quản lý, đối tượng quản lý bao gồm các nguồn lực, nội dung quản lý, mục tiêu, kế hoạch và điều kiện, phương tiện quản lý Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý luôn cụ thể và xác định Để có thể đạt được mục tiêu thì tổ chức phải luôn đảm bảo được sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của cả hai bên Tuy nhiên, quản lý chỉ xuất hiện khi có quyền lực của nhà lãnh đạo Với những nhà lãnh đạo khác nhau thì sẽ có những cách thức quản lý khác nhau và ảnh hưởng quyền lực lên đối tượng quản lý cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào sự phân cấp quản lý cho đối tượng quản lý
+ Chủ thể quản lý: cá nhân hoặc một tập thể người làm công tác quản
lý
+ Đối tượng bị quản lý: là những người liên quan trực tiếp dưới quyền hoặc là những vật chịu tác động trực tiếp từ con người (nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra trong một môi trường xác định)
+ Input (đầu vào của hệ thống): bao gồm các nguồn lực như con người, trang thiết bị, tài chính, thông tin
+ Output (đầu ra của hệ thống): là sản phẩm theo kế hoạch, mục tiêu
Trang 19+ Sensor (có thể coi giống như trạm quan trắc): có nhiệm vụ thu thập
các thông tin đầu ra của hệ thống
+ Phản hồi: có nhiệm vụ phản ánh những thông tin từ sensor chuyển
về cho chủ thể quản lý
+ Môi trường: các yếu tố thuộc các hệ thống nằm ngoài hệ thống được
xem xét (hệ kinh tế, hệ xã hội, hệ tư tưởng, hệ tâm lý ) và có quan hệ tương tác với hệ thống được xem xét
Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đông người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao bền lâu và không ngừng phát triển Chẳng thế mà người Nhật khẳng định rằng : " Biết cái gì, biết làm gì là quan trọng nhưng quan trọng hơn là biết quan hệ " Người Mỹ cho rằng : " Chi phí cho thiết lập, khai thông các quan hệ thường chiếm 25% đến 50% toàn bộ chi phí cho hoạt động " Trong hoạt động kinh
tế biết thiết lập, khai thông các quan hệ sản xuất cụ thể thì các yếu tố thuộc lực lượng sản xuất mới ra đời và phát triển nhanh chóng
Quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được nhưng diễn biến, thay đổi tích cực Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên
Nhiệm vụ cơ bản của quản lý :
- Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm
trong tương lai (ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau, trong 5 năm sau ) và lên các kế hoạch hành động
- Tổ chức: sử dụng một cách tối ưu các tài nguyên được yêu cầu để
thực hiện kế hoạch
Trang 20- Bố trí nhân lực: phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá
nhân cho từng công việc thích hợp
- Lãnh đạo/Động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn
để đạt được các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ chức)
- Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch (kế
hoạch có thể sẽ được thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra)
Quản lý không chỉ là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, chỉ đạo thực hiện, kiểm soát công việc, mà còn bao gồm cả việc phát huy những nổ lực của con người nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Nhận định của tác giả
Với những trường phái và khái niệm khác nhau về quản lý, trong phạm
vi của luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa:
- Quản lý là điều khiển các bên tham gia tiến hành việc xác định, lập
kế hoạch, kiểm tra giám sát nguồn lực và hoạt động nhằm đạt được một cách
có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra
- Cụ thể là: Quản lý là một chu trình nhằm giải quyết một nhiệm vụ, một mục tiêu cụ thể bằng những việc: dự báo, lập kế hoạch, xây dựng tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo, thực hiện kế hoạch và kiểm tra
1.1.2 Khái niệm đổi mới
Đổi mới là sự giao kết giữa sáng chế và sự hiểu biết sâu sắc, dẫn tới việc tạo ra các giá trị kinh tế và xã hội (Sáng kiến đổi mới quốc gia, Hoa kỳ) Đổi mới là quá trình chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới (hoặc sản phẩm hoàn thiện) để đưa ra thị trường thành quy trình, đưa vào họat động, hoặc hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra cách tiếp cận và dịch vụ xã hội mới, Nelson (1993)
Đổi mới là sự áp dụng những giải pháp mới có hiệu quả hơn trong tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh và trong mọi lĩnh vực hoạt động Đó là sự
áp dụng trong bất kỳ tổ chức nào những ý tưởng mới đối với tổ chức đó, hoặc trong sản phẩm, quá trình, dịch vụ, hoặc trong hệ thống quản lý và tiếp
Trang 21thị mà tổ chức đó đang vận hành Nguồn gốc của đổi mới là công tác nghiên cứu, sáng tạo
Đổi mới là quá trình sáng tạo, thông qua đó tri thức tạo ra giá trị gia tăng Nói cách khác, giá trị gia tăng được tạo ra thông qua quá trình biến đổi tri thức thành sản phẩm mới, quy trình mới Quá trình đổi mới là quá trình sử dụng tri thức mới, biến tri thức thành giá trị Không biến tri thức thành công nghệ mới, sản phẩm mới, quá trình mới thì không có đổi mới, không có sự phát triển, OECD (1997)
Đổi mới là sự sản xuất, thích nghi và sử dụng một cách thành công cái mới trong các môi trường kinh tế và xã hội, Ủy ban Châu Âu (2003)
