1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện sông lô, tỉnh vĩnh phúc trong giai đoạn hiện nay

75 799 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 393,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, Đảng, Nhànước ta đã có nhiều Nghị quyết, văn bản pháp quy và nhiều nhà khoa học đã cócông trình nghiên cứu tiếp cận dưới n

Trang 1

Phần thứ nhất: GIỚI THIỆU CHUNG

1 Lời nói đầu

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của nền hành chính nhà nước ViệtNam, chính quyền cấp cơ sở luôn giữ một vị trí, vai trò rất quan trọng, ảnh hưởngtrực tiếp đến sự thành công hay thất bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Chính quyền cơ sở là nền tảng của toàn bộ hệ thống chính quyền, làcấp gần dân nhất, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của hoạt động quản lýnhà nước trên tất cả các mặt ở địa phương, đảm bảo cho chủ trương, đường lối,chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống Tuy nhiên, chínhquyền cơ sở không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách hiệu lực và hiệuquả nếu thiếu một đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có đủ trình độ để đảm nhậncông việc được giao Cũng như nhân tố con người trong mọi tổ chức khác, đội ngũcán bộ, công chức cấp cơ sở chính là hạt nhân, là nhân tố quyết định đến chấtlượng hoạt động của chính quyền cơ sở nói riêng cũng như toàn bộ hệ thống chínhtrị cơ sở nói chung Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, côngchức cấp cơ sở để nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở luôn

là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm

2 Tên đề tài

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Sông Lô,tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay

3 Chủ nhiệm đề tài và các thành viên nghiên cứu

Chủ nhiệm đề tài: Ths Lê Bá Lộc – Trưởng khoa lý luận cơ sở

ĐT: 0984.724.123 Gmail Lebaloc.vinhphuc@gmail.com

Các thành viên nhiên cứu: Ths Nguyễn Văn Tranh; Ths Trần Viết Dương; CN.Phạm Ngọc Yến; CN Thái Thị Bích Hồng; CN Nguyễn Thị Ninh

Địa chỉ: Khoa lý luận cơ sở, Trường chính trị tỉnh Vĩnh Phúc, Số 3 đường Hai Bà

Trưng , phường Khai Quang thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 2

4 Cơ quan thực hiện đề tài

Khoa lý luận cơ sở Trường chính trị tỉnh Vĩnh Phúc

5 Cơ quan quản lý đề tài

Trường chính trị tỉnh Vĩnh Phúc

6 Cơ quan phối hợp thực hiện đề tài

Huyện ủy, UBND huyện Sông Lô và Đảng ủy, UBND các xã, thị trấn trên địa bànhuyện Sông Lô

7 Thời gian thực hiện

Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thể hiện trực tiếp và

cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì vậy, việcchăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở xã, phường, thị trấn, nhất là đội ngũcán bộ chuyên trách có đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ýnghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạngcủa Đảng

Xuất phát từ vị trí quan trọng của cơ sở xã, phường, thị trấn, Hội nghị lầnthứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, đã ra Nghị quyết số 17-NQ/TW,ngày 18-3-2002, về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị

cơ sở xã, phường, thị trấn” Ban Bí thư (khóa IX) đã ban hành các Quy định số 94,95-QĐ/TW, ngày 3-3-2004, về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã,phường, thị trấn Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 114/2003/NĐ-CP, ngày10-10-2003, số 121/2003/NĐ-CP, ngày 21-10-2003, về cán bộ và chế độ, chínhsách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày

Trang 3

22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ,chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp

xã Vì vậy, việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở xã, phường, thị

trấn, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt có đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụthường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong

sự nghiệp cách mạng của Đảng

Huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập theo Nghị định 09/NĐ-CPngày 23/12/2008 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyệnLập Thạch, chính thức đi vào hoạt động từ 1/4/2009 Sông Lô là huyện miền núicủa tỉnh Vĩnh Phúc có 15.031,77ha diện tích đất tự nhiên và 93.980 nhân khẩu, có

17 đơn vị hành chính cấp cơ sở Là huyện miền núi cơ sở hạ tầng còn nhiều khókhăn về cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho công việc; đội ngũ cán bộ,công chức mỏng, biên chế còn thiếu, một số cán bộ trẻ kinh nghiệm trong côngviệc chưa nhiều đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở Vì vậy, việc nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Sông Lô đáp ứng yêu

cấp phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới là yêu cầu, nhiệm vụ mang tính

cấp bách trong giai đoạn hiện nay Do đó, để góp phầm vào việc nâng cao, củng cố

hệ thống chính trị cấp cơ sở của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung, nâng cao củng cố hệ

thống chính trị cấp cơ sở huyện Sông Lô nói diêng tác giả chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài khoa học Việc nghiên cứu đề sẽ góp phần

hoàn thiện và bổ xung lý luận về đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở; đánh giáthực trạng về đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc

Từ đó, các giảng viên trong nhà trường tham mưu, đề xuất với Đảng uỷ, Lãnh đạonhà trường các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức cấp cơ sở huyện Sông Lô nói riêng, tỉnh Vĩnh Phúc nói chung

10 Tình hình nghiên cứu về đề tài

Trang 4

Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, Đảng, Nhànước ta đã có nhiều Nghị quyết, văn bản pháp quy và nhiều nhà khoa học đã cócông trình nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau.

- Trên phương diện quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, trong 10 năm qua đã có các văn bản sau:

Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 18-3-2002, về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn

- Các văn bản Nghị quyết và quy định của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Vĩnh Phúc.

Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 25/04/1998 của tỉnh Vĩnh Phúc về công tác cán bộ đến năm 2010.

Kế hoạch số 04-KH/TU ngày 05/ 05/ 1998 về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

cơ sở đến năm 2010 BCH Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc.

Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 25/02/2008 của Tỉnh uỷ Vĩnh phúc về Phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH tỉnh Vĩnh Phúc.

Nghị quyết số 16/2008/ NQ - HĐND ngày 25/10/2008 của HĐND tỉnh Vĩnh phúc

về chế độ, thu hút, tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH tỉnh Vĩnh Phúc.

Trang 5

UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Công văn đôn đốc số 3379/UBND-NV1 ngày

29 tháng 07 năm 2008 về chuẩn hoá CB, CC cấp xã

Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, Đảng, Nhà nước ta đã cónhiều Nghị quyết, văn bản pháp quy và nhiều nhà khoa học đã có công trìnhnghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau

- Trên phương diện quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chínhsách của Nhà nước, trong 10 năm qua đã có các văn bản sau:

Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 18-3-2002, về “Đổi mới và nâng cao chất lượnghoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn”

- Các văn bản Nghị quyết và quy định của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Vĩnh PhúcNghị quyết số 03-NQ/TU ngày 25/04/1998 của tỉnh Vĩnh Phúc về công tác cán bộ đến năm 2010

Kế hoạch số 04 - KH/TU ngày 05/ 05/ 1998 về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

cơ sở đến năm 2010 BCH Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc

Trang 6

Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 25/02/2008 của Tỉnh uỷ Vĩnh phúc về Phát triểnnguồn nhân lực phục vụ CNH , HĐH tỉnh Vĩnh Phúc.

Nghị quyết số 16/2008/ NQ - HĐND ngày 25/10/2008 của HĐND tỉnh Vĩnh phúc

về chế độ, thu hút, tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ CNH – HĐH tỉnhVĩnh Phúc

UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Công văn đôn đốc số 3379/UBND-NV1 ngày

29 tháng 07 năm 2008 về chuẩn hoá CBCC cấp xã

- Trên phương diện nghiên cứu khoa học, có thể kế đến các công trình nghiên cứuphát triển nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của một số tác giả.Phát triển nguồn nhân lực – kinh nghiệm thế giới và thực tiễn ở nước ta, của tác giảTrần Văn Tùng và Lê Ái Lân, năm 1996

Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực Kinh nghiệm thế giới, của Tácgiả Trần Văn Tùng, năm 2005

Trần Văn Tuấn, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ “ Tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy Nhà nước và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong tình hình hiện nay ” Tạp chí

Cộng sản Số 22 (166) năm 2008

Giáo trình quản trị nguồn nhân lực của tác giả Phan Bá Thịnh, năm 2008

Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề Nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của tỉnh Vĩnh Phúc

11 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Sông

Lô, tỉnh Vĩnh Phúc

- Tham mưu với Đảng ủy, Lãnh đạo nhà trường các giải pháp về đào tạo, bồidưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Sông Lônói riêng tỉnh Vĩnh Phúc nói chung

- Nghiên cứu, đề xuất có căn cứ lý luận và thực tiễn về phương hướng, giải phápnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Sông Lô nói riêng,

Trang 7

tỉnh Vĩnh Phúc nói chung đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội củahuyện trong thời kỳ mới.

