1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện nghiên cứu và phát triển vùng trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 2005 NĐCP

104 376 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 725,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hà Nội, ngày tháng năm 2014 GIẤY XÁC NHẬN Trong quá trình thực hiện xây dựng “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng theo hình thức tổ chức khoa h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_*** _

PHAN LỆ NGA

TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG

TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ,

TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP

LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Quản lí Khoa học và Công nghệ

Hà Nội, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_*** _

PHAN LỆ NGA

TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG

TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ,

TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu và các kết luận được trình bày trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Phan Lệ Nga

Trang 4

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

GIẤY XÁC NHẬN

Trong quá trình thực hiện xây dựng “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng theo hình thức tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên” bà Phan Lệ Nga là một trong các thành viên trực tiếp tham gia thực hiện chính Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng, Bộ Khoa học và Công nghệ đồng ý cho

bà Phan Lệ Nga sử dụng số liệu của “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng theo hình thức tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên” của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng trong luận văn Thạc sỹ “Tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP”

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

VIỆN TRƯỞNG

Lê Tất Khương

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập Chương trình cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những lời động viên sâu sắc từ thầy cô giáo, gia đình, bạn bè Đến nay, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp chương trình cao học với đề tài “Tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/NĐ-CP”

Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trịnh Ngọc Thạch, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin được trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các thầy giáo, cô giáo Khoa Khoa học quản lý – Trường Đại học Xã hội và Nhân văn, các chuyên gia, các đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện ủng hộ gúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng cùng các đồng nghiệp đã cung cấp thông tin và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Luận văn này tuy đã có cố gắng cao, nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết, rất mong nhận được những ý kiến nhận xét, góp ý của các thầy, cô giáo, các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu để Luận văn được hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên Phan Lệ Nga

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Câu hỏi nghiên cứu 6

6 Giả thuyết nghiên cứu 6

7 Phương pháp Nghiên cứu 7

8 Các luận cứ 7

9 Kết cấu của luận văn 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ/CP 10

1.1 Các khái niệm 10

1.1.1 Tái cơ cấu 10

1.1.2 Tái cơ cấu hệ thống tổ chức 11

1.1.3 Tổ chức khoa học và công nghệ 13

1.1.4 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm 15

1.2 Cơ sở lý luận về tái cơ cấu hệ thống tổ chức của tổ chức khoa học và công nghệ trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 17

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về đổi mới hoạt động về KH&CN 19

1.4 Kinh nghiệm tái cơ cấu kinh tế 285

1.5 Kết luận chương 1 28

Trang 7

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG KHI CHUYỂN ĐỔI SANG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO

NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP 29

2.1 Tổng quan về Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng 29

2.1.2 Thông tin chung 30

2.1.3 Nguồn lực và cơ sở vật chất 31

2.1.4 Nguồn thu của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng 32

2.2 Định hướng hoạt động của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng giai đoạn 2016 – 2020 34

2.2.1 Về tổ chức bộ máy 34

2.2.2 Về đội ngũ cán bộ 34

2.2.3 Về cơ sở vật chất 34

2.2.4 Về hoạt động khoa học và công nghệ 34

2.3 Những khó khăn thách thức khi Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 36

2.3.1 Những khó khăn, thách thức 36

2.3.2 Những vấn đề phát sinh về thời gian khi thực hiện việc chuyển đổi 37

2.4 Tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng 38

2.4.1 Mô hình trước khi tái cơ cấu 38

2.4.2 Mô hình sau khi tái cơ cấu 43

2.4.3 Lộ trình thực hiện tái cơ cấu 48

2.4.4 Đánh giá kết quả đạt được và những tồn tại của quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 50

2.5 Kết luận chương 2 53

Trang 8

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUÁ TRÌNH TÁI CƠ CẤU

HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG KHI THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH

NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP 54

3.1 Mục tiêu, quan điểm phát triển của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng 54

3.1.1 Mục tiêu 54

3.1.2 Quan điểm phát triển 54

3.2 Các giải pháp hoàn thiện quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng 57

3.2.1 Giải pháp về xây dựng tổ chức, xây dựng bộ máy 58

3.2.2 Các giải pháp về nguồn nhân lực 60

3.2.3 Các giải pháp về tài chính 64

3.2.4 Giải pháp về cơ sở vật chất 64

3.2.5 Giải pháp về thị trường, khách hàng 65

3.3 Kết luận chương 3 66

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 702

Trang 9

DANH MỤC VIẾT TẮT

R&D Nghiên cứu và triển khai

KH&CN Khoa học và Công nghệ

UNDP Chương trình phát triển Liên Hiệp quốc

CAS Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc

WFOP Chương trình làm cho bên ngoài

SXKD Sản xuất kinh doanh

BHXH, YT Bảo hiểm xã hội, y tế

IRRD Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng

Công nghệ CAS Công nghệ bảo quản thực phẩm của Nhật Bản hệ thống tế

bào sống (Cells Alive System) GIS Hệ thống thông tin địa lý

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Khoa học và Công nghệ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng nhìn chung KH&CN nước ta còn nhiều mặt hạn chế, còn có khoảng cách xa

so với thế giới và khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội

Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả của khoa học và công nghệ chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn là sự yếu kém của các

tổ chức KH&CN Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao, cơ cấu nhân lực theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý; thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN, giáo dục – đào tạo và sản xuất – kinh doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu – phát triển, các trường đại học và doanh nghiệp

Đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CN là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN Việc chuyển đổi các tổ chức KH&CN sang thực hiện cơ chế tự chủ,

tự chịu trách nhiệm sẽ nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động và sáng tạo của tổ chức KH&CN tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học với phát triển công nghệ với sản xuất kinh doanh và đào tạo nhân lực đẩy nhanh quá trình

xã hội hóa các hoạt động KH&CN, tạo điều kiện tập trung có đầu tư trọng điểm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động các tổ chức KH&CN, góp phần tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước

Ngày 5/9/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 115) về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập Theo tinh thần của Nghị định 115, kể từ ngày

Trang 11

31/12/2009, các tổ chức KH&CN công lập được hoàn toàn tự chủ và Nhà nước sẽ không cung cấp ngân sách chi cho hoạt động KH&CN theo kiểu bao cấp như trước đây Tuy nhiên, sự chuyển đổi này diễn ra chậm và bước đầu gặp phải nhiều vướng mắc

Đã có rất nhiều nghiên cứu, phân tích chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế của Nghị định 115, dẫn đến những tư tưởng e ngại và nhiều khó khăn dẫn đến việc các tổ chức KH&CN vẫn muốn tiếp tục được sự hỗ trợ theo hương thức bao cấp để hoạt động như:

- Các tổ chức KH&CN có tiềm lực yếu, đặc biệt là các tổ chức KH&CN thuộc địa phương, tổ chức KH&CN mới thành lập, các tổ chức KH&CN chưa được tập trung đầu tư cơ sở vật chất và nhân lực để đủ tiềm lực hoạt động theo cơ chế tự chủ của Nghị định 115

- Trên thực tế, nhiều tổ chức KH&CN hoạt động không vì mục đích vì lợi nhuận, đang thực hiện các dịch vụ công ích phục vụ quản lý nhà nước, không có nguồn thu để tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên Các tổ chức này sẽ lúng túng và gặp nhiều khó khăn khi phải chuyển sang hình thức tự trang trải kinh phí hoạt động

- Quy định tại Nghị định 115 và các văn bản hướng dẫn còn thiếu đồng bộ, nhiều chỗ chưa rõ ràng, chưa bao quát hết các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, đặc biệt cơ chế tài chính chưa tạo điều kiện để tổ chức KH&CN có thể xây dựng và phát triển quỹ lương của tổ chức, do đó chưa thực sự khuyến khích cán bộ KH&CN phát huy hết khả năng của mình trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, dịch vụ, sản xuất và kinh doanh