Đổi mới là một quá trình biến đổi bao gồm các hoạt động khoa học, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ, đào tạo nhân lực, đầu tư tài chính, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm, Arthur J.Carty (1998)
Cách tiếp cận tân cổ điển đối về đổi mới không phải là cách tiếp cận duy nhất Một loạt các nhà kinh tế học khác như Nelson và Winter (1982), Lundvall (1992) đã chỉ trích cách tiếp cận của kinh tế học tân cổ điển Thay vào đó các nhà nghiên cứu này đã phát triển và tiếp cận vấn đề đổi mới theo phương pháp có tính định hướng hệ thống Dựa trên cách tiếp cận mang tính tiến hoá của Schumpeter, các học giả gần đây cho rằng một phương pháp tiếp cận mang tính hệ thống và động có thể giải thích vấn đề đổi mới một cách triệt để hơn Các nhà kinh tế học này cho rằng đổi mới không phải là một quá trình tuyến tính trên thị trường mà là một quá trình mang tính luỹ tích, tương tác qua lại và có tính học hỏi, đồng thời cũng có cơ chế phản hồi
Hệ thống đổi mới
Theo C Freeman, thuật ngữ “hệ thống đổi mới” được sử dụng đầu tiên bởi B.A Lundvall dưới dạng tên gọi một chương sách của ông trong Dosi et.al (1988) Tuy nhiên, lần đầu tiên thuật ngữ này được trình bày như một cách tiếp cận là trong cuốn sách của C Freeman về chính sách công nghệ và nền kinh tế Nhật Bản (C Freeman, 1987) Vào đầu những năm 90 của thế kỷ
XX, hai công trình về hệ thống đổi mới (Lundvall, 1992 và R Nelson, 1993)
Trang 22đã được xuất bản Kể từ đó, trong giới nghiên cứu, cách tiếp cận này đã được
sử dụng rộng rãi và phổ biến nhanh chóng một cách đáng kinh ngạc (C Edquist, 1997) Cách tiếp cận cũng thu hút sự chú ý của các nhà làm chính sách, những người muốn đi tìm những khuôn khổ tốt hơn để giải thích và phân tích những khác biệt giữa các nền kinh tế và tìm cách thúc đẩy đổi mới công nghệ nhanh chóng, hiệu quả hơn
Cách tiếp cận hệ thống đổi mới có một số đặc điểm sau:
Tính mở
Tính mở trước hết ở sự hoà trộn, gắn kết của các hoạt động KH&CN với các hoạt động kinh tế - xã hội Sở dĩ nó có tính mở là vì trong khuôn khổ của hệ thống đổi mới, các hoạt động R&D và các hoạt động ngoài R&D đều
có chung một mục tiêu là tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới, đồng thời nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành/quốc gia
Ngoài ra, tính mở còn được thể hiện ở sự hoà nhập, gắn kết giữa các năng lực nghiên cứu, triển khai công nghệ trong nước với các năng lực đổi mới ngoài nước Sự tham gia của các năng lực đổi mới ngoài nước vào quá trình tích luỹ và nâng cao năng lực đổi mới trong nước là một quá trình phức tạp và đa chiều Một mặt, thông qua cạnh tranh trên thị trường quốc tế, những đổi mới sản phẩm của một hãng, một quốc gia chỉ thống trị thị trường trong một thời gian nhất định Mặt khác cũng không kém phần quan trọng là thông qua cạnh tranh, sản phẩm của một hãng, một quốc gia vốn đang thống trị thị trường lại bị những đổi mới được tiến hành tại các hãng khác, quốc gia khác vượt qua Chính sự thất bại trong đổi mới mà thị trường bên ngoài áp đặt cho một hãng, một quốc gia lại là một nguồn kích thích đổi mới, thậm chí tạo nên một xung lực đổi mới quan trọng
Tính mở trong hệ thống đổi mới còn thể hiện ở xu thế nhất thể hoá
giữa KH&CN với sản xuất, kinh tế và xã hội Khái niệm nền kinh tế dựa trên
tri thức là một bằng chứng cho thấy, KH&CN đã thâm nhập và trở thành nền tảng, cơ sở và trụ cột của nền kinh tế cũng như của xã hội trong tương lai Bằng chứng tiếp theo thể hiện ở xu hướng mở rộng khái niệm công nghệ
Trang 23Nếu như ban đầu, công nghệ chỉ được hiểu theo nghĩa chuyên môn kỹ thuật thuần tuý, hạn hẹp ở phần cứng của sản xuất (máy móc, thiết bị) thì giờ đây ngày càng được mở rộng, được đưa vào thêm các yếu tố về tri thức khoa học, quy trình sản xuất, thậm chí cả các sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm Có thể nói, càng ngày khi nền kinh tế dựa trên tri thức hình thành, người ta càng khó phân biệt ranh giới đâu là khoa học, đâu là công nghệ và đâu là các quá trình sản xuất, đâu là tiềm lực KH&CN và đâu là tiềm lực sản xuất, tiềm lực kinh
tế Nhà doanh nghiệp giờ đây không chỉ thuần tuý là một nhà tài chính, chỉ biết tính toán lỗ lãi, mà phải đồng thời là một nhà quản lý am hiểu về công nghệ, cạnh tranh, đổi mới, văn hoá và môi trường Tóm lại nhà doanh nghiệp phải là một con người có đủ các năng lực cần thiết để đổi mới
Tính hệ thống
Đúng như tên gọi của nó, đặc điểm mang tính bản chất nhất của cách tiếp cận hệ thống đổi mới là ở tính hệ thống Chú trọng các liên kết là điểm mấu chốt phân biệt cách tiếp cận hệ thống đổi mới so với các cách tiếp cận khác, chẳng hạn như cách tiếp cận xây dựng tiềm lực KH&CN được áp dụng phổ biến trong các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Cách tiếp cận hệ thống đổi mới tập trung vào các luồng luân chuyển tri thức trong khuôn khổ của “nền kinh tế tri thức” - nền kinh tế dựa trực tiếp vào quá trình sáng tạo, phổ biến, sử dụng tri thức và thông tin Theo quan niệm này, các hoạt động kinh tế ngày càng trở nên thâm dụng tri thức, gia tăng các ngành công nghiệp công nghệ cao và nhu cầu ngày càng tăng về lao động có trình độ, chuyên nghiệp Cách tiếp cận hệ thống đổi mới phản ánh vai trò kinh tế của tri thức, theo đó năng lực phân phối tri thức được xem là yếu tố quyết định đối với tăng trưởng và cạnh tranh Báo cáo 1998/99 của
