Đánh giá tính đa dạng của thực vật bậc cao có mạch trên núi đá vôi tại khu vực hương sơn, mỹ đức, thành phố hà nội
Trang 1ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT BẬC THẤP
TRÊN NÚI ĐÁ VÔI KHU VỰC HƯƠNG SƠN, MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
ThS Trương Ngọc Kiểm Khoa Sinh học, Đại học Khoa học Tự nhiên
I MỞ ĐẦU
Cách trung tâm Hà Nội 62km về phía tây nam, Hương Sơn không chỉ nổi tiếng như là một địa danh lịch sử, văn hóa gắn liền với tín ngưỡng đạo Phật của người dân Việt Nam mà còn bởi cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú Không giống bất kỳ nơi nào, Hương Sơn là một tập hợp nhiều đền chùa hang động gắn liền với núi rừng mà tạo hóa đã khéo bày đặt núi non sông nước hiền hòa để trở thành một quần thể thắng cảnh rộng lớn, với một kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và con người Hàng năm cứ mỗi
độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách bốn phương lại nô nức trẩy hội Chùa Hương, hành trình về một miền đất phật
Được thiên nhiên ban tặng cho cảnh “Kỳ sơn tú thuỷ”, theo các nhà nghiên cứu, dãy núi đá vôi Hương Sơn có cách ngày nay khoảng hơn 200 triệu năm, núi Chùa Hương không hùng vĩ chất ngất nhưng có vẻ đẹp tự nhiên với những tên gọi mang tính
bí ẩn của thuyết phong thuỷ như: Núi Long - Ly - Quy - Phượng hay mộc mạc dân giã gắn liền với nhân dân lao động như: núi Con Trăn, núi Mâm Xôi, Núi Con Gà, Núi Con Voi … Suối ở Hương Sơn không sâu nhưng quanh co uốn lượn bao quanh những khu rừng với các kiểu thảm thực vật và nhiều loài động vật phong phú, quý hiếm, tạo nên môi trường sinh thái độc đáo, có tính đa dạng sinh học cao Con người
đã có mặt ở Hương Sơn từ rất sớm, và chính sức sáng tạo thông qua các hoạt động lao động của con người đã làm cho thiên nhiên vùng Hương Sơn trở lên trường cửu Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở hang Sũng Sàm, Hang Luộn những chứng tích của người xưa cách ngày nay trên một vạn năm Khi phật giáo truyền bá và phát triển ở Việt Nam, các bậc Thiền sư đã về đây dựng thảo am, mở chùa - động thờ phật Từ những thảo am sơ khai, Chùa Hương đã trở thành một Sơn môn lớn quy tụ một hệ thống 18 các đền chùa hang động nằm ở 4 thôn: Yến Vĩ, Hội xá, Đục Khê, Phú Yên Các chùa động ở đây phần lớn được xây dựng từ thế kỷ XV đến XIX, đa số dựa lưng vào sườn núi hoặc nằm dưới thung lũng, những nơi có địa thế đẹp để kiến tạo Tất cả những yếu tố thuận lợi đó đã tạo cho Hương Sơn nét đặc trưng “tiểu sơn lâm mà có đại
kỳ quan” và hình thành lên những di tích có giá trị lịch sử văn hoá tín ngưỡng lâu đời
và một lễ hội văn hoá lớn của cả nước
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khu vực Hương Sơn đang bị xâm hại một cách nghiêm trọng Việc bùng phát các tệ nạn xã hội và suy thoái chất lượng môi
Trang 2trường đang là những vấn đề đang gây nhức nhối và xôn xao dư luận Bên cạnh đó, nhiều khu vực rừng bị chặt phá nhường chỗ cho những hoạt động canh tác nông nghiệp hoặc phát triển du lịch, tăng sinh kế cộng đồng; nhiều loài sinh vật đứng trước nguy cơ biến mất hoàn toàn tại khu danh thắng này
Rõ ràng để đánh giá đúng mức giá trị của quần thể di tích Hương Sơn, ngoài giá trị về tôn giáo và danh thắng thì việc nghiên cứu và đánh giá sâu sắc giá trị của hệ thực vật và thảm thực vật, nhân tố làm nên vẻ đẹp “sơn thủy hữu tình” của Hương Sơn là rất cần thiết Bằng cách đó, chúng ta mới hiểu rõ bản chất và quy luật tự nhiên của quá trình hình thành và phát triển của quần thể di tích, từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ, tôn tạo và khai thác đúng mức, hợp lý, đảm bảo tính bền vững và cân bằng của hệ sinh thái rừng Hương Sơn
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá tính đa dạng của thực vật bậc cao có mạch trên núi đá vôi tại khu vực Hương Sơn, Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”.
II NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Nội dung nghiên cứu:
Do hạn chế về mặt thời gian, kinh phí nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu này tại khu vực Hương Sơn với nội dung sau:
Khảo sát thành phần loài, xây dựng bản danh lục của hệ thực vật bậc cao
có mạch tại khu vực Hương Sơn
Phân loại và mô tả cấu trúc các kiểu thảm thực vật theo hệ sinh thái
Phân tích và lập phổ dạng sống, các yếu tố địa lý của hệ thực vật theo các hệ sinh thái
Đánh giá tính đa dạng sinh học của hệ thực vật
Điều tra và đánh giá tiềm năng tài nguyên thực vật
Xác định các loài thực vật có giá trị kinh tế cao, đề xuất các giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý, bảo tồn đa dạng thực vật
2 Phương pháp nghiên cứu:
2.1 Phương pháp kế thừa:
Để có cơ sở đánh giá hiện trạng đa dạng thực vật tại khu vực núi đá vôi Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội, chúng tôi đã tiến hành khảo sát sơ bộ và tập hợp các tài liệu và thông tin hiện có từ các công trình nghiên cứu, chương trình, đề tài,
dự án, … đã tiến hành từ trước tới nay và các vấn đề có liên quan để đánh giá bước đầu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và giá trị nguồn tài nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững
2.2 Phương pháp điều tra, nghiên cứu thực địa:
Trang 3Chúng tôi còn tiến hành 02 đợt khảo sát thực địa nhằm thu thập mẫu vật, kiểm tra, bổ sung cơ sở dữ liệu, xây dựng danh lục thực vật tại khu vực khảo sát
Thời gian tiến hành nghiên cứu: tháng 12/2010 và 3/2011
Quy trình điều tra nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp được Nguyễn
Nghĩa Thìn giới thiệu trong Cẩm nang nghiên cứu Đa dạng sinh vật (1997) và Hệ sinh thái rừng nhiệt đới (2004):
+ Xác định tuyến nghiên cứu và điểm nghiên cứu: Dựa vào bản đồ địa hình và
bản đồ hiện trạng sử dụng đất của khu vực Hương Sơn, tiến hành vạch tuyến khảo sát
đi qua các hệ sinh thái Sử dụng la bàn, máy định vị vệ tinh GPS và bản đồ để xác định
vị trí của tuyến thu mẫu, các điểm nghiên cứu ngoài thực địa để từ đó có thể định dạng chính xác ranh giới các quần xã thực vật trong nghiên cứu thảm thực vật Các hệ sinh thái tiêu biểu trong khu vực Hương Sơn
- Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi
- Hệ sinh thái rừng trên núi đất
- Hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa
- Hệ sinh thái trảng cỏ
- Hệ sinh thái nông nghiệp
- Hệ sinh thái khu dân cư
- Hệ sinh thái thủy vực
- Hệ sinh thái rừng trồng và cây ăn quả lâu năm
Thống kê tất cả các loài gặp được (đã biết tên khoa học) trong phạm vi 10m mỗi bên của tuyến khảo sát Với những loài chưa biết tên khoa học, có thể ghi tên gọi của địa phương (nếu có) Trường hợp hoàn toàn chưa biết thì lấy mẫu để xác định sau
Cố gắng thu các mẫu có hoa, quả Cùng với việc thống kê tên loài, cần ghi đặc điểm dạng sống (cây gỗ, cây bụi, cây thảo) Nếu là cây gỗ thì phải ghi cả chiều cao, đường kính thân Nếu là cây ký sinh, phụ sinh hay dây leo thì phải ký hiệu a, b, c để đánh dấu
+ Tiến hành nghiên cứu chi tiết tại các quần xã thực vật chính: lập ô tiêu chuẩn
với kích thước 40 x 50 m trên những khu vực điển hình đại diện cho các kiểu quần xã Sau đó dùng dây nilon có màu để định vị chu vi của ô Đối với những sườn dốc thì có thể nghiên cứu các ô tiêu chuẩn có diện tích nhỏ hơn thường là 10 x 50 m Các ô tiêu chuẩn được chọn một cách ngẫu nhiên và mang tính đại diện cho các kiểu thảm thực vật đặc trưng của khu vực nghiên cứu