- Và, còn nhiều hạn chế bị ràng buộc bởi các văn bản quy phạm pháp luật khác mà đòi hỏi Nghị định 115 phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp như: thuế thu nhập, vay vốn từ ngân hàng, quy định pháp lệnh về công chức, viên chức, quy định về phân cấp quản lý …

Trang 12

Vì vậy, ngày 20/9/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 96/2010/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 96) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 115 và Nghị định 80/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2007

về Doanh nghiệp khoa học và công nghệ (sau đây gọi tắt là Nghị định 80) tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức KH&CN khi chuyển đổi và khả thi khi được triển khai áp dụng thực hiện trong thực tế

Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng – Bộ Khoa học và Công nghệ là tổ chức KH&CN công lập được thành lập theo Quyết định số: 2595 QĐ/TCCBKH ngày 30 tháng 10 năm 1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) nằm trong phạm vi điều chỉnh của Nghị định 115/2005/NĐ-CP là một tổ chức KH&CN chuyển đổi

sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm từ ngày 1 tháng 1 năm 2004 Trong

quá trình chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiêm, Viện đã gặp một số những vướng mắc về mô hình hoạt động, cơ cấu tổ chức, điều kiện

về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, nguồn tài chính để phù hợp với cơ chế hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Trong khuôn khổ của Luận văn thạc sỹ, học viên đã lựa chọn đề tài

“Tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP” nhằm tìm hiểu, đánh giá thực trạng của Viện Nghiên cứu

và Phát triển Vùng, trên cơ sở đó lựa chọn được các giải pháp hợp lý mô hình

và cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện và định hướng hoạt động khoa học

và công nghệ của đơn vị

2 Lịch sử nghiên cứu

Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với tổ chức KH&CN công lập được triển khai thực hiện từ năm 2007 Tuy nhiên, việc triển khai còn nhiều bật cập và thực hiện chưa đúng đinh thần của Nghị định 115 Đã có nhiều

Trang 13

công trình nghiên cứu về tình hình thực hiện Nghị định 115 nói chung và chuyển đổi của tổ chức KH&CN công lập nói riêng có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau đây:

- Luận văn “Đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ thành lập theo Nghị định 35/HĐBT trong các Viện nghiên cứu và triển khai (nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) của tác giả Nguyễn Kim Công

- Luận văn “Nghiên cứu giải pháp thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP và nghị định 96/2010/NĐ-CP” của tác giả Nguyễn Thị Đức Hạnh

- Luận văn “Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đối với quá trình tự chủ của các viện nghiên cứu – triển khai thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (nghiên cứu trường hợp Nghị định 35/HĐBT và Nghị định 115/2005/NĐCP)” của tác giả Phạm Tuấn Huy

- Luận văn “Tái cấu trúc hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)” của Phạm Thị Bích Ngọc

- Luận văn “Các yếu tố cơ bản để các Trung tâm ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh thực hiện thành công nghị định 15/2005/NĐ-CP của tác giả Cao Thanh Hùng

- Luận văn “Hoàn thiện thiết chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp cơ sở nghiên cứu triển khai có sử dụng ngân sách nhà nước)” của tác giả Trần Ngọc Hoa

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến hiện trạng, đánh giá tác động, tìm ra nguyên nhân, giải pháp của việc thực hiện Nghị định 35, Nghị định 115 và Nghị định 96 ở tầm vĩ mô nhưng chưa phân tích rõ hiện

Trang 14

trạng, những yếu kém của hệ thống tổ chức để tìm ra các giải pháp cụ thể, cơ cấu lại hệ thống tổ chức để hoạt động có hiệu quả hơn, thích nghi với cơ chế mới, môi trường mới và xu thế hội nhập kinh tế, quốc tế

Luận văn kế thừa có chọn lọc những tư tưởng, quan điểm và kết quả cứu đã được công bố, từ đó phân tích hiện trạng hệ thống cơ cấu tổ chức trong bối cảnh Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115, từ đó đề xuất được những giải pháp về tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện nghiên cứu và Phát triển Vùng hoạt động hiệu quả khi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu, tìm giải pháp về mặt tổ chức áp dụng vào việc thực hiện tái cơ cấu Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Nội dung nghiên cứu

Trong khuôn khổ của của Luận văn, nghiên cứu chủ yếu hướng đến việc nhận diện, đánh giá về hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng và các yêu cầu cần và đủ để bộ máy tổ chức của Viện Nghiên cứu

và Phát triển Vùng hoạt động có hiệu quả sau khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

4.2 Không gian nghiên cứu

Nghiên cứu trường hợp tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng, Bộ Khoa học và Công nghệ

4.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2014

Trang 15

5 Câu hỏi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài, cần phải trả lời 2 câu hỏi lớn:

- Tại sao phải tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng

- Giải pháp nào để tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng để hoạt động có hiệu quả cao

6 Giả thuyết nghiên cứu

Các chính sách trong Nghị định 115 là một hướng mở để thúc đẩy các

tổ chức KH&CN công lập mạnh dạn tự chủ trong hoạt động KH&CN của đơn

vị mình Tuy nhiên, khi thực hiện chuyển đổi thì Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng gặp phải một số các vướng mắc về hệ thống tổ chức như:

- Cơ cấu tổ chức chưa phù hợp với hoạt động theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm

- Hạn chế về trình độ và năng lực chuyên môn của cán bộ nghiên cứu và triển khai các hoạt động công nghệ

- Thiếu những chính sách phù hợp như: ưu đãi, đào tạo, phát triển nguồn lực, vốn, …

Tìm những giải pháp để tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng trên cơ sở phân tích thực trạng mô hình cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng nhằm:

- Sắp xếp lại hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng

để phù hợp với cơ chế hoạt động tự chủ, tự trang trải

- Xây dựng những quy định, quy chế nhằm quản lý, khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, phát huy tiềm lực của Viện

- Đề xuất với Cơ quan quản lý cấp trên (Bộ Khoa học và Công nghệ) những nhu cầu nhằm tìm kiếm sự ủng hộ về cơ chế chính sách cũng như

Trang 16

những đầu tư về cơ sở vật chất để Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng hoạt động có hiệu quả trong cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

7 Phương pháp Nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu sẵn có như: sách báo, tài liệu, số liệu liên quan đến tái cấu trúc, tái cơ cấu, hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN Phương pháp nghiên cứu này nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận của đề tài này

- Thu thập thông tin, điều tra thực tế về hiện trạng hệ thống tổ chức thực tế tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng trên cơ sở các thông tin thực

tế được Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng cung cấp thông qua bộ phận quản lý nhân sự, bộ phận quản lý khoa học và Lãnh đạo Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng

- Phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp thông qua việc tổ chức thảo luận và thu thập thông tin từ các tổ chức, cá nhân, các nhà khoa học, các nhà quản lý trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

- Phương pháp quan sát: trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằm mục đích thu thập thêm thông tin khách quan như mối quan hệ giữa tổ chức KH&CN với Cơ quan quản lý cấp trên, mối quan hệ giữa Lãnh đạo tổ chức KH&CN với các cán bộ nghiên cứu trong bối cảnh Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115

8 Các luận cứ

8.1 Luận cứ lý thuyết

Theo tinh thần Nghị định 115, các đối tượng áp dụng Nghị định 115 gồm: các tổ chức nghiên cứu khoa học, các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các tổ chức dịch vụ KH&CN, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập

Trang 17

Mục đích thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động sáng tạo của tổ chức KH&CN và Thủ trưởng tổ chức KH&CN; tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức KH&CN góp phần tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước

Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng là tổ chức khoa học và công nghệ

do Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định thành lập, là một trong những tổ chức KH&CN nằm trong phạm vi điều chỉnh của Nghị định 115 Nhu cầu tái

cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng là cấp bách, khi mà yêu cầu thực tiễn đòi hỏi Viện phải xác định rõ chiến lược, kế hoạch hoạt động và phát hiện những yếu tố làm kìm hãm sự phát triển của Viện như:

cơ cấu tổ chức, cơ chế tài chính không hợp lý, thiếu công cụ kiểm soát, quản lý; đội ngũ lãnh đạo, cán bộ nghiên cứu làm việc không hiệu quả làm hạn chế

sự phát triển của Viện

8.2 Luận cứ thực tế

Trên thực tế, khi Nghị định 115 được đưa vào áp dụng vẫn còn nhiều tổ chức KH&CN vẫn còn tư tưởng e ngại khi chuyển đổi vì gặp phải một số các vướng mắc trong quá trình hoạt động khi chuyển đổi như:

- Cơ cấu tổ chức chưa phù hợp với hình thức hoạt động theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm

- Nguồn nhân lực hạn chế về trình độ, năng lực chuyên môn, thiếu những cán bộ chủ chốt có kinh nghiệm…… để tìm kiếm và hoàn thành công việc

- Cơ sở vật chất chưa đủ đáp ứng được yêu cầu thực tế khi chuyển đổi, thiếu công cụ để tự chủ và tìm kiếm công việc

Trang 18

- Chưa có những chính sách phù hợp để khuyến khích các cán bộ KH&CN phát huy hết khả năng của mình trong các hoạt động nghiên cứu sáng tạo, dịch vụ, sản xuất và kinh doanh

Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng – Bộ Khoa học và Công nghệ là đơn vị nghiên cứu và triển khai nằm trong phạm vi điều chỉnh của Nghị định 115/2005/NĐ-CP, trong quá trình chuyển đổi Viện đã gặp một số những vướng mắc về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, mô hình hoạt động, điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng, nhân lực khi chuyển đổi Để trở thành một tổ chức KH&CN mạnh và phát triển, đáp ứng được yêu cầu KH&CN phục vụ thực tiễn sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế Vùng, địa phương đồng thời đảm bảo đời sống các cán bộ của Viện là một thách thức rất lớn

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về tái cơ cấu hệ thống của tổ chức KH&CN trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ/CP

Chương 2: Thực trạng tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu

và Phát triển Vùng khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng khi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo nghị định 115/2005/NĐ-CP

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG CỦA TỔ CHỨC KHOA

HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ/CP

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Tái cơ cấu

Theo Bách khoa toàn thư mở, tái cơ cấu (Reengineering) là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó, thường là một công ty, doanh nghiệp…

Tái cơ cấu thường là được xem xét lại các quy trình từ khâu tìm kiếm các nguyên liệu, đến khâu sản xuất, tiếp thị, phân phối sản phẩm

Nhu cầu tái cơ cấu trở nên cấp bách khi hiện trạng của các tổ chức đang gặp nhiều vấn đề trong cơ cấu, hoạt động khiến tổ chức hoạt động không hiệu quả; thậm chí trì trệ, đứng trước nguy cơ tan rã, phá sản Nhiều nguyên do là

do vấn đề cơ cấu sai, không hợp lý, kém hiệu quả Chính vì vậy, việc tái cơ cấu được đặt ra; thậm chí là cấp bách nhất Thể hiện cụ thể là:

- Tổ chức không xác định nổi chiến lược và kế hoạch

- Đội ngũ lãnh đạo của tổ chức làm việc không hiệu quả Các tố chất, bao gồm tính cách, hiểu biết, kinh nghiệm cá nhân của đội ngũ lãnh đạo trong một tổ chức đóng một vai trò quan trọng Nếu sai, kém sẽ kìm hãm sự phát triển của tổ chức

- Cơ cấu tài chính chưa phù hợp, chưa chuẩn mực và thiếu các hệ thống, công cụ kiểm soát cần thiết Đây là một lý do mà nhiều tổ chức, đặc biệt là doanh nghiệp hiện nay cần tái cơ cấu nguồn tài chính để đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động một cách tốt nhất

Trang 20

- Quản trị nguồn nhân sự yếu kém Có thể nói con người là một yếu tố có tính chất quyết định tới sự thành công của tổ chức và doanh nghiệp và nếu sự yếu kém nảy sinh từ vấn đề này thì cần phải được điều chỉnh kịp thời và phải có định hướng mang tính lâu dài

- Sự phối hợp hoạt động trong tổ chức không hiệu quả do cơ cấu chưa hợp lý Một cơ cấu tổ chức được thiết kế tốt sẽ có khả năng cho phép đơn vị, công ty hay doanh nghiệp sử dụng các thông tin từ các bộ phận một cách hiệu quả nhất, và từ đó giúp cho hoạt động phối hợp giữa các đơn vị được chặt chẽ và lãnh đạo điều hành tốt hơn

Nội dung của tái cơ cấu quan tâm đến tính hệ thống và chuyên nghiệp trong phương thức thực hiện công việc, phối hợp công việc và điều hành công việc Trong điều kiện hiện nay, tái cơ cấu đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi tư duy quản lý, cải cách về quản lý, tái cấu trúc lại các quá trình kinh doanh, trên cơ sở đó định hình mô hình và cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện và định hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Vậy, theo quan điểm của học viên tái cơ cấu của một đơn vị, công ty

hay doanh nghiệp là quá trình thay đổi định hướng chiến lược hoạt động của một tổ chức; thiết lập lại cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ cấu nguồn lực; cắt giảm chi phí hoạt động, một hoặc nhiều hơn một lĩnh vực hoạt động hay tăng đầu

tư, mở rộng một hay nhiều lĩnh vực hoạt động; thiết kế lại quá trình hoạt động trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong một môi trường mới, thách thức mới

1.1.2 Tái cơ cấu hệ thống tổ chức

1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức

Có nhiều cách tiếp cận về cơ cấu tổ chức của một cơ quan, như:

- Cơ cấu tổ chức là một hệ thống chính thức về các mối quan hệ vừa độc lập, vừa phụ thuộc trong tổ chức, thể hiện những nhiêm vụ rõ

Trang 21

ràng do ai làm, làm cái gì và liên kết với các nhiệm vụ khác trong tổ chức như thế nào nhằm tạo ra một sự hợp tác nhịp nhàng để đáp ứng mục tiêu của tổ chức

- Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận (đơn vị, cá nhân) có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí thành những khâu, những cấp khác nhau nhằm thực hiện các chức năng quản trị và phục vụ mục tiêu chung của tổ chức

Từ các cách tiếp cận cơ bản trên, có thể thấy cơ cấu tổ chức là việc bố trí, sắp xếp nhân lực vào những vị trí, công việc cụ thể, là tổng hợp các bộ phận khác nhau, có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau để thực hiện nhiệm vụ của cơ quan

Như vậy, cơ cấu tổ chức của một đơn vị, công ty hay doanh nghiệp bao gồm: cơ cấu bộ máy quản lý và cơ cấu bộ máy triển khai thực hiện nhiệm vụ của cơ quan

Trong cơ cấu tổ chức của một đơn vị, công ty hay doanh nghiệp có hai vấn đề, đó là cơ cấu cơ bản và cơ chế vận hành Cơ cấu cơ bản liên quan đến những vấn đề chủ yếu trong phân công, sắp xếp nhiệm vụ của các phòng ban

để thực hiện mục tiêu hoạt động của cơ quan Cơ cấu cơ bản được thể hiện thông qua các sơ đồ cơ cấu tổ chức của cơ quan Cơ chế vận hành như một chất bôi trơn để khích lệ cán bộ, nhân viên đồng tâm hiệp lực, gắng sức thực hiện mục tiêu Đây là vấn đề thiết chế của tái cơ cấu

1.1.2.2 Tái cơ cấu hệ thống tổ chức

Tái cơ cấu hệ thống tổ chức là việc tạo ra những thay đổi căn bản về

cơ cấu tổ chức của cơ quan nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất

Trang 22

Tái cơ cấu hệ thống tổ chức chính là sự thay đổi, sắp xếp lại cơ cấu bộ máy quản lý để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động của một cơ quan Không đơn giản chỉ là gắn với sự thay đổi các phòng ban đơn thuần mà phải thay đổi sắp xếp phương thức thực hiện công việc, phương thức phối hợp công việc của cơ cấu tổ chức mới Cách tiếp cận này đứng trên góc độ định chế và thiết chế