Ngân hàng thế giới về Tri thức cho phát triển đã nhận định rằng, trong quá trình cạnh tranh và phân hoá, “nguồn vốn và các nguồn lực khác ngày càng
chảy sang các nước có cơ sở tri thức mạnh hơn”,Báo cáo về tình hình phát
triển thế giới (1998), Tri thức cho phát triển, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội
Trang 24Trong điều kiện nền kinh tế thâm dụng tài nguyên và lao động giản đơn như Việt Nam hiện nay thì cách tiếp cận hệ thống đổi mới trở nên thích hợp để hình thành những cơ sở ban đầu của một nền kinh tế tri thức
Trong mô hình KH&CN đẩy, các tổ chức R&D chuyên trách tiến hành các hoạt động R&D và là động lực của các hệ thống đổi mới Cách tiếp cận
hệ thống đổi mới như trên đã trình bày thực hiện một sự đảo ngược vị trí, lấy doanh nghiệp làm động lực lôi kéo các tổ chức R&D, làm trung tâm liên kết
hệ thống đổi mới, gắn kết các hoạt động R&D với hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là gắn với các nhu cầu của thị trường Đối tượng trung tâm của hệ thống đổi mới là các doanh nghiệp Vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong các hệ thống đổi mới được mô tả thông qua mô hình mạng lưới
và liên kết hệ thống với phạm vi rộng hơn của các yếu tố tham gia vào quá trình đổi mới ngoài KH&CN
Mô hình mạng lưới và liên kết hệ thống mô tả hệ thống các yếu tố liên quan đến đổi mới công nghệ nhưng đặt doanh nghiệp ở vị trí trung tâm Doanh nghiệp là nơi tập hợp, đầu mối của các liên kết diễn ra trong quá trình phát triển công nghệ Quá trình phát triển một công nghệ diễn ra do nhu cầu cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường sản phẩm, dịch vụ và có thể được khởi đầu từ rất nhiều hoạt động khác nhau như: Nghiên cứu triển khai công nghệ trong phòng thí nghiệm (có thể là của doanh nghiệp hay trường đại học, hay các viện nghiên cứu của chính phủ); hoạt động cải tiến công nghệ dưới dạng vừa học, vừa làm và đổi mới công nghệ trong quá trình sử dụng công nghệ tại doanh nghiệp; quan hệ với các nhà cung cấp, các khách hàng và liên minh chiến lược với các doanh nghiệp khác Sẽ là sai lầm nếu quan niệm phát triển công nghệ như một dây chuyền có thứ tự đi từ các ý tưởng, tiến hành nghiên cứu cơ bản, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử rồi thương mại hoá công nghệ mới Hoạt động phát triển công nghệ có thể diễn
ra rất phổ biến và linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc, không nhất thiết chỉ trong các phòng thí nghiệm, xưởng thực nghiệm
Trang 25Bản chất của mô hình là liên kết toàn hệ thống, lấy doanh nghiệp làm chủ thể chính và là trung tâm liên kết các yếu tố của hệ thống đổi mới Các doanh nghiệp được đặt trong một hệ thống bao gồm các nhà cung cấp đầu vào và đầu ra là các khách hàng thường xuyên chịu sự tác động của các yếu
tố cạnh tranh như các đối thủ, các bạn hàng Trong quá trình đổi mới công nghệ/sản phẩm, doanh nghiệp thường xuyên sử dụng các thông tin patent, hợp tác với các trường đại học, phòng thí nghiệm để thực thi các ý tưởng đổi mới sản phẩm và dịch vụ Đồng thời, chính bản thân các đối tác nêu trên cũng thường xuyên hướng vào phục vụ các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển Tất cả tạo thành một hệ thống bao gồm các tác nhân và các mối liên kết lấy doanh nghiệp làm trung tâm Các hoạt động R&D được gắn kết với các nhu cầu sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp và thông qua doanh nghiệp
Với cách tiếp cận này, không một hoạt động nào, yếu tố nào, tổ chức nào, một khâu nào trong chuỗi các hoạt động đổi mới được tiến hành riêng
rẽ, độc lập với doanh nghiệp Tất cả đều được tiến hành song song, trong sự liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp
Với những đặc điểm nêu trên (tính mở, tính hệ thống và vai trò trung tâm liên kết của doanh nghiệp), cách tiếp cận hệ thống đổi mới bao quát được tổng thể các yếu tố, các loại hoạt động cùng với các mối liên kết bên trong, bên ngoài của một hệ thống chỉnh thể trong quá trình đổi mới Quản lý các hoạt động đổi mới nghĩa là phải quản lý rất nhiều các yếu tố, các loại hoạt động, các tổ chức, thiết chế và chính sách cùng với mạng lưới vô cùng phức tạp của các mối liên hệ, các dòng di chuyển tri thức Như vậy, thay vì chú trọng các yếu tố nguồn lực, tổ chức, cách tiếp cận hệ thống đổi mới chú trọng các mối liên kết giữa các nguồn lực và các thành tố của hệ thống, chú trọng các sản phẩm được đổi mới ở đầu ra hơn các nguồn lực được cung cấp
ở đầu vào, chú trọng nhu cầu động, linh hoạt hơn năng lực cung cấp tĩnh, lấy doanh nghiệp chứ không phải là các tổ chức R&D làm trung tâm của hệ thống
Trang 26Hệ thống đổi mới quốc gia
Theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới, quản lý nhà nước có vai trò không thể thiếu không những trong cơ chế quản lý kỹ thuật mà còn trong cơ chế quản lý hệ thống đổi mới quốc gia và cả trong thúc đẩy thị trường công nghệ
Chức năng quản lý hành chính của cơ quan công quyền đối với các hoạt động phát triển công nghệ: Bất cứ một nhà nước nào cũng có chức năng
trước tiên là cơ quan công quyền đối với các hoạt động của các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Đối với hoạt động phát triển công nghệ và hoạt động đổi mới cũng vậy, vai trò quản lý hành chính của nhà nước phải là chức năng đầu tiên Tuy nhiên, sự phân công thực hiện chức năng này như thế nào giữa nhiều cơ quan công quyền khác nhau và những nội dung cụ thể của chức năng này đến đâu là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, tham khảo thêm kinh nghiệm nước ngoài và đặc biệt phải tổng kết thực tiễn trong nước
Chức năng định hướng vĩ mô đối với quá trình đổi mới và phát triển công nghệ thông qua hoạch định chiến lược quốc gia về đổi mới, tập hợp các
ưu tiên quốc gia về công nghệ: Mặc dù quá trình toàn cầu hoá kinh tế ngày
càng phổ biến, vai trò của ranh giới quốc gia trong các hệ thống đổi mới vẫn
là một thực tế không (và chưa) thể phủ nhận Với tính chất như là một trong những điều kiện khung cho các hoạt động đổi mới trong nước, một chiến lược quốc gia về đổi mới (chứ không chỉ là chiến lược quốc gia về KH&CN) định hướng các hoạt động đổi mới trong nước theo thế mạnh tương đối và những đặc điểm riêng về thể chế, thiết chế quốc gia, nhất là vị trí phù hợp trong phân công quốc tế sẽ phải là công cụ quản lý đổi mới chủ yếu mà nhà nước, chính phủ và bộ quản lý nhà nước về phát triển công nghệ phải áp dụng Hiện tại, 2 công cụ định hướng chủ yếu là kế hoạch (5 năm và hàng năm), danh mục công nghệ ưu tiên và chương trình KH&CN cấp nhà nước, cần phải đổi mới theo hướng áp dụng: Chiến lược đổi mới (không chỉ bao
Trang 27gồm KH&CN) quốc gia và xây dựng lộ trình đổi mới của các ngành gắn với chiến lược cạnh tranh và đổi mới của mỗi ngành
Chức năng hỗ trợ và thúc đẩy liên kết giữa các tác nhân, các yếu tố tham gia vào quá trình đổi mới: Xuất phát từ nhận thức mới về vai trò của
các mạng lưới liên kết như là động lực của phát triển kinh tế và đổi mới, nhà nước phải nắm lấy động lực này để vận dụng như là công cụ quản lý trong phát triển kinh tế Sở dĩ như vậy là do sản xuất ngày càng thâm dụng tri thức hơn, ngày càng có nhiều tổ chức tham gia vào quá trình tạo ra tri thức mới, các hoạt động kinh tế ngày càng trở nên bất ổn Hình thành và mở rộng các kiên kết trong các hệ thống đổi mới như liên kết giữa các tổ chức R&D với công nghiệp, giáo dục - đào tạo, kinh doanh, giữa cơ chế thị trường và phi thị trường, giữa các tổ chức R&D trong nước với ngoài nước, giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ, giữa các doanh nghiệp trong nước với ngoài nước Đầu tư tới ngưỡng và duy trì dài hạn để thúc đẩy hình thành những mạng liên kết tự duy trì và phát triển bền vững Phát triển công nghệ chiến lược là vùng giáp ranh, nằm ngoài lĩnh vực nghiên cứu cơ bản - vốn thuộc chức năng của nhà nước và cũng không thuộc phạm vi R&D ứng dụng
- vốn là quan tâm của các doanh nghiệp Phát triển các công nghệ chiến lược
có tầm quan trọng cốt yếu cho lợi thế cạnh tranh dài hạn và do vậy phải được quan tâm bởi cả hai phía: Chính phủ và doanh nghiệp Ngoài ra, trong nền kinh tế toàn cầu hoá, phát triển công nghệ cũng mang tính chất toàn cầu Các
tổ chức công và tư nhân cần phải phối hợp với nhau để cùng giải quyết những vấn đề công nghệ mang tính giao thoa và liên ngành
Chức năng điều phối các liên kết mạng: Phối hợp các chính sách khác
nhau, KH&CN, công nghiệp, thương mại, tài chính, ngân hàng, tín dụng, môi trường, giáo dục - đào tạo trong khuôn khổ chung của chính sách đổi mới Phối hợp các chương trình khác nhau trong một nước, và với các chương trình quốc tế
Chức năng điều chỉnh: Điều chỉnh những khuyết tật thị trường thông
qua các thiết chế chính sách; khuyết tật của hệ thống các thứ bậc, các cấp
Trang 28quản lý thông qua các thiết chế xã hội dân sự như văn hoá truyền thống, phong tục, tập quán, đạo đức, lối sống Ví dụ như thúc đẩy hình thành văn hoá liên kết, hợp tác mạng lưới nhưng không cản trở cạnh tranh, duy trì sự cân bằng giữa liên kết mạng và cạnh tranh, thiết kế các chương trình đổi mới phù hợp với bối cảnh văn hoá, xã hội của đất nước
Chức năng đảm bảo hạ tầng cơ sở KH&CN: Đảm bảo hạ tầng cơ sở
cần thiết dùng chung cho các hoạt động đổi mới như cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, nhất là các mạng thông tin KH&CN toàn quốc, các phòng thí nghiệm trọng điểm có thể dùng chung trong phạm vi quốc gia, các tiêu chuẩn
kỹ thuật, hồ sơ các sáng chế, phát minh
Nhận định của tác giả
Vận dụng vào vấn đề nghiên cứu “Đổi mới’ là thay cách nghĩ, cách làm cũ lạc hậu, lỗi thời, không đáp ứng được nhu cầu phát triển, bằng cách
nghĩ, cách làm khác, tiến bộ hơn, hợp với quy luật của sự phát triển
1.1.3 Khái niệm đổi mới quản lý
