1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát đa dạng thực vật bậc cao tại vùng đất đất ngập nước thanh trì, hà nội

26 648 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khảo sát đa dạng thực vật bậc cao tại vùng đất đất ngập nước thanh trì, hà nội

Trang 1

I Đặt vấn đề

Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, vùng đất đã đi đi vào lịch sử Việt Namnhư một nơi “tụ thuỷ, tụ nhân”, một vùng đất “sông hồ” Các thuỷ vực tại Hà Nộirất phong phú, được hình thành nên qua những biến động địa chất hàng vạn nămcủa sông Hồng vùng hạ lưu, dòng chảy của những con sông khác qua địa phận HàNội bắt nguồn từ con sông này hoặc chảy vào con sông này và dần dần trở thànhmột nét đặc trưng riêng của mảnh đất này, tạo nên ấn tượng về màu xanh đặc biệtcho thành phố khi nhìn trên máy bay, khác biệt với những thành phố khác

Huyện Thanh Trì nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng, ở phần cuối thấp dầntheo chiều tây bắc - đông nam của thủ đô Hà Nội Nét đặc trưng của cảnh quan nơinày là một vùng nhiều sông ngòi và đầm hồ Bao bọc xung quanh Thanh Trì làsông Hồng ở phía đông, sông Nhuệ ở phía tây Phía bắc là sông Kim Ngưu, ở giữa

có sông Tô, sông Sét, sông Lừ tạo nên hình ảnh rõ nét về một "tứ giác nước" - bêncạnh những "tứ giác nước" khác của vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Địa hìnhcủa huyện Thanh Trì thấp với nhiều điểm trũng Sông Hồng nhiều lần chuyển dòng

để lại vết tích những điểm trũng này là các ao, hồ, đầm Tên huyện Thanh Trì vàtên cổ Thanh Đàm có nghĩa "ao xanh" và "đầm xanh" chính là dựa vào đặc điểmđịa hình của huyện

Cũng như nhiều thuỷ vực khác của Hà Nội, các thuỷ vực và vùng đất ngậpnước của khu vực Thanh Trì có giá trị to lớn về kinh tế - văn hoá - xã hội: gắn liềnvới các huyền tích lịch sử, trở thành một phần của các công viên trong khi số kháctrở thành khu vực dự trữ nguồn nước, điều hoà khí hậu và điều tiết lưu lượng nướcthải Vùng đất này cũng là nơi sinh sống của nhiều loài thực - động vật đặc biệt tạonên những sản vật của vùng Thanh Trì với một hương vị riêng như mướp hươngQuỳnh Lôi, cà pháo Hoàng Mai, cá rô Ðầm Sét, cá chép Ðầm Ðại,v.v "lúa đồngNgâu" (làng Yên Ngưu) thơm ngon đã làm nên "rượu hũ làng Ngâu" nổi tiếng

Tuy nhiên hiện nay, do sự lấn chiếm, san lấp của dân cư, nhiều thuỷ vực đãbiến mất, thu hẹp một phần hoặc vĩnh viễn; biến thành nơi xả rác, chứa nước thải,gây ô nhiễm môi trường Nhiều loại động thực vật nổi tiếng xưa đã không còn vàchỉ là ký ức một thời

Trang 2

Từ các luận điểm trên, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu “khảo sát đa dạngthực vật bậc cao tại vùng đất đất ngập nước Thanh Trì, Hà Nội” nhằm mục đíchbảo vệ môi trường và phát triển bền vững; xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học phục

vụ cho việc trồng và quản lý chúng như một “công cụ” xử lý ô nhiễm nguồn nướcgóp phần bảo vệ môi trường Mặt khác, nghiên cứu này còn góp phần bảo tồn cácloài thực vật thuỷ sinh, đặc biệt là các loài quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng, cácloài có giá trị kinh tế, có ý nghĩa khoa học, loài bản địa có nguy cơ tuyệt chủng;bảo vệ nguồn gen và một số hệ sinh thái tiêu biểu cho các thuỷ vực Hà Nội và vùngphụ cận

II Phương pháp nghiên cứu:

1 Để có cơ sở đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học thực vật thuỷ sinh cácthuỷ vực và đất ngập nước ở khu vực Thanh Trì, Hà Nội, chúng tôi đã tiến hànhkhảo sát sơ bộ và tập hợp các tài liệu và thông tin hiện có từ các công trình nghiêncứu, chương trình, đề tài, dự án, … đã tiến hành từ trước tới nay về hiện trạng đadạng thực vật thuỷ sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, môi trườngsống và các vấn đề có liên quan

2 Trên cơ sở những dẫn liệu thu được phân tích và đánh giá hiện trạng đadạng thực vật thuỷ sinh tại các vùng đất ngập nước của khu vực Thanh Trì, Hà Nội.Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành các đợt khảo sát thực địa nhằm thu thập mẫu vật,kiểm tra, bổ sung cơ sở dữ liệu, xây dựng danh lục thực vật thuỷ sinh tại các khuvực khảo sát

Phạm vi khảo sát: trong và xung quanh các vùng đất ngập nước thuộc

huyện Thanh Trì - Hà Nội

Thời gian tiến hành nghiên cứu: tháng 10-11/2010 và 2-5/2011

3 Danh lục thực vật bậc cao khu vực đất ngập nước Thanh Trì được xâydựng với việc tham khảo các tài liệu: Cây cỏ Việt Nam, Thực vật chí Việt Nam(các họ Lamiaceae, Annonaceae, Myrsinaceae, Cyperaceae…), Từ điển cây thuốcViệt Nam, Danh lục thực vật Việt Nam, Sách đỏ Việt Nam (phần Thực vật), 1900loài cây có ích ở Việt Nam, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Sau đó,chúng tôi tiến hành kiểm tra lại các tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sựnhầm lẫn và sai sót; hiệu chỉnh theo hệ thống của Brummitt trong "Vascular Plant

Trang 3

Families and Genera" (1992), điều chỉnh tên loài theo các tài liệu "Cây cỏ ViệtNam" của Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000), "Danh lục các loài thực vật Việt Nam"(2002 - 2005) và chỉnh tên tác giả theo tài liệu "Authors of Plant Names" củaBrummitt R.K và C E Powell (1992)

Trong Danh lục thực vật ngoài tên Khoa học (tên La tinh) còn có tên địaphương, công dụng (AQ: ăn quả; Bm: Bóng mát; Hr: Hàng rào; CC: Cây cảnh; HL:Hương liệu; GK: Giải khát; LG: Lấy gỗ; LT: Làm thuốc; RA: Rau ăn; UN: Đồuống; XD: Xây dựng; Mn: Mỹ nghệ; Nh: Nhuộm) và nơi sống Vấn đề nơi sống làvấn đề rất khó khăn: Thực chất đều là cây ngoài tự nhiên nhưng được đưa vào trồngtheo nhiều hướng: có thể nhập từ nước ngoài vào; có thể đưa từ rừng về trồng;nhưng cũng có những cây là cây trồng được thuần hóa từ rất xa xưa không cònnguồn gốc hoang dại ở đây, chúng tôi chỉ phân biệt là cây trồng (Tr.) hay mọchoang dại (Hd.) Đương nhiên cũng có những cây bản chất là cây mọc hoang dạimới được đưa vào trồng và gặp cả trạng thái tự nhiên hoang dại và trồng (Tr.+Hd.) Phần ghi chú, chúng tôi có ghi nhận những loài quý hiếm được ghi trongSách đỏ Việt Nam với các cấp độ khác nhau: Endangered (E): Đang bị đe dọa tuyệtchủng; Vulnerable (V): Có thể bị đe dọa tuyệt chủng; Rare (R): Có thể sẽ nguy cấp;Threantened (T): Bị đe dọa tuyệt chủng; Insufficiently know (K): Biết không chínhxác

III Kết quả và thảo luận:

1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu:

Nằm ở phía Tây Bắc của vùng Đồng bằng Châu thổ sông Hồng trù phú, HàNội có vị trí:

- Từ 20053’ đến 21023’ vĩ độ Bắc

- Từ 105044’ đến 106002’ kinh độ Đông

Phía Bắc giáp Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; phía Nam giáp Hà Nam, Hoà Bình;Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông; Hoà Bình và Phú Thọ ở phía Tây.Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội có diện tích3.324,92km2, gồm 10 quận, 18 huyện và một thị xã

Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sangĐông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển

Trang 4

Hà Nội có sông Hồng là con sông chính chảy qua thành phố, sông Hồng bắtđầu chảy vào Hà Nội ở huyện Ba Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện PhúXuyên tiếp giáp với Hưng Yên Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km,chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam Hà Nộicòn có sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng

ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì Ngoài ra, qua địa phận Hà Nội còn nhiềusông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ Các sông nhỏ chảytrong khu vực nội thành có sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu đây là những đườngtiêu thoát nước của thành phố

Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng,nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác Phầndiện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức vớicác đỉnh như Ba Vì cao 1.281 m, Gia Dê 707 m, Chân Chim 462 m, Thanh Lanh

427 m, Thiên Trù 378 m… Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống

Đa, núi Nùng

Hà Nội là một thành phố với nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòngsông cổ Trong khu vực nội thành, Hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500ha,đóng vai trò quan trọng trong điều hòa thủy văn

Khí hậu Hà Nội là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều vàmùa đông lạnh, mưa ít Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh năm tiếp nhậnđược lượng bức xạ mặt trời dồi dào và có nhiệt độ cao Do chịu ảnh hưởng củabiển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn Trung bình hằng năm, nhiệt độkhông khí 23,6oC, độ ẩm 79%, lượng mưa 1245 mm Mỗi năm có khoảng 114 ngàymưa Hà Nội có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Sự luân chuyển của các mùa làmcho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng và có những nét riêng Nhiệt độ thấpnhất là 2,70C (tháng 1/1955), cao nhất: 42,8 0C(tháng 5/1926)

Từ tháng 5 đến tháng 8 là mùa hè: nóng và thi thoảng có mưa rào

Từ tháng 9 đến tháng 11 là mùa thu Thời tiết khô ráo, trời cao, xanh ngắt,gió mát, nắng vàng

Từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau là mùa đông: Thời tiết lạnh, khô ráo

Trang 5

Từ tháng 2 đến tháng 4 là mùa xuân: Cây cối xanh tốt với hàng ngàn loài hoakhoe sắc, mùa của những lễ hội truyền thống độc đáo, mở đầu là Tết nguyên đán,

lễ hội lớn và quan trọng nhất của người Việt Nam

Thanh Trì là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội với một thị trấnVăn Điển và 15 xã Huyện Thanh Trì nằm ven phía Nam và Đông Nam Hà Nội,giáp các quận: Thanh Xuân (phía Tây Bắc), Hoàng Mai (phía Bắc), Hà Đông (phíaTây); huyện Gia Lâm và tỉnh Hưng Yên (với Sông Hồng làm ranh giới tự nhiên) ởphía Đông, Thanh Oai và Thường Tín ở phía Nam Huyện Thanh Trì nằm ở hữungạn sông Hồng, địa thế thấp dần về phía Đông Nam theo hướng dòng chảy củasông Hồng, trên địa bàn huyện có đoạn cuối của sông Tô Lịch chảy qua nối vớisông Nhuệ ở phía Tây Nam Ðịa thế thấp, nhiều ruộng trũng, ao đầm, nguồn nướcdồi dào là những điều kiện tự nhiên thuận lợi để Thanh Trì có một nền nông nghiệp

đa dạng và lâu đời với nhiều loại sản vật có chất lượng cao Trong số các làng ởđây, nhiều hơn và nổi tiếng hơn vẫn là những tên làng có liên quan với việc sảnxuất, chế biến những món ăn uống đặc sản: làm bún, kẹo, bánh cuốn, đậu phụ, nấurượu, xôi lúa, bún ốc, miến, bánh đa, mướp hương, vải, nhãn, dưa, cà pháo, ớt, raumuống, cá rô, cá chép, Ở Thanh Trì, nghề sản xuất lương thực, thực phẩm vànghề thủ công chế biến nông sản phát triển có vẻ trội hơn so với những nghề thủcông khác Những sản phẩm người Thanh Trì sản xuất là nhằm phục vụ cho cái thú

ăn uống của nhiều người góp phần làm nên nét văn hóa ăn uống riêng của người HàNội