12 Đối tượng, nội dung và phạm vị nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở của huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ mới

- Chủ trương, cơ chế, phát luật, chính sách giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ,công chức cấp cơ sở của Đảng, Nhà nước và của huyện Sông Lô, và tỉnh Vĩnh Phúc

* Nội dung nghiên cứu của đề tài

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là vấn đề rộng,phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Do sự hạn chế về điều kiện,thời gian nên nội dung nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào công tác quyhoạch, thực hiện kế hoạch và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, côngchức cấp cơ sở của huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc và nhưng vấn đề liên quan

* Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Địa bàn huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc

- Về thời gian: Từ 2002 đến nay và phương hướng đến năm 2020

13 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Cơ sở lý luận

Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh;chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước về pháttriển đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cấp cơ sở Những chủ trương và quy địnhcủa Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Vĩnh Phúc và huyện Sông Lô về phát triển độingũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

* Phương pháp nghiên cứu

Để có kết quả nghiên cứu chính xác, tin cậy, khách quan và khoa học Trong

Trang 8

luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, so sánh, phântích, tổng hợp, gắn với khảo sát thực tiễn một số điểm trên địa bàn huyện Sông Lô.

14 Tiến độ thực hiện đề tài

Từ 01/01/2013 đến 30/01/2013 xây dựng thuyết minh đề tài

Từ 01/3/2013 đến 30/3/3013 hoàn thành đề cương chi tiết đề tài

Từ 01/4/2014 – 31/8/2014 xây dựng dự thảo đề tài

Từ 01/9/2013 đến 30/10/2013 tổ chức hội thảo lần thứ nhất đề tài

Từ 01/11/2013 đến 31/12/2013 bảo vệ nghiệm thu đề tài

15 Những đóng góp về khoa học của đề tài

Đề tài nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Sông

Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay hoàn thành là tài liệu để các giảng viênnắm bắt được thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở huyện Sông Lô nói riêng

và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung Từ đó, tham mưu cho Đảng uỷ, Lãnh đạo nhà trường cácgiải pháp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công, chức cấp cơ sởcủa huyện Sông Lô nói riêng, tỉnh Vĩnh Phúc nói chung

Đề tài hoàn thành là tài liệu để các cơ quan, ban ngành của huyện Sông Lônghiên cứu triển khai các cơ chế, chính sách, giải pháp để nâng cao đội ngũ cán bộ,công chức cấp cơ sở của huyện

16 Sản phẩm giao nộp

Tập tài liệu đánh giá nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sởhuyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

Phần thứ hai: NỘI DUNG ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ

1.1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức cấp cơ sở

Văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta hiện nay đã sử dụng đồng thời cả bathuật ngữ: cán bộ, công chức, viên chức; tại Điều 8 của Hiến Pháp năm 1992 (đã đượcsửa đổi, bổ sung năm 2001) không sử dụng thuật ngữ công chức, mà sử dụng thuật

ngữ cán bộ, viên chức “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tân tụy phục vụ nhân dân” Theo quy định của Hiến pháp, những

người phục vụ trong cơ quan, tổ chức nhà nước bao gồm cán bộ và viên chức Cán bộ

là những người được bầu để đảm nhiệm các chức vụ theo nhiệm kỳ trong bộ máy nhànước, còn viên chức gồm những người được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy, điều hànhnhững người phục vụ Nhà nước bằng một chuyên môn nhất định (hoạt động của họ

có tính nghề nghiệp); những đối tượng mà quan hệ công vụ của họ được hình thànhtrên cơ sở hợp đồng hành chính (hợp đồng lao động) trong các cơ quan, tổ chức nhànước; những đối tượng thuộc bộ phận lãnh đạo trong các tổ chức nhà nước, tổ chứckinh tế và đơn vị sự nghiệp của Nhà nước

Để cụ thể hoá và thực thi Hiến pháp, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hànhPháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, theo đó khái niệm cán bộ, công chức tạiĐiều 1 của Pháp lệnh đã quy định chung như sau: Cán bộ, công chức là công dânViệt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước bao gồm:

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhànước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

Trang 10

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thườngxuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào mộtngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức

và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;

- Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyênlàm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vịthuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp

Để phân biệt được rõ cán bộ, công chức làm cơ sở cho việc quản lý cán bộ,công chức hiệu quả, Chính phủ đã ban hành Luật công chức năm 2008 và Nghị định

số 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức; Nghị định

số 92/2009/NĐ-CP ngày 22-10-2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chínhsách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt độngkhông chuyên trách ở cấp xã Nghị định này chỉ rõ: Cán bộ là công dân Việt Nam,được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơquan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trungương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ởhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên

chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Nông dân; (áp dụng đối với

xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh.

Công chức là thuật ngữ sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Đây

là khái niệm mang tính lịch sử, đồng thời phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và

tổ chức bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia Ở nước ta khái niệm công chức được hìnhthành và ngày càng phát triển sâu rộng cùng với sự phát triển của nền hành chính nhà

Trang 11

nước Mở đầu quá trình đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 76/SL,ngày 20-5-1950 về Quy chế công chức Theo quy chế này, phạm vi công chức rất hẹp,chỉ gồm những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các hệthống cơ quan Chính phủ - nay là đội ngũ công chức hành chính nhà nước.

Từ khi có Pháp lệnh CB, CC năm 1998 đến nay, quan niệm về công chức nhànước ở nước ta có những thay đổi nhất định Trên cơ sở Pháp lệnh Cán bộ, công chức

1998, Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17- 11- 1998 của Chính phủ về tuyển dụng,

sử dụng và quản lý công chức, theo Điều 1 của Nghị định này, công chức bao gồmnhững đối tượng được quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 1 của Pháp lệnh, Nghị định

đã chỉ rõ: Công chức nhà nước là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệmhoặc giao giữ một công vụ thường xuyên được phân theo trình độ đào tạo, ngànhchuyên môn; được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp; trong biên chế và hưởnglương tư ngân sách nhà nước

Để làm rõ hơn nội hàm khái niệm công chức, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một

số điều của Pháp lệnh CB, CC năm 2003 tại khoản 1 Điều 1 đã đưa ra quan niệm mới

về CB, CC.Trong đó, mở rộng phạm vi điều chỉnh thêm các đối tượng (mục g, h) gồmnhững người được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (cán bộ chuyên tráchcấp xã) và những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn,nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (công chức cấp xã) và có sự phân biệt rõ đối tượngcông chức ngạch hành chính và ngach sự nghiệp Trên cơ sở đó, Chính phủ đã banhành Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 -10-2003 của Chính phủ về CB, CC, xã;Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 về tuyển dụng, sử dụng quản lý CB,

CC trong các cơ quan nhà nước; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22-10-2009 vềchức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CB, CC ở xã, phường, thịtrấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Luật công chức năm

2010 và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ

quy định những người là công chức Theo đó, Công chức là công dân Việt Nam,

được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan củaĐảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp

Trang 12

sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vịthuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp vàtrong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sảnViệt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sựnghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối vớicông chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lươngđược bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp

luật Công chức cẫp xã bao gồm các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội.

1.1.1.2 Khái niệm đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

Xã, phường, thị trấn là những đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thể hiện trựctiếp và cụ thể các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhànước đối với nhân dân Vì vậy, việc chăm lo xây dựng đội ngũ CB, CC ở xã, phường,thị trấn, nhất là đội ngũ CB, CC chủ chốt có đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo, quản lý,

tổ chức, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng,pháp luật, chính sách của Nhà nước về phát triển đất nước nói chung, kinh tế - xã hộicủa các địa phương nói riêng là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quantrọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp đẩy mạnh công cuộc đổi mới vìmục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướngXHCN Xuất phát từ vị trí quan trọng của cơ sở xã, phường, thị trấn, Hội nghị lần thứ

5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, đã ra Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày18-3-2002, về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ

sở xã, phường, thị trấn” Sau khi Nghị quyết ra đời, Quốc hội, Chính phủ đã ban hànhnhiều Nghị quyết và văn bản pháp quy về chức danh, số lượng, chế độ, chính sách đốivới CB, CC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ởcấp cơ sở Theo đó đội ngũ CB, CC cấp cơ sở bao gồm CB, CC chuyên trách và cán

bộ không chuyên trách Luận văn này tập trung bàn chủ yếu về đội ngũ CB, CC

chuyên trách Do đó, đội ngũ CB, CC cấp cơ sở là những CB, CC phải dành phần lớn

Trang 13

thời gian lao động làm việc công để thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trên địa bàn phường, xã, thị trấn, bao gồm những cán bộ chủ chốt của cấp uỷ đảng, HĐND, UBND, những người đứng đầu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp cơ sở và những công chức chuyên môn về công tác văn phòng, thống kê - địa chính, tài chính - kế toán, tư pháp, văn hoá - xã hội