Trước đây người ta thường quan niệm rằng, hiệu quả của công tác quản lý được quyết định chủ yếu bởi vốn sống cá nhân và những kinh nghiệm thực tiễn của bản thân người quản lý Đây là sự nhận thức mang nặng tính kinh nghiệm chủ nghĩa, không phù hợp với xu thế đổi mới của cách mạng đặt ra trong khoa học quản lý
Đổi mới quản lý trước hết cần được thể hiện ở sự nhận thức một cách
rõ ràng về khái niệm đổi mới và khái niệm quản lý như đã nêu ở phần trên
Từ đó ta có thể hiểu rộng thêm là:
Đổi mới quản lý được thể hiện ở chỗ: người làm công tác quản lý phải biết vận dụng một cách khéo léo hệ thống các phương pháp quản lý hành chánh, kinh tế, tâm lý xã hội … để tổ chức các hoạt động của bộ phận, các hành động cá nhân thành một hoạt động chung thống nhất; phải đánh giá đúng được khả năng lao động cơ bắp và trí óc của các thành viên, đồng thời biết khai thác triệt để những tiềm năng sẵn có của họ nhằm đạt được hiệu quả cao trong quá trình tổ chức các hoạt động
Trang 29Quản lý là loại lao động trí óc căng thẳng, nó không nhằm vào sản xuất trực tiếp ra của cải vật chất cho xã hội, mà nhằm quản lý lãnh đạo những người làm ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Bởi thế đổi mới quản
lý không thể một sớm một chiều mà thành công được, nó vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Tiếp cận các thành tựu khoa học hiện đại để phát huy các quy luật khách quan chi phối các sự vật và hiện tượng trong một đơn
vị, tập thể nhất định, phải có sự hiểu biết rộng rãi về các ngành khoa học có liên quan đến con người và các ngành khoa học khác
Đổi mới quản lý về bản chất, đó là quá trình thay thế các biện pháp quản lý cũ bằng các biện pháp quản lý mới, trên cơ sở các nguyên tắc quản lý chung, có sự vận dụng cho thích hợp với môi trường mà tổ chức đang hoạt động, cơ chế này tác động lên nguồn lực KH&CN trong các lĩnh vực cụ thể:
- Phát triển nguồn lực KH&CN
- Sử dụng nguồn lực KH&CN
- Tạo môi trường thuận lợi cho nhân lực KH&CN hoạt động Đổi mới quản lý nhưng không tách rời nó với các nguyên tắc quản lý chung
Đổi mới quản lý trên cơ sở tuân thủ các quy định của Nhà nước về quản lý nguồn lực, nhưng có tính đến đặc điểm cụ thể của môi trường mà tổ chức đang hoạt động
Đổi mới quản lý để phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của đội ngũ nhân lực KH&CN nhằm mục tiêu chung: phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
Nhận định của tác giả
Đổi mới quản lý và quá trình tác động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được kế hoạch đề ra Đổi mới quản lý luôn được ra trong mối quan hệ mật thiết với các thành tố khác của quá trình quản lý : Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp – Phương tiện – Hình thức – Kết quả
Đổi mới quản lý là nội dung cốt lõi của trong hệ thống quản lý Nói đến đổi mới quản lý là nói đến việc thực hiện đồng bộ các hoạt động quản lý
Trang 30nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, môi trường làm việc, cơ chế hoạt động, tổ chức và điều hành, kiểm tra và đánh giá
1.2 Lý luận về công nghệ
1.2.1 Khái niệm công nghệ
Công nghệ là phương pháp chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố :
- Thông tin về phương pháp
- Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hoá
- Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao
(Ngân hàng Thế giới, 1985)
Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy, nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hoá, được thể hiện ở một trong những dạng sau :
- Tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với quyết định đầu tư
- Nhân lực, thông thường là có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình
độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin
- Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền
( UNCTAD, 1972)
Theo định nghĩa của Sharif cho rằng “ Công nghệ bao gồm khả năng
sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội
và văn hóa” ( Công nghệ và phát triển thị trường công nghệ ở Việt nam, Bộ
khoa học và công nghệ, 2003 ) Nói cụ thể hơn, công nghệ là một cơ thể sống bao gồm các thành phần :
- Vật thể ( Technoware ) : vật liệu, công cụ, thiết bị kỹ thuật
Trang 31- Con người ( Humanware ) : kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm
- Thông tin ( Infoware ) : tài liệu về các bí quyết, qui trình,…
- Tổ chức ( Organware ) : cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, dịch vụ tư vấn, cơ sở luật pháp,…
Công nghệ được hiểu một cách khái quát là “ tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các
nguồn lực thành sản phẩm”, Luật Khoa học và Công nghệ (2000), tr.6
Tùy theo mục đích, người ta phân loại các công nghệ như sau:
- Theo tính chất: Công nghệ sản xuất, công nghệ dịch vụ, công nghệ
thông tin, công nghệ đào tạo
- Theo ngành nghề: Công nghệ công nghiệp, nông nghiệp; công nghệ
sản xuất hàng tiêu dùng, công nghệ vật liệu,
- Theo đặc tính công nghệ: Công nghệ đơn chiếc, công nghệ hàng loạt,
công nghệ liên tục
- Theo sản phẩm: Phân theo sản phẩm mà công nghệ sản xuất ra ; Ví
dụ: công nghệ xi măng, năng lượng, ô tô, xe đạp,
- Theo mức độ hiện đại: Cổ điển, trung gian, tiên tiến