+ Đo đếm ô tiêu chuẩn: Để mô tả ô tiêu chuẩn trước hết phải thu mẫu và xác
định tên cây rồi đo đường kính ngang ngực, đo đường kính tán cây, chiều cao vút ngọn
và chiều cao dưới cành của các cây gỗ có đường kính từ 10 cm trở lên trong ô tiêu chuẩn Đối với các mẫu thực vật của lớp thảm xanh mặt đất: tiến hành mô tả các loài
Trang 4cây, thu mẫu, xác định số cá thể và độ che phủ của mỗi loài cây của lớp thảm xanh bao theo các ô kích thước nhỏ hơn (thường là 2 x 2 m ) Từ đó ước lượng độ che phủ của thảm thực vật trong ô tiêu chuẩn
Hình 1: Cách đo các thông số của cây khi nghiên cứu Ô tiêu chuẩn
+ Vẽ lát cắt đứng: trong ô tiêu chuẩn chọn 1 diện tích với kích thước 10 x 50 m
để vẽ lát cắt Để vẽ lát cắt, trong nghiên cứu thực địa, ngoài đo các chỉ số ở trên, chúng tôi còn đo vị trí của mỗi gốc cây theo 2 trục: trục hoành 50 m và trục tung 10 m, bán kính tán mỗi cây đo theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc Sau đó, căn cứ trên số liệu đã thu được, dùng giấy kẻ ly để xây dựng sơ đồ lát cắt đứng
+ Bản mô tả cho từng ô: Bao gồm vị trí của ô, diện tích, độ dốc, điều kiện đất
đá - thổ nhưỡng, độ ẩm, hướng phơi, thành phần loài, số tầng, các loài trong từng tầng,
số họ / 1ô, số loài / 1ô, số cây gỗ / ha, diện tích gốc cây gỗ /ha,
chỉ số độ tán che: ĐTC / ha, số loài cây con / 1ô, trung bình cây con / 1ô con, trung bình cây con / m2, số trung bình của các loài cây con trong mỗi m2
Tính độ che phủ ĐTC = Tổng diện tích của tất cả các cây thuộc tầng cây gỗ / diện tích của lát cắt (50 x 10 m)
Độ che phủ càng lớn chứng tỏ tính đa dạng càng cao
Để đánh giá sự khác nhau của từng kiểu thảm thực vật chúng ta có thể so sánh
số loài / ha để thấy rõ tính đa dạng của từng kiểu, số loài ưu thế, tỷ lệ diện tích gốc các cây gỗ/ ha và tỷ lệ % diện tích của gốc các cây gỗ so với diện tích ô tiêu chuẩn
+ Phướng pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ mẫu ngoài thực địa: các mẫu thu phải
có đủ cả cả bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản và được gắn Etyket để ghi lại các thông tin sơ bộ ngoài thực địa, các thông tin này sẽ được chép vào sổ thu mẫu Sau đó các mẫu nhỏ được bỏ trong túi nilon kín có kẹp miệng còn các mẫu khác được gói
Trang 5trong tời giấy báo xếp thành từng chồng và cho vào túi nilon lớn hơn chứa dung dịch pha cồn để bảo quản
+ Chụp ảnh: trong với quá trình thu mẫu, sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của các loài (ghi lại số hiệu mẫu cùng với số thứ tự ảnh trong sổ tay để tiện cho việc tra cứu sau này) và các sinh cảnh cùng với những hoạt động của tập thể trong quá trình nghiên cứu
2.3 Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm :
Các mẫu vật được thu thập bổ sung trong quá trình thực địa được mang về phân tích và xử lý trong phòng thí nghiệm để phục vụ cho công tác nghiên cứu cũng như lưu trữ gồm các bước:
- Phân loại sơ bộ: các mẫu vật được phân loại theo các taxon từ ngành tới họ, thậm trí là tới chi dựa trên các tài liệu hiện có và tham khảo ý kiến của các chuyên gia
về thực vật học