Đội ngũ CB, CC chuyên trách cấp cơ sở được hình thành qua bầu cử và lựachọn theo quy định Đội ngũ này có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơbản như CB, CC nhà nước; khi không còn là CB, CC chuyên trách mà chưa đủ điềukiện để hưởng chế độ hưu trí, được tiếp tục tự đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng phụcấp một lần theo chế độ nghỉ việc CB, CC cấp cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyểnvào ngạch công chức cấp trên

Cán bộ không chuyên trách là những người chỉ tham gia việc công trong mộtphần thời gian lao động Căn cứ hướng dẫn của Trung ương, UBND cấp tỉnh quyđịnh khung về số lượng và mức phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách trong hệthống chính trị cấp cơ sở (kể cả trưởng thôn)

1.1.1.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

Hệ thống chính trị cấp cơ sở có vị trí hết sức quan trọng, nhất là bộ máycông quyền Đây là cấp có quan hệ trực tiếp, gắn bó mật thiết với người dân, là mắtxích, cầu nối đầu tiên và cuối cùng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Để chủtrưởng, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước phản ánh được ýchí, nguyên vọng của nhân dân và đến với nhân dân một cách sâu rộng, tạo thànhhành động tích cực, tự giác của đại đa số nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội,xây dựng đời sống văn hoá, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ quốc phòng, cần phảinhận thức sâu sắc vai trò, vị trí của đội ngũ CB, CC cấp cơ sở và quan tâm chăm loxây dựng, phát triển đội ngũ này, đủ về số lượng, cao về chất lượng nhất là vềphẩm chất đạo đức, trình độ năng lực lãnh đạo, quản lý, tập hợp, quy tụ được nhândân đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ phát triến kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh,quốc phòng trên từng địa bàn cấp cơ sở trong giai đoạn hiện nay Tiếp tục làm rõkhái niệm phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở chúng ta cần tiếp cận từ góc độ

Trang 14

phát triển nguồn nhân lực Khái niệm phát triển nguồn nhân lực ngày càng đượchoàn thiện và tiếp cận theo những góc độ khác nhau như sau:

Tiếp cận dưới góc độ con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển chứkhông phải là một nhân tố của sản xuất thì phát triển con người không phải chỉ là tạo

ra sự gia tăng về thu nhập và của cải vật chất; (mặc dù đó là tiêu chí cơ bản và rấtquan trọng) mà phải là mở rộng các khả năng của con người, tạo cho con người có cơhội tiếp cận với nền giáo dục tốt hơn, các dịch vụ y tế tốt hơn, có chỗ ở tiện nghi hơn,

có việc làm phù hợp mang nhiều ý nghĩa hơn Phát triển con người cần được hiểu làtăng cường năng lực, trước hết là nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, làm việccủa họ Tạo cho họ có năng lực, điều kiện cần thiết để biến các cơ hội đã được tạo rathành hiện thực, đồng thời tạo ra những cơ hội mới để phát triển

Tiếp cận theo quan điểm coi con người là trung tâm của phát triển kinh tế - xãhội thì phát triển nguồn nhân lực cần tiếp cận con người là vốn nhân lực và “phát triểnnguồn nhân lực là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chấtlượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sựphát triển của mỗi cá nhân” Như vậy, để phát triển nguồn nhân lực phải có nhữngchính sách và hoạt động tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực,biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể lực, kiến thức, kỹ năng, thái

độ và nhân cách nghề nghiệp đáp ứng những nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân

và sự phát triển của xã hội

Từ các cách tiếp cận đó mới có thể hiểu một cách đúng đắn, phù hợp về pháttriển nguồn nhân lực là quá trình tác động tổng hợp, hệ thống, đồng bộ và toàn diệnnhiều nhân tố, tạo ra sự biến đổi về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực vànâng cao hiệu quả sử dụng chúng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển

bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường của đất nước Nói cách khác phát triển nguồn nhân lực là quy trình tác động có chủ đích của tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách, giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao kỹ năng lao động của nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và môi trường của đất nước trong thời kỳ phát triển mới.

Trang 15

Trên cơ sở tiếp cận nguồn nhân lực gắn với phát triển đội ngũ CB, CC tác giả

đi sâu nghiên cứu hình thành khái niệm và những tiêu chí cơ bản của phát triển đội

ngũ CB, CC cấp cơ sở như sau: Phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở là hoạch định

và thực hiện hệ thống đồng bộ các giải pháp quy hoạch, tuyển dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ CB, CC cấp cơ sở và bố trí sử dụng, đãi ngộ, đánh giá đối với đội ngũ này

Phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở với khái niệm trên được xem xét thôngqua các tiêu chí ở sự gia tăng về số lượng, chất lượng và những yếu tố tâm lý Chấtlượng của đội ngũ CB, CC phụ thuộc vào phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn

và kinh nghiệm nghề nghiệp của từng CB, CC trong đội ngũ Phát triển năng lực độingũ CB, CC cấp cơ sở là yếu tố quan trọng hàng đầu của việc nâng cao chất lượng độingũ CB, CC cấp cơ sở Phát triển năng lực đội ngũ CB, CC cấp cở sở phải đồng thờiđáp ứng những thay đổi theo hướng hiện đại nền công vụ và đòi hỏi sự phát triển nộitại của đội ngũ CB, CC trong nền công vụ nhằm tăng thêm sinh lực, khả năng và thái

độ tích cực của mỗi CB, CC cấp cơ sở trong thực thi công vụ

1.1.2 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở hiện nay

1.1.2.1 Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp gắn bó với nhân dân trong hệ thống cán bộ, công chức của nước ta

Hệ thống chính trị ở nước ta là thể chế và bộ máy để nhân dân lao động thựchiện quyền làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sự quản lý,điều hành của Nhà nước pháp quyền XHCN Hệ thống chính trị ở nước ta hiện naybao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữViệt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựuchiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp khác của nhân dânđược thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo, quản lý của Đảng Cộngsản và Nhà nước Việt Nam, thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhândân Hệ thống chính trị nước ta gồm 4 cấp hợp thành: Trung ương, cấp tỉnh, cấp

Trang 16

huyện, cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn bó với nhân dântrong hệ thống chính trị nước ta Hệ thống chính trị cấp cơ sở bao gồm các tổ chứcĐảng, chính quyền, các đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội hoạt động trên địa bàn

xã, phường, thị trấn Vì vậy, phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở là phát triển đội ngũnhững người làm việc trong hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn, nghĩa là phải làmgia tăng số lượng, chất lượng những CB, CC trực tiếp gắn bó mật thiết và có ảnhhưởng nhất đối với nhân dân trong hệ thống CB, CC của nước ta

1.1.2.2 Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở hiện nay là đội ngũ cán bộ, công chức chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống, nên phải đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho họ

Cán bộ, công chức cấp cơ sở ở nước ta hầu hết sinh sống và hoạt động tại các

xã, phường, thị trấn, chính là nơi họ đã được sinh ra và trưởng thành; gắn bó lâu dàivới cộng đồng dân cư địa phương; có những am hiểu toàn diện, sâu sắc về truyềnthống, văn hoá, phong tục, tập quán của địa phương; là những người luôn đi sâu, đisát quần chúng nhân dân trên địa bàn; có lòng yêu quê hương, đất nước, có nhiệt tìnhcách mạng, mong muốn cống hiến, đóng góp để xây dựng quê hương, đất nước giàumạnh, phồn vinh Đội ngũ CB, CC cấp cơ sở ở nước ta chủ yếu hình thành từ 3 nguồn

cơ bản là: Người trưởng thành từ những hoạt động trong các phong trào quần chúngtại xã, phường, thị trấn; một số là cán bộ, quân nhân chuyển ngành về sinh sống tạiđịa phương; một số là CB, CC nhà nước về hưu hoặc mất sức lao động về sinh sốngtại địa phương được quần chúng suy tôn, tín nhiệm Đồng thời, do thực hiện cơ chếbầu cử, nên hầu hết cán bộ cấp cơ sở ở nước ta thường được nhân dân, các tổ chứcquần chúng bầu, chọn vào các vị trí chuyên trách, bán chuyên trách trong hệ thốngchính trị cấp cơ sở, rồi mới được đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ ở vịtrí được đảm nhận Một số ít được tuyển dụng theo bằng cấp (Chủ yếu là trình độtrung cấp chuyên môn) để đảm nhận các chức danh công chức cấp cơ sở Vì vậy, trình