- Theo mục tiêu: Dẫn dắt, thúc đẩy, phát triển
- Theo sự ổn định công nghệ: Công nghệ cứng, công nghệ mềm
Nhận định của tác giả
Từ các định nghĩa trên ta có thể kết luận : Công nghệ bao gồm một phạm vi rộng lớn, công nghệ là các sản phẩm, là quá trình sản xuất, là sự sở hữu các bí quyết, các tri thức và phát minh sáng chế, là sự triển khai thông tin, là sự đảm bảo của các nhà sản xuất hàng hóa đối với khách hàng của họ, công nghệ là con người cùng với những khả năng và kỹ năng làm cái gì đó,
là một dự án, và công nghệ mở đường cho lợi nhuận, phải sinh ra lợi nhuận
để bù lại những nỗ lực và những khoản vốn đã đầu tư của mình
1.2.2 Các đặc điểm của công nghệ
Trong nền kinh tế thị trường, công nghệ là một loại hàng hoá nhưng là một loại hàng hoá đặc biệt Do là một sản phẩm đặc biệt nên ngoài những
Trang 32đặc trưng như những sản phẩm thông thường, công nghệ có những đặc trưng
mà chỉ công nghệ (sản sinh ra sản phẩm) mới có
Các đặc điểm của công nghệ cần được nắm vững là: chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ, độ phức tạp (mức độ tinh vi) của các thành phần công nghệ, độ hiện đại của các thành phần công nghệ và chu trình sống của công nghệ
Chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ
- Phần kỹ thuật:
- Chuỗi phát triển kỹ năng công nghệ
- Chuỗi phát triển của thông tin công nghệ
- Chuỗi phát triển của phần tổ chức
Mức độ phức tạp (độ tinh vi) của các thành phần công nghệ
Mức độ phức tạp của phần kỹ thuật được đánh giá theo các cấp như sau:
- Các phương tiện thủ công sử dụng năng lượng cơ bắp con người hay súc vật là chủ yếu
- Các phương tiện có động lực, nguồn năng lượng là các loại động cơ nhiệt, điện thay thế cơ bắp
- Các phương tiện vạn năng, có thể thực hiện hơn hai công việc
- Các phương tiện chuyên dùng, chỉ thực hiện một hay một phần công việc, do đó sản phẩm có trình độ chính xác cao
- Các phương tiện tự động, có thể thực hiện một dãy hay toàn bộ các thao tác không cần tác động trực tiếp của con người
- Các phương tiện máy tính hoá, điều khiển quá trình làm việc bằng máy tính: thay đổi tốc độ; tìm vị trí và hướng theo tín hiệu; đo, nhận ra và lựa chọn một tập hợp, một thao tác thích hợp
- Các phương tiện tích hợp: thao tác toàn bộ nhờ máy, được tích hợp nhờ sự trợ giúp của máy tính CIM (Computer Integrated Manufacturing)
Mức độ phức tạp của kỹ năng con người Theo mức độ cao dần, kỹ
năng của con người được sắp xếp theo các cấp sau:
Trang 33- Khả năng cải tiến
- Khả năng đổi mới
Mức độ phức tạp của thông tin Độ phức tạp của phần thông tin được
đánh giá theo các mức sau:
- Dữ liệu thông báo (báo hiệu) thể hiện bằng hình ảnh, tham số cơ bản (ví dụ thông số ghi trên nhãn thiết bị…)
- Dữ liệu mô tả, biểu thị các nguyên tắc cơ bản về cách sử dụng hay phương thức vận hành của phần kỹ thuật (VD: các catalog kèm theo thiết bị)
- Dữ liệu để lắp đặt, gồm các dữ liệu về đặc tính của thiết bị, nguyên liệu về đặc tính của thiết bị, nguyên vật liệu, chế tạo chi tiết
- Dữ liệu để sử dụng, nằm trong các tài liệu kèm theo thiết bị giúp cho người sử dụng thiết bị một cách hiệu quả và an toàn
- Dữ liệu để thiết kế, gồm các tài liệu thiết kế chế tạo
- Dữ liệu để mở rộng, gồm các tài liệu cho phép tiến hành những cải tiến, thay thế các linh kiện hay mở rộng tính năng thiết bị
- Dữ liệu để đánh giá, là các thông tin mới nhất về các thành phần công nghệ, các xu thế phát triển và các thành tựu liên quan ở phạm vi thế giới
Độ hiện đại của các thành phần công nghệ
- Độ hiện đại của phần kỹ thuật
- Độ hiện đại của phần con người
- Độ hiện đại của phần thông tin
- Độ hiện đại của phần tổ chức
Trang 34Chu trình sống của công nghệ
Sự phát triển của một công nghệ có qui luật biến đổi theo thời gian Quản lý công nghệ đòi hỏi có sự hiểu biết sâu sắc về chu trình sống của công nghệ, đặc biệt là mối quan hệ của chu trình sống công nghệ với sự tăng trưởng thị trường của nó Để hiểu rõ chu trình sống công nghệ cần đề cập đến hai đặc trưng khác có liên quan, đó là giới hạn của tiến bộ công nghệ và chu trình sống của sản phẩm
1.2.3 Quản lý công nghệ
Quản lý công nghệ là tiến trình liên kết các lĩnh vực khác nhau nhằm hoạch định, phát triển, hoạch định, giám sát và kiểm soát năng lực công nghệ
để hình thành và thực thi các mục tiêu chiến lược của tổ chức
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công nghệ : quy trình sản xuất và tác nghiệp, thiết kế hệ thống kinh tế và kỹ thuật, hành vi tổ và nhóm, kinh nghiệm quản lý và lịch sữ tổ chức, tiến trình ra quyết định, các kỹ thuật khoa học quản lý, các hệ thống tài chính, các hoạt động kỹ thuật
Năm lý do phải quan tâm về quản lý công nghệ :
a Bước tiến nhanh chóng về thay đổi công nghệ đòi hỏi cách tiếp cận
đa lĩnh vực, nếu như phát triển kinh tế diễn ra theo hướng hiệu quả và hữu hiệu để giành các lợi thế về mặt công nghệ
b Bước tiến nhanh chóng về sự phát triển công nghệ và mức độ tin vi ngày càng cao của người tiêu dùng làm cho chu kỳ sống của sản phẩm trở nên ngắn hơn Yếu tố này đòi hỏi tổ chức đi tiên phong phải có quản lý công nghệ phù hợp, hợp lý