- So mẫu và xác định tên loài: so sánh với bộ mẫu chuẩn hiện có tại Bảo tàng Thực vật để có tên khoa học sơ bộ dựa vào các đặc điểm của cành, lá, hoa, quả…đặc biệt là các đặc điểm của cơ quan sinh sản và có ý nghĩa đặc trưng cho loài
Để xác định tên khoa học, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp như phân tích mẫu, tra khoá phân loại, nghiên cứu các tài liệu hiện có, tham khảo ý kiến của các chuyên gia để xác định tên khoa học
- Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, chúng tôi tiến hành kiểm tra lại các tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót Chúng tôi
đã hiệu chỉnh theo hệ thống của Brummitt trong "Vascular Plant Families and Genera" (1992), điều chỉnh tên loài theo các tài liệu "Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000), "Tạp chí Sinh học - chuyên đề Thực vật" (1994 - 1995), "Thực vật chí Việt Nam" (các họ Lamiaceae, Annonaceae, Myrsinaceae, Cyperaceae…) và "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" (2002 - 2005) và chỉnh tên tác giả theo tài liệu
"Authors of Plant Names" của Brummitt R.K và C E Powell (1992)
- Lập bảng danh lục hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu: các thông tin thu được trong quá trình phân tích mẫu được tập hợp trong bảng danh lục hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu theo từng ô tiêu chuẩn cho các đai độ cao khác nhau
Bảng danh lục thực vật được xây dựng theo hệ thống phân loại của Brummitt (1992) trong đó các ngành được xếp theo hướng tiến hóa tăng dần; các họ trong một ngành, các chi trong một họ, các loài trong một chi được xếp theo trật tự chữ cái đầu từ
A đến Z
Trang 62.4 Phương pháp phân tích cấu trúc và đánh giá đa dạng thảm thực vật
Chúng tôi dựa theo khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã được Phan Kế Lộc áp dụng vào Việt Nam (1985) để gọi tên và mô tả sơ bộ các kiểu thảm thực vật của khu vực nghiên cứu trên cơ sở những ghi chép thực địa Việc đánh giá các kiểu rừng, kiểu thảm dựa theo ô tiêu chuẩn và thang phân loại thảm thực vật được GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn chỉnh sửa năm 1997 trên cơ sở các thang phân loại trước đó của Thái Văn Trừng (1978), Phan Kế Lộc (1985) kết hợp với việc phân tích các chỉ số đo đạc được bằng phương pháp ô tiêu chuẩn, phân tích sinh thái của các
ô từ đó xác định được kiểu thảm của các ô tiêu chuẩn đại diện và qua đó khái quát nên các kiểu tham đặc trưng của khu vực này
Các chỉ số được sử dụng trong đánh giá thảm thực vật như sau:
%N: Là tỷ lệ % số cá thể của một loài so với tổng số cá thể trong ô tiêu chuẩn
%BA: Là tỷ lệ % tiết diện ngang ngực của các cây gỗ của một loài có đường kính ngang ngực (DBH) trên 10 cm so với tổng diện tích ngang ngực của tất cả các cây
gỗ trong ô có DBH trên 10 cm
F: Là mức độ gặp lại của một loài, tính bằng việc gặp được loài đó trong tổ hợp tất cả các loài trong tất cả các ô
CAI: là độ quan trọng, tính bằng tổng của %N, %BA và F Chỉ số này quyết định nên vai trò của các loài trong kiểu thảm hoặc ưu hợp mà ô tiêu chuẩn là đại diện (tổng của tất cả các CAI bằng 300%)
Trong một ô, độ quan trọng tính tương đương với tổng chỉ số của %BA và %N