1.1.3 Tổ chức khoa học và công nghệ

Theo Luật Khoa học và Công nghệ được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2013 Khái niệm cơ bản về hoạt động khoa học và công nghệ (Điều 3) được thống nhất như sau:

Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức tham gia vào các hoạt động khoa học và công nghệ, có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật

Các tổ chức KH&CN bao gồm: các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; trường đại học, học viện, trường cao đẳng và các tổ chức dịch vụ KH&CN Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (được gọi chung là

tổ chức R&D) Các tổ chức R&D được tổ chức dưới hình thức: Viện R&D, phòng thí nghiệm, Trạm nghiên cứu; Trạm quan trắc; Trạm thử nghiệm và cơ

sở R&D khác

Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức KH&CN đóng vai trò là động lực thúc đẩy cho sự phát triển các ngành, lĩnh vực Các thành tựu KH&CN sẽ góp phần áp dụng, nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng cuộc sống của người dân

Trang 23

Trên thế giới, hoạt động KH&CN được tổ chức theo nhiều mô hình khác nhau, được tác giả Vũ Cao Đàm tóm tắt thành 4 loại loại cơ bản như sau1:

Mô hình 1: là mô hình cổ điển nhất, trong đó các tổ chức khoa học thực hiện trọn vẹn các giai đoạn của quá trình R&D, còn các doanh nghiệp chỉ làm nhiệm vụ sản xuất và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất Giữa tổ chức khoa học – công nghệ và doanh nghiệp tồn tại các công ty tư vấn đóng vai trò cầu nối từ R&D đến sản xuất

Mô hình 2: là một nỗ lực của doanh nghiệp hướng tới làm chủ công nghệ mới bằng cách tự mình làm triển khai từ khâu chế tạo vật mẫu sản phẩm mới (prototype) làm pilot để xây dựng công nghệ và sản xuất loạt “0”, đưa vào sản xuất công nghiệp và tiếp tục phát triển công nghệ trong sản xuất

Mô hình 3: tổ chức R&D tạo ra các doanh nghiệp KH&CN (xí nghiệp spin-off), chuyển toàn bộ khâu “triển khai” vào các doanh nghiệp này, đồng thời để doanh nghiệp này kiêm luôn cả chức năng của một công ty tư vấn

Mô hình 4: doanh nghiệp KH&CN kéo dài chức năng về phía trước, bắt đầu từ nghiên cứu ứng dụng qua triển khai tới tư vấn

Hình 1: Các mô hình tổ chức hoạt động KH&CN Các mô

hình tổ

chức

Nghiên cứu cơ bản

Nghiên cứu ứng dụng

Triển khai

Chuyển giao tri thức

Phát triển công nghệ

tư vấn

Doanh nghiệp

Mô hình 2 Tổ chức R&D Doanh nghiệp

Mô hình 3 Tổ chức R&D Doanh nghiệp KH&CN Doanh

Trang 24

Mô hình 4 Tổ chức

R&D Doanh nghiệp KH&CN

Doanh nghiệp

Nguồn: Vũ Cao Đàm, Tuyển tập các công trình đã công bố, tập II 5;292

Quan sát các mô hình trên và dựa vào các quy định cụ thể cho các loại hình tổ chức KH&CN ở Việt Nam, ta thấy Việt Nam đang ở mô hình 4 Bởi hoạt động KH&CN chủ yếu được thực hiện ở các tổ chức KH&CN

1.1.4 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam, tự chủ là tự điều hành, quản lý mọi công việc của mình, không bị ai chi phối

Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Anh, tự chủ là trạng thái tự quản,

là tự do định hướng và đặc biệt không phụ thuộc về mặt đạo đức

Trong lĩnh vực tổ chức học, tự chủ có thể định nghĩa là mức độ một cá thể có thể đưa ra các quyết định quan trọng mà không cần sự cho phép của người khác

Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam, trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc tự mình tạo ra, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả

Tự chịu trách nhiệm là khái niềm gắn liền với tự chủ nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động của cá nhân, tổ chức “Tự chủ là vấn đề tồn tại một hệ thống tự kiểm soát có tính tin cậy đối với việc toàn quyền ra quyết định cùng với sự hoàn thành sẵn lòng với trách nhiệm giải trình”13;4

Theo tác giả, tự chịu trách nhiệm có thể được hiểu là tự nắm được quyền kiểm soát các hành động của mình, phải có trách nhiệm với các hành động của mình Tự chủ, tự chịu trách nhiệm là tính chủ động và chịu trách nhiệm về hành động của mình

Nhắc đến tự chịu trách nhiệm thì cần phải làm rõ hai khái niệm liên quan là trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình

Trang 25

Có rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu định nghĩa về trách nhiệm xã hội của tổ chức nhưng định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) là hoàn chỉnh hơn

cả Trách nhiệm xã hội (social responsibilities) được Ngân hàng thế giới định nghĩa là “Cam kết của tổ chức đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới,

an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng… theo cách có lợi cho cả tổ chức cũng như phát triển chung của xã hội”

Trách nhiệm giải trình là cốt lõi của quan hệ công việc giữa cá nhân với nhau, cũng như giữa một tổ chức với cơ quan quản lý và công chúng, và đặc biệt quan trọng trong những lĩnh vực có quan hệ lợi ích của số đông công chúng, chẳng hạn chính sách công hay những hoạt động sử dụng ngân sách công Do vậy, các tổ chức KH&CN ở những nước dân chủ phát triển đều công khai minh bạch báo cáo giải trình trách nhiệm hàng năm của mình, trong

đó tất cả số liệu về cơ cấu thu chi Điều này là một nét quan trọng trong văn hóa quản lý của các tổ chức và là nhân tố không thể thiếu để duy trì niềm tin của công chúng với sự chính đáng trong các hoạt động của tổ chức

Như vậy, khái niệm “trách nhiệm giải trình” và “tự chịu trách nhiệm” tuy gần nhau nhưng có khác nhau Trong khi tự chịu trách nhiệm là một nghĩa

vụ đương nhiên thì trách nhiệm giải trình là một dải rộng ở mức độ Một tổ chức KH&CN đương nhiên phải chịu trách nhiệm về những quyết định và hành động của mình, nhưng có thể không thực hiện hoặc thực hiện ở những mức độ khác nhau trách nhiệm giải trình trước cơ quan quản lý, trước công chúng và các bên liên quan Với ý nghĩa đó chúng ta có thể thấy việc thực hiện trách nhiệm giải trình của các tổ chức KH&CN ở Việt Nam còn rất yếu

và rất cần được đẩy mạnh

Trang 26

1.2 Cơ sở lý luận về tái cơ cấu hệ thống tổ chức của tổ chức khoa học và công nghệ trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115

Xu hướng của đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức KH&CN là từng bước thực hiện xã hội hoá hoạt động KH&CN, hợp lý hoá phương thức tài trợ của Nhà nước, từng bước xoá bỏ bao cấp, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN

Tái cơ cấu hệ thống tổ chức của tổ chức KH&CN trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 là thay đổi, thiết lập lại quá trình hoạt động của một tổ chức nhằm tăng hiệu quả hoạt động, tính cạnh tranh phù hợp với định hướng phát triển của một tổ chức

Trong xu thế hội nhập quốc tế, môi trường mới, thách thức mới Việc thay đổi hay điều chỉnh chỉ là tạm thời chứ chưa có tác dụng khắc phục hướng tới phát triển Vì vậy, quan điểm trong xu hướng mới là tái cơ cấu cần phải gắn với việc thay đổi quá trình hoạt động hướng tới việc phát triển của một tổ chức nhằm đạt được những thành quả tốt nhất

Từ những cách hiểu trên, có thể thấy bản chất của tái cơ cấu hệ thống tổ chức là:

- Điều chỉnh thay đổi cơ cấu tổ chức, thiết kế lại cơ cấu tổ chức mới phù hợp với điều kiển thay đổi của môi trường mới