độ và năng lực của đội ngũ CB, CC cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, chưa được đào tạo

đã làm lãnh đạo, quản lý, nên chưa đáp ứng được yêu cầu Do đó, trong phát triển độingũ CB, CC cấp cơ sở hiện nay cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cơ bản, có hệ thốngnhằm nâng cao năng lực cho họ

Trang 17

1.1.2.3 Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là đội ngũ trực tiếp thu thập thông tin

và xử lý các vấn đề nảy sinh trong hoạt động kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội, môi trường, an ninh, quốc phòng ở cơ sở

Đội ngũ CB, CC cấp cơ sở, trong công tác cũng như trong sinh hoạt hàng ngàyluôn gắn bó trực tiếp với nhân dân, không chỉ trong mối quan hệ giữa chính quyền vớinhân dân mà còn là mối quan hệ gia đình, dòng tộc, xóm làng lâu đời với nhữngtruyền thống tập quán tốt đẹp, cùng những tập tục lạc hậu, ràng buộc Họ là nhữngngười hàng ngày trực tiếp nắm bắt kịp thời những tâm tư, nguyên vọng của nhân dân

và quán triệt, vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng pháp luật, chính sách của Nhànước vào điều kiện cụ thể của địa phương Đồng thời có khả năng giải quyết các vấn

đề dân sinh, dân chủ, dân quyền, dân trí ở địa phương một cách sát hợp với tình hìnhthực tế, đảm bảo sự hài hoá, thấu tình đạt lý trong quan hệ dòng tộc, xóm làng vàcộng đồng địa phương Theo xu thế phát triển của thời đại, sự đổi mới từng ngày ở cơ

sở trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đang đòi hỏi đội ngũ CB, CCcủa hệ thống chính trị cấp cở sở phải có tư duy mới, có trình độ kiến thức mới về kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học - công nghệ lãnh đạo, quản lý và thấu hiểuđược mọi giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của địa phương, mới có thể đảm đươngđược trọng trách và yêu cầu của nhiệm vụ được giao

1.1.2.4 Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là những người trực tiếp triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước đến nhân dân và là cầu nối của nhân dân với Đảng, Nhà nước

Các xã, phường, thị trấn là nơi cư ngụ, sinh sống của ¾ dân số nước ta Hệthống chính trị cấp cơ sở nói chung, đội ngũ CB, CC cấp cơ sở nói riêng có vai trò rấtquan trọng trong việc đưa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách củaNhà nước vào cuộc sống Vì xã, phường, thị trấn là địa bàn mà đội ngũ CB, CC của

hệ thống chính trị cấp cơ sở lãnh đạo, quản lý tổ chức, vận động nhân dân thực hiệnchủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Tăng cườngkhối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khảnăng và nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức cuộc sống của công đồng

Trang 18

dân cư Đội ngũ CB, CC cấp cơ sở giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá sựlãnh đạo của Đảng và thực hiện chức năng tổ chức, quản lý của Nhà nước về mọi mặtcủa đời sống kinh tế - xã hội ở cơ sở Đội ngũ này là những người đem quan điểm,chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước tuyên truyền,giác ngộ, giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu rõ và tổ chức, động viên họ thihành Đồng thời đội ngũ CB, CC cấp cơ sở cũng là những người hơn ai hết kịp thờinắm bắt tình hình, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của nhân dân, kịp thời phản ánh choĐảng, Nhà nước để kịp thời bổ sung, chỉnh sửa, hoàn thiện chủ trương, đường lối,pháp luật, chính sách một cách, đúng đắn, khả thi Vì vậy, đội ngũ CB, CC cấp cơ sở

là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Với những ý nghĩa nêu trên Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã khái quát “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, củaChính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình củadân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”HCM Toàn tập (NXB chính trị QG 2002, t5 trang 269)

1.1.2.5 Đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là những người có điều kiện thuận lợi nhất trong việc nắm bắt, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân với Đảng và Nhà nước.

Hệ thống chính trị cấp cơ sở là hệ thống chính trị gắn liền với cộng đồng làng,

xã, thôn, bản và các tổ chức tư quản dân cư Đội ngũ CB, CC cấp cơ sở phần lớn sinh

ra, lớn lên và trưởng thành từ các phong trào của địa phương Họ làm việc chịu sựgiám sát trực tiếp của dân, chưa thoát ly khỏi sản xuất, có quan hệ họ hàng, xóm làngsâu lắng Do đó, đội ngũ CB, CC cấp cơ sở dù trực tiếp hay gián tiếp đều có quan hệlợi ích với gia đình, họ tộc, xóm làng và trực tiếp sinh sống làm ăn trên mảnh vườn,khổ ruộng ngay trên quê hương, bản làng của mình, không thoát ly hẳn sản xuất, hàngngày họ vừa tham gia sản xuất kinh doanh, vừa tham gia hoạt động công vụ Trongnhiều trường hợp nguồn thu chính của họ không phải từ lương hay phụ cấp từ ngânsách mà chủ yếu là từ kết quả sản xuất kinh doanh Vì vậy, đội ngũ CB, CC cấp cơ sở

là những người gần gũi với nhân dân, đồng thời họ cũng là người dân nên họ hiểuđược nhu câu, lợi ích, nguyện vọng thái độ của nhân dân, từ đó họ có khả năng nắmbắt và phản ảnh được những tâm tư nguyện vọng của nhân với Đảng và Nhà nước

Trang 19

1.2.3 Vai trò của phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Do đặc điểm của đội ngũ CB, CC cấp cơ sở như trên, nên phát triển đội ngũ

CB, CC cấp cơ sở có vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội Cụ thể là:

1.2.3.1 Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là khâu cơ bản, bảo đảm có đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các xã, phường, thị trấn.

Hệ thống chính trị cấp cơ sở có chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, tổchức, chỉ đạo thực hiện việc đưa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chínhsách của Nhà nước vào thực cuộc sống trên địa bàn các xã, phường, thị trấn nhằm đạtđược các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và bảo vệmôi trường đã hoạch định Do đó, cần phải phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở đủ về

số lượng, cao về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu mới nâng cao được hiệu lực, hiệu quảhoạt động để có thể hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao Tuy vậy, thựctrạng hiện nay đội ngũ CB, CC cấp cơ sở ở nhiều nơi còn thiếu và yếu kém về nhiềumặt, gây trở ngại lớn cho việc thực thi chức năng, nhiệm vụ, thậm chí làm suy giảmlòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước

Trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế

ở nước ta hiện nay đội ngũ CB, CC cấp cơ sở càng có vai trò, vị trí quan trọng trongviệc góp phần xây dựng hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, hệ thống phápluật chính sách của Nhà nước, đặc biệt là trong triển khai, tổ chức thực hiện đưa chủtrương, đường lối của của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước vào cuộc sồng.Đây là lực lượng nòng cốt trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện một khốilượng công việc lớn, trên một địa bàn rộng, có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đếnngười dân Nhất là những CB, CC cấp cơ sở với tư cách là người thực thi pháp luật,nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tình tự quản theo pháp luật và bảo toàn tínhthống nhất trong thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở Mặt khác, chính họ cũng lànhững người có khả năng đóng góp nhiều ý kiến và những đề xuất có giá trị với các

cơ quan nhà nước cấp trên để bổ xung, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu

Trang 20

cầu hướng tới Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Trong đó, đội ngũ CB,

CC chính quyền cấp xã trực tiếp gắn bó với dân, có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷcương, phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền dân chủ, quyền con người, quyền và lợiích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạmpháp luật Họ cũng là những người đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong đấu tranhchống các hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác làm cho

bộ máy chính quyền cấp cơ sở trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả

1.2.3.2 Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là khâu trọng yếu tác động trực tiếp tới phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong phát triển kinh

tế - xã hội.

