1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình

88 582 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 888,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực Truyền hình vốn được xem là lĩnh vực sử dụng nhiều chất xám thì nguồn nhân lực KH&CN càng được xem là yếu tố quan trọng không những đối với nội dung chương trình, mà còn đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN NGỌC HỒI

ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CỦA VTV9 THEO HƯỚNG SỐ HÓA CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Thành phố Hồ Chí Minh, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN NGỌC HỒI

ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CỦA VTV9 THEO HƯỚNG SỐ HÓA CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.72

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Cao Đàm

Thành phố Hồ Chí Minh, 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Vốn là một Biên tập viên truyền hình nên không khỏi bỡ ngỡ khi tham gia lớp đào tạo sau Đại học chuyên ngành Khoa học quản lý, vì kiến thức được đào tạo trước đây không thuộc lĩnh vực này Nhưng trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, được sự truyền đạt, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và đầy tâm huyết của tất cả thầy cô ở khoa Khoa học quản lý của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và cả những thầy cô thỉnh giảng,

sự bỡ ngỡ ban đầu đã nhanh chóng trở thành sự tự tin trong tiếp thu tri thức Phải khẳng định rằng, những kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập, nghiên cứu đã thật sự phục vụ bổ ích vào quá trình công tác của tôi, mà lúc đầu tưởng chừng như chẳng có mấy liên quan

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Vũ Cao Đàm

đã hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn của mình

Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo ở khoa Khoa học quản lý của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và cả những thầy cô thỉnh giảng, những người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua

Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn cùng lớp và đồng nghiệp ở Đài Truyền hình Việt Nam, những người đã luôn động viên và khuyến

khích tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

MỤC LỤC 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 8

PHẦN MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Lịch sử nghiên cứu 11

3 Mục tiêu nghiên cứu 12

4 Phạm vi nghiên cứu 13

5 Mẫu khảo sát 13

6 Câu hỏi nghiên cứu 13

7 Giả thuyết nghiên cứu 14

8 Phương pháp nghiên cứu 14

9 Kết cấu của Luận văn 14

PHẦN NỘI DUNG 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 16

1.1 Khái niệm nguồn nhân lực KH&CN 16

1.1.1 Khái niệm nhân lực KH&CN 16

1.1.2 Phân loại nhân lực KH&CN 17

1.1.3 Nguồn nhân lực KH&CN 18

1.2 Đặc điểm nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình 20

1.2.1 Những đặc trưng của lao động KH&CN 20

1.2.2 Đặc điểm nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình 21

1.3 Khái niệm chuyên môn hóa 23

1.3.1 Khái niệm chuyên môn hóa 23

1.3.2 Các hình thức chuyên môn hóa 24

1.4 Đặc điểm chuyên môn hóa trong lĩnh vực truyền hình 27

1.5 Tiêu chí đánh giá chuyên môn hóa 28

1.6 Khái niệm công nghệ truyền hình 30

1.7 Mối quan hệ giữa nhân lực KH&CN và số hóa công nghệ truyền hình 31

Trang 5

Tổng kết chương 1 32

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN THEO XU HƯỚNG SỐ HÓA CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH 33

2.1 Vài nét về VTV9 33

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN của VTV9 34

2.2.1 Cơ cấu nhân lực và kế hoạch mở rộng nguồn nhân lực của VTV9 34

2.2.2 Đánh giá nguồn nhân lực khoa học và công nghệ hiện tại của VTV9 37

2.3 Thực trạng số hóa công nghệ truyền hình của VTV9 39

2.3.1 Hiện trạng số hóa 39

2.3.2 Định hướng số hóa trong giai đoạn từ nay đến 2020 41

2.4 Thực trạng định hướng chiến lược phát triển nhân lực KH&CN phục vụ cho số hóa 43

2.4.1 Cách thức khảo sát 43

2.4.2 Nội dung khảo sát 43

2.4.3 Kết quả khảo sát thực trạng định hướng chiến lược phát triển nhân lực KH&CN tại VTV9 44

Tổng kết chương 2 55

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KH&CN CỦA VTV9 THEO HƯỚNG SỐ HÓA CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH 58

3.1 Chiến lược chủ đạo 58

3.2 Dự báo nhân lực 60

3.3 Mục tiêu của chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến 2020 64

3.3.1 Chuyên môn hóa truyền hình trong công nghệ số 64

3.3.2 Mục tiêu về đào tạo 66

3.3.3 Mục tiêu về chính sách tuyển dụng 66

3.3.4 Mục tiêu cơ cấu nhân lực 67

3.4 Giải pháp cho việc phát triển nhân lực phục vụ số hóa của VTV9 68

3.4.1 Giải pháp cho việc cơ cấu lại nhân lực 68

3.4.2 Giải pháp cho chính sách tuyển dụng 70

3.4.3 Giải pháp cho chính sách đào tạo ngắn hạn 72

3.4.4 Giải pháp cho chính sách tạo nguồn nhân lực cho dài hạn 74

Trang 6

Tổng kết chương 3 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 84

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Cơ cấu nhân lực của VTV9 34

Bảng 2.2: Cơ cấu trình độ học vấn của nhân sự VTV9 35

Bảng 2.3: Kế hoạch phát triển và tuyển dụng nhân sự của Đài tới 2015 36

Bảng 2.4: Tỷ lệ số hóa thiết bị theo từng khâu sản xuất tại VTV9 39

Bảng 2.5: Các chương trình đào tạo có liên quan đến công nghệ số trong 3 năm từ 2010 đến 2012 của VTV9 44

Bảng 2.6: Thống kê nhân lực được tuyển dụng tại VTV9 từ 2010 đến 2012 47

Bảng 2.7: So sánh thay đổi nhân sự tại các bộ phận VTV9 2007-2012 51

Bảng 2.8: Chuyên môn hóa chi tiết sản phẩm tại VTV9 53

Biểu đồ 2.1: Tổng kết chuyên ngành đào tạo của nhân lực VTV9 38

Biểu đồ 2.2: Hình thức phát sóng truyền hình 40

Biểu đồ 2.3: Thống kê chuyên môn của các công tác viên VTV9 49

Bảng 3.1: Dự báo nhân lực cần cho Đài VTV9 đến 2017 63

Bảng 3.2: Chuyên môn hóa theo số hóa truyền hình 65

Biểu đồ 3.1: Tốc độ tăng nhu cầu nhân lực từng năm về cán bộ, viên chức KH&CN của NHK và KBS trong giai đoạn 2 62

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguồn nhân lực được xem là nguồn tài nguyên quý giá nhất trong quá trình phát triển của xã hội loài người Nước ta đang tiến hành công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội thông qua công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN đóng vai trò là cơ sở, nền tảng quyết định sự thành công của công cuộc CNH, HĐH đất nước

Trong lĩnh vực Truyền hình vốn được xem là lĩnh vực sử dụng nhiều chất xám thì nguồn nhân lực KH&CN càng được xem là yếu tố quan trọng không những đối với nội dung chương trình, mà còn đối với cả quá trình phát triển kỹ thuật sản xuất chương trình và kỹ thuật truyền dẫn phát sóng, đặc biệt là theo xu hướng công nghệ truyền hình của các nước tiên tiến

Trong xu hướng của truyền hình hiện đại, việc chuyển từ công nghệ tương

tự Analog sang công nghệ kỹ thuật số Digital hay được gọi là số hóa công nghệ truyền hình là một quá trình tất yếu Hiện tại, Đài Truyền hình Việt Nam, cũng như một số Đài địa phương và các hãng cung cấp thiết bị kỹ thuật truyền hình đã

có nhiều nghiên cứu về lợi ích của số hóa công nghệ truyền hình Thủ tướng chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 22/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 02 năm 2009 Phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020 đã đưa ra mốc thời gian đến 2020 phải chuyển sang truyền dẫn phát sóng truyền hình bằng công nghệ số Các nghiên cứu, cũng như văn bản pháp quy đã tạo hành lang pháp lý và giải pháp để đẩy nhanh việc phát triển công nghệ truyền hình số ở nước ta Tuy nhiên, các giải pháp chủ yếu tập trung vào vấn đề kỹ thuật và tài chính, còn giải pháp về nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN cho quá trình số hóa công nghệ truyền hình chưa được nghiên cứu một cách nghiêm túc

VTV9 là kênh truyền hình non trẻ trong hệ thống kênh truyền hình phủ sóng cả nước của Đài Truyền hình Việt Nam, chính thức phát sóng từ ngày