- Điều chỉnh phương thức thực hiện công việc, phối hợp công việc

- Thay đổi quá trình hoạt động hướng tới việc hoạt động có hiệu quả nhằm phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, trên cơ sở đó thiết kế cơ cấu tổ chức của một tổ chức

Như vậy, có thể thấy rằng tái cơ cấu hệ thống tổ chức của tổ chức KH&CN không chỉ gắn với việc thiết kế lại tổ chức, đưa ra cơ cấu tổ chức

Trang 27

mới mà còn phải gắn liền với yếu tố quản lý các bộ phận trong nội bộ của tổ chức KH&CN

Các cơ sở để tái cơ cấu hệ thống tổ chức:

- Theo đặc điểm ngành nghề và lĩnh vực hoạt động của một tổ chức: việc thiết kế và lựa chọn mô hình tổ chức sản xuất của tổ chức KH&CN phụ thuộc rất nhiều vào lĩnh vực hoạt động KH&CN của tổ chức khoa học đó Sự khác nhau thể hiện rõ hoạt động trong một lĩnh vực hay nhiều lĩnh vực, quy

mô nhỏ hay quy mô lớn…

- Mục tiêu, chiến lược và định hướng hoạt động và phát triển của một

tổ chức tác động rất lớn đến việc thiết kế, điều chỉnh cơ cấu hệ thống tổ chức của tổ chức KH&CN

- Đặc điểm hoạt động của tổ chức là cơ sở để thiết kế hệ thống tổ chức Việc các tổ chức KH&CN phải điều chỉnh hoạt động KH&CN sao cho phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thị trường, thực tiễn sản xuất nhằm tạo ra tính hiệu quả trong hoạt động phối hợp thực hiện công việc đặc biệt đáp ứng nhu cầu thực tiễn sản xuất

Đặc điểm của cơ cấu tổ chức hiện tại và nguồn nhân lực của tổ chức KH&CN tác động lên bộ máy quản lý của tổ chức KH&CN và việc thay đổi

mô hình tổ chức mới hoàn thiện hơn, linh hoạt hơn là một nhu cầu tất yếu khi

tổ chức đó chuyển đổi hoạt động sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Đặc điểm cạnh tranh là một trong những vẫn đề mà nhiều tổ chức KH&CN quan tâm Tổ chức KH&CN nào cũng muốn tạo được lợi thế cạnh tranh cho tổ chức cuar mình để nâng cao hình ảnh, uy tín của mình với đối tác Đối với hầu hết các tổ chức KH&CN cạnh tranh bằng uy tín, chất lượng, năng lực và hiệu quả hoạt động của tổ chức mình Từ đó sẽ hướng tới đổi mới hoạt động của tổ chức mình thông qua việc thiết kế, tái cơ cấu bộ máy tổ chức

để đảm bảo linh hoạt nhằm đạt hiệu quả hoạt động cao nhất

Trang 28

Hợp tác quốc tế và hội nhập toàn cầu là một nhu cầu cần thiết đối với các tổ chức KH&CN, các tổ chức KH&CN cần phải giao lưu, trao đổi thông tin KH&CN với các đối tác nước ngoài nhằm cập nhật các thông tin mới tránh nguy cơ tụt hậu Cần phải thiết kế cơ cấu tổ chức theo hướng linh hoạt để đáp ứng điều kiện hội nhập toàn cầu

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về đổi mới hoạt động về KH&CN

Trung Quốc

Trung Quốc tin tưởng rằng muốn có sự phát triển kinh tế trong tương lai thì cần phải dựa vào KH&CN và KH&CN cần phải hòa nhịp với sự phát triển kinh tế Trong khi Trung Quốc được đánh giá cao về năng lực nghiên cứu cơ bản và thu hút thế hệ trẻ đi vào KH&CN thì vẫn gặp một số trở ngại sau:

- Việc cấp bằng sáng chế trong nước và quốc tế vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết

- Số cán bộ R&D còn thiếu

- Các kết quả nghiên cứu khoa học vẫn chỉ góp phần tối thiểu vào phát triển kinh tế và việc nhập khẩu công nghệ tiên tiến vẫn chưa được kết hợp chặt chẽ với hoạt động nghiên cứu ở trong nước

Cuộc cải cách đã được đề ra nhằm khắc phục tình trạng kém hiệu quả của hệ thống hành chính Trung Quốc, phấn đấu vì một mục tiêu lớn lao là

“làm cường thịnh Trung Quốc nhờ khoa học và giáo dục” Trung Quốc sẽ nhằm vào những công nghệ đang nổi nào mà xét thấy có năng lực nghiên cứu

cơ bản mạnh, đem lại lợi ích rộng khắp cho các ngành công nghiệp, hoặc hỗ trợ ứng dụng các mục tiêu phát triển kinh tế Để đẩy mạnh đổi mới ở thế kỷ XXI, Trung Quốc tập trung đầu tư mạnh vào các lĩnh vực: vật liệu tiên tiến, công nghệ năng lượng sạch và tái tạo, vi điện tử, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và tự động hóa trong ngành công nghiệp Trung Quốc cũng đưa ra sức nâng cao năng lực của các công ty trong thương mại hóa công

Trang 29

nghệ bằng việc xem xét cách thức để thúc đẩy lĩnh vực kinh doanh vốn mạo hiểm và khuyến khích chuyển giao công nghệ Một cơ chế được dùng là không đánh thuế vào lợi nhuận thu được có liên quan đến chuyển giao công nghệ, phát triển các dịch vụ Trung Quốc đang tiến hành việc thành lập các trung tâm đổi mới ở các trường đại học, tăng cường năng lực thương mại hóa công nghệ

Bước vào thế kỷ mới, Chính phủ Trung Quốc đã lựa chọn Dự án đổi mới công nghệ, mục tiêu là từng bước xây dựng hệ thống công nghệ phù hợp với nền kinh tế thị trường và phát triển doanh nghiệp hiện đại Hệ thống này sẽ liên kết các doanh nghiệp, cùng với sự hướng dẫn, tham gia của Chính phủ Dự án đổi mới công nghệ sẽ tạo ra động lực lớn cho các hoạt động KH&CN ở Trung Quốc, hình thành hệ thống KH&CN mới, từng bước đưa doanh nghiệp lên vị thế là người vừa tổ chức các hoạt động KH&CN, vừa là nguồn cung cấp đầu vào chủ yếu của KH&CN Một loạt các giải pháp hỗ trợ đã được xúc tiến để tăng cường năng lực của các xí nghiệp trong việc đổi mới công nghệ, khuyến khích thành lập các đơn vị R&D, đào tạo cán bộ, tạo ra một hệ thống dịch vụ đổi mới công nghệ và trao đổi thông tin, nâng cao khả năng dự báo thị trường

Trải qua hơn mấy thập kỷ gần đây, đặc biệt là thập niên đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc đã liên tục tiến hành cải cách thể chế quản lý nhà nước về KH&CN nhằm khai thác tiềm năng trí tuệ đất nước, theo hướng tăng cường đầu tư và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho KH&CN phục vụ sự nghiệp kinh tế - xã hội quốc gia Trung Quốc đã chú trọng đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH&CN từ cấp phổ thông trở đi và không tiếc tiền cho phát triển KH&CN

Theo hướng trên, Trung Quốc đã quy định kinh phí cấp cho KH&CN của trung ương và địa phương phải được tăng dần cao hơn mức độ tăng trưởng thu nhập quốc dân, đồng thời mở rộng nguồn kinh phí, khuyến khích

Trang 30

các bộ, ngành, xí nghiệp và tập đoàn xã hội đầu tư cho KH&CN Nhà nước còn khuyến khích các bộ, ngành liên kết xây dựng phòng thí nghiệm khoa học mang tính liên ngành mới, có triển vọng phát triển và nghiên cứu tổng hợp, nhằm thúc đẩy việc tạo ra các ý tưởng khoa học mới, nguyên lý khoa học mới, có thể ứng dụng vào thực tiễn sản xuất một cách thường xuyên, tạo ra và bồi dưỡng đội ngũ nhân tài KH&CN cao cấp, thích ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân

Chính phủ đóng vai trò quan trọng (tuy đang giảm dần) trong việc tài trợ cho R&D Năm 2000, chi tiêu ngân sách của Chính phủ cho R&D đạt 57,6

tỷ NDT (tương đương 7 tỷ USD), chiếm khoảng 30% tổng chi tiêu cho KH&CN trong năm, giảm so với 41% vào năm 1991 Trong đó khoảng 2/3 thuộc về chính quyền quyền trung ương, số còn lại thuộc các chính quyền địa phương (cấp tỉnh hoặc thấp hơn) Hiện có 2 xu hướng: Chính phủ chú trọng hơn đến đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH&CN, mặc dù tỷ trọng chi giảm đi trong tổng số; Khu vực doanh nghiệp đã vươn lên trong việc đầu tư trang thiết bị xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH&CN, đặc biệt là việc đổi mới hay ứng dụng công nghệ cần thiết giúp doanh nghiệp vươn lên trong cạnh tranh toàn cầu Sự phân tích cho thấy khả năng thứ nhất xảy ra không ồ ạt hoặc đến mức chi tiết cho tất cả các nơi, vì lẽ Trung Quốc rất lưu ý việc chuyển dịch gánh nặng chi cho phát triển KH&CN lên vai khu vực doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Việc chăm lo phát triển các hoạt động nghiên cứu cơ bản của Chính phủ chủ yếu tập trung vào xây dựng và bảo trì cơ sở hạ tầng kỹ thuật KH&CN quy mô lớn như các phòng thí nghiệm trọng điểm, các Công viên khoa học hoặc các Trung tâm chuyển giao công nghệ

 Mỹ

Trang 31

Nước Mỹ đã đem lại cho thế giới một số mô hình rất đáng quan tâm học tập trong việc đẩy nhanh ứng dụng và thương mại hóa các thành quả R&D và KH&CN, đó là:

- Phát triển mạnh mẽ kinh doanh vốn mạo hiểm,

- Tạo điều kiện thuận lợi, nâng đỡ và tôn vinh những doanh nhân dám mạo hiểm kinh doanh công nghệ mới,

- Hình thành những cụm đổi mới

Việc hình thành và phát triển ngành kinh doanh vốn mạo hiểm cũng như vai trò của nó đối với việc giúp đưa ra các ý tưởng và kết quả nghiên cứu thành những sản phẩm có khả năng thương mại, các nhà vốn mạo hiểm đóng một vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới công nghệ bằng cách giúp đỡ

tổ chức KH&CN “thai nghén” công nghệ Họ đứng với vai trò là trung tâm của các mạng lưới bao gồm các tổ chức tài chính, các công ty lớn, các trường đại học và các chủ doanh nghiệp nhỏ, gây dựng lên những mối liên kết quan trọng Các nhà vốn mạo hiểm có vai trò giống như “người giám sát về mặt công nghệ”, định hướng cho sự thay đổi công nghệ Sự hiện diện của ngành vốn mạo hiểm tại Mỹ đã dẫn đến chỗ có một hệ thống đổi mới quốc gia thuận lợi cho những đổi mới mang tính đột phá và Thung lũng Silicon ở California

và Đường 128 ở Massachusetts là những ví dụ về tác động mạnh mẽ do sự phối hợp của các trường đại học nghiên cứu tầm cỡ thế giới với lượng vốn mạo hiểm dồi dào được tạo ra

Lý thuyết Cụm của Michael Porter đã giúp nước Mỹ hình thành những cụm công nghiệp Với lý thuyết cho rằng tất cả các vùng đều có những đặc điểm khác nhau, trình độ khác nhau và đều cần có chiến lược khác nhau để thành công Theo Hội đồng về Sức cạnh tranh của Mỹ cho thấy, những vùng nào nếu biết xây dựng được những chiến lược có tính hiện thực cao, dựa vào những lợi thế của mình thì đều có thể vươn lên thành những Trung tâm đổi

Trang 32

mới và ứng dụng công nghệ Có 4 khâu cơ bản mà các nhà lãnh đạo địa phương có thể thực hiện để giúp tạo ra một môi trường có khả năng thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm sau:

- Các nhà làm chính sách có thể tiến hành những bước đi để thúc đẩy đổi mới Hỗ trợ tài năng nghiên cứu ở các trường đại học, phòng thí nghiệm và ngành công nghiệp, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và khuyến khích chuyển giao công nghệ

- Các nhà lãnh đạo địa phương phải hỗ trợ các doanh nhân bằng cách đề ra chính sách thuế để khuyến khích họ đầu tư và kinh doanh mạo hiểm

- Hoàn thiện kết cấu hạ tầng Việc cho các doanh nghiệp thuê lâu dài đã cho phép chính quyền địa phương củng cố sức mạnh của các khu, cụm doanh nghiệp

- Các nhà lãnh đạo địa phương phải giúp nâng cao năng lực cho mọi người Cần có các mạng lưới doanh nghiệp để kết nối các nhà nghiên cứu, các nhà đổi mới và các nhà đầu tư

Các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được phép làm việc cho bên ngoài theo Chương trình WFOP (Work for Others Program) Theo đó các cơ quan liên bang khác và các khách hàng ngoài liên bang dựa trên một cơ sở hoàn trả 100% chi phí Không đặt phòng thí nghiệm đó vào một sự cạnh tranh trực tiếp với các khu vực tư nhân trong nước, không tạo nên một gánh nặng tiềm năng trong tương lai đối với nguồn lực Như vậy, đối với các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tại Mỹ, người ta cho phép bên ngoài được khai thác sử dụng theo nhu cầu và theo thỏa thuận về mức phí phải trả tương tự như quy định của Việt Nam

 Hàn Quốc

Một trong hoạt động điều tiết vĩ mô của quốc gia này rất đáng nghiên cứu học tập là trong phối hợp, nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ

Trang 33

thuật KH&CN Đó là thành lập Bộ Giáo dục KH&CN, với Bộ trưởng là một Phó Thủ tướng Chính phủ Hàn Quốc để có quyền điều hành và hiệu lực hơn trong điều hành phân bổ và sử dụng các nguồn lực cho phát triển KH&CN quốc gia, trong đó có phần quan trọng là đầu tư tài chính để xây dựng cơ sở

hạ tầng kỹ thuật cho KH&CN quốc gia Điều này cần thiết trong điều kiện nhiều địa phương không dành mối quan tâm thích đáng cho khoản đầu tư phát triển đã được bố trí vào các mục tiêu xây dựng, củng cố cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho KH&CN Do tiếng nói của Bộ trưởng KH&CN chưa đủ ảnh hưởng đến các quyết định của địa phương, việc Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm nhiệm chức Bộ trưởng KH&CN sẽ tháo gỡ được vấn đề nan giải nêu trên

Một kinh nghiệm đáng lưu ý về xu hướng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho KH&CN ở Hàn Quốc là giai đoạn đầu nếu đã đầu tư mạnh

mẽ rồi thì giai đoạn sau giảm dần vì đã đầu tư tới mức ngưỡng đủ cho quá trình hoạt động ở các cơ sở nghiên cứu triển khai Số liệu tỷ lệ đầu tư của Hàn Quốc giai đoạn này đã nói lên điều đó, tỷ lệ cả chi tiêu máy móc, đất xây dựng và phần mềm máy tính đã lần lượt như sau: giảm dần từ 22,6% (năm 1998) xuống còn 12,7% (năm 2005) Điều đó cho thấy nếu gia tăng mạnh chi tiêu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở giai đoạn đầu thì giai đoạn sau

có thể giảm dần và có điều kiện để tăng chi cho con người

 Singapore

Singapore là một quốc gia nhỏ ở khu vực Đông Nam Á, hầu như không

có nguồn tài nguyên thiên nhiên nào và thị trường nội địa nhỏ, song lại được coi là quốc gia có chính sách hiệu quả trong thu hút các tác động lan tỏa về công nghệ từ các tập đoàn xuyên quốc gia sang các doanh nghiệp nội địa