Là một huyện ngoại thành, Huyện Thanh Trì nằm giữa ngã ba đường là cầunối quan trọng giữa thủ đô Hà Nội và các tỉnh thành lân cận như: Hà Tây, Hà Nam,Nam Định…Do đó huyện có vại trò to lớn đối với sự phát triển của thủ đô, Tuy làmột huyện thuộc thành phố Hà Nội nhưng huyện Thanh Trì vẫn là một huyện sảnxuất nông nghiệp, cơ cấu kinh tế đang trên bước đường chuyển mình chưa hìnhthành cơ cấu triệt để cho nền sản xuất Vì vậy, sản xuất nông nghiệp và đảm bảocác yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp là vấn đề quan trọng trong phát triểnkinh tế huyện, mà cụ thể là quản lý và sử dụng đất nông nghiệp trên toàn huyện.Đứng trước xu thế công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đô thị hoá diễn ra ngày càngnhanh, ngày càng mạnh Đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ thu hẹp dần

Trang 6

diện tích, do đó để có được hiệu suất sử dụng đất nông nghiệp ngày càng cao vàhợp lý, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ngày càng phải hoànthiện, chặt chẽ hơn nữa.

Đối với huyện Thanh Trì, số lượng lao động làm trong ngành nông nghiệpchiếm đa số( 68,9%), diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 53,6 % (thống kê năm2005) qua đây để thấy được vai trò của đất nông nghiệp với toàn huyện và có nhậnđịnh đúng đắn hơn về công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của huyệnThanh Trì

2 Khái quát hiện trạng các thuỷ vực ở khu vực Thanh Trì, Hà Nội:

Các thuỷ vực là một hệ sinh thái đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinhthái đô thị tối ưu Sức sống của thuỷ vực được quyết định bởi quần xã sinh vật, hoạtđộng của sinh vật đóng vai trò quyết định với chu trình vật chất và dòng nănglượng của hệ sinh thái hồ nước, nhờ đó mà nước hồ được trong sạch, không bị ônhiễm Các nhóm sinh vật khác nhau hấp thụ dinh dưỡng khác nhau, qua các chuỗithức ăn của các loài sinh vật chúng có thể hấp thụ cả chất độc hoà tan trong nước,trong đáy bùn để sinh trưởng và tích trữ trong cơ thể của mình tạo nên một chutrình sống khép kín Một thuỷ vực nếu không có được một quần xã sinh vật làmđược chức năng như vậy được gọi là ''thuỷ vực chết'', ở đây ta chỉ gặp được các visinh vật chịu được ô nhiễm và vi sinh vật gây ô nhiễm tồn tại cho nên nước bị ônhiễm

Do các dự án phát triển đô thị và tình trạng lấn chiếm bất hợp pháp, một số

hồ, ao đã bị lấp để tạo quỹ đất cho phát triển đô thị nên diện tích hồ, ao, sông, kênhmương ở khu vực Thanh Trì, Hà Nội giảm mạnh trong hai thập kỷ qua Các cơquan quản lý đã có nhiều biện pháp tích cực và đã thực thi như là tát cạn, nạo vétbùn và nuôi thả cá, ngăn chặn dòng nước thải ô nhiễm chảy vào hồ, ao Hầu hếtcác hồ, ao, các khúc sông đã được cải tạo hoặc chưa được cải tạo đều trong tìnhtrạng bị suy thoái nhiều hoặc ít nhiều bị ô nhiễm, chủ yếu là ô nhiễm chất hữu cơ(phì dưỡng) và tảo độc

Theo đánh giá của GS Vũ Hoan và GS Dương Đức Tiến - Hội các ngànhSinh học Hà Nội - hệ thống các thuỷ vực ở Hà Nội nói chung và khu vực Thanh Trìnói riêng hiện đang bị ô nhiễm do thường xuyên phải tiếp nhận một lượng lớn nước

Trang 7

thải của thành phố đổ và chưa qua xử lý, lớp bùn đáy khá dầy với độ sâu từ 0,5mđến 1,5m Lưu lượng nước thải chảy vào hồ đã vượt qua khả năng tự làm sạch cácthuỷ vực Sự ô nhiễm đã làm suy thoái chất lượng nước, thiếu ôxy và làm tăng trầmtích Nồng độ các chất hữu cơ và vô cơ dinh dưỡng vượt quá chỉ tiêu cho phép.Tính chất đa dạng sinh học của các thủy vực bị suy thoái Một số hồ, ao, đầm đãđược cải tạo chỉ có trơ trọi vách đá quanh hồ và nước Chúng ta không nhìn thấycác loài hoa đẹp và không được cảm thụ hương thơm của các loài thực vật thủysinh Trước hiện trạng trên việc nghiên cứu cải tạo các thuỷ vực ở Hà Nội nóichung và khu vực Thanh Trì nói riêng nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm nước, điềuhòa nước mưa, giảm thiểu úng ngập, duy trì sự sống, tạo nơi thư giãn của nhân dân;giữ gìn, cải tạo, phát triển thuỷ vực là một việc làm hết sức cấp thiết.