Xuất phát từ quản điểm của Bác Hồ và Đảng ta coi cán bộ là nhân tố quyếtđịnh thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng “Cán bộ là cái gốc của mọicông việc” “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Hội nghịTrung ương 3 khoá VIII đã khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành côngcủa cách mạng Thực tiễn cách mạng nước ta cho thấy cán bộ nói chung và cán bộcấp cơ sở nói riêng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi phong trào cách mạngcủa nhân dân Kinh tế - xã hội và các mặt khác của đời sống các xã, phường, thị trấnphát triển như thế nào phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ cán cấp cơ sở Với vịtrí là “nền tảng cơ sơ”, vai trò của đội ngũ CB, CC cấp cơ sở được thể hiện qua mốiquan hệ giữa CB, CC cấp cơ sở với vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở CB, CCcấp cơ sở là nhân tố trọng yếu hàng đầu và là nhân tố “động” nhất của hệ thống chínhtrị cấp cơ sở CB, CC cấp cơ sở chịu sự chi phối, ràng buộc bởi chức năng, nhiệm vụcủa mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị cấp cơ sở, buộc người CB, CC phải hànhđộng theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định Tổ chức bộ máy hệ thống chínhtrị cấp cơ sở khoa học, hợp lý sẽ làm tăng sức mạnh của đội ngũ CB, CC cấp cơ sởlên gấp bội Mặt khác, đội ngũ CB, CC cấp cơ sở được phát triển đủ về số lượng, cao

về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tập hợp qui tụđược đầy đủ nhân dân thì vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở được phát huy mạnh

mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội và lĩnh vực quan trọng khác Vì vậy, đội ngũ CB,

CC cấp cơ sở giữ vai trò trực tiếp quyết định trong việc phát huy vai trò của hệ thống

Trang 21

chính trị cấp cơ sở, là lực lượng trụ cột trung tâm đoàn kết, tập hợp lực lượng nhândân thành sức mạnh, tác động quyết định hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, tổ chứcthực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước vàhoàn thành nhiệm vụ chính trị của các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp cơ sở nóichung, phát triển kinh tế - xã hội nói riêng.

1.2.3.3 Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở là một nguồn quan trọng cung cấp cán bộ, công chức cho các cơ quan cấp trên, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

Cấp cơ sở (xã, phương, thị trấn) là trường học thực tiễn sinh động và là nơi rènluyện, thử thách hết sức quan trọng, thiết thực của đội ngũ CB, CC cấp cơ sở Thực tếcho thấy không ít CB, CC do chưa từng trải rèn luyện qua thực tiễn phong trào cáchmạng ở cơ sở, nên khi được đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý ở những cấp caohơn, thường chậm thích ứng với công việc và gặp nhiều khó khăn Ngược lại không ít

CB, CC tiêu biểu đã từng lăn lội trong các phong trào ở cơ sở thì nhanh chóng thíchứng và trưởng thành, vượt bậc, có nhiều đồng chí đã trở thành những cán bộ lãnh đạo,quản lý cao cấp của Đảng và Nhà nước, cấp Tỉnh và Trung ương Chủ trương lớn củaĐảng và Nhà nước ta trong xây dựng đội ngũ CB, CC cấp cơ sở là chăm lo xây dựngđội ngũ CB, CC có đủ năng lực lãnh đạo, quản lý và tổ chức và vận động nhân dânthực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, côngtâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ứchiếp dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý vàđồng bộ chính sách đối với CB, CC cấp cơ sở.Đồng thời thông qua phát triển đội ngũ

CB, CC cấp cơ sở mà tạo nguồn cung cấp CB, CC cho các cơ quan cấp trên

1.2 NỘI DUNG CỦA PHÁT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

1.2.1 Nội dung của nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

1.2.1.1 Xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 22

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chăm lo đến công tác cán

bộ, trong đó coi trọng việc quy hoạch cán bộ nhằm chủ động tạo nguồn cán bộ chonhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài Nghị quyết Hội nghị lần thứ

ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về chiến lược cán bộ trong thời kỳđẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã chỉ rõ: “Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọngyếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, cótầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài”

- Mục đích của xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Tạo sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược trong công tác cán bộ; khắc phục tìnhtrạng hẫng hụt trong xây dựng đội ngũ CB, CC lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở bảo đảmtính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ CB, CC;giữ vững đoàn kết nội bộ và sự phát triển, hoàn thiện hệ thống chính trị cấp cơ sở đủsức thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, phương, thị trấn

Chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào làm căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, xâydựng đội ngũ CB, CC đủ sức đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lý và các vị tríchủ chốt trong hệ thống chính trị cấp cơ sở vững vàng về chính trị, trong sáng về đạođức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là năng lựctrí tuệ và thực tiễn về phát triển kinh tế - xã hội, đủ về số lượng, cao về chất lượng,đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnhCNH,HĐH đất nước

- Quan điểm xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở

Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở phảiquản triệt những quan điểm của Đảng ta về công tác cán bộ Cụ thể là:

+ Phải lấy việc phục vụ nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng để xây dựngđội ngũ CB, CC lãnh đạo, quản lý và thông qua thực tiễn sự nghiệp đổi mới, phongtrào thi đua yêu nước của quần chúng nhân dân để phát hiện những người có phẩmchất và năng lực, nhất là năng lực lãnh đạo, quản lý, tổ chức chỉ đạo thực tiễn, làmviệc năng động, sáng tạo, có hiệu quả, cùng những nhân tố mới có nhiều triển vọng

Trang 23

phát triển để đưa vào quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC lãnh đạo, quản

lý cấp cơ sở

+ Thấu suốt quan điểm giai cấp công nhân trong xây dựng quy hoạch phát triển độingũ CB, CC cấp cơ sở; chú ý phát hiện, bồi dưỡng những CB, CC trưởng thành từthực tế phong trào, những người có triển vọng, và các tài năng trẻ sớm đưa vào quyhoạch dự nguồn cho đội ngũ CB, CC lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở để có kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng, quan tâm tạo nguồn để tăng tỷ lệ CB, CC lãnh đạo, quản lý trẻ, xuấtthân từ công nhân, nông dân, con em các gia đình có công với cách mạng, cán bộ dântộc thiểu số, cán bộ nữ, không phân biệt đảng viên hay quần chúng ngoài Đảng

- Nội dung xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

+ Xác định tiêu chuẩn chung đối với cán bộ đưa vào quy hoạch phát triển đội ngũ

CB, CC cấp cơ sở.

Căn cứ để đưa cán bộ vào quy hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở làtiêu chuẩn chung và các tiêu chuẩn của từng loại cán bộ đã nêu trong Nghị quyết Hộinghị Trung ương 3 khoá VIII và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ là phải

“cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”

Tiêu chuẩn chung về phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực của cán bộ phảiđược cụ thể hoá phù hợp với đội ngũ CB, CC cấp cơ sở trong thời kỳ mới đẩy mạnhCNH, HĐH và từng bước phát triển của thực tiễn cách mạng ở các đơn vị cơ sở (xã,phường, thị trấn)

Trong điều kiện hiện nay, tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực của người cán

bộ đưa vào quy hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở phải được xem xét đánhgiá thông qua các tiêu chuẩn cơ bản sau:

Năng lực thực tiễn, thể hiện ở kết quả và hiệu quả công việc, tinh thần chủđộng, sáng tạo, mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; khả năng đoànkết, tập hợp, quy tụ cán bộ; năng lực tổ chức, điều hành để thúc đẩy sự phát triển của

Trang 24

lĩnh vực công tác được phân công phụ trách nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội.

Đạo đức, lối sống trong sạch được thể hiện trong thực tế, kiên quyết đấu tranhchống tham nhũng, chống chủ nghĩa cá nhân; bản thân và gia đình cán bộ luôn gươngmẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chấp hành đúng pháp luật, chính sáchcủa Nhà nước, khách quan, công tâm không lợi dụng chức quyền để mưu cầu lợi íchriêng cho bản thân, gia đình, dòng tộc Ham học hỏi, cầu tiến bộ, qua thực tế cho thấy

là cán bộ trẻ tuổi, được đào tạo cơ bản; đã kinh qua công tác thực tế ở địa phương, cơsở; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có nhiều triểnvọng phát triển vươn lên đảm nhận nhiệm vụ cao hơn

Ngoài các tiêu chuẩn cơ bản nói trên, cán bộ đưa vào quy hoạch phát triển độingũ CB, CC cấp cơ sở còn cần được đào tạo, bồi dưỡng, đáp ứng các tiêu chuẩnchung và cụ thể sau đây khi bố trí vào chức vụ được quy hoạch:

Về độ tuổi:

Những đồng chí lần đầu tham gia cấp uỷ, ban lãnh đạo các tổ chức trong hệthống chính trị cấp cơ sở phải đúng ở độ tuổi có thể công tác từ hai nhiệm kỳ trở lênhoặc ít nhất phải trọn một nhiệm kỳ; những đồng chí tiếp tục đảm nhiệm chức vụ hiệngiữ phải ở độ tuổi để công tác trọn một nhiệm kỳ hoặc ít nhất được 2/3 nhiệm kỳ,những trường hợp này cần xem xét con người và hoàn cảnh cụ thể để quyết định,không máy móc, cứng nhắc về độ tuổi

Về trình độ đào tạo:

Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở phải tốt nghiệp đại học và có trình

độ trung cấp lý luận chính trị, kể cả những cán bộ dưới 45 tuổi thuộc diện quy hoạchchức danh chủ chốt Đối với những cán bộ tuy không được đào tạo cơ bản theo quyđịnh, nhưng có năng lực nổi trội trong chỉ đạo thực tiễn, được cán bộ, đảng viên vànhân dân tín nhiệm và những CB, CC là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ cần đượcquan tâm vận dụng tiêu chuẩn quy định một cách thích hợp

Trang 25

Đối với các chức danh chủ chốt của hệ thống chính trị cấp cơ sở cần phải đảmbảo các tiêu chuẩn đối với từng chức danh chủ chốt như sau:

+ Lựa chọn cán bộ theo tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ cấp ủy là: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, Chi ủy, Thường trực đảng uỷ xã, phường, thị trấn.