Tối ưu hóa việc sử dụng các phương tiện R&D ở các Viện nghiên cứu

và trường đại học là kinh nghiệm đáng quan tâm Theo đó các Viện nghiên cứu quốc gia tạo điều kiện để các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện đắt

Trang 34

tiền và quý hiếm Trên khía cạnh khác, Singapore đang thực hiện chiến lược xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin truyền thông tốc độ siêu cao, quy mô rộng, thông minh và tin cậy, có sức cạnh tranh trên toàn cầu Nhờ đó

sẽ cung cấp băng thông rộng cho bất cứ ai, bất cứ ở đâu và bất cứ thời điểm nào Ví dụ, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, những học sinh kể cả người lớn tuổi đều có điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin đa phương tiện, hội thảo video và các nguồn tài nguyên phục vụ học tập khác ở bất cứ nơi nào bên ngoài lớp học và giảng đường Nhờ các thiết bị được thiết kế phù hợp với nhu cầu của từng người, các học sinh có thể tiến hành học tập theo cách của mình trên các mạng băng thông rộng Hiện nay công nghệ thông tin truyền thông đang được chi 6,2% GDP, khiến cho Singapore là một trong những nhà đầu tư lớn nhất vào công nghệ thông tin truyên thông trên toàn cầu Singapore đã sử dụng các khoản đầu tư cho công nghệ thông tin truyền thông một cách hiệu quả quả Với bốn năm vận hành vừa qua, Singapore đã duy trì được vị trí trong ba nước dẫn đầu trong Báo cáo công nghệ thông tin toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF)

1.4 Kinh nghiệm tái cơ cấu kinh tế từ vụ giàn khoan Hải Dương – 981

Tình hình căng thẳng trên biển Đông về vụ giàn khoan Hải Dương 981, khả năng Trung Quốc cấm vận Việt Nam hay không là một trong những vấn

đề cần đặt ra Việt Nam sẽ gặp phải những áp lực về kinh tế khi Trung Quốc trả đũa với sự kiện đặt giàn khoan trái phép ở vùng biển Việt Nam như:

- Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, các nhà thầu Trung Quốc chiếm tỷ trọng cao trong các hợp đồng EPC tại các lĩnh vực quan trọng của kinh tế Việt Nam

- Trung Quốc như một thị trường khổng lồ cũng như nguồn cung cấp vốn, công nghệ và đổi mới cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam

Trang 35

- Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể bị ảnh hưởng xấu trong ngắn hạn Trung Quốc chiếm vị trí số một trong các nước xuất khẩu tới Việt Nam, đặc biệt là các mặt hàng nguyên vật liệu, máy móc đầu vào sản xuất Các doanh nghiệp Việt Nam, vốn lệ thuộc khá lớn vào nguồn nguyên liệu từ Trung Quốc (chẳng hạn, nhập khoảng 70% số giống lúa, 80% số nguyên liệu dệt may từ Trung Quốc) sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng và sẽ đối mặt nhiều khó khăn lớn Căng thẳng trong quan hệ Việt Trung có thể có ảnh hưởng nhất định tới nguồn cung cấp các đầu vào này từ Trung Quốc Theo ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng TCTK, nếu như Việt Nam không có sự chuẩn bị trong tìm kiếm thay thế các đối tác thương mại khác, GDP có thể giảm tới 10% nếu như Trung Quốc cắt đứt quan hệ kinh tế với Việt Nam

Trước tình hình đó Việt Nam thực hiện nhanh chóng việc tái cấu trúc, trong đó chuyển hướng tập trung vào thị trường nội địa nhưng vẫn theo đuổi chính sách ưu đãi cho xuất khẩu, đồng thời cân bằng với sản xuất tiêu thụ nội địa Thay đổi mô hình tăng trưởng, trước đây là tăng trưởng theo chiều rộng thì giờ phải tăng trưởng theo chiều sâu Tái cơ cấu, nâng cao năng suất chất lượng, thay đổi mô hình tăng trưởng

Cụ thể: Việt Nam chống nhập siêu trong đó có chống nhập siêu từ Trung Quốc, phát huy nội lực, cải cách làm sao nâng cao năng suất chất lượng

và hiệu quả

Đối với quan hệ thương mại đầu tư, hiện nay, Việt Nam đã ký 8 hiệp định thương mại tự do rồi, sắp tới đang soạn thảo, đang bàn thêm 6 hiệp định thương mại tự do nữa Tranh thủ lúc này, Việt Nam nên phát huy các hiệp định thương mại này để đa dạng hóa các thị trường, đồng thời, trong hoạt động đấu thầu thì phải thay đổi và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, để tăng

Trang 36

cường đầu tư thì phải cải tiến môi trường đầu tư, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt phải chọn lựa kỹ càng Trong hoạt động đấu thầu, phải đặt ra những điều kiện, yêu cầu cải cách quy định nội địa hóa rất cao, có chế tài xử phạt thật nghiêm nạn tham nhũng hay nhận hối lộ, đó là điều cực kỳ quan trọng, theo tôi, đấy là những giải pháp cụ thể cả trước mắt lẫn lâu dài

Trên thực tế, trong khoảng 2 tháng sau khi Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông và quan hệ Việt - Trung căng thẳng, ngoại trừ lĩnh vực du lịch, các lĩnh vực kinh tế khác của Việt Nam cơ bản vẫn ổn định Theo nhận định của Tổng cục thống kê, Việt Nam lại có những chỉ báo về kinh tế khá tốt trong tháng 5

và tháng 6 năm 2014 với những dấu hiệu rõ rệt của việc "nền kinh tế đã thoát đáy" Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2014 ước tính tăng 5,18% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó quý I tăng 5,09%; quý II tăng 5,25% Trong mức tăng 5,18% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,96%, đóng góp 0,55 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,33%, đóng góp 2,06 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,01%, đóng góp 2,57 điểm phần trăm HSBC, trong báo cáo công bố Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất tại Việt Nam trong tháng 6/2014, đã nhận định rằng "Sản lượng ngành sản xuất Việt Nam tiếp tục tăng" Theo đó, PMI chỉ giảm nhẹ về 52.3

từ mức 52.5 trong tháng 5, đánh dấu tháng thứ 10 liên tiếp đạt trên ngưỡng tăng trưởng 50 điểm

Có thể thấy, vụ giàn khoan Hải Dương - 981 đã và đang góp phần tạo

ra động lực, quyết tâm cải cách mạnh mẽ hơn với Việt Nam, nhất là trong giới hoạch định chính sách và doanh nghiệp Một loạt chính sách lớn liên quan kinh tế biển, chính sách đối với ngư dân bám biển đang được quan tâm, đề xuất Trong trường hợp Việt Nam bị Trung Quốc trả đũa về kinh tế, thậm chí cắt đứt quan hệ kinh tế, thì trong ngắn hạn, Việt Nam sẽ đối mặt những thách

Trang 37

thức lớn với nền kinh tế, song về lâu dài, điều này có ý nghĩa quan trọng giúp Việt Nam đẩy mạnh cải cách, chuyển hướng và lành mạnh hóa nền kinh tế

Cơ hội lớn nhất của Việt Nam là khả năng tận dụng sức ép từ thay đổi quan

hệ kinh tế Việt - Trung như là một động lực để thúc đẩy các cải cách tái cơ cấu kinh tế trong nước vốn đã không thể trì hoãn

1.5 Kết luận chương 1

Trong chương 1, với mục đích làm rõ cơ sở lý luận về tái cơ cấu hệ thống tổ chức của tổ chức KH&CN khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, Luận văn đã đề cập đến các nội dung cơ bản sau đây:

- Các khái niệm về tái cơ cấu, tái cơ cấu hệ thống tổ chức

- Các khái niệm về tổ chức KH&CN và các mô hình tổ chức KH&CN khác nhau

- Các khái niệm về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN

- Cơ sở lý luận về tái cơ cấu hệ thống tổ chức của tổ chức KH&CN trong quá trình tự chủ, tụ chịu trách nhiệm theo Nghị định 115