Trang 10

8/10/2007 Kênh VTV9 do Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh sản xuất và kiểm duyệt nội dung, cũng như truyền dẫn và phát sóng Sau hơn 05 năm phát sóng, kênh truyền hình này đã có những bước phát triển vượt bật, đã trở thành một trong năm kênh truyền hình được yêu thích nhất tại Việt Nam (theo số liệu của Công ty điều tra chỉ số thị trường TMS Hồng Kông) Tuy nhiên, ra đời sau nhưng muốn phát triển nhanh và bền vững thì việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN được xem là yếu tố mang tính quyết định Nguồn nhân lực này không những góp phần xây dựng thương hiệu kênh, mà còn góp phần quan trọng đẩy nhanh quá trình chuyển đổi

từ công nghệ tương tự Analog sang công nghệ truyền hình số Digital theo xu hướng của truyền hình hiện đại Tuy nhiên, xuất phát từ yếu tố chủ quan và khách quan, đến nay VTV9 vẫn chưa có chiến lược phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực KH&CN cho việc số hóa công nghệ truyền hình nói riêng

Xuất phát từ những vấn đề trên đã gợi mở cho người viết ý tưởng lựa chọn đề tài nghiên cứu : “Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH&CN của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình” với mong muốn góp phần giải quyết những vấn đề cả về lý thuyết và thực tiễn trong việc phát triển nguồn nhân lực KH&CN trên lĩnh vực truyền hình và số hóa công nghệ truyền hình cho VTV9 nói riêng, Đài THVN và ngành truyền hình Việt Nam nói chung

Ý nghĩa lý luận của đề tài

Đề tài này được nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận về khái niệm nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực tuyền hình, số hóa công nghệ truyền hình, chuyên môn hóa truyền hình và tầm quan trọng của nguồn nhân lực KH&CN trong quá trình số hóa công nghệ truyền hình

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ phục vụ thiết thực vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực để VTV9 thực hiện số hóa công nghệ truyền hình, đồng

Trang 11

yêu cầu phát triển bền vững theo xu thế truyền hình hiện đại Kết quả nghiên cứu cũng sẽ phần quan trọng vào việc hoàn thiện định hướng và cơ chế chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN đối với toàn hệ thống của Đài THVN, phục vụ đắc lực cho quá trình số hóa công nghệ truyền hình ở nước ta

Những luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày sẽ được bổ sung làm tài liệu tham khảo vốn ít ỏi trong nghiên cứu, giảng dạy khối kiến thức về lĩnh vực báo chí truyền hình Đây cũng sẽ là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo để xây dựng nên giáo trình giảng dạy cho lĩnh vực kỹ thuật và nội dung báo chí truyền hình theo hướng số hóa, thay cho giáo trình theo công nghệ Analog như hiện nay Những giải pháp, đề xuất, khuyến nghị có thể được tham khảo trong việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho yêu cầu đổi mới công nghệ sản xuất và phát sóng chương trình truyền hình trong giai đoạn mới của các Đài truyền hình địa phương

2 Lịch sử nghiên cứu

Ở các nước, việc nghiên cứu chuyển đổi từ truyền hình tương tự sang truyền hình số đã diễn ra từ rất lâu, và nhiều nghiên cứu kinh nghiệm đã được rút ra như:

- Chuyển đổi tương tự - bài học từ những kinh nghiệm của Châu Âu (Analogue switch-off - Learning from experiences in Europe) của tổ chức DigiTAG xuất bản năm 2008 [13]

- Những bài học từ chuyển đổi số tại Hàn Quốc (Lessons from Digital Switchover in South Korea) của tác giả Hyunsun Yoon năm 2012 [9]

Bên cạch các nghiên cứu kinh nghiệm trên, không ít những nghiên cứu đánh giá và đề xuất giải pháp cho việc số hóa tại các nước như Chuyển đổi tương tự tại Singapore (Digital Switchover in Singapore) của Ling Pek Ling (12/7/2012) [11] và tương tự tại Nhật [12]

Trong các nghiên cứu này, chủ yếu chỉ ra về mặt chuyển đổi thiết bị, cơ sở hạ tầng tại các nước và bài học kinh nghiệm đưa ra mà rất ít đề cập đến việc phát triển nhân lực KH&CN cho quá trình này Tại nước ta, cũng đã có một số tác giả

đã nghiên cứu về truyền hình như các báo cáo của Đài truyền hình Việt Nam

Trang 12

[1][2][3] Về vấn đề nhân lực truyền hình có thể nói gần đây nhất là luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Điệp (2012) - Đào tạo nguồn nhân lực tại trung tâm điện toán và truyền số liệu khu vực 3 - Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng [5] Mặc dù đã có những đề tài về nhân lực và quá trình chuyển đổi số hóa cũng như các quyết định quan trọng của trong quy hoạch số hóa và chiến lược của Việt Nam đến 2020 [6][7][8] Nhưng hầu như không có bất kỳ nghiên cứu nào

về nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình, đặc biệt, nghiên cứu về nguồn nhân lực KH&CN cho quá trình chuyển đổi sang số hóa công nghệ truyền hình

Chính vì thế, việc thực hiện đề tài “Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH&CN của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình” mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng Người viết sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu về nguồn lực con người và nguồn nhân lực KH&CN ở các lĩnh vực khác để đưa ra một hướng tiếp cận phù hợp vào lĩnh vực truyền hình, đồng thời ứng dụng những kết quả nghiên cứu của nước ngoài có điều kiện tương đồng một cách có chọn lọc vào điều kiện thực tế của việc số hóa công nghệ truyền hình ở nước ta

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH&CN để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang công nghệ truyền hình số ở VTV9

Với mục tiêu trên, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể chủ yếu sau đây :

+ Khảo sát, đánh giá, phân tích hiện trạng về nguồn nhân lực KH&CN và định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH&CN phục vụ cho số hóa công nghệ truyền hình của VTV9

+ Đưa ra cơ sở lý luận về mối liên hệ giữa nguồn nhân lực KH&CN và quá trình số hóa công nghệ truyền hình, chứng minh tính then chốt của nguồn nhân lực KH&CN được chuyên môn hóa đối với quá trình số hóa công nghệ truyền hình

Trang 13

+ Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH&CN và đề xuất một số chính sách để phát triển nguồn nhân lực KH&CN

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Tập trung đánh giá và chứng minh tính then chốt của nguồn nhân lực KH&CN đối với quá trình số hóa công nghệ truyền hình, đề xuất định hướng chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN, cũng như thúc đầy quá trình chuyển đổi từ công nghệ Analog sang công nghệ truyền hình kỹ thuật số ở VTV9

Phạm vi về thời gian: Từ năm 2007 khi VTV9 bắt đầu phát sóng đến mốc thời gian năm 2020 khi phải chuyển sang truyền dẫn và phát sóng truyền hình bằng công nghệ số theo Quyết định 22/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 02 năm

2009 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020”

5 Mẫu khảo sát

+ Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, người viết sẽ tiến hành khảo sát tập trung chủ yếu ở VTV9, đồng thời có thể mở rộng khảo sát ở các đơn vị có điều kiện tương tự trong hệ thống của Đài THVN

+ Để đáp ứng yêu cầu tiếp thu kinh nghiệm và nắm được xu thế phát triển của công nghệ truyền hình, người viết cũng sẽ khảo sát thực tế một số Đài Truyền hình trong khu vực và trên thế giới đã số hóa thành công hoặc đang trong quá trình chuyển đổi sang công nghệ truyền hình kỹ thuật số có nhiều điểm tương đồng với điều kiện của ngành truyền hình Việt Nam nói chung và VTV9 nói riêng

6 Câu hỏi nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, vấn đề được tập trung nghiên cứu là “Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH&CN để VTV9 số hóa công nghệ truyền hình theo hướng nào ?” Trong đó có các vấn đề cụ thể :

+ Định hướng chiến lược tuyển dụng và đào tạo lại nguồn nhân lực KH&CN phục vụ cho số hóa công nghệ truyền hình theo hướng nào ?

Trang 14

+ Chính sách cần thiết để khuyến khích phát huy năng lực của nguồn nhân lực KH&CN theo hướng số hóa công nghệ truyền hình?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu được đặt ra trong đề tài này là “Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH&CN theo hướng chuyên môn hóa là khâu then chốt để số hóa công nghệ truyền hình” Theo đó, có những giả thuyết đi kèm được đưa ra như sau:

- Sử dụng tiêu chí chuyên môn hóa từ khâu sản xuất nội dung, đến truyền dẫn

và phát sóng chương trình theo công nghệ truyền hình số để định hướng chiến lược tuyển dụng và đào tạo lại nguồn nhân lực KH&CN cho VTV9

- Dùng công cụ là chính sách tự chủ, tự chịu trách nhiệm để tạo ra đội ngũ nhân lực luôn thích ứng với những biến đổi do công nghệ thay đổi, không những cập nhật, mà còn có khả năng sáng tạo từ nền tảng công nghệ tiếp thu được, làm nòng cốt quan trọng cho quá trình chuyển đổi và phát triển theo hướng số hóa công nghệ truyền hình

8 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu: Thu thập và phân tích các nguồn tài liệu, số liệu sẵn có

về thực trạng nguồn nhân lực KH&CN và quá trình số hóa công nghệ truyền hình

- Phỏng vấn sâu: phỏng vấn trực tiếp các trưởng phòng, ban lãnh đạo đài về công tác nhân sự và định hướng chiến lược trong việc phát triển nhân sự KH&CN tại đài trong giai đoạn số hóa đến 2020