Với các đặc điểm nổi bật của hầu hết các thuỷ vực ở đây bị phú dưỡng, cóhàm lượng muối dinh dưỡng N, P cao, là cơ sở cho các nhóm thủy sinh vật pháttriển mạnh, đặc biệt là sự nở rộ nhóm thực vật nổi (algal bloom) Trong thành phầnthực vật nổi nở rộ, một số loài tảo, đặc biệt tảo lam Microcystis trong quá trình pháttriển có sản sinh ra những độc tố gây hại Sau thời kỳ nở rộ thực vật nổi, lượng lớntảo bị chết hàng loạt gây mùi khó chịu Tảo chết chìm xuồng đáy hồ, làm giảmlượng ôxy tầng đáy, làm chết cá và một số loài thuỷ sinh vật khác

Sự tự làm sạch của thuỷ vực là rất quan trọng trong tự nhiên mà nhờ đó, cácthuỷ vực bị ô nhiễm chỉ sau một thời gian là đã giảm mức độ nhiễm hoặc có thểsạch trở lại như ban đầu Tuy nhiên, khả năng tự làm sạch của thuỷ vực chỉ có hạn,không thể thực hiện được khi thuỷ vực bị ô nhiễm quá nặng hoặc liên tục Trongquá trình tự làm sạch của thuỷ vực, vi sinh vật ở nước giữ một vai trò rất quantrọng Tham gia vào quá trình này, bên cạnh các vi sinh vật (có thể phân huỷ lưuhuỳnh, phân huỷ cácbon, nitơ .), có các nhóm thực vật quang hợp, các nhóm thựcvật, động vật có khả năng hấp thụ và tích luỹ các chất hữu cơ, kim loại nặng Tuynhiên, khả năng tự làm sạch của thuỷ vực còn phụ thuộc rất nhiều vào hình tháithuỷ vực như độ sâu, diện tích và đặc biệt khả năng thay mới nước Các hồ, ao,đầm có diện tích mặt nước lớn, độ sâu lớn và thời gian thay mới nước nhanh, thìkhả năng tự làm sạch của chúng càng lớn Trong khi các thuỷ vực nhỏ, nông, lượng

Trang 8

bùn đáy quá dày thì khả năng tự làm sạch rất thấp, thậm chí không còn khả năng tựlàm sạch nữa.

Theo PGS Hồ Thanh Hải, hiện nay TP Hà Nội đã và đang triển khai thửnghiệm xử lý ô nhiễm nước của một số thuỷ vực Các công nghệ thử nghiệm cơbản sử dụng trong giai đoạn này bao gồm các chế phẩm vi sinh vật, các chất kếttủa, cơ - sinh - hoá, các nhóm thực vật thuỷ sinh Nhìn chung, hầu hết các đơn vịtham gia thử nghiệm xử lý đều triển khai biện pháp xử lý tổng hợp bao gồm cả cácchế phẩm làm sạch nước kết hợp với lắp đặt các bè nuôi một số loài thực vật thuỷsinh có khả năng lọc nước vừa làm đẹp cảnh quan mặt hồ Cùng với các biện pháp

xử lý trên, phải xem các thuỷ vực như là một hệ sinh thái Cần đặc biệt coi trọngduy trì ổn định, cân bằng các thành phần sinh vật và môi trường trong đó để tồn tạicác chu trình trao đổi vật chất, năng lượng trong hệ sinh thái và khả năng tự làmsạch của thuỷ vực

Từ thực trạng trên, đối với các thuỷ vực chưa cải tạo, để đáp ứng cả hai mụcđích điều hoà lũ và cải tạo môi trường, công tác cải tạo cần triển khai thực hiện cácgiải pháp sau:

a) Bảo vệ diện tích thuỷ vực/cải thiện các công trình tiện ích: Các hồ, ao đầmnằm trong khu vực phát triển đô thị sẽ được kè để chống lại việc lấn chiếm bất hợppháp và xả rác xuống đó Đồng thời, tiến hành xây dựng đường dạo và không gianxanh để cải thiện cảnh quan xung quanh

b) Nâng cao chức năng điều hoà và cải thiện chất lượng nước:

• Bảo vệ thuỷ vực khỏi nguồn nước thải chưa qua xử lý bằng việc xâydựng các cửa chặn nước thải (lắp đặt các cửa phai hoặc tuyến côngbao có bố trí giếng tách nước thải) hoặc các phương pháp xử lý nướcthải phù hợp cho tất cả các lưu vực

• Nạo vét bùn có thành phần hữu cơ cao

Việc triển khai thực hiện cải tạo nhằm đáp ứng cả hai mục đích: chức năngđiều hoà góp phần chống úng ngập và cải tạo môi trường, tạo cảnh quan môitrường cần thực hiện: Nạo vét đến cao trình thiết kế; xây kè và hạ tầng kỹ thuậtxung quanh như đường dạo, chiếu sáng, không gian xanh, lắp đặt cống bao thu gom

Trang 9

nước thải…; lắp đặt trạm bơm điều tiết mực nước (nếu cần), cửa điều tiết và hệthống cứu hoả

3 Khái quát về Thực vật bậc cao sống ưa ẩm và sống thuỷ sinh:

Các loài thực vật sống trong môi trường nước, bao gồm những loài cơ thểngập hoàn toàn trong nước, hoặc những loài chỉ ngập từng phần cơ thể Do sốngtrong môi trường nước, TVTS có những đặc điểm thích nghi cả về hình thái cấu tạo

và phương thức sống Để tăng cường khả năng hấp thụ oxi, tăng bề mặt tiếp xúc, lácủa chúng có bản lớn hoặc chẻ nhỏ thành dạng sợi, xoang khí và gian bào phát triểnmạnh Lá có thể khác nhau về hình dạng và cấu tạo tuỳ theo vị trí tiếp xúc vớinước Mô đỡ (thân, cành) kém phát triển, thường là mềm yếu Một số loài sống ởđáy, ở ven bờ như rong, khoai nước; một số sống trôi nổi trong nước TVTS có sốlượng loài lớn và tăng nhanh về sinh khối nên rất nhiều loài được khai thác, phục

vụ cho đời sống Nhiều loài rong dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, làmnguyên liệu cho công nghiệp (ví dụ như rong câu, rong mơ ), làm cảnh (thuỷtiên ), làm thức ăn cho cá, chim Nơi cư trú và đẻ trứng cho nhiều loài động vậtthuỷ sinh TVTS còn có vai trò quan trọng trong xử lí nước thải, tăng khả năng tựlàm sạch thuỷ vực Nhưng trong một số điều kiện môi trường cụ thể, một số loài cóthể trở thành loài gây hại do phát triển quá dày làm tắc nghẽn kênh mương, hồchứa

Theo nguyên tắc chung, rễ cây hút nước và chất khoáng trong đất, nhưng cầnphải có đủ không khí nó mới phát triển bình thường Nếu rễ bị ngâm lâu trongnước, thiếu không khí nó sẽ ngừng sinh trưởng, thậm chí chết ngạt Khi rễ đã chếtthì thân cây cũng đổ theo Nhưng rễ của cây thuỷ sinh lại khác Chúng đã thíchnghi hoàn hảo với môi trường "khó thở" này Đặc điểm rõ nhất là chúng đều có thểhấp thụ ôxy trong nước, vẫn thở bình thường trong điều kiện ít ôxy Trong lớp vỏ

rễ cây thuỷ sinh đều có những khoang rỗng tương đối lớn giữa các tế bào, thông vớinhau thành một hệ thống dẫn khí Đặc biệt, biểu bì rễ cây là một lớp màng mỏng

mờ đục, cho phép lượng ôxy ít ỏi hoà tan trong nước thấm qua (thẩm thấu), vàotrong rễ Theo các khoang rỗng giữa các tế bào, ôxy được phân tán đi khắp rễ, cungcấp đầy đủ dưỡng khí cho bộ phận này hô hấp Ngoài ra, để thích nghi với môitrường nước, một số thực vật thuỷ sinh còn có cấu tạo đặc biệt Ví dụ loài sen Tuy

