Các thiết bị tích trữ năng lượng chính gồm: ắc quy hóa học, các siêu tụ và các bánh đà tốc độ cao... Có rất nhiều các yêu cầu cho các thiết bị tích trữ năng lượng ứng dụng trên ô tô như:
Trang 1CHƯƠNG 7: TÍCH TRỮ
NĂNG LƯỢNG
“Energy storages” được định nghĩa trong quyển sách này là các thiết bị tích trữ năng lượng vừa có thể phân phối năng lượng ra ngoài (phóng), vừa có thể hấp thu năng lượng
từ bên ngoài (nạp) Có nhiều loại thiết bị tích trữ năng lượng đã được đề xuất ứng dụng trên
xe điện (EV) và xe lai điện (HEV) Các thiết bị tích trữ năng lượng chính gồm: ắc quy hóa học, các siêu tụ và các bánh đà tốc độ cao Pin
Trang 2nhiên liệu là một thiết bị chuyển đổi năng
lượng sẽ được thảo luận ở Chương 9
Có rất nhiều các yêu cầu cho các thiết bị tích trữ năng lượng ứng dụng trên ô tô như: chỉ số năng lượng riêng, công suất riêng, hiệu suất, yêu cầu bảo dưỡng, bảo quản, giá cả, sự thích ứng thân thiện với môi trường, và an toàn Đối với một thiết bị tích trữ năng lượng trên EV thì chỉ số năng lượng riêng là điều quan tâm đầu tiên vì nó giới hạn pham vi hoạt động của xe Mặt khác, đối với trên HEV thì chỉ số năng lượng riêng ít quan trọng hơn và chỉ số công
Trang 3suất riêng thì được quan tâm đầu tiên Bởi vì tất cả năng lượng thì xuất phát từ nguồn năng lượng (động cơ hoặc pin nhiên liệu) nên việc tạo ra đủ công suất là cần thiết để đảm bảo cho tính năng hoạt động của xe, đặc biệt trong suốt quá trình tăng tốc, leo dốc, và phanh tái sinh Tất nhiên, các yêu cầu khác sẽ được đề cập trong phần phát triển hệ thống truyền lực của
xe
7.1 Ắc quy, các công nghệ ắc quy:
7.2 SIÊU TỤ
Trang 4Do EV và HEV hoạt động ở chế độ chạy – ngừng thường xuyên cho nên biên dạng phóng
và nạp của thiết bị tích trữ ắc quy biến thiên lớn Công suất trung bình yêu cầu từ thiết bị tích trữ năng lượng thì thấp hơn nhiều công suất cực đại được yêu cầu trong thời gian tương đối ngắn khi tăng tốc hoặc leo dốc Tỉ số giữa công suất cực đại với công suất trung bình
có thể hơn 7:1 (đề cập ở Chương 2) Thật sự
năng lượng dùng để tăng tốc và giảm tốc trong thời gian ngắn ngủi xấp xỉ 2/3 tổng năng lượng trên toàn bộ chu kỳ hoạt động của xe trong
Trang 5thành phố (Chương 8 và Chương 9) Trong
thiết kế HEV, khả năng công suất cực đại của thiết bị tích trữ năng lượng quan trọng hơn về khả năng năng lượng riêng của nó và nó sẽ chi phối sự giảm kích thước của ắc quy Với công nghệ ắc quy hiện nay, thiết kế ắc quy phải hòa hợp giữa hai chỉ số năng lượng riêng và công suất riêng và chu kỳ vòng đời của nó Để tương thích các giá trị trên đạt giá trị cao thì thật là khó, nên đã có một vài đề xuất rằng: sử dụng hệ thống tích trữ năng lượng cho EV và HEV sẽ được kết hợp từ hai nguồn: 1 nguồn
Trang 6năng lượng, và 1 nguồn công suất Nguồn năng lượng ắc quy và các pin nhiên liệu có năng lượng riêng cao, trong khi nguồn công suất sẽ
có công suất riêng cao Nguồn công suất có thể được nạp từ nguồn năng lượng suốt quá trình dẫn động ít hoặc khi phanh nạp Nguồn công suất nhận được sự quan tâm rộng rãi đó là siêu
tụ
7.2.1 Đặc điểm của siêu tụ
Siêu tụ có đặc tính công suất riêng cao hơn rất nhiều so với ắc quy hóa học, nhưng có năng