- Phương pháp quan sát và tham dự: tham dự các cuộc họp của VTV9, quan sát thực trạng phân bố nhân lực tại các phòng ban

9 Kết cấu của Luận văn

Luận văn gồm có 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực

truyền hình và số hóa công nghệ truyền hình

Trang 15

- Chương 2: Phân tích thực trạng định hướng chiến lược phát triển nguồn

nhân lực KH&CN theo xu hướng số hóa công nghệ truyền hình của VTV9

- Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực KH&CN của VTV9 theo

hướng số hóa công nghệ truyền hình

- Ngoài ra, cuối luận văn còn có phần kết luận, đồng thời cuối mỗi chương đều có phần tổng kết chương nhằm cung cấp tư tưởng và triết lý về hướng triển khai nghiên cứu mà đề tài đặt ra

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực KH&CN

1.1.1 Khái niệm nhân lực KH&CN

Hiện nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm nhân lực KH&CN

Tại Pháp, thuật ngữ thường được dùng là nhân lực khoa học kỹ thuật, bao gồm các nghiên cứu viên chuyên nghiệp, làm việc trong các cơ quan nghiên cứu

và các nghiên cứu viên, kỹ thuật viên làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, thuơng mại và trong các cơ quan dịch vụ nghiên cứu theo chế độ ký hợp đồng làm việc

Trong khi đó, tại Mỹ trong luật KH&CN có ghi là đội ngủ cán bộ, viên chức khoa học, kỹ sư và kỹ thuật viên

Tại Trung Quốc đội ngũ làm công tác khoa học kỹ thuật gồm những người làm nghiên cứu khoa học cơ bản, những người nghiên cứu kỹ thuật cao, những người làm nghiên cứu hạng mục công trình lớn và những làm nghiên cứu hạng mục trọng điểm kinh tế

Đối với nước ta từ năm 90 trở về trước, thuật ngữ thường dùng là đội ngũ cán bộ, viên chức khoa học kỹ thuật Nhưng trong những năm gần đây, thuật ngữ cán bộ, viên chức khoa học và công nghệ hoặc cán bộ, viên chức KH&CN lại được dùng khá phổ biến Cũng đã có một thời khái niệm nhân lực KH&CN được tiếp cận trên cơ sở “đầu ra” của các cơ sở đào tạo Như vậy nếu chỉ căn cứ vào trình độ đào tạo thì nhân lực KH&CN có thể được hiểu là toàn bộ lực lượng lao động xã hội đã qua đào tạo, từ công nhân tới kỹ thuật viên, kỹ sư và cả những người có trình độ đào tạo cao hơn (ThS, TS, TSKH ) tham gia trong các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Cách tiếp cận này gần như chỉ

là sự thừa nhận quá trình đào tạo, ít chú ý đến quá trình đào tạo lại, đào tạo

Trang 17

thường xuyên và đào tạo qua việc làm thực tế, mặt khác cũng không thấy được

sự vận động xã hội của nghề nghiệp

Trên thực tế trong hoạt động KH&CN có rất nhiều người đã và đang làm những công việc khác nhau, thậm chí hoàn toàn khác với kiến thức được đào tạo

từ ban đầu Điều đó cũng phần nào phản ảnh sự di động xã hội trong cộng đồng KH&CN Rõ ràng cách tiếp cận trên không cho phép thống kê một cách chính xác về nhân lực KH&CN và đó sẽ ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách nguồn nhân lực KH&CN

Theo quan niệm của UNESCO “ Nhân lực KH&NC là toàn bộ những người trực tiếp liên quan tới hoạt động có trực tiếp liên quan mật thiết đến sự ra đời, truyền bá và ứng dụng tri thức KH&CN trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, y học và khoa học nông nghiệp” Như vậy nhân lực KH&CN phải được tiếp cận không những từ quá trình đào tạo mà còn từ chức năng nghề nghiệp của họ Để làm rõ hơn khái niệm nhân lực KH&CN của UNESCO, đồng thời vận dụng vào điều kiện thực tế của nước ta hiện nay, luận văn sử dụng khái niệm nhân lực KH&CN “ Nhân lực KH&CN là tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động KH&CN với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và sáng tác, góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ KH&CN, của sự phát triển sản

xuất và xã hội”

1.1.2 Phân loại nhân lực KH&CN

Theo tài liệu lớp học tập lớp bồi dưỡng kiến thức kinh tế kỹ thuật năm

2002 của Bộ KH&CN thì chức năng của nhân lực KH&CN bao gồm: chức năng nghiên cứu sáng tạo, chức năng giảng dạy, chức năng quản lý, chức năng khai thác sử dụng và tác nghiệp

Với chức năng nghiên cứu sáng tạo: nhân lực KH&CN được hiểu là các nhà nghiên cứu hoặc các nhà khoa học được đào tạo ở trình độ cao và rất khác nhau về năng lực chuyên môn Vị trí của họ là các tổ chức nghiên cứu KH&CN ( các Viện , các phòng thí nghiệm, bộ phận nghiên cứu ứng dụng của các đơn vị ) Các tổ chức này có thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau ( Nhà nước,

Trang 18

tập thể, tư nhân hoặc các doanh nghiệp , công ty ) Các nhà nghiên cứu ở đây là bao hàm cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đối với tất cả các lĩnh vực KH&CN ( khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học công nghiệp, khoa học y dược, khoa học xã hội và nhân văn )

Với chức năng giảng dạy: nhân lực KH&CN được hiểu là những giảng viên, những người thầy đào tạo ra những người biết sử dụng tri thức về KH&CN phục vụ cho lợi ích cộng đồng và cho xã hội Cũng như nhiều nước khác hoạt động giáo dục và đào tạo ở nước ta được chia thành nhiều loại với các trình độ khác nhau Ở bậc đại học các hình thức đào tạo bao gồm đào tạo chính quy, đào tạo không chính quy, đào tạo từ xa, đào tạo trong công việc thực tế, đào tạo thường xuyên, đào tạo lại và tự đào tạo Đồng thời cũng phải kể đến các hình thức bồi dưỡng, nâng cao trình độ, truyền nghề, nâng cao kỹ năng, kỹ xảo về KH&CN

Với chức năng quản lý: nhân lực KH&CN thường được hiểu là những nhà quản lý Các nhà quản lý không chỉ bao gồm các kỹ sư mà còn là các cán bộ, viên chức quản lý có trình độ cao, các công chức, viên chức nhà nước có rất nhiều công việc liên quan đến các khâu trong quy trình quản lý Mặc dù tương đối ít về số lượng nhưng đây là một lực lượng quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động về quản lý KH&CN

Với chức năng khai thác sử dụng và tác nghiệp: nhân lực KH&CN được hiểu là những cán bộ, viên chức kỹ thuật và công nhân kỹ thuật Họ là những người sử dụng công nghệ, vận hành, sửa chữa thiết bị và trực tiếp tham gia vào các hoạt dộng sản xuất, xây dựng, đồng thời họ tham gia vào các quá trình nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ với tư cách là những người tác nghiệp, những người thừa hành các công việc được giao

1.1.3 Nguồn nhân lực KH&CN

Trên thực tế khái niệm “nguồn lực con người” được sử dụng ở nhiều nước phương Tây và một số nước Châu Á ở những năm 60 Khái niệm này được sử dụng phổ biến trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con

Trang 19

người trong sự phát triển Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực có lẽ mới được

sử dụng nhiều từ đầu năm 90 trở lại đây Tìm hiểu những nghiên cứu gần đây cho thấy, quan niệm về nguồn nhân lực khá đa dạng và được đề cập đến từ những góc độ khác nhau

Trước hết nguồn nhân lực là người lao động (đội ngũ lao động hiện có và

sẽ có) Đồng thời nguồn nhân lực cũng phản ảnh quy mô dân số thông qua số lượng dân cư và tốc độ dân số của một quốc gia trong từng thời kỳ nhất định Thứ hai khái niệm nguồn nhân lực phản ánh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động đã qua đào tạo trong các lĩnh vực và lĩnh vực kinh tế, cơ cấu trình độ lao động, cơ cấu tuổi lao động v.v… Cơ cấu dân cư và lao động ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực

Thứ ba khái niệm nguồn nhân lực phản ánh chất lượng dân số (dưới dạng tiềm năng), đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động hiện tại và trong tương lai gần Chất lượng của lực lượng lao động được thể hiện qua hàng loạt yếu tố, nhưng quan trọng và quyết định nhất là yếu tố trí lực, thể lực và đạo đức Như vậy, khi nói tới chất lượng của lực lượng lao động là bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc v.v… Nói cách khác đó là toàn bộ năng lực và phẩm chất của con người tạo nên nhân cách trong mỗi cá nhân Vì vậy phát huy nguồn nhân lực chính là nuôi dưỡng và sử dụng có hiệu quả những năng lực và phẩm chất đó