Trang 10

chúng sống trong bùn, một môi trường rất yếm khí, hô hấp tự nhiên gặp khó khăn,nhưng trong ngó sen lại có rất nhiều lỗ to nhỏ khác nhau Những lỗ này ăn thôngvới các lỗ trên cuống lá, đồng thời trong lá lại có nhiều khoang rỗng ăn thông vớikhí khổng của lá Vì vậy ngó sen tuy nằm sâu trong bùn nhưng vẫn sống bìnhthường nhờ tự do thở qua mặt lá Một ví dụ khác là củ ấu, rễ của nó cũng mọc trongbùn, nhưng cuống lá phình to, hình thành rất nhiều túi khí, chứa đủ khí để cho rễthở Hay như bèo ong, dưới lá có rất nhiều rễ củ Kỳ thực không phải rễ thật mà làbiến dạng của lá, đảm nhiệm tác dụng của rễ Lớp biểu bì của thân thực vật thuỷsinh cũng có tác dụng như rễ Lớp cutin (vốn giữ cho khỏi mất nước ở mặt lá)không phát triển hoặc hoàn toàn không có Tế bào lớp vỏ chứa chất diệp lục có khảnăng quang hợp, tự tạo chất hữu cơ Nhờ có thể hô hấp bình thường, lại có “thức ăn

để ăn”, nên thực vật thuỷ sinh có thể sống lâu dài trong nước mà không bị thối rữa

Các nhóm thực vật thuỷ sinh trong khu vực là những loài phổ biến mọc tạinhiều thuỷ vực là nơi trú ngụ cho các nhóm thuỷ sinh vật khác như tôm, cua, ốc vàcác nhóm côn trùng nước Chúng thường không có giá trị kinh tế lớn và cũngkhông gây ảnh hưởng đến môi trường của thuỷ vực Các loài thực vật thuỷ sinh như

Cây khoai nước (Colocassia esculenta), Rau muống (Ipomoea aquatic), Rau cần nước (Oenanthe javanica) … được nhân dân địa phương sử dụng làm thực phẩm,

chăn nuôi gia súc khá phổ biến ở nhiều nơi Một số nhóm thực vật thuỷ sinh như

Sen (Nelumbo nucifera Gaertn), Súng (Nymphaea pubessens Georg) được trồng

để làm cảnh và lấy hạt làm thuốc Thực vật thuỷ sinh là nhóm tham gia trong quátrình làm sạch tự nhiên của thuỷ vực Một số loài được dùng trong công đoạn xử lý

nước thải của các cơ sở sản xuất thực phẩm, bệnh viện như cây Sậy (Phragmitis comunis Trin), một vài loài rong, bèo Chúng giữ lại và hấp thụ một phần các chất

thải trước khi đi qua các công đoạn xử lý khác, làm giảm ô nhiễm cho thuỷ vực.Trên những nơi nước chảy mạnh và ở những nơi các hoạt động giao thông diễn ravới cường độ cao, thực vật thuỷ sinh không phát triển nhiều Ven sông chỉ thấy có

một vài nhóm thực vật thuỷ sinh sống thành đám như cây Nghể nước (Polygonum hydropiper) Tại khu vực các bãi ven sông, người dân địa phương trồng một vài

loài thực vật thuỷ sinh làm thực phẩm rau xanh, chăn nuôi gia súc như khoai nước,bèo cái, rau muống và rau cần theo thời vụ

Trang 11

4 Tính đa dạng thực vật bậc cao tại vùng đất nước Thanh Trì, Hà Nội:

Do việc kè đá làm đường bao xung quanh hồ cùng với việc nạo vét, tu bổ các

hồ được tiến hành hàng năm nên các loài thực vật thuỷ sinh cũng như các nhómthực vật ưu ẩm sống ven thuỷ vực gần như không còn nhiều, chỉ còn rất ít Quanghiên cứu, đã xác định được 64 loài thuộc 31 họ thuộc 2 ngành thực vật bậc cao

có mạch là Ngành Dương xỉ và Ngành Ngọc Lan phân bố trong hoặc xung quanhcác vực nước thuộc phạm vi nghiên cứu Thành phần các loài thực vật được liệt kêtrong bảng dưới đây:

Bảng 1: Danh lục thực vật bậc cao tại khu vực đất ngập nước Thanh Trì

3 Limnocharis flava (L.) Buch Cây Tai tượng

6 Alternanthera sessilis (L.) R.Br. Rau dệu

7 Oenanthe javanica (Blume) DC. Rau cần nước

8 Colocassia esculenta (L.) Schott. Cây khoai nước

9 Colocasia gigantea (Blume ex Hassk.) Hook.f. Cây Dọc mùng

14 Vernonia cinerea (L.) Less. Bạch đầu ông

Trang 12

VII Balsaminaceae Họ Bóng nước

18 Rorippa nasturtium-aquaticum (L.) Hayek Cải xoong

19 Ceratophylum demersum L. rong đuôi chó

27 Cyperus platystylis R Br Lác vòi dẹp

28 Fimbristylis miliacea (L.) Vahl Cỏ tò te

29 Phyllanthus clarkei Hook.f. Cây chó đẻ răng cưa

31 Euphorbia thymifolia Burm Cỏ sữa lá nhỏ

33 Myriophyllum verticillatum L. Rong đuôi chồn vòng

34 Myriophyllum spicatum L. Rong đuôi chồn

35 Hydrilla verticillata (L.f.) Royle Rong mái chèo

36 Vallisneria spiralis L. Rong tóc tiên

37 Spirodela polyrrhiza (L.) Schleid Bèo tấm tía

38 Wolffia globosa (Roxb.) Hartog & Plas Bèo cám

41 Mimosa diplotricha C Wright ex Sauvalle Trinh nữ móc

42 Leucaena leucocephala (Lam.) De Wit Keo giậu

45 Nymphaea pubescens Willd. Hoa súng trắng

Trang 13

46 Ludvigia repens L. Dừa nước

51 Eichhornia crassipes (Mart) Solms Bèo Nhật Bản

52 Monochoria hastata (L.) Solms Rau mác thon

53 Monochoria vaginalis Presl. Rau mát

54 Cynodon dactylon (L.) Pers. Cỏ gà

55 Dactyloctenium aegyptium (L.)Willd. Cỏ chân gà

56 Hygroryza aristata (Retz.) Nees ex W & Arn Phỏng dạ

57 Eleusine indica (L.) Gaertn. Cỏ mần trầu

59 Salvinia cucullata Roxb ex Bory Bèo tai chuột

XXVII

I

61 Limnophila aromatica (Lam.) Merr. cây Ngổ

Từ kết quả khảo sát, chúng tôi không thấy có nhóm thực vật nào phổ biếntrong các hồ của Hà Nội hiện nay ngoại trừ một số loài Rong như Rong đuôi chồn

vòng (Myriophyllum verticillatum L.), Rong đuôi chồn (Myriophyllum spicatum L.), Rong đuôi chó (Ceratophylum demersum L.) Một số loài như Dừa nước (Ludvigia repens L.), Ngổ trâu (Enydra fluctuans Lour), Phỏng rạ (Hygroriza aristata (Retz.) Nees ex W & Arn), Rau bợ (Marsilea quadrifolia L.) mọc ven bờ

bờ trước đây nhưng nay đã được dọn sạch khi làm kè bờ, nạo vét hàng năm Cácloài thực vật thuỷ sinh thuộc các họ ráy Araceae, khoai lang Convolvulaceae, hoa

tán Apiaceae như Cây khoai nước (Colocassia esculenta), Rau muống (Ipomoea aquatic), Rau cần nước (Oenanthe javanica) … vốn trước đây dân địa phương sử

dụng làm thực phẩm, chăn nuôi gia súc khá phổ biến nhưng nay không thấy xuấthiện ở trong thuỷ vực nghiên cứu Một số nhóm thực vật thuỷ sinh như Sen

Ngày đăng: 27/01/2016, 16:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Danh lục thực vật bậc cao tại khu vực đất ngập nước Thanh Trì - khảo sát đa dạng thực vật bậc cao tại vùng đất đất ngập nước thanh trì, hà nội
Bảng 1 Danh lục thực vật bậc cao tại khu vực đất ngập nước Thanh Trì (Trang 11)
Hình thoi thường dẹt, không có rãnh. - khảo sát đa dạng thực vật bậc cao tại vùng đất đất ngập nước thanh trì, hà nội
Hình thoi thường dẹt, không có rãnh (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w