Trang 7lượng riêng thấp hơn Năng lượng riêng của nó chỉ nằm trong phạm vi vài Wh/kg Tuy nhiên công suất riêng của nó có thể đạt 3 kW/kg cao hơn nhiều so với bất kỳ loại ắc quy nào Do mật độ năng lượng riêng của nó thấp và sự phụ thuộc điện áp vào SOC nên thật khó cho siêu
tụ hoạt động một mình như một thiết bị tích trữ năng lượng cho EVs và HEVs Tuy nhiên, siêu
tụ có rất nhiều ưu điểm để làm một nguồn công suất phụ trợ Một ứng dụng đầy hứa hẹn được gọi là nguồn năng lượng ắc quy-siêu tụ cho EVs và HEVs Yêu cầu về năng lượng riêng và
Trang 8công suất riêng có thể độc lập với nhau, vì vậy
có thêm cơ hội để thiết kế một ắc quy có một năng lượng riêng tương đối, với vòng đời dài
mà không cần quan tâm nhiều đến công suất riêng của nó Do mức độ tải trọng chỉ ảnh hưởng đến siêu tụ nên dòng phóng cao từ ắc quy và dòng nạp đến ắc quy do quá trình phanh tái sinh đạt cực tiểu, vì vậy năng lượng tích trữ được lâu, độ bền và tuổi thọ ắc quy có thể được tăng lên đáng kể
7.2.2 Nguyên lý hoạt động cơ bản của siêu
tụ
Trang 9Công nghệ tụ hai lớp là mấu chốt để hiểu được khái niệm siêu tụ Nguyên lý cơ bản của
tụ hai lớp được minh họa trên Hình 7.8 Khi
hai thanh carbon được nhúng vào dung dịch axit sulfuric loãng, được ngăn cách với nhau
và nạp với điện áp tăng từ 0 - 1,5V, hầu như không có hiện tượng gì xảy ra khi điện áp lên đến 1V Khi điện áp hơn 1.2V thì thấy xuất hiện các bọt khí nhỏ ở cả hai bản cực Các bọt khí này là do sự phân ly của nước Dưới điện
áp phân ly thì không hình thành dòng điện, một “lớp lưỡng cực điện” sau đó được hình
Trang 10thành tại biên giới của bản cực và chất điện
phân Các electron trao đổi qua lớp lưỡng cực
điện và hình thành một tụ điện
Một lớp lưỡng cực điện làm việc như một lớp
cách điện khi điện áp thấp hơn điện áp phân ly
Năng lượng tích trữ, E cap được thể hiện như
Trong đó C là điện dung (F) và V là điện thế
hiệu dụng (V) Phương trình này cho thấy rằng
ở mức điện áp V cao hơn là mong muốn cho
Trang 11một tụ có mật độ năng lượng lớn hơn Cho đến nay, điện áp cực đại của các tụ điện với chất điện phân ngậm nước đạt 0.9V/ngăn, và 2.3-3.3 V cho mỗi ngăn với chất điện phân khan
Có ưu điểm lớn trong việc sử dụng lớp lưỡng cực điện thay vì plastic hay oxit nhôm trong một tụ điện vì lớp lưỡng cực điện này rất mỏng
và dung lượng trên diện tích bề mặt rất lớn
2.5-5 µF/cm2
Thậm chí với giá trị một vài µF/cm2 thu được thì mật độ năng lượng của các tụ điện
Trang 12này không lớn khi dùng nhôm Để tăng dung lượng thì các bản cực phải được làm từ các vật liệu đặc biệt có diện tích bề mặt lớn như than hoạt tính, diện tích bề mặt của nó nổi tiếng với 700-3000 m2/g Với diện tích bề mặt đó, các ion được hấp thụ và kết quả dẫn đến tạo ra 50 F/g (700 m2/g ×5 F/cm2×7000 cm2/m2=50 F/g) Giả sử cộng thêm một khối lượng chất điện phân như vậy nữa thì thu được 25 F/g là một giá trị mật độ năng lượng khá lớn Tuy nhiên mật độ năng lượng của các tụ này thua xa các
ắc quy thứ cấp; Các siêu tụ tiêu biểu hiện nay
Trang 13có năng lượng riêng khoảng 2 Wh/kg chỉ bằng 1/20 của 40 Wh/kg giá trị của ắc quy axit-chì
Trang 157.2.3 Đặc tính hoạt động của siêu tụ
Đặc tính hoạt động của siêu tụ có thể được đặc
trưng bằng điện áp cực trong suốt quá trình
phóng và nạp với dòng điện khác nhau Có 3
thông số cho một tụ điện: dung lượng (điện thế
tụ của nó V C ), điện trở nối tiếp R S, và điện trở
rò của dung môi R L, được minh họa trên Hình