Tuổi đời: Không quá 45 tuổi khi tham gia giữ chức vụ lần đầu.

Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông.

Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp chính trị trở lên.

Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng và đô thị có trình độ trung cấp

chuyên môn trở lên Ở khu vực miền núi đã được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn(tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu tham gia giữ chức vụ lần đầu phải có trình

độ trung cấp chuyên môn trở lên Đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựngĐảng, nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế

+ Lựa chọn cán bộ theo tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội là: Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp cơ sở.

Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc: Không quá 60 tuổi đối với nam, không quá

55 tuổi đối với nữ khi tham gia giữ chức vụ lần đầu

Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: Không quá 30 tuổi khi thamgia giữ chức vụ công tác

Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân: Không quá 55 tuổi đốivới nam, không quá 50 tuổi đối với nữ khi tham gia giữ chức vụ lần đầu

Chủ tịch Hội Cựu chiến binh: Không quá 65 tuổi khi tham gia giữ chức vụ

Về học vấn, có trình độ lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ Có trình độtốt nghiệp trung học phổ thông trở lên ở khu vực đồng bằng, tốt nghiệp trung học cơ

sở trở lên ở khu vực miền núi Có trình độ sơ cấp lý luận chính trị và tương đương trở

Trang 26

lên Đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ lĩnh vực công tác mà cán bộđang đảm nhiệm tương đương trình độ sơ cấp trở lên.

+ Lựa chọn công chức theo tiêu chuẩn cụ thể của công chức nhà nước cấp cơ sở là: Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp cơ sở.

Tuổi đời: Tuổi của Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp cơ sở do

Chủ tịch UBND cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địaphương, nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ

Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông.

Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với khu vực

đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình

độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn, nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối với

khu vực đồng bằng Với khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyênmôn tương đương trình độ sơ cấp trở lên Ngành chuyên môn phù hợp với yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn

Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước; nghiệp vụ quản lý kinh tế, kiếnthức và kỹ năng hoạt động đại biểu HĐND và UBND cấp xã

+ Lựa chọn công chức theo tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp cơ sở là Trưởng Công an xã.

Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.

Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng, tốt

nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý luận

chính trị trở lên ở khu vực đồng bằng, có trình độ tương đương sơ cấp lý luận chính trítrở lên ở khu vực miền núi

Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng phải đạt trình độ tương đương

trung cấp chuyên môn ngành công an trở lên Với công chức đang công tác ở khu vựcmiền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn ngành công an,

Trang 27

nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải được bồi dưỡng chương trình huấn luyệntrưởng công an xã theo quy định của Công an cấp trên Sau khi được tuyển dụng phảiqua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước Sử dụng thành thạo các trang thiết bịphù hợp với ngành chuyên môn.

+ Lựa chọn công chức theo tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp cơ sở là Chỉ huy trưởng Quân sự.

Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.

Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị,

tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý luận

chính trị trở lên ở khu vực đồng bằng, có trình độ tương đương sơ cấp lý luận chính trịtrở lên ở khu vực miền núi

Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng phải đạt trình độ tương đương

trung cấp về quân sự của sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên Đối với công chức đangcông tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyênmôn ngành quân sự; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải tương đương trung cấpquân sự của sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồidưỡng quản lý Nhà nước về quốc phòng cấp xã Sử dụng thành thạo trang, thiết bịphục vụ công tác chuyên môn

+ Lựa chọn công chức theo tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp cơ sở về Tài chính - Kế toán.

Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.

Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị,

tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính

trị với trình độ tương đương sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Tài chính

Kế toán trở lên Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu

Trang 28

lần đầu phải có trình độ trung cấp Tài chính - Kế toán trở lên Phải qua bồi dưỡngquản lý hành chính Nhà nước sau khi tuyển dụng Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải

sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

+ Lựa chọn công chức theo tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp cơ sở về Tư pháp - Hộ tịch.

Tuổi đời: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.

Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị;

tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính

trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Luật trở

lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã sau khi được tuyển dụng Vớicông chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiếnthức nghiệp vụ tư pháp cấp xã; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độtrung cấp luật trở lên Phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước sau khi đượctuyển dụng Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trongcông tác chuyên môn

+ Lựa chọn công chức theo tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp cơ sở về Địa chính - Xây dựng.

Tuổi đời: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.

Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị,

tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính

trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Địa chính

hoặc trung cấp Xây dựng trở lên Với công chức đang công tác ở khu vực miền núihiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn Địa chính hoặc xây dựng;nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp Địa chính hoặc xây dựngtrở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng về quản lý đất đai, đo đạc bản

Trang 29

đồ, quản lý hành chính Nhà nước Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được

kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

+ Lựa chọn công chức theo tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp cơ sở về Văn phòng - Thống kê.

Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.

Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị,

tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính

trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp Văn thư,

lưu trữ hoặc trung cấp Hành chính, trung cấp Luật trở lên Với công chức đang côngtác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn vềmột trong các ngành chuyên môn trên; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình

độ trung cấp của một trong ba ngành chuyên môn trên Sau khi được tuyển dụng phảiqua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước (nếu chưa qua trung cấp hành chính) ởkhu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tácchuyên môn

+ Lựa chọn công chức theo tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp cơ sở về Văn hoá - Xã hội.

Độ tuổi: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.

Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng và đô thị,

tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính

trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng phải đạt trung cấp về văn hoá

nghệ thuật (chuyên ngành) hoặc trung cấp quản lý Văn hoá - Thông tin hoặc trung cấpnghiệp vụ Lao động - Thương binh và xã hội trở lên Với công chức đang công tác ởkhu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về mộttrong các ngành chuyên môn trên; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ

Trang 30

dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước và ngành chuyên môn cònthiếu liên quan tới nhiệm vụ được giao Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợpvới ngành chuyên môn Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tinhọc trong công tác.

- Những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở phải bảođảm: mở rộng dân chủ, khách quan trong việc phát hiện nguồn; sự tham gia của cán

bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hộitrong việc nhận xét, đánh giá và giới thiệu cán bộ; lấy kết quả nhận xét, đánh giá CB,

CC thường xuyên và định kỳ làm cơ sở để lựa chọn cán bộ đưa vào quy hoạch; bảođảm quyền lãnh đạo tập trung của tập thể ban thường vụ cấp uỷ đảng, đồng thời có sựtham vấn ý kiến của lãnh đạo các ban đảng, các cơ quan, ban, ngành, mặt trận tổ quốc,các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong xây dựng và giám sát việcthực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở

Xây dựng qui hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở phải đạtđược chất lượng cao, cơ cấu hợp lý: kết hợp hài hoà giữa 3 độ tuổi theo hướng trẻhoá, độ tuổi trung bình khoá sau phải thấp hơn khoá trước; có tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộxuất thân từ công nhân, nông dân và trí thức thích đáng; ở những nơi có nhiều đồngbào dân tộc thiểu số cần có tỷ lệ hợp lý CB, CC là người dân tộc thiểu số; mỗi nhiệm

kỳ đổi mới không dưới 1/3 tổng số CB, CC

Định kỳ tiến hành bổ sung, hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ

CB, CC cấp cơ sở phù hợp với nhiệm kỳ của Quốc hội, HĐND, UBND và đại hộiđảng các cấp Các cấp uỷ, các cấp lãnh đạo phải làm quy hoạch phát triển đội ngũ CB,

CC ngay từ đầu nhiệm kỳ; hàng năm phải rà soát, xem xét lại quy hoạch; hết nhiệm

kỳ phải tổng kết, đánh giá lại quy hoạch và bàn giao cho cấp uỷ, lãnh đạo khoá mới đểtiếp tục rà soát, bổ sung và tiếp tục thực hiện quy hoạch phát triển đội ngũ CB, CCcấp cơ sở