- Để cơ sở áp dụng trong việc tái cơ cấu đối với các tổ chức KH&CN chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tác giả cũng đề cập tới kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc đổi mới hoạt động KH&CN nhằm tiến tới hoạt động KH&CN có hiệu quả hơn để rút ra những bài học kinh nghiệm

- Những diễn biến căng thẳng trên biển từ vụ Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép Hải Dương – 981, mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Trung Quốc

đã gặp phải những khó khăn nhất định Chính Phủ Việt Nam đã thực hiện việc tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam và bước đầu đã gặt hái được những thành công nhất định cũng là một trong những bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình tái cơ cấu kinh tế ở Việt Nam

Trang 38

CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG TỔ CHỨC

CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG KHI CHUYỂN ĐỔI

SANG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM

THEO NGHỊ ĐỊNH 115/2005/NĐ-CP

2.1 Tổng quan về Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng

2.1.1 Các giai đoạn phát triển

- Sau khi hoàn thành Dự án: "Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1996 - 2010", thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam với Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP) và Ngân hàng Thế giới (World Bank), Trung tâm Nghiên cứu và

hỗ trợ phát triển vùng lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng được thành lập, tháng 10 năm 1996

- Ngày 12/3/1999, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã

ra quyết định số 351/QĐ-BKHCNMT, đổi tên Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển vùng lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng thành: "Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng"

- Ngày 23 tháng 7 năm 2009, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng được công nhận là tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ theo Quyết định số 1101/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

- Năm 2012, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Đề án chuyển đổi Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng thành Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng theo Quyết định số 3398/QĐ-BKHCN ngày 12 tháng 12 năm 2012, trong đó cũng quy định Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng sẽ thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 từ ngày 1 tháng 1 năm 2014

Trang 39

2.1.2 Thông tin chung

Tên tổ chức: Viện Nghiên cứu và phát triển Vùng

Tên giao dịch quốc tế: Institute of Regional Research and Development Trụ sở: Tầng 5 - số 70 Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm – Hà Nội

Cơ quan chủ quản: Bộ Khoa học và Công nghệ

Quyết định thành lập: Thành lập theo quyết định số 2595/QĐ/TCCBKH ngày 30 tháng 10 năm 1996 của Bộ Khoa học và Công nghệ

Hình thức tổ chức và hoạt động: Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ công lập, hoạt động theo cơ chế tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên theo quy định tại Điều 4, Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ

Chức năng:

Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng (sau đây gọi tắt là Viện) là tổ chức KH&CN công lập trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ có chức năng nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống của các vùng lãnh thổ, là cầu nối giữa các hoạt động khoa học, công nghệ, môi trường với các hoạt động phát triển kinh tế -

xã hội và đời sống trong cả nước

Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn từ đó đề xuất các giải pháp, luận

cứ khoa học cho phát triển bền vững, chuyển đổi cơ cấu kinh tế của các vùng lãnh thổ Tham gia nghiên cứu cơ chế, chính sách thúc đẩy quá trình ứng dụng, chuyển giao công nghệ vào thực tiễn sản xuất;

- Nghiên cứu, tiếp thu, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ; xây dựng ngân hàng qui trình kĩ thuật tiến bộ và công nghệ tiên tiến, lựa chọn công nghệ thích hợp để chuyển giao cho các vùng, lãnh thổ;

- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp KH&CN nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường cho các vùng, lãnh thổ; quan trắc,

Trang 40

phân tích, đánh giá tác động môi trường và thực hiện các dịch vụ môi trường khác;

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, môi trường của các vùng lãnh thổ phục vụ công tác quản

lý của Bộ và cung cấp thông tin, tư liệu trên cho các cơ quan quản lý Nhà nước theo chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ;

- Tư vấn lập quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ; quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực và quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ lực cho các vùng, lãnh thổ;

- Tư vấn về công nghệ, đổi mới công nghệ; chuyển giao công nghệ thông qua việc xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ cho các địa phương và vùng lãnh thổ;

- Tư vấn, giám sát, đánh giá chất lượng và công nhận sản phẩm nông nghiệp đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia và quốc tế;

- Đào tạo và tập huấn kỹ thuật cho cán bộ, nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn;

- Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo và

tổ chức khảo sát trao đổi kinh nghiệm với nước ngoài ;

- Ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN cho các địa phương và Vùng, lãnh thổ;

- Thực hiện những nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao và các hoạt động khác thuộc phạm vi chức năng được giao theo quy định của pháp luật

2.1.3 Nguồn lực và cơ sở vật chất

Tổng số nhân lực của Viện năm 2012: 47 cán bộ, năm 2013 là: 50 cán

bộ và năm 2014 là: 56 cán bộ, ngoài ra còn một số lao động khoán việc, hợp đồng chuyên gia tận dụng kiến thức, kinh nghiệm của các cán bộ nghỉ hưu

Viện được Bộ và Nhà nước giao quản lý và sử dụng khối lượng và giá trị tài sản cố định trước khi chuyển đổi là: 2.604,78 triệu đồng, đến năm 2014

Ngày đăng: 27/01/2016, 13:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bộ Khoa học công nghệ: Hướng dẫn số 2289/BKHCN-TCCB hướng dẫn bổ sung xây dựng Đề án chuyển đổi của các tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 2289/BKHCN-TCCB hướng dẫn bổ sung xây dựng Đề án chuyển đổi của các tổ chức
Tác giả: Bộ Khoa học công nghệ
11. “Giàn khoan Hải Dương 981 và kịch bản kinh tế Việt – Trung” http://vietnamnet.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giàn khoan Hải Dương 981 và kịch bản kinh tế Việt – Trung
12. Ngô thị Việt Nga (2010), “Tái cơ cấu tổ chức các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong điều kiện hội nhập”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (Số 154) tháng 4/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tái cơ cấu tổ chức các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong điều kiện hội nhập”
Tác giả: Ngô thị Việt Nga
Năm: 2010
13. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2009), Kỷ yếu diễn đàn Tái cấu trúc và phát triển doanh nghiệp Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu diễn đàn Tái cấu trúc và phát triển doanh nghiệp Nhà nước
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
14. Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng (2012), Đề án “Đổi mới tổ chức khoa học và công nghệ của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 9 tháng 5 năm 2005” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án “Đổi mới tổ chức khoa học và công nghệ của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 9 tháng 5 năm 2005”
Tác giả: Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng
Năm: 2012
1. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 do Chính phủ ban hành về quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập Khác
2. Liên Bộ: Khoa học công nghệ, Tài chính, Nội vụ: Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 05/6/2006 của về hướng dẫn thực hiện Nghị định 115/CP Khác
3. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ Khác
4. Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ: Quyết định số 08/2007/QĐ- BKHCN ngày 06/4/2007 của về việc ban hành" Quy định về tiêu chí xác định tổ chức khoc học và công nghệ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước Khác
6. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Nghị định số 159/2004/NĐ-CP về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ Khác
7. Trung tâm thông tin KH&CN quốc gia: Tổng quan kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và phát triển Nhà nước và tại Việt Nam Khác
8. Tài liệu tại Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ- CP tại Hà Nội- Tháng 7/2007 Khác
9. Tái cơ cấu Pacific Airlines: Tiết kiệm 130 tỷ đồng chi phí/năm “Theo Thời báo kinh tế Sài gòn, http://vietbao.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Các mô hình tổ chức hoạt động KH&CN  Các mô - Tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện nghiên cứu và phát triển vùng trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 2005 NĐCP
Hình 1 Các mô hình tổ chức hoạt động KH&CN Các mô (Trang 23)
Sơ đồ tổ chức - Tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện nghiên cứu và phát triển vùng trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 2005 NĐCP
Sơ đồ t ổ chức (Trang 54)
Hình nhân giống, trồng thâm canh, cải tạo nương chè già cỗi - Tái cơ cấu hệ thống tổ chức của Viện nghiên cứu và phát triển vùng trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 2005 NĐCP
Hình nh ân giống, trồng thâm canh, cải tạo nương chè già cỗi (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w