c Nhu cầu rút ngắn thời gian phát triển sản phẩm và phát triển tổ chức linh hoạt hơn Khoảng thời gian từ ý tưởng đến thương mại hoá phải được rút ngằn bằng sự phát triển của công nghệ mới và công nghệ thay thế
d Nhu cầu cạnh tranh ngày càng gia tăng đòi hỏi các tổ chức phải gia tăng sức cạnh tranh bằng cách vận dụng công nghệ mới
e Khi công nghệ thay đổi, các công cụ quản lý phải thay đổi theo, và tiến trình lựa chọn công cụ mới phải hợp lý
Trang 35Để quản lý công nghệ có hiệu quả nhà quản trị cần phải thực hiện một
số công việc sau :
* Phân tích cấu trúc ngành cho cả nội địa lẫn quốc tế
* Hiểu được năng lực của tổ chức mình và đối thủ cạnh tranh
* Thực hiện các phân tích tài chính đối với sản phẩm và tổ chức
* Dự báo về các thay đổi trong tương lai
Nhận định của tác giả
Quản lý công nghệ là lĩnh vực kiến thức liên quan đến việc xây dựng
và thực hiện các chính sách để giải quyết vấn đề phát triển và sử dụng công nghệ, sự tác động của công nghệ đến xã hội, tổ chức, cá nhân và môi trường Quản lý công nghệ nhằm thúc đẩy đổi mới tạo nên tăng trưởng kinh tế và khuyến khích sử dụng công nghệ một cách hợp lý vì lợi ích con người Ngoài
ra quản lý công nghệ liên kết những lĩnh vực kỹ thuật, khoa học và quản trị
để hoạch định, phát triển và thực hiện năng lực công nghệ nhằm vạch ra và hoàn thành mục tiêu chiến lược đề ra
1.3 Lý luận về chương trình truyền hình
1.3.1 Khái niệm chương trình truyền hình
Trong sự phát triển của nền văn hóa thế giới thế kỷ 20 và đầu thế kỷ
21 truyền hình là một hiện tượng xã hội, nó ra đời để đáp ứng nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người, tuy ra đời chậm so với các hình thức xã hội khác, nhưng truyền hình đã nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực xung kích bởi khả năng phản ánh hiện thực của nó Các thông tin trên truyền hình vừa có tính xã hội cao vừa có tính tư tưởng và khuynh hướng rõ rệt Đứng trước một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, truyền hình có những cách thức riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu không giống nhau Chính vì vậy truyền hình trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được Truyền hình là một phương tiện vô cùng sắc bén của thông tin đại chúng Hàng ngày, hàng giờ truyền
Trang 36hình mang đến cho nhân dân toàn thế giới những thông tin hết sức bổ ích và hấp dẫn, ngày nay nó là món ăn tinh thần không thể thiếu được của mọi người
Chương trình truyền hình có được khả năng là do những đặc điểm về bản chất vật lý của nó Những đặc điểm ấy quyết định tính chất đặc thù của truyền hình với tư cách là phương tiện tạo ra và chuyển tải thông tin Là một dạng thông tin mà giá trị của nó nằm ở thông tin được lưu trong vật ghi (DVD, băng từ, sách, báo, ổ cứng, server … ) Các thông tin này có thể được tiếp nhận trực tiếp bởi con người ( thông qua đọc, xem,… ), hay thông qua sự trợ giúp của thiết bị (máy tính, TV, …) Do tính chất thông tin là không sờ thấy, không nhìn thấy nên việc giới thiệu sản phẩm đến khách hàng khó khăn hơn, thông thường phải thông qua các dịch vụ thông tin khác như quảng cáo, tạo dư luận …
Sản phẩm chương trình truyền hình cũng có những đặc thù khác biệt
so với các loại hàng hóa thông thường khác, sản phẩm này được thể hiện dưới dạng các kinh nghiệm, tri thức kết tinh thành công thức, quy luật, quy trình công nghệ … nghĩa là chúng có thể không tồn tại ở dạng hữu hình như các hàng hóa thông thường khác Các hao phí lao động thiết bị kỹ thuật ,vật
tư ….để tạo ra sản phẩm chương trình truyền hình cũng khó đo lường một cánh trực tiếp đầy đủ và cụ thể để có thể xác định giá cả sản phẩm một cách chính xác như đối với xác định giá cả của các loại sản phẩm hữu hình khác
Bảng 1.1 Tính đặc thù của Chương trình truyền hình
Chương trình truyền hình
Tính chất hiện hình trên màn ảnh
Tính chất trực tiếp các
sự kiện đang diễn ra hoặc ghi lại thông tin Khả năng hiện diện
ở khắp mọi nơi
Trang 37Nhận định của tác giả
Nhờ khả năng hiện hình trên màn ảnh, hình ảnh truyền hình được cảm thụ trực tiếp bằng cảm giác, vì vậy tiếp cận được số đông công chúng rộng rãi nhất Tính chất trực tiếp tạo cho người xem một quan điểm tâm lý về
“hiêu ứng hiện diện”, về sự tin cậy đặc biệt đối với chương trình truyền hình nói chung Nhờ có quan điểm đó mà ngay cả chương trình truyền hình được ghi sẵn từ trước cũng thường hay được nhiều khán giả xem là thông tin tuyệt đối xác thực
1.3.2 Đặc điểm của chương trình truyền hình
Chương trình truyền hình là một ngôn ngữ tổng hợp, việc sản xuất ra chương trình truyền hình đòi hỏi một quy trình công nghệ không kém phần phức tạp với nhiều công đoạn gắn với nhiều thiết bị kỹ thuật khác nhau, nhiều người với nghề nghiệp khác nhau cùng tham dự Vì thế chương trình truyền hình là kết quả lao động của một tập thể Ngày nay tuy công nghệ truyền hình phát triển, một số biên tập viên có thể xử lý từ khâu đầu đến khâu cuối để hoàn thành tác phẩm truyền hình thì dấu ấn của tính tập thể vẫn còn tồn tại Tính tập thể ấy cũng là một điều kiện bảo đảm cho sự khách quan của chương trình truyền hình