Để đạt được những phân tích chính xác về thành phần loài và xác định được các loài ưu thế trong cấu trúc thảm thực vật thì tất cả các loài được đo đạc trong ô phải được thu mẫu Tuy nhiên, trong nghiên cứu thực địa nếu có thể xác định được chính xác tên khoa học của của các loài thì có thể không cần thu mẫu, tuy nhiên việc có mẫu
để phân tích vẫn đảm bảo độ tin cậy cao hơn và bổ sung cho nghiên cứu về đa dạng loài
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Tính đa dạng về thành phần loài thực vật:
Từ kết quả thu được qua khảo sát thực địa và tham khảo tài liệu cho thấy hệ thực vật bậc cao trên núi đá vôi khu vực Hương Sơn có 822 loài thuộc 540 chi, 182 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch
Mặc dù kết quả này chưa phản ánh hết số loài hiện có ở Hương Sơn nhưng hệ thực vật này đã chiếm 7,9% tổng số loài; 22,3% tổng số chi và 59,6% tổng số họ của
hệ thực vật Việt Nam
Trang 7Bảng 1: Thành phần loài thực vật bậc cao có mạch của khu vực Hương Sơn
Lớp Một lá mầm Lớp Hai lá mầm
Như vậy, hệ thực vật Hương Sơn có đầy đủ 6 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó đáng chú ý có ngành Khuyết lá thông (còn gọi là ngành Lá thông) là ngành thực vật rất cổ, hiện trên thế giới cũng chỉ có 1 họ, 2 chi và trên 10 loài còn sót lại Ngành Hạt kín chiếm đa số với 151 họ, 501 chi và 768 loài, chiếm 82,9% tổng số họ; 92,7% tổng số chi và 93,4% tổng số loài của hệ thực vật Hương Sơn
Sự ưu thế về tỉ trọng số loài của ngành Hạt kín trong hệ thực vật Hương Sơn phù hợpvới kết quả nghiên cứu của một số hệ thực vật ở Việt Nam Ví dụ, ở hệ thực vật Lâm Sơn (huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình), tỉ trọng này là 89,5%, ở hệ thực vật Cúc Phương là 91,5%; ở hệ thực vật Bắc Việt Nam (tính từ vĩ tuyến 170 Bắc) là 90,7%
và ở hệ thực vật Việt Nam là 90,9%
Tỉ trọng số loài giữa lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm là 4,12 (nghĩa là cứ 4,12 loài thuộc lớp Hai lá mầm mới có 1 loài thuộc lớp Một lá mầm), tỉ trọng này rất gần với hệ thực vật Lâm Sơn (tỉ lệ là 4:1), tương đối gần với hệ thực vật Cúc Phương (tỉ lệ là 3,8:1)
2 Tính đa dạng về phổ dạng sống:
Từ kết quả phân tích thu được cho thấy, nhóm cây chồi trên đất có 439 loài chiếm 53,3% tổng số loài của hệ thực vật Trong nhóm cây chồi trên đất hầu hết là cây
gỗ, nhưng cũng có tới 67 loài thuộc các dạng sống đặc thù Đó là 6 loài thuộc dạng sống ký sinh, 13 loài thuộc dạng sống bì sinh, 32 loài là dây leo thân gỗ và 16 loài là thân gỗ giả Đây là những dạng sống đặc trưng của hệ thực vật thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa
Xếp sau nhóm cây chồi trên đất là nhóm cây chồi sát đất với 115 loài chiếm 14,0% tổng số loài của hệ thực vật Trong 115 loài thuộc nhóm cây chồi sát đất có 29 loài dây leo, nhưng khác với các loài dây leo thuộc nhóm cây chồi trên đất đều là dây leo thân gỗ, còn ở nhóm cây chồi sát đất, toàn bộ 29 loài dây leo đều là dây leo thân thảo
Trang 8Nhóm cây chồi nửa ẩn có 113 loài chiếm 13,7% tổng số loài của hệ thực vật, trong đó có 6 loài bì sinh và 2 loài dây leo thân thảo
Chiếm vị trí thứ tư là nhóm cây sống một năm có 94 loài, chiếm 11,4% tổng số loài của hệ thực vật
Nhóm cây sống một năm có 5 loài dây leo thân thảo
Xếp cuối cùng là nhóm cây chồi ẩn có 62 loài chiếm 7,6% tổng số loài của hệ thực vật, có 12 loài dây leo thân thảo
Sự ưu thế của nhóm dạng sống cây chồi trên đất phù hợp với kết quả nghiên cứu một số hệ thực vật vùng nhiệt đới