Trang 31

- Triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở bằng những kế hoạch chuyên đề cụ thể

Quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở cần được triển khaithực hiện một cách tích cực, mạnh mẽ trong thực tiễn cuộc sống, kiên quyết khắcphục tình trạng quy hoạch, kế hoạch mang tính hình thức Với mục đích đó, trên cơ sởquy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở đã được xây dựng và phêduyệt, cần cụ thể hoá thành những kế hoạch chuyên đề cụ thể từng mặt để triển khaithực hiện như sau:

+ Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ CB,

CC nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của xã, phường, thịtrấn trong mỗi thời kỳ kế hoạch, nhất là đối với những đồng chí còn chưa đủ các tiêuchuẩn cần thiết để giữ các chức danh được quy hoạch

+ Kế hoạch luân chuyển nhằm đào tạo, rèn luyện cán bộ nguồn quy hoạch theo tinhthần Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 25-01-2002 của Bộ Chính trị về việc luânchuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp

+ Kế hoạch sắp xếp, bố trí, điều chuyển CB, CC nguồn quy hoạch vào các vị trí phùhợp, để qua công tác thực tế các đồng chí đó được rèn luyện, thử thách, tạo uy tín và

vị thế cần thiết, chuẩn bị cho việc giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm vào các chức danhquy hoạch

Việc cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện luân chuyển, bổ nhiệm hoặcgiới thiệu bầu cử cần căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp

cơ sở

Thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CB, CC cấp cơ sở phải gắnvới việc sắp xếp, bố trí CB, CC nghỉ hưu theo đúng quy định của Đảng và Nhà nướcđối với CB, CC cấp này

1.2.1.2 Xây dựng và thực hiện cơ chế tuyển dụng cán bộ, công chức cấp cơ sở

- Tuyển dụng CB, CC cấp cơ sở

Trang 32

Tuyển dụng CB, CC là khâu quan trọng, mở đầu trong công tác tổ chức - cán

bộ Nếu làm tốt công tác tuyển dụng sẽ lựa chọn được những người có đủ tiêu chuẩnphù hợp với vị trí, chức danh công tác, góp phần đáp ứng yêu cầu về số lượng và nângcao chất lượng đội ngũ CB, CC của hệ thống chính trị nói chung, cấp cơ sở nói riêng

Do đó, tuyển dụng CB, CC cấp cơ sở cần theo đúng những yêu cầu cơ bản sau:

Xuất phát từ nhu cầu công việc cần có CB, CC đảm nhiệm mà tuyển dụngngười có đủ các tiêu chuẩn của chức danh cần tuyển

Bảo đảm tính công khai, minh bạch và công bằng, bình đẳng trong tuyển dụngthông qua thực hiện thi tuyển

Theo yêu cầu đó, việc tuyển dụng phải được thông báo, đăng tải trên cácphương tiện thông tin đại chúng, và niêm yết công khai tại địa điểm tiếp nhận hồ sơcủa cơ quan, tổ chức tuyển dụng Việc thực hiện chế độ ưu tiên trong tuyển dụng hayxét tuyển thông qua kiểm tra sát hạch bằng hình thức vấn đáp đối với một số đốitượng cụ thể cũng phải tuân thủ chặt chẽ theo đúng quy định

Nội dung thi tuyển phải bám sát yêu cầu chức danh cần tuyển dụng, xác định rõyêu cầu đối với công việc đó là gì, thực hiện như thế nào, kiến thức cơ bản và kỹ năngcần thiết để hoàn thành công việc đó ra sao Ngoài ra, cần chú trọng kiến thức hànhchính nhà nước và sự hiểu biết về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mà thí sinh dựtuyển Ngoài yêu cầu chung về trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chức danh đã quyđịnh, mỗi đơn vị, địa phương còn cần có thêm quy định cụ thể (không trái với quyđịnh của Nhà nước cấp trên) cho phù hợp với đặc điểm của mỗi loại CB, CC cấp cơ

sở hay đặc thù của địa phương, đơn vị mình Thực tế hiện nay, phần lớn các đơn vị,địa phương, tổ chức đều thực hiện cả hình thức thi viết và thi vấn đáp Có nơi áp dụnghình thức thi trắc nghiệm trong tuyển dụng CB, CC, trong đó kết hợp cả đánh giá kỹnăng thực hành với đánh giá phong cách, ngoại hình và khả năng giao tiếp đây lànhững yêu cầu cần thiết đối với mỗi CB, CC cấp cơ sở trong điều kiện của nước tahiện nay Cách làm này cho thấy có nhiều ưu điểm, được sự chấp nhận của xã hội vàtrực tiếp tác động đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ CB, CC Việc thi tuyển đã tạo

ra động lực thúc đẩy CB, CC tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên

Trang 33

môn, năng lực quản lý, điều hành; động viên, khuyến khích được đội ngũ CB, CC cótuổi đời trẻ, có trình độ và năng lực; huy động, khơi dậy nguồn lực từ bên ngoài tổchức đăng ký dự tuyển; khắc phục tình trạng đề bạt, bổ nhiệm cán bộ khép kín trongtừng địa phương; những CB, CC trẻ thực sự có năng lực, trình độ và phẩm chất đạođức không còn phải xếp hàng chờ đợi.

1.2.1.3 Xây dựng và thực hiện qui hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

Đào tạo CB, CC là quá trình trang bị kiến thức và phương pháp cho ngườihọc nhằm giúp họ chủ động lĩnh hội, đào sâu suy nghĩ để nắm vững những trithức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết một cách có hệ thống, đủ sức đảm đương vàhoàn thành tốt nhiệm vụ được giao theo qui hoạch, kế hoạch bố trí sử dụng CB,

CC Ngoài ra, trình độ được đào tạo còn phụ thuộc vào việc tự đào tạo của mỗi

CB, CC, thể hiện ở việc tự học tập và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sảnxuất và tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm thực tế từ cuộc sống Chỉ khi nào quátrình đào tạo CB, CC được biến thành quá trình tự đào tạo của mỗi người mộtcách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới đạt hiệu quả cao

Trong nhiều trường hợp, hai khái niệm đào tạo và bồi dưỡng được sử dụngđồng thời Theo nghĩa gốc, đào tạo là “ làm cho trở thành người có năng lực theonhững tiêu chuẩn nhất định” còn bồi dưỡng là “ làm tăng thêm năng lực, phẩm chất”.Nghĩa là hai hoạt động này cùng hướng tới một mục tiêu nhưng có điểm khác nhau ởchỗ đào tạo là công việc biến cái chưa có thành cái có, cái chưa đủ chuẩn thành đủchuẩn Còn bồi dưỡng là công việc làm tăng cao hơn và sâu sắc hơn cái đã có

Như vậy, đào tạo CB, CC là việc cử họ tham gia các khoá học (thường là dàihạn từ 1 năm trở lên) nhằm lĩnh hội kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp hay liên quan đếnmột lĩnh vực cụ thể, để họ có thể đảm nhận được một chức danh theo quy hoạch; Bồidưỡng CB, CC là việc cử CB, CC tham gia các lớp học gắn hạn (dưới 1 năm) nhằmnâng cao trình độ, kỹ năng đã được đào tạo, giúp CB, CC cấp cơ sở hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao

Trang 34

Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CB, CC cấp cơ sở trong giai đoạn hiện nay tậptrung theo hướng đã được qui định tại Quyết đinh số 40/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng

02 năm 2006 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồidưỡng CB, CC giai đoạn 2006 - 2010

Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng CB, CC cấp cơ sở.