Thứ tư khái niệm nguồn nhân lực còn hàm chứa sự tương tác giữa các yếu tố nội tại, hàm chứa cả sự tác động qua lại với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với các nguồn lực khác Mặt khác nó cũng nói lên sự biến đổi

về số lượng, chất lượng và cơ cấu của lực lượng lao động

Thứ năm khái niệm nguồn nhân lực còn chỉ ra rằng con người được xem xét như một nguồn lực trong hệ thống các nguồn lực khác như vật lực, tài lực, tinh lực Nhưng khác ở chổ nhờ có sự tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp ) của

Trang 20

nguồn nhân lực, các nguồn lực khác mới phát huy được tác dụng và trở thành có

ý nghĩa Vì thế nó là nguồn lực của mọi nguồn lực

Mặt khác do có những điểm riêng mà nguồn nhân lực vừa là chủ thể quyết định sự vận động và phát triển xã hội, vừa là khách thể của các quá trình kinh tế-

xã hội và là đối tượng mà xã hội phải hướng vào phục vụ

Là chủ thể, con người khai thác và sử dụng các nguồn lực khác hiện có, đồng thời góp phần tạo ra các nguồn lực mới Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai thác cả về mặt trí lực và thể lực Điều đó có nghĩa là nếu nguồn lực khác chỉ là phương tiện của sự phát triển xã hội, thì nguồn nhân lực lại vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của chích sự phát triển xã hội Vậy khi xem xét về nguồn nhân lực đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện và biện chứng Đồng thời phải nhìn nhận con người với tất cả hiện trạng tiềm năng, đặc điểm và sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội cả về phương diện chủ thể và phương diện khách thể

Như vậy kết hợp khái niệm nhân lực KH&CN và nguồn nhân lực, cũng như việc phân loại nhân lực KH&CN, đồng thời vận dụng vào điều kiện thực tế của nước ta hiện nay, người viết luận văn sử dụng khái niệm nguồn nhân lực KH&CN là “ Nguồn nhân lực KH&CN là một nguồn lực tham gia vào các hoạt động KH&CN tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các nguồn lực khác, với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và sáng tác, góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ KH&CN và sự phát triển của lao động sản xuất và xã hội”

1.2 Đặc điểm nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình

1.2.1 Những đặc trưng của lao động KH&CN

Tập hợp những nghiên cứu về nguồn nhân lực KH&CN thì nguồn lực này

có những đặc trưng cơ bản như sau :

- Lao động KH&CN là lao động trí tuệ, năng suất lao động phụ thuộc rất nhiều vào năng lực trí tuệ của đội ngũ nhân lực KH&CN, cường độ lao

Trang 21

diễn ra trong giờ hành chính, nhiều khi vượt quá thời gian lao động theo qui định

- Mục tiêu của hệ thống KH&CN là luôn tìm tòi, sáng tạo cái mới, nó đòi hỏi lao động KH&CN không theo lối mòn sẵn có, đầy sức sáng tạo

- Tính phi vật chất của kết quả lao động KH&CN Kết quả lao động KH&CN hàm chứa kiến thức mới, các công nghệ mới, các mẫu vật mới, giống cây trồng, vật nuôi mới v.v… Về thực chất chúng mang bản chất của thông tin Điều này không thể đánh giá ngay kết quả lao động hoặc xây dựng được các định mức lao động và trong một số trường hợp khó có thể biểu dương, khuyến khích những công trình có ý nghĩa khoa học kịp thời đối với thành quả lao động của họ

Thiết bị, phương tiện hoạt động KH&CN có liên quan mật thiết với kết quả lao động Do vậy, việc đầu tư thiết bị, phương tiện sẽ tác động đến kết quả

trong hoạt động của lao động KH&CN

1.2.2 Đặc điểm nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình

Theo khái niệm nguồn nhân lực KH&CN mà luận văn đưa ra, nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình bao gồm các chức năng sau :

Nghiên cứu sáng tạo:

- Các kỹ sư nghiên cứu ứng dụng Ngoài việc nghiên cứu khai thác các tính năng của thiết bị và công nghệ để ứng dụng hiệu quả vào việc sản xuất và phát sóng các chương trình truyền hình, đội ngũ này còn nghiên cứu cải tiến thiết bị, áp ụng quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đồng thời nghiên cứu sản xuất mới thiết bị công nghệ, phần mềm ứng dụng, từng bước làm chủ công nghệ hướng đến việc nội địa hóa công nghệ sản xuất

Trang 22

chúng, thông qua các chương trình truyền hình phổ biến kiến thức cho người xem

Giảng dạy KH&CN:

Ngoài lực lượng giảng viên ở các khoa có giảng dạy truyền hình của các Trường Đại học, lực lượng làm công tác đào tạo ở các Trung tâm đào tạo của một số Đài truyền hình, lực lượng giảng dạy KH&CN trong lĩnh vực truyền hình còn được xác định là đội ngũ những người đang trực tiếp sản xuất và phát sóng chương trình truyền hình như : kỹ sư, kỹ thuật viên, quay phim, đạo diễn, phóng viên, biên tập … Họ tham gia công tác giảng dạy với vai trò là những giảng viên thỉnh giảng cho các lớp tập huấn, cũng như đào tạo chính quy

Quản lý KH&CN:

Bên cạnh những người trực tiếp làm công tác quản lý các bộ phận nghiên cứu ứng dụng, các dự án KH&CN, các đơn vị đào tạo, những người làm công tác quản lý KH&CN trong lĩnh vực truyền hình còn được hiểu là những người tham gia quản lý các khâu trong quy trình công nghệ sản xuất chương trình truyền hình như : tổ chức sản xuất, kiểm duyệt nội dung tiền kỳ (khảo sát hiện trường, xây dựng đề cương kịch bản, thiết kế sân khấu, âm thanh ánh sáng, ghi hình …), tổ chức sản xuất, kiểm duyệt nội dung hậu kỳ (kịch bản, lời bình, nhạc nền, đồ họa, dựng hình …) kiểm duyệt nội dung phát sóng (từng chương trình riêng lẻ, tổng thể chương trình của một kênh truyền hình), tổ chức truyền dẫn và phát sóng chương trình truyền hình (phủ sóng mặt đất, hệ thống truyền cáp, truyền hình vệ tinh, truyền hình internet, truyền hình trên điện thoại di động …)

Khai thác sử dụng và sáng tác:

- Các kỹ thuật viên là những người trực tiếp nhận chuyển giao và khai thác sử dụng các thiết bị, phần mềm phục vụ cho công nghệ sản xuất và phát sóng chương trình truyền hình Ngoài việc khai thác đạt hiệu quả cao nhất tính năng của các thiết bị công nghệ, những kỹ thuật viên còn có thể tạo cảm hướng sáng tác cho đội ngũ những người làm nội dung chương trình bằng

Trang 23

việc gợi ý hiệu ứng về âm thanh, ánh sáng, hình ảnh phù hợp với nội dung từng thể loại, nhất là những kỹ thuật viên kỹ xảo và đồ họa

- Kỹ thuật viên quản trị mạng là những người khai thác, vận hành và quản lý

hệ thống mạng để phục vụ cho công nghệ truyền dẫn, kiểm duyệt và phát sóng chương trình truyền hình Đặc biệt, khi ứng mạng không dây trên nền tảng 3G của mạng điện thoại di động, những kỹ thuật viên quản trị mạng còn

có thể tham gia vào công nghệ sản xuất chương trình truyền hình, nhất là sản xuất tin tức thời sự vừa nhanh, vừa có thể phủ khắp các địa bàn

- Các đạo diễn, quay phim, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên ứng dụng và khai thác các tính năng của thiết bị và công nghệ vào tác nghiệp ở từng khâu trong quy trình sản xuất và phát sóng các chương trình truyền hình

1.3 Khái niệm chuyên môn hóa

1.3.1 Khái niệm chuyên môn hóa

Hiện nay, trong việc định nghĩa thế nào là chuyên môn hóa, có nhiều khái niệm khác nhau được sử dụng như:

Chuyên môn hóa sản xuất là hình thức phân công lao động xã hội và tổ chức hợp lí lao động, phản ánh quá trình tập trung sản xuất những loại sản phẩm riêng biệt hay những chi tiết của sản phẩm thành những ngành độc lập và những

xí nghiệp chuyên môn hoá, nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm Được đặc trưng bởi tính đồng nhất của sản phẩm và quá trình công nghệ, thiết bị và cán bộ, viên chức chuyên môn nên chuyên môn hóa sản xuất được coi là một đặc trưng của nền kinh tế hiện đại Tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và kĩ thuật, quản lí, có chuyên môn hoá ngành, chuyên môn hoá xí nghiệp, chuyên môn hoá thành phẩm, chuyên môn hoá chi tiết sản phẩm, chuyên môn hoá giai đoạn công nghệ, vv

Còn chuyên môn hoá quản lý được hiểu là việc làm sao để cho quá trình vận động, thao tác của các công nhân, nhân viên trong công ty diễn ra hợp lý, không trùng lặp, tốn ít thời gian và sức lực, qua đó đạt được năng suất lao động