Bảng 2: So sánh phổ dạng sống các hệ thực vật Việt Nam, Lâm Sơn và Hương Sơn
Nhóm dạng sống
Hệ
thực vật
Cây chồi trên đất
Cây chồi sát đất
Cây chồi nửa ẩn
Cây chồi ẩn
Cây chồi một năm
3 Tính đa dạng thảm thực vật:
Kết quả khảo sát thực địa cho thấy ở Hương Sơn hiện có các kiểu thảm thực vật sau:
Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển ở thung lũng
và chân núi đá vôi
Rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển trên sườn núi đá vôi
Rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ phát triển trên các đỉnh núi đá vôi hoặc ở sườn vách núi có độ dốc lớn
Trảng cỏ phát triển trên sườn, vách núi đá vôi
Rừng thưa, trảng cây bụi trên núi đất
Rừng trồng
Thảm thực vật thủy sinh và ngập nước
Quá trình diễn thế của thảm thực vật tại khu di tích Hương Sơn
Quá trình diễn thế của thảm thực vật tại khu vực di tích thắng cảnh Hương Sơn bao gồm cả 2 dạng: diễn thế tự nhiên và diễn thế thứ sinh nhân tác, trong đó diễn thế thứ sinh nhân tác chiếm vai trò chủ yếu Diễn thế tự nhiên diễn ra chủ yếu ở khu vực thung Lá Và, thung Mây, động Hương Tích Còn lại, hầu hết khu vực văn hóa lịch sử
Trang 9Hương Sơn đã và đang diễn ra quá trình diễn thế thứ sinh nhân tác Có thể tóm tắt quá trình diễn thế của thảm thực vật Hương Sơn như sau:
Vận dụng kết quả nghiên cứu của các nhà sinh thái học Việt nam, chúng tôi phân chia khu vực di tích thắng cảnh Hương Sơn gồm các hệ sinh thái sau đây:
Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi
Hệ sinh thái rừng trên núi đất
Hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa
Hệ sinh thái trảng cỏ
Hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái khu dân cư
Hệ sinh thái thủy sinh
Hệ sinh thái rừng trồng
Thống kê thành phần loài theo các hệ sinh thái:
Sự phân bố thành phần loài theo các hệ sinh thái rất khác nhau
Bảng 3 Số lượng loài thực vật phân bố theo hệ sinh thái
Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển ở:
thung lũng và chân núi đá vôi sườn núi đá vôi
trên núi đất
Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng
Rừng thứ sinh phục
hồi
Trảng cây bụi
Phục hồi
Trảng cỏ
Trang 101 Rừng trên núi đá vôi 154
3 Trảng cây bụi, tre nứa 165
Phân tích phổ dạng sống của các hệ sinh thái
Phổ dạng sống của các hệ sinh thái rất khác nhau Có 5 hệ sinh thái, nhóm dạng sống cây chồi trên đất chiếm ưu thế, đó là hệ sinh thái rừng trồng (85,8%), hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi (62,79%), hệ sinh thái rừng trên núi đất (58,10%), hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa (56,40%) và hệ sinh thái khu dân cư (49,7%)
Hệ sinh thái trảng có có nhóm cây chồi nửa ẩn chiếm ưu thế (38,10%) Hệ sinh thái thủy sinh có nhóm cây chồi ẩn chiếm ưu thế (56,10%) và nhóm cây sống một năm chiếm ưu thế trong hệ sinh thái nông nghiệp (46,20%) Phổ dạng sống đã phản ánh đúng bản chất sinh thái của các hệ sinh thái Sau đây là phổ dạng sống của các hệ sinh thái ở hệ thực vật Hương Sơn
Bảng 4 Phổ dạng sống của các hệ sinh thái Dạng
sống
Hệ
sinh thái
Nhóm cây chồi trên đất chồi sát đấtNhóm cây chồi nửa ẩnNhóm cây Nhóm câychồi ẩn
Nhóm cây sống một năm
Số loài Tỉ lệ(%) loàiSố Tỉ lệ(%) loàiSố Tỉ lệ(%) loàiSố Tỉ lệ(%) loàiSố Tỉ lệ(%)
Rừng trên
Rừng trên
Trảng cây
Nông