Là trang bị, nâng cao kiến thức, năng lực quản lý, điều hành và thực thi công

vụ cho đội ngũ công chức hành chính và CB, CC cấp xã nhằm xây dựng đội ngũ

CB, CC chuyên nghiệp, có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụyphục vụ đất nước và phục vụ nhân dân theo yêu cầu phát triển bền vững

Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về chính trị, quản lý hành chính nhà nước, quản

lý kinh tế - xã hội bao gồm những hiểu biết về chủ trương đường lối của Đảng, phápluật, chính sách của Nhà nước về các lĩnh vực liên quan và các Nghị quyết của cấp uỷ,chính quyền địa phương

Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ của ngành, lĩnh vực

mà CB, CC cấp cơ sở đang công tác và đang đảm nhiệm

Đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh cho những cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấnĐào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho độingũ cán bộ không chuyên trách ở xã, thôn và tổ dân phố

Nội dung đào tạo, bồi dưỡng

Tập trung đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức cho CB, CC theo quy định vàtiêu chuẩn đối với những CB, CC chuyên trách, bao gồm: trình độ học vấn, trình độ lýluận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ;

Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho Chủtịch HĐND và Chủ tịch UBND cấp xã; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trang bị trình độchuyên môn sơ cấp trở lên cho công chức cấp xã, phường, thị trấn;

Đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức tin học cho các đối tượng cán bộchuyên trách cấp xã, phường, thị trấn đặc biệt ưu tiên các đối tượng chủ tịch

Trang 35

UBND cấp xã, công chức cấp xã; thực hiện đào tạo tiếng dân tộc cho cán bộchuyên trách cấp xã công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống;

Đào tạo, bồi dưỡng về đạo đức CB, CC cho cán bộ chuyên trách và khôngchuyên trách; xây dựng tinh thần sống và làm việc theo pháp luật, thái độ tôn trọngdân, phục vụ dân Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng hoạtđộng cho đại biểu HĐND các cấp trong mỗi nhiệm kỳ

Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH

và hội nhập quốc tế, đội ngũ CB, CC cấp cơ sở cũng cần phải được trang bị nhữngkiến thức về ngoại ngữ, công nghệ thông tin, khoa học quản lý hiện đại, luật pháp

Việc đánh giá đội ngũ CB, CC cấp cơ sở được thực hiện vào cuối mỗi nămtrước khi bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển đào tạo, bồi dưỡng,khi kết thúc nhiệm kỳ

- Nội dung kiểm tra, đánh giá đội ngũ CB, CC cấp cơ sở bao gồm:

Việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật, chính sách củaNhà nước

Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện chức trách,nhiệm vụ của mỗi CB, CC trong hệ thống chính trị cấp cơ sở

Phẩm chất, đạo đức và tình thần trách nhiệm trong công tác và kết quả thựchiện nhiệm vụ được giao của mỗi CB, CC trong hệ thống chính trị cấp cơ sở

Trang 36

Mỗi CB, CC trong hệ thống chính trị cấp cơ sở viết bản tự đánh giá công táchàng năm trên cơ sở thấm nhuần mục đích ý nghĩa, yêu cầu của việc tự đánh giá.

Tập thể đơn vị nơi CB, CC cấp cơ sở làm việc tiến hành tham gia góp ý bản tựnhận xét và xếp loại Sau đó, trên cơ sở tham khảo ý kiến nhận xét, xếp loại của tậpthể, thủ trưởng trực tiếp quản lý CB, CC đánh giá và quyết định xếp loại CB, CC theocác mức độ: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thànhnhiệm vụ nhưng còn có những hạn chế nhất định; không hoàn thành nhiệm vụ

Đối với CB, CC lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cấp cơ sở thực hiện việc tự phêbình trước cơ quan, đơn vị, địa phương; CB, CC trong cơ quan, đơn vị góp ý kiến vàcấp trên trực tiếp đánh giá, quyết định xếp loại theo phân cấp quản lý cán bộ của cấptỉnh

Kết quả phân loại đánh giá CB, CC được lưu vào hồ sơ cán bộ và thông báođến CB, CC được đánh giá Những trường hợp CB, CC hai năm liên tiếp hoàn thànhnhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có hai năm liền, trong đó có một nămhoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và một năm không hoàn thànhnhiệm vụ thì cơ quan có thẩm quyền bố trí công tác khác CB, CC hai năm liên tiếpkhông hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan có thẩm quyền miễn nhiệm cho thôi làmnhiệm vụ

Việc đánh giá CB, CC cấp cơ sở phải thực hiện theo nguyên tắc tập trung dânchủ; bảo đảm khách quan, khoa học và kết luận theo đa số trên cơ sở tiêu chuẩn CB,

CC đã được quy định và kết quả hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao Vì nhưBác Hồ đã dạy “Xem xét cán bộ, không chỉ xem ngoài mặt mà còn phải xem tính chất

họ Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việccủa họ”

Đánh giá CB, CC một cách cực đoan, phiến diện sẽ gây ảnh hưởng tiêu cựcđến tất cả các khâu của công tác cán bộ, phá vỡ quy hoạch, luân chuyển cán bộ khôngđạt được mục tiêu, lãng phí công sức đào tạo, bồi dưỡng, gây ảnh xấu tới chất lượngđội ngũ CB, CC, đặc biệt là làm mất đi cơ hội có thể sử dụng được người có tài, có đức

Trang 37

Trong tình hình hiện nay, khi sự nghiệp đổi mới đất nước ngày càng đi vàochiều sâu, nhiệm vụ chính trị đặt ra ngày càng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi Đảng taphải xây dựng được một đội ngũ CB, CC ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ phát triểnđất nước trong thời kỳ mới Vấn đề đánh giá CB, CC lại cảng nổi lên quan trọng vàvẫn là khâu khó nhất trong công tác tổ chức - cán bộ Trước những diễn biến phức tạpcủa tình hình quốc tế, nhất là trước những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường vàhoạt động chống phá của kẻ thù bằng “Diễn biến hoá bình”… đã làm cho không ít cán

bộ, đảng viên có chức, có quyền bị thoái hoá, biến chất, vi phạm nguyên tắc, chế độsinh hoạt Đảng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng

Để khắc phục tình trạng yếu kém, tiêu cực nêu trên phải bẳng sức mạnh tổnghợp với nhiều giải pháp hữu hiệu, đồng bộ và mang tính khả thi cao, trong đó việcđánh giá, sử dụng đúng CB, CC cấp cơ sở là một khâu, một biện pháp quan trọng.Đặc biệt là khi đánh giá CB, CC phải luôn quán triệt nguyên tắc cơ bản về công táccán bộ của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh để có quan điểm, phương pháp đánh giákhách quan, khoa học

1.2.1.5 Xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở

Cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ CB, CC nói chung, cấp cơ sở nóiriêng, của Đảng và Nhà nước ta bao gồm: cơ chế, chính sách tuyển dụng, bổ nhiệm vàmiễn nhiệm CB, CC; cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB, CC; cơ chế chínhsách về tiền lương chính sách khen thưởng, kỷ luật CB, CC; cơ chế, chính sách bảo vệ

Ngày đăng: 28/01/2016, 07:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương (Khoá X) 2009, Kết luận số 37 – KL/TW ngày 2/2/2009 của Hội nghị lần thứ chín “về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tiếp tục đẩy mạnh thực hiệnChiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020
9. Hội nghị TƯ 9 Khoá X “về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ từ nay đến 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ từnay đến 2020
12. Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 18-3-2002, về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và nâng caochất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn
21.Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 18-3-2002, về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và nâng caochất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn
4.Báo cáo số 57/BC –SNV ngày 13/7/2012 về đánh giá thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, Nghị định 92/2009/NĐ-CP Khác
5. Công văn nhắc việc số 3379/UBND-NV1 ngày 29 tháng 07 năm 2008 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về chuẩn hoá CBCC cấp xã Khác
6. Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực Kinh nghiệm của thế giới, của Tác giả Trần Văn Tùng, năm 2005 Khác
7. Giáo trình quản trị nguồn nhân lực, của tác giả Phan Bá Thịnh, năm 2008 8.Hướng dẫn số 1415/HD –UB ngày 18 tháng 6 năm 2004 hướng dẫn về thực hiện nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 Khác
10. Kế hoạch số 5348/KH –UB ngày 15 tháng 12 năm 2011 về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực năm 2012 Khác
11. Kế hoạch số 04/KH ngày 05/ 05/ 1998 về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở đến năm 2010 Khác
13. Nghị định số 114/2003/NĐ-CP, ngày 10-10-2003 cán bộ, công chức xã phương thị trấn Khác
14. Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, ngày 21-10-2003, về cán bộ và chế độ, chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn; tiếp đó Khác
15. Quy định số 94, 95-QĐ/TW, ngày 3-3-2004, về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn Khác
16. Nghị định 159/2005/NÐ-CP ngày 29/12/2005 của Chính phủ đã phân loại hành chính cấp xã Khác
17. Nghị quyết sô 42 – NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước 18. Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Khác
22. Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 25/04/1998 BCH Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về công tác cán bộ đến năm 2010 Khác
23. Nghị quyết 06-NQ/TU ngày 25/02/2008 của Tỉnh uỷ, báo cáo tổng 03 năm thực hiện Nghị quyết 0624. Luật công chức 2010 Khác
25. Quyết định số 31/2006/QÐ-TTg về việc phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng Chủ tịch HÐND, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn Khác
26.Quyết định số 34/2006 QÐ-TTg phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn người dân tộc thiểu số giai đoạn 2006- 2010 Khác
27.Quyết định số 77/2006/QÐ-TTg ngày 13/4/2006,về quy chế làm việc mẫu của UBND xã, phường, thị trấn Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w