Trang 24

cao nhất Đó chính là sự hợp lý hoá lao động, hay nói theo cách hiện đại là tổ chức lao động một cách khoa học

Xét trên góc độ hoạt động của một tổ chức, thì chuyên môn hóa là việc tập trung hoạt động của tổ chức vào thực hiện những công việc cùng loại nhất định Những công việc cùng loại mà tổ chức thường thực hiện như: chế tạo những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau; thực hiện một số giai đoạn công nghệ của một quá trình công nghệ sản phẩm; hoàn chỉnh hoặc tập trung tạo ra một số bộ phận, chi tiết của sản phẩm hoàn chỉnh… Như vậy, việc tổ chức, phân công lao động xã hội càng phát triển, trình độ chuyên môn hóa càng cao

Như vậy, chuyên môn hóa thực chất là phân công lao động hợp lý hay là

tổ chức lao động một cách khoa học nhằm tạo ra năng suất lao động cao, đồng thời thúc đẩy việc sản xuất chuyển biến theo hướng chuyên nghiệp Luận văn sẽ

sử dụng khái niệm chuyên môn hóa theo hướng này

1.3.2 Các hình thức chuyên môn hóa

Với mỗi tổ chức, việc áp dụng hợp lý hình thức chuyên môn hóa sản xuất góp phần thiết thực vào tăng sản lượng, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tăng năng suất cho người lao động và lợi nhuận … Thật ra, đó là kết quả tổng hợp của tất cả các hoạt động trong quản lý tổ chức Sự đóng góp của chuyên môn vào kết quả này biểu hiện ở chỗ: nó vừa cho phép, vừa đòi hỏi thay thế các thiết

bị vạn năng bằng thiết bị chuyên dùng có năng suất cao hơn, nghĩa là chuyên môn hóa công cụ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng, kỹ xảo của người lao động; làm cho công tác quản lý được tập trung và sâu hơn; đơn giản hóa các mối quan hệ giữa nội bộ tổ chức và các quan hệ giữa tổ chức với xung quanh

Trong hoạt động đã đi vào qui trình mang tính chuyên nghiệp trong sản xuất, chuyên môn hóa được thực hiện dưới những hình thức khác nhau Dưới đây là những hình thức chuyên môn hóa sản xuất chủ yếu trong sản xuất hiện đại:

Trang 25

Chuyên môn hóa sản phẩm:

- Chuyên môn hóa sản phẩm là việc tập trung sản xuất của của tổ chức hoặc một nhóm chuyên viên vào việc chế tạo một loại sản phẩm hoàn chỉnh đến mức độ nhất định Khi thực hiện chuyên môn hóa sản phẩm, tổ chức hay nhóm chuyên viên sẽ tự đảm nhận việc chế tạo tất cả các bộ phận và chi tiết cấu thành sản phẩm hoàn chỉnh, tự thực hiện tất cả các khâu công nghệ của quá trình công nghệ chế tạo và kiểm định sản phẩm Nói cách khác, về cơ bản, sản xuất đƣợc khép kín trong phạm vi một tổ chức hay chỉ là một nhóm chuyên viên của một tổ chức lớn Việc áp dụng hình thức chuyên môn hóa này có thể đảm bảo đƣợc sự tập trung trong chỉ huy, điều hành sản xuất, sự chủ động trong tổ chức mối liên hệ sản xuất Hình thức chuyên môn hóa sản phẩm chỉ áp dụng cho các tổ chức hay nhóm chuyên viên sản xuất ra các sản phẩm đơn giản về kết cấu và công nghệ chế tạo hay đơn thuần là những sản phẩm mang tính đặc thù

- Hình thức này còn đƣợc áp dụng đặc biệt cho các tổ chức lớn, có nhiều sản phẩm khác nhau Khi đó việc hình thành nên những nhóm chuyên biệt cho từng sản phẩm với những cơ cấu quản lý riêng cũng là biểu hiện của chuyên môn hóa sản phẩm

Chuyên môn hóa bộ phận và chi tiết sản phẩm:

Chuyên môn hóa bộ phận và chi tiết của sản phẩm là việc tập trung hoạt động của tổ chức hoặc một nhóm chuyên viên vào chế tạo một (hoặc một số) bộ phận và chi tiết của sản phẩm Khi áp dụng hình thức CMH này, sản phẩm hoàn chỉnh cuối cùng là kết tinh lao động của nhiều nhóm độc lập Tùy kiểu tổ chức mối liên hệ sản xuất giữa các tổ chức hay các nhóm, các bộ phận và chi tiết sản phẩm do mỗi tổ chức hay nhóm làm nên Việc thực hiện chuyên môn hóa theo hình thức này là biểu hiện cao của trình độ chuyên môn hóa Để áp dụng có hiệu

Trang 26

quả hình thức chuyên môn hóa này phải đảm bảo những điều kiện cơ bản sau đây:

 Sản phẩm có kết cấu phức tạp và lượng nhu cầu lớn

 Tổ chức tốt mối liên hệ sản xuất giữa các tổ chức có liên quan

 Các bộ phận, chi tiết phải được sản xuất theo tiêu chuẩn thống nhất

Chuyên môn hóa giai đoạn công nghệ chế tạo sản phẩm:

Chuyên môn hóa giai đoạn công nghệ là tập trung hoạt động của tổ chức hay một nhóm chuyên viên vào việc thực hiện một hoặc một số giai đoạn công nghệ của quá trình chế tạo sản phẩm Với việc thực hiện hình thức chuyên môn hóa này, quá trình phân công lao động giữa các nhóm sản xuất được thực hiện bằng cách chia tác quá trình công nghệ chế tạo sản phẩm thành các giai đoạn khác nhau và giao cho các nhóm độc lập đảm nhận Sản phẩm cuối cùng là kết quả của sự hiệp tác sản xuất của nhiều nhóm Cũng có trường hợp một nhóm hay cả một tổ chức chỉ đảm nhận một giai đoạn công nghệ phục vụ cho nhiều loại sản xuất những sản phẩm khác nhau

Chuyên môn hóa các hoạt động phụ trợ:

Chuyên môn hóa hoạt động phù trợ là tập trung hoạt động của tổ chức vào việc thực hiện những công việc phù hợp cho hoạt động chế tạo sản phẩm của các

tổ chức khác Ví dụ: cơ chế hình thành nên các hãng sửa chữa thiết bị truyền hình, công ty dịch vụ truyền hình, hãng phim… phục vụ cho một Đài truyền hình Nếu không áp dụng hình thức chuyên môn hóa này, mỗi tổ chức phải xây dựng các bộ phận phụ trợ cho mình Việc đó vừa gây sự phân tán và lãng phí vốn đầu tư, vừa không có khả năng sử dụng đầy đủ công suất của các bộ phận

ấy Tuy hoạt động mang tính chất phù trợ cho hoạt động của các tổ chức khác, nhưng các tổ chức thuộc hình thức chuyên môn hóa này vẫn hoàn toàn bình đẳng với các tổ chức khác, sản phẩm và dịch vụ của chúng vẫn có đầy đủ tư cách là hàng hóa, để trao đổi và mua bán trên thị trường

Trang 27

1.4 Đặc điểm chuyên môn hóa trong lĩnh vực truyền hình

Dựa trên đặc điểm của lĩnh vực truyền hình và cách thức phân loại các hình

thức chuyên môn hóa, khi áp dụng chuyên môn hóa vào lĩnh vực truyền hình sẽ

được xây dựng dựa trên chuyên môn hóa sản phẩm và chuyên môn hóa bộ phận

và chi tiết sản phẩm Cụ thể, có thể phân loại các dạng chuyên môn hóa sản

phẩm trong lĩnh vực truyền hình thành các hình thức như trong sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1: Phân loại các dạng chuyên môn hóa sản phẩm trong lĩnh vực truyền

hình

Ở đây, sản phẩm của lĩnh vực truyền hình được hiểu là các chương trình

truyền hình bao gồm: các tư liệu, thước phim, kịch bản truyền hình Bộ phận và

chi tiết sản phẩm

- Từ quan điểm chuyên môn hóa sản phẩm của lĩnh vực truyền hình, có thể

nhận thấy, đặc điểm từng loại sản phẩm sẽ bao hàm trong đó hàng loạt các

công nghệ khác nhau được ứng dụng Ví dụ như các thiết bị vận hành tại

trường quay cho các chuyên mục thời sự đến các thiết bị hiện trường quay

trực tiếp của chương trình phỏng vấn trực tiếp tại hiện trường

- Thêm vào đó, mặc dù các sản phẩm của lĩnh vực truyền hình luôn có sự khác

biệt nhưng tựu chung vẫn trải qua một số công đoạn như nhau nên khi thực

hiện việc chuyên môn hóa có thể áp dụng thêm chuyên môn hóa chi tiết sản

phẩm

Trang 28

- Nếu như trước đây trong kỷ nguyên truyền hình tương tự, các tiến trình thực hiện sản phẩm rất tách lập về chi tiết như quay phim, dựng hình, hiệu ứng, xử

lý âm thanh … Thì ngày nay, việc ứng dụng công nghệ số đã thay đổi hoàn toàn quan điểm trên Hiện tại để có thể đảm đương tốt công việc trong kỷ nghệ số đòi hỏi một kỹ thuật viên một Đài truyền hình phải“Giỏi một việc biết nhiều việc” Nếu nói không sai, một số ý kiến cho biết, một người trong công nghệ số truyền hình có thể đồng thời đảm đương tất cả các quá trình sản xuất cho ra sản phẩm cuối cùng Và các thiết bị, công nghệ, phần mềm ngày nay trong lĩnh vực truyền hình luôn là một tổ hợp nhiều chức năng Chính vì thế khi thực hiện chuyên môn hóa cho truyền hình số thì phải bám lấy tiêu chí là sản phẩm chứ không như trước kia có thể chuyên môn hóa một cách rất chuyên biệt thành từng giai đoạn sản xuất sản phẩm