Thông thường một nhóm (êkíp) sản xuất chương trình gồm các biên tập viên, đạo diễn dàn dựng, các kỹ sư và kỹ thuật viên phụ trách âm thanh, ánh sáng, kỹ thuật hình ảnh, dựng hình, tiếng động, họa sĩ, hóa trang, dựng cảnh, đạo diễn, quay phim, đồ họa vi tính… Đối với các tác phẩm có dung lượng nhỏ đôi khi nhóm làm việc chỉ cần có một biên tập viên và kỹ thuật viên (quay phim hoặc kỹ thuật) Còn đối với các chương trình có dung lượng lớn, quy mô, diễn ra trong phạm vi rộng thì người tổng đạo diễn có vai trò quyết định họ phải làm việc với nhiều nhóm, được chuyên môn hóa, phân công lao động rõ ràng Tính chất công việc sẽ là yếu tố quyết định vai trò, vị trí và tầm quan trọng của từng người trong nhóm làm việc chung Việc phối hợp, điều hòa hoạt động giữa các thành viên là một điều kiện đảm bảo hiệu
Trang 38quả làm việc của nhóm tổ chức sản xuất chương trình, vai trò này thuộc về biên tập viên
Ngôn ngữ thể hiện của truyền hình là hình ảnh và âm thanh trong đó hình ảnh là yếu tố quan trọng có vai trò quyết định, nên tư duy bằng hình ảnh trở thành đặc trưng trong tư duy sáng tạo hình, người sản xuất phải biết phát hiện, khai thác và sử dụng hình ảnh để kể về sự kiện và thể hiện được những
ý tưởng của mình liên quan đến sự kiện Do đó để đạt được ý tưởng trên cần đến sự phối hợp chặt chẽ sáng tạo giữa biên tập và khâu sản xuất chương trình (nội dung và kỹ thuật thể hiện) chính đạo diễn là người tư duy về hình ảnh, phải có ý đồ thể hiện hình ảnh, dùng hình ảnh để diễn đạt các ý tưởng Điều này phải được thể hiện kỹ ở khâu kịch bản và chính nó là chỗ dựa cho
sự phối hợp chung, quy tụ ý chí thống nhất trong ê kíp tổ chức sản xuất chương trình
1.3.3 Công nghệ sản xuất chương trình truyền hình
Bao gồm nhiều giai đoạn như là chuẩn bị, tiền kỳ,hậu kỳ, lưu trữ và phân phối
- Giai đoạn chuẩn bị : đây là bước khởi đầu để thực hiện một chương trình truyền hình Trước tiên bộ phận nội dung đề ra ý tưởng của chương trình, tiếp đến là công việc sọan thảo kịch bản chương trình Đây là giai đoạn rất quan trọng và quyết định phần lớn sự thành công của chương trình Trong giai đoạn này các kế hoạch về tài chính, thiết bị kỹ thuật, nhân sự kỹ thuật, thiết kế sân khấu, nhóm thực hiện chương trình như đạo diễn, quay phim, diễn viên … cũng được thực hiện hoàn chỉnh
- Giai đoạn tiền kỳ : đây là giai đoạn nhóm thực hiện chương trình bắt đầu thực hiện các ý tưởng được đề ra ở giai đoạn chuẩn bị Sản phẩm thu được là những hình ảnh, âm thanh, hiệu quả ánh sáng … nhưng vẫn ở mức là chưa được hoàn chỉnh về nội dung cũng như kỹ thuật Để ra những sản phẩm này cần có các thiết bị kỹ thuật (phần cứng) và trình độ nghiệp vụ của từng
cá nhân trong nhóm thực hiện (phần mềm)
Trang 39- Giai đoạn hậu kỳ : đây là giai đoạn quan trọng quyết định thành công cho sản phẩm Giai đoạn này cũng cần phần cứng và phần mềm như giai đoạn tiền kỳ, nhưng ở đây được đòi hỏi ở mức cao hơn và phần cứng có phần phức tạp hơn Giai đoạn này là sắp xếp sản phẩm thu được ở giai đoạn tiền
kỳ thành một chuỗi hoàn chỉnh hợp logic như ý tưởng đề ra ban đầu trong giai đoạn chuẩn bị
- Giai đoạn lưu trữ và phân phối : sản phẩm sau khi sản xuất xong sẽ được lưu trữ dưới nhiều dạng khác nhau tuỳ theo tính chất của từng chương trình Có chương trình cần phải lưu trữ dài hạn, có chương trình chỉ cần lưu trữ trong thời gian ngắn, tuỳ theo tính chất từng chương trình mà phần cứng lưu trữ theo sau cũng có những khác biệt, phần mềm của giai đoạn có những
kỹ năng khác các giai đoạn trước Phân phối là giai đoạn quyết định thành công của sản phẩm, giai đoạn này được xem là thành công khi sản phẩm được truyền tới số lượng khán giả nhiều nhất với chất lượng tốt nhất và được chấp nhận Ỏ đây công nghệ phát sóng được tận dụng tối đa như : truyền hình số, truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh, truyền hình Internet, …
Bảng 1.2 Tổng quát về dây chuyền công nghệ truyền hình
Giai đọan sản xuất
Chuẩn bị
(R&D)
Giai đọan tiền kỳ Giai đọan hậu kỳ phân phốiGiai đọan
Dây chuyền thiết bị
Giai đọan phân phối
Dây chuyền thiết bị Sản phẩm
Trang 40Bảng 1.3 Quy trình sản xuất chương trình truyền hình
Giai đoạn sản xuất
Giai đoạn chuẩn bị (Planning):
- Thiết bị kỹ thuật (camera, máy ghi băng, hệ thống thiết bị hỗ trợ ghi hình, hệ thống truyền tin - uplink, máy tính )
- Phim trường, hiện trường tác nghiệp…
Giai đoạn hậu kỳ (Ingest & Edit):
- Nhóm tổ chức thực hiện (đạo diễn, biên tập, thư kí, diễn viên đọc tiếng, kỹ thuật dựng …)
- Thiết bị kỹ thuật (hệ thống nhận tin - downlink, hệ thống dựng hình ảnh, âm thanh, kỹ xảo, phần mềm chuyên dụng, máy tính, server lưu trữ )
Sản phẩm truyền hình (Television Product):
- Chương trình chính luận, tin tức, ký sự
- Chương trình văn hóa, giáo dục
- Chương trình giải trí: thể thao, game show, phim truyện …
Giai đoạn lưu trữ (Archive):
- Nhóm tổ chức thực hiện (lưu trữ viên, kỹ thuật …)
- Thiết bị kỹ thuật (hệ thống lưu trữ, thiết bị tìm kiếm, máy tính, hệ thống
hỗ trợ kỹ thuật cho kho băng )
- Kho lưu trữ băng
(Distribution):