1.5 Tiêu chí đánh giá chuyên môn hóa

Với đặc điểm chuyên môn hóa cho ngành truyền hình hiện nay được xây dựng dựa trên chuyên môn hóa sản phẩm Ở đây, mỗi sản phẩm đều sẽ trải qua các giai đoạn sẽ được trình bày ở trong mục về công nghệ truyền hình

Chính vì thế, các tiêu chí được xây dựng cho việc đánh giá chuyên môn hóa đều tập trung vào việc xây dựng tiêu chí cho sản phẩm Cụ thể bao gồm:

- Tiêu chí về thời gian cho một sản phẩm: ở đây chính là thời gian đầu tư và xây dựng một chương trình truyền hình từ khâu xây dựng kịch bản đến phát sóng Thêm vào đó, đối với một số chương trình truyền hình trực tiếp hay thời sự đặc biệt thì thời gian này còn được tính là tốc độ cập nhật thông tin đến thời điểm phát sóng chương trình

- Tiêu chí về chất lượng sản phẩm: ở đây, sản phẩm của bất kỳ một chương trình truyền hình nào cũng đều tập trung vào hai yếu tố:

o Chất lượng hình ảnh: bao gồm ánh sáng, độ phân giải, tính sống động và trung thực

Trang 29

o Chất lượng về âm thanh: độ trong trẻo, độ ồn, độ trễ âm thanh và

độ trung thực của âm thanh Ngoài ra còn có tiêu chí về chất lượng nghệ thuật và nội dung nhưng ở trong luận văn này tôi không đề cập đến do chúng không quyết định bởi công nghệ

- Tiêu chí về nhân lực: Ở đây, với việc sử dụng chuyên môn hóa nhất là chuyên môn hóa trong thời đại số hóa truyền hình thì tiêu chí nhân lực là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả của cả quá trình chuyên môn hóa Cụ thể ở trong tiêu chí nhân lực này thì ta sẽ đánh giá thông qua:

o Số lượng nhân lực phục vụ cho công tác sản xuất

o Tính chính xác trong công tác sản xuất

o Khối lượng công việc mỗi nhân sự có thể đảm nhận

o Tính chuyên nghiệp trong việc thực hiện các bước sản xuất

o Độ sáng tạo trong sản xuất

- Tiêu chí tài chính cho sản xuất một đơn vị sản phẩm hay một chương trình truyền hình Việc áp dụng chuyên môn hóa nhằm tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh tốt hơn, hiệu quả hơn và hiệu quả sử dụng nguồn tài lực chính là một tiêu chí không thể thiếu cho đánh giá hiệu quả chuyên môn hóa Tuy nhiên trong luận văn này sẽ không quá đề cập đến vấn đề này do luận văn tập trung chủ yếu vào công nghệ

Bên cạnh xây dựng các tiêu chí đánh giá trên đối với sản phẩm, thì trong quá trình sản xuất chương trình ta cũng có thể quan tâm đến các tiêu chí chuyên môn hóa chuyên sâu cho từng giai đoạn sản xuất chương trình Các bước giai đoạn này sẽ được đề cập trong phần giới thiệu về công nghệ truyền hình Và tiêu chí cho từng giai đoạn cũng giống như tiêu chí cho cả sản phẩm khi ta xem kết quả của từng giai đoạn là sản phẩm của giai đoạn đó

Trang 30

1.6 Khái niệm công nghệ truyền hình

Nhiều người vẫn nghĩ công nghệ truyền hình là công nghệ thiết bị truyền hình như : máy quay, máy phát sóng, máy dựng hình … Thực chất đây chỉ là một phần trong công nghệ truyền hình Công nghệ truyền hình là một quy trình khép kín từ khâu khai thác thông tin, xây dựng nội dung chương trình, tiền kỳ, hậu kỳ, kiểm duyệt, truyền dẫn và phát sóng …

Ứng với mỗi sản phẩm trong công nghệ truyền hình sẽ bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau được liệt kê theo sơ đồ 1.2

Sơ đồ 1.2: Các giai đoạn trong sản xuất chương trình truyền hình

Ứng với mỗi giai đoạn của cả quá trình sản xuất một sản phẩm truyền hình sẽ đi kèm là các thiết bị phục vụ khác nhau Nếu như trước đây trong kỷ nguyên Analog thì sự tách bạch về mặt thiết bị cho từng giai đoạn rất rõ ràng Thế nhưng với kỷ nguyên số, các thiết bị mới hiện nay có thể bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau trên cùng một thiết bị

Điều này đòi hỏi nhân lực cho công nghệ truyền hình ngày nay phải nắm bắt không chỉ duy nhất một giai đoạn mà phải ít nhất từ 2-3 giai đoạn liên tiếp nhau trong qui trình Không những thế, kết thúc mỗi giai đoạn đều phải được chuẩn hóa cho giai đoạn tiếp theo

Như vậy, ngày nay công nghệ truyền hình bao gồm nhiều giai đoạn với sự trợ giúp của các công nghệ phần cứng và phần mềm bao gồm các công nghệ:

- Công nghệ âm thanh

- Công nghệ ánh sáng

- Công nghệ truyền phát thông tin

Trang 31

- Công nghệ lưu trữ

- Công nghệ xử lý âm thanh, ánh sáng và hình ảnh

- Các công nghệ phần mềm phụ trợ cho quản lý

Chính việc xuất hiện hàng loạt các công nghệ mới và mạnh mẽ trong kỷ nguyên số đã làm thay đổi cơ cấu nhân sự, năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân lực nói chung và nhân lực KH&CN nói riêng Vì thế để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng trước hết phải nhận diện được những công nghệ chủ chốt, định hướng lựa chọn của từng Đài Truyền hình, nhất là về chuẩn số hóa truyền hình

1.7 Mối quan hệ giữa nhân lực KH&CN và số hóa công nghệ truyền hình

Khi chuyển công nghệ sản xuất và phát sóng truyền hình từ tương tự sang kỹ thuật số thì nguồn nhân lực KH&CN theo các chức năng đã được nhận dạng ở trên sẽ có sự thay đổi rất lớn

- Các kỹ sư nghiên cứu ứng dụng phải được đào tạo lại từ lý thuyết đến thực hành, thậm chí nhiều vị trí phải thay thế và tuyển mới

- Các phóng viên, biên tập viên thực hiện các chương trình khoa học và giáo dục phải nghiên cứu những tiến bộ của số hóa công nghệ truyền hình như: công nghệ xử lý hình ảnh, đồ họa 2D, 3D, thiết bị bắn chữ, kỹ xảo … để thay đổi hình thức thể hiện các đề tài khoa học, công trình khoa học, các phát minh, sáng chế … trong các chương trình phổ biến kiến thức

- Lực lượng giảng dạy KH&CN trong lĩnh vực truyền hình phải thay đổi gần như toàn bộ giáo trình đào tạo để đáp ứng những kỹ năng tác nghiệp theo công nghệ số

- Những người làm công tác quản lý KH&CN trong lĩnh vực truyền hình cũng phải thay đổi hình thức quản lý bằng bảng phân công, ký các loại giấy tờ ở văn phòng, kiểm duyệt chương trình bằng các thiết bị chuyên dụng Thay vào

đó, việc phân công, kiểm soát và kiểm duyệt chương trình đều được thực hiện qua mạng nội bộ, đồng thời công việc được giải quyết một cách trôi chảy dù người quản lý đang ở trong nước hay đi nước ngoài

Trang 32

- Các kỹ thuật viên trực tiếp khai thác thiết bị vừa phải đào tạo lại căn bản, vừa phải tham gia các lớp chuyển giao khai thác từng loại thiết bị Nhiều vị trí sẽ

bị thay thế và được bổ sung bởi lực lượng đã được đào tạo từ nền tảng công nghệ số

- Kỹ thuật viên quản trị mạng không còn là mạng văn phòng, mà phải tiếp cận các phần mềm, công nghệ để vận hành mạng truyền dữ liệu âm thanh- hình ảnh, hệ thống kiểm duyệt và phát sóng chương trình bằng file dữ liệu, hệ thống bảo mật trong trao đổi và sản xuất chương trình …

- Các đạo diễn, quay phim, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên phải được đào tạo dưới dạng chuyển giao sử dụng các thiết bị để ứng dụng vào quy trình sản xuất chương trình theo công nghệ số

Rõ ràng, ngoài những đặc trưng chung như: lao động trí tuệ, đầy sức sáng tạo, tạo ra thông tin mới …, nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình

có đặc điểm nổi bật là phụ thuộc rất lớn vào thiết bị và công nghệ Không những chuẩn công nghệ thay đổi, mà cả khi các thế hệ thiết bị thay đổi cũng sẽ đòi hỏi nguồn nhân lực KH&CN trên lĩnh vực truyền hình phải thay đổi theo Đây là tác động của số hóa công nghệ truyền hình đến nguồn nhân lực KH&CN

Tổng kết chương 1

Bằng việc phân tích các lý luận về nhân lực KH&CN, các phân loại về công nghệ truyền hình số và chuyên môn hóa, có thể thấy khi chuyển từ công nghệ tương tự sang công nghệ số sẽ kéo theo sự thay đổi nhân lực làm truyền hình Chính điều này dẫn đến bài toán xây dựng nhân lực truyền hình theo hướng số hóa phải được thực hiện một cách bài bản, có lộ trình rõ ràng Hiện nay, theo kế hoạch của chính phủ và lộ trình từ các Đài trong đó có VTV là đến năm 2020 phải tiến hành số hóa hoàn toàn truyền hình Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá và xây dựng các giải pháp cho việc phát triển nhân lực trong giai đoạn

số hóa công nghệ truyền hình tại Việt Nam nói chung, trong đó có VTV và VTV9 nói riêng phải gấp rút được thực hiện

Trang 33

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN THEO XU HƯỚNG SỐ

HÓA CÔNG NGHỆ TRUYỀN HÌNH

2.1 Vài nét về VTV9

Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh (VTV9) là đơn vị trực thuộc Đài THVN có chức năng sản xuất, khai thác các chương trình truyền hình phản ánh hoạt động trên địa bàn các tỉnh miền Đông Nam bộ để phát trên sóng Truyền hình Quốc gia theo kế hoạch chung của Đài THVN; sản xuất

và phát sóng kênh khu vực VTV9 phục vụ công tác điều hành của lãnh đạo Đảng bộ và Chính quyền, đáp ứng nhu cầu thông tin và giải trí của người dân trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

Thực hiện chức năng của một Trung tâm sản xuất và phát sóng chương trình truyền hình lớn của cả nước, bên cạnh nội dung chương trình phải mang đậm bản sắc phương Nam thì chất lượng hình ảnh và âm thanh cũng mang tính quyết định Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khán giả xem truyền hình hiện đại, việc đầu tư, vận hành sử dụng, khai thác hiệu quả quy trình, công nghệ sản xuất và phát sóng chương trình là một đòi hỏi cấp thiết đối với mỗi Đài truyền hình Trong điều kiện các thiết bị và công nghệ sản xuất chương trình truyền hình hiện nay hầu hết đều phải nhập ngoại thì việc đầu tư và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trên lĩnh vực này là hết sức quan trọng Bởi vì, ngoài yếu tố vận hành, khai thác hiệu quả thì việc tiếp cận để sửa chữa, cải tiến và tiến tới làm chủ công nghệ có thể sản xuất được các thiết bị thay thế

là một yêu cầu bắt buộc cho quá trình phát triển lâu dài

Với mục tiêu lâu dài sẽ nâng tầm toàn quốc và cả khu vực Đông Nam Á, Trung tâm THVN tại TPHCM đang đứng trước những thách thức mới, đặc biệt

là về công nghệ sản xuất và phát sóng chương trình truyền hình Bên cạnh việc chuyển đổi toàn bộ công nghệ sản xuất và phát sóng chương trình từ chuẩn

Trang 34

Analog sang kỹ thuật số theo tiêu chuẩn Full HD, việc tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng, bố trí sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ cho lĩnh vực này đang được đặc biệt quan tâm Vì yếu tố con người chính là yếu tố quyết định cho sự thành công của việc chuyển đổi này

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN của VTV9

2.2.1 Cơ cấu nhân lực và kế hoạch mở rộng nguồn nhân lực của VTV9

2.2.1.1 Thực trạng nhân lực

Hiện nay, Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại TPHCM có 13 đơn vị trực thuộc chia đều cho các khối nội dung trực tiếp sản xuất chương trình truyền hình, khối kỹ thuật trực tiếp dàn dựng và phát sóng chương trình và khối hành chính, quản trị và tài chính Trong đó, khối nội dung và kỹ thuật được xem là nơi quản lý và sử dụng lực lượng nhân lực trên lĩnh vực khoa học và công nghệ của Trung tâm nói riêng và một đơn vị sản xuất phát sóng chương trình truyền hình nói chung

Trung tâm THVN tại thành phố Hồ Chí Minh hiện có 173 cán bộ, viên chức, viên chức, người lao động, 30 cộng tác viên và 05 hợp đồng thuê khoán được bố trí ở 12 Phòng, 01 Trung tâm Quảng cáo - Dịch vụ truyền hình và chia thành 02 khối công việc Khối quản lý có 38 biên chế và 5 lao động thuê khoán, khối sản xuất có 135 biên chế và 30 cộng tác viên đảm trách chức năng, nhiệm

vụ được giao Cụ thể như sau như trong bảng 2.1

Bảng 2.1: Cơ cấu nhân lực của VTV9

Trang 35

11 Phòng Điều độ - Quay phim 15 1

12 Phòng Kỹ thuật sản xuất chương

Bảng 2.2: Cơ cấu trình độ học vấn của nhân sự VTV9

sỹ

Đại học

Cao đẳng

Trung cấp

Sơ cấp

Còn lại

Tổng cộng

Trang 36

2.2.1.2 Dự kiến mở rộng nhân lực của VTV9

Với nguồn nhân lực hiện tại, thì theo kế hoạch phát triển và tuyển dụng nhân sự của Đài trong những năm tới, trung tâm THVN tại thành phố Hồ Chí Minh xây dựng cơ cấu lao động của đơn vị nhƣ trong bảng 2.3

Bảng 2.3: Kế hoạch phát triển và tuyển dụng nhân sự của Đài tới 2015

Số

Định biên lao động hiện có Xây dựng định biên mới

Chính thức

Cộng tác viên

Định biên hiện có

Cần bổ sung thêm

Chính thức

Trang 37

cầu nhân lực dự kiến có liên quan đến đội ngũ khoa học và công nghệ của VTV9 (khối sản xuất) sẽ tăng thêm 41 người Dự kiến đến 2015, Trung tâm THVN tại TPHCM có đội ngũ làm công tác sử dụng khoa học và công nghệ truyền hình sẽ

là 176 thành viên chiếm 78% nhân lực của trung tâm

2.2.2 Đánh giá nguồn nhân lực khoa học và công nghệ hiện tại của VTV9

Tính đến cuối năm 2011, Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại TPHCM

có gần 130 người là các phóng viên, biên tập, quay phim, đạo diễn và kỹ thuật viên, kỹ sư trực tiếp thực hiện các khâu tiền kỳ, hậu kỳ và phát sóng chương trình truyền hình trên tổng số gần 220 nhân viên

Thế nhưng, trong số các cán bộ, viên chức này, nếu xem nhân lực khoa học và công nghệ là lực lượng làm công tác nghiên cứu, ứng dụng, cải tiến, hướng dẫn, chuyển giao thì lực lượng này chỉ trên 10 người và chủ yếu làm việc tại các bộ phận thuộc ban khoa giáo, và phát triển thiết bị truyền hình Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ này có trình độ chuyên môn chủ yếu là đại học, với các chuyên ngành kỹ sư công nghệ thông tin, kỹ sư điện - điện tử, kỹ sư kỹ thuật truyền hình Vấn đề đặt ra ở đây là, 100% các cán bộ, viên chức kỹ thuật này lại đều trên 35 tuổi và được đào tạo trong thời đại analog chứ không phải số hóa

Nếu xem cán bộ, viên chức khoa học và công nghệ bao gồm luôn cả lực lượng vận hành và sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trung tâm Thì số lượng cán bộ, viên chức KH&CN đạt được con số trên 100 cán bộ, viên chức và cộng tác viên So với 10 cán bộ, viên chức đã đề cập ở trên, thì lực lượng cán bộ, viên chức kỹ thuật và ứng dụng kỹ thuật này có nhiều độ tuổi khác nhau

Xem xét đội ngũ này, theo khảo sát nhân lực của Đài, số lượng nhân lực được đào tạo về chuyên ngành các khâu kỹ thuật truyền hình như trong biểu đồ 2.1:

Trang 38

Biểu đồ 2.1: Tổng kết chuyên ngành đào tạo của nhân lực VTV9

Trong số đó, đáng quan tâm là tỉ lệ đến 64% cán bộ, viên chức được đào tạo về kỹ thuật truyền hình là về analog, trong số 28% cán bộ, viên chức còn lại thì hầu hết dù được tiếp cận với số hóa trong khi học tập nhưng lại thuộc các ngành không liên quan đến kỹ thuật truyền hình như: làm game, viễn thông, mạng máy tính, điện tử … trong đó đồ họa chiếm tỷ lệ rất cao Thế nhưng, đội ngũ này lại có lợi thế về tuổi là rất trẻ trên dưới 30, chính vì thế hầu hết các thiết

bị mới trong công cuộc số hóa của VTV9 lại do lực lượng này nắm giữ

Còn lại 8% thuộc hình thức đào tạo khác là những người trong quá trình học tập chưa được tiếp xúc với kỹ thuật truyền hình như các kỹ sư sửa chữa, vận hành các máy móc thiết bị trong Đài … Lực lượng này không thể xem xét là số hay tương tự do tính chất công việc của họ mang tính phụ trợ trong sản phẩm truyền hình

Như vậy, sau khi đánh giá về nguồn nhân lực KH&CN của trung tâm THVN tại TPHCM, có thể nói, việc chuyển đổi từ analog sang số hóa tác động đến hầu hết các cán bộ, viên chức này từ việc thích nghi với các thiết bị mới, thay đổi cách thức làm việc cho hiệu quả đến nắm bắt sự thay đổi nhanh chóng

Trang 39

ràng và linh động về nhân lực từ khâu sắp xếp lại, đào tạo lại, đến tuyển dụng mới là vô cùng quan trọng khi mà toàn bộ nhân lực trung tâm hiện tại không có người được đào tạo chuyên sâu về số hóa trong công nghệ truyền hình, tất cả đều vừa làm vừa học

2.3 Thực trạng số hóa công nghệ truyền hình của VTV9

2.3.1 Hiện trạng số hóa

Thực hiê ̣n các nô ̣i dung quy hoa ̣ch, trong những năm qua Đài Truyền hình Viê ̣t Nam nói chung và VTV9 nói riêng đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ kỹ thuật số trong công đoạn sản xuất chương trình Tuy nhiên trong giai đoạn 2005-

2010 công nghệ có nhiều thay đổi, mặt khác do không chủ động xây dựng lộ trình số hoá dây chuyền sản xuất; không chủ động lựa chọn tiêu chuẩn công nghệ; đã có định hướng kỹ thuật nhưng quản lý và biện pháp tổ chức thực hiện chưa hiệu quả, đầu tư chưa đủ mạnh nên chưa đa ̣t được 100% mức đô ̣ số hóa các công đoa ̣n, dây chuyền sản xuất

Cụ thể cho từng khâu được trình bày trong bảng 2.4

Bảng 2.4: Tỷ lệ số hóa thiết bị theo từng khâu sản xuất tại VTV9

Khâu sản xuất Tỷ lệ số hóa thiết bị

Các công đoạn khác như: thu thập thông

tin, quản lý thông tin, kiểm duyệt…

<45%

Như vậy có thể thấy, tới năm 2012, việc thực hiện số hóa các công đoạn trong công nghệ truyền hình của VTV9 hiện nay ở mức thấp, trong đó có các khâu rất quan trọng như quản lý thông tin bao gồm: chuyển đổi các nội dung tương tự đã có sang số, lưu trữ các sản phẩm, trung tâm dữ liệu truyền hình …

có tỷ lệ số hóa thấp (dưới 45%) Trong khi đó, các khâu như tiền kỳ, hậu kỳ do

Trang 40

nhận được sự đầu tư máy móc mới trong suốt thời gian vừa qua nên đạt được tỷ

lệ 80% và 75%

Đối với tỷ lệ phát sóng được số hóa trên 70% thì đây chỉ là xét trên thiết

bị phát sóng hỗ trợ số hóa mà thôi Biểu đồ 2.2 cho thấy tỷ lệ truyền hình của VTV được người dùng sử dụng thông qua các hình thức phát sóng

Biểu đồ 2.2: Hình thức phát sóng truyền hình

Từ biểu đồ trên cho thấy, phần lớn người dân vẫn sử dụng kênh analog miễn phí truyền thống để xem các chương trình truyền hình của Đài VTV Lý do được đưa ra là do hầu hết người dân hiện nay vẫn trung thành với truyền hình analog, nhất là các thiết bị phát hình ngày nay hỗ trợ dạng truyền thống này là phổ biến Tiếp theo sau có thể kể đến truyền hình số trả tiền với các kênh phát sóng qua truyền hình vệ tinh, truyền hình số mặt đất Mặc dù được đầu tư rất lớn cho các hình thức truyền hình số này nhưng tỷ lệ người xem vẫn không thể cao được và có dấu hiệu bão hòa trong 2 năm gần đây Điều này được lý giải cho việc người dân ngại bỏ tiền cho việc mua sắm set top box Còn các hình thức khác như Internet TV, Mobile TV chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng có xu hướng tăng dần

Ngày đăng: 28/01/2016, 06:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Văn Điểm, Nguyễn Ngọc Quân (2004), Quản trị nhân lực, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân lực
Tác giả: Nguyễn Văn Điểm, Nguyễn Ngọc Quân
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2004
5. Nguyễn Thị Điệp (2012), Đào tạo nguồn nhân lực tại trung tâm điện toán và truyền số liệu khu vực 3, luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nguồn nhân lực tại trung tâm điện toán và truyền số liệu khu vực 3
Tác giả: Nguyễn Thị Điệp
Năm: 2012
8. VTV9 (30/5/2012), Báo cáo v/v đánh giá nguồn nhân lực Trung tâm THVN tại TP.HCM, TP Hồ Chí Minh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo v/v đánh giá nguồn nhân lực Trung tâm THVN tại TP.HCM
9. Hyunsun Yoon (15/5/2013), Lessons from Digital Switchover in South Korea, Television &amp; New Media, Korean Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lessons from Digital Switchover in South Korea
10. Huang, KuangChiu Liao, Mei-han (2012), Analysis of digital terrestrial television development in Taiwan, 19th ITS Biennial Conference 2012, Bangkok, Thailand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysis of digital terrestrial television development in Taiwan
Tác giả: Huang, KuangChiu Liao, Mei-han
Năm: 2012
11. Ling Pek Ling (12/7/2012), Digital Switchover in Singapore, IIC Asia Forum, Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Digital Switchover in Singapore
1. Đài truyền hình Việt Nam (8/2012), Báo cáo khảo sát quốc tế, Hà Nội Khác
2. Đài truyền hình Việt Nam (9/2012), Báo cáo về nội dung hội thảo khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong lĩnh vực phát thanh truyền hình của tổ chức Uni Global Union, Hà Nội Khác
3. Đài truyền hình Việt Nam (2/2011), Qui hoạch phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội Khác
6. Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg, ngày 16/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh truyền hình đến năm 2020 Khác
7. Quyết định số 2451/QĐ-TTg, ngày 27/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án số hóa truyền dẫn, phát sóng phát thanh truyền hình mặt đất đến năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Phân loại các dạng chuyên môn hóa sản phẩm trong lĩnh vực truyền - Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình
Sơ đồ 1.1 Phân loại các dạng chuyên môn hóa sản phẩm trong lĩnh vực truyền (Trang 27)
Sơ đồ 1.2: Các giai đoạn trong sản xuất chương trình truyền hình - Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình
Sơ đồ 1.2 Các giai đoạn trong sản xuất chương trình truyền hình (Trang 30)
Bảng 2.1: Cơ cấu nhân lực của VTV9 - Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình
Bảng 2.1 Cơ cấu nhân lực của VTV9 (Trang 34)
Biểu đồ 2.2: Hình thức phát sóng truyền hình - Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình
i ểu đồ 2.2: Hình thức phát sóng truyền hình (Trang 40)
Bảng 2.5: Các chương trình đào tạo có liên quan đến công nghệ số trong 3 năm - Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình
Bảng 2.5 Các chương trình đào tạo có liên quan đến công nghệ số trong 3 năm (Trang 44)
Bảng 2.6: Thống kê nhân lực đƣợc tuyển dụng tại VTV9 từ 2010 đến 2012 - Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình
Bảng 2.6 Thống kê nhân lực đƣợc tuyển dụng tại VTV9 từ 2010 đến 2012 (Trang 47)
Sơ đồ 3.1: Các giai đoạn phát triển nhân lực trong việc chuyển đổi trong số hóa - Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình
Sơ đồ 3.1 Các giai đoạn phát triển nhân lực trong việc chuyển đổi trong số hóa (Trang 61)
Bảng 3.2: Chuyên môn hóa theo số hóa truyền hình - Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình
Bảng 3.2 Chuyên môn hóa theo số hóa truyền hình (Trang 65)
Hình Quốc gia (giai đoạn 1) - Định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ của VTV9 theo hướng số hóa công nghệ truyền hình
nh Quốc gia (giai đoạn 1) (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w