7.9 Điện thế cực của một siêu tụ suốt quá trình
phóng có thể được thể hiện như sau:
Trang 16Điện thế của tụ có thể được thể hiện như sau:
Trong đó C là điện dung của siêu tụ Mặt khác,
dòng điện rò i L có thể được biểu diễn như sau:
L
L
V i
Trang 17Điện áp cực của siêu tụ được thể hiện bởi đồ
thị như Hình 7.7 Giải phương trình vi phân
Trong đó i là dòng phóng là hàm của thời gian
khi hoạt động thực Các đặc tuyến phóng của
siêu tụ Maxwell 2600 F được minh họa trên
Hình 7.11 Tại các mức dòng điện khác nhau,
điện áp giảm tuyến tính với thời gian Tại mức
dòng phóng lớn, điện áp giảm nhanh hơn nhiều
ở mức dòng điện phóng nhỏ
Trang 18Một kiểu tụ điện hiện đại tương tự có thể dùng
để miêu tả các đặc tuyến nạp của một siêu tụ
Trang 19và người đọc sẽ thấy thú vị vì sự phân tích và
mô phỏng của chúng
Hiệu suất hoạt động khi phóng và nạp có thể
được thể hiện như sau:
Trang 20Trong đó V t là điện áp cực và I t là dòng điện
vào hoặc ra từ cực Trong hoạt động thực tế,
dòng rò I L thường rất nhỏ (vài mA) và có thể
bỏ qua Vì vậy phương trình (7.28) và (7.29)
có thể được viết lại như sau:
Trang 21Các phương trình ở trên cho thấy năng lượng mất mát ở một siêu tụ được tạo ra do sự có mặt của trở kháng nối tiếp Hiệu suất giảm ở mức dòng điện cao và điện áp ngăn thấp như minh
họa trên Hình 7.12
Trang 23Vì vậy, trong hoạt động thực tế siêu tụ sẽ được duy trì trong phạm vi điện áp cao hơn
Trang 2460% điện áp cực đại Năng lượng dự trữ trong
một siêu tụ có thể thu được thông qua năng
lượng nạp cần thiết đến một mức điện áp cố
định đó là:
1 2
t
C C C C C C
E = ò V I dt = òuCV dV = CV (7.32)
Trong đó V C là điện áp ngăn (V) Tại mức điện
áp cực đại của nó, năng lượng dự trữ trong siêu
tụ đạt đến cực đại Phương trình (7.31)cho thấy
rằng sự tăng điện áp cực đại có thể làm tăng
đáng kể năng lượng dự trữ, vì năng lượng dự
trữ tăng theo bình phương điện áp Trong hoạt
Trang 25động thực tế, nó không thể dùng hết năng
lượng dự trữ bởi vì công suất rất thấp khi mức
SOC thấp (điện áp thấp) Vì vậy, một siêu tụ
thường được qui định một mức điện áp ngưỡng
dưới V Cb, dưới mức điện áp này siêu tụ sẽ
ngưng cấp năng lượng Kết quả là năng lượng
có giá trị sử dụng thấp hơn năng lượng nạp đầy
của nó, năng lượng nạp đầy được thể hiện như
Trang 26Trong đó V CR là điện áp cực đại của siêu tụ
Tại điện áp ngưỡng của siêu tụ thì SOC được
viết như sau:
0.5 0.5
Cb Cb
CR CR
CV V SOC
CV V
Ví dụ; khi điện áp rơi đạt 40% điện áp cực đại
thì 64% tổng năng lượng có giá trị sử dụng,
minh họa trên Hình 7.13
7.2.4 Các công nghệ siêu tụ
Trang 27Theo các mục tiêu được đề ra của tổ chức năng lượng của Hoa Kỳ cho các siêu tụ trên
EV và HEV, các chỉ số năng lượng riêng và công suất riêng gần đây lần lượt phải hơn 5 Wh/kg và 500 W/kg, trong khi các giá trị cải tiến phải hơn 15 Wh/kg và 1600 W/kg Vì vậy, không có bất kỳ siêu tụ nào thỏa mãn hoàn toàn được các mục tiêu trên Do đó, một vài công ty đã chủ động liên kết để nghiên cứu và phát triển các siêu tụ cho EV và HEV Các công nghệ Maxwell đã giới thiệu các siêu tụ công suất BOOSTCAP (2600 F tại mức điện
Trang 28áp 2.5V) và các modul tích hợp (145 F tại mức điện áp 42V và 435 F tại mức điện áp 2.5V) đã được đi vào sản xuất Các sản phẩm công nghệ
được liệt kê trong Bảng 7.3
Trang 31Điện áp (V), (giá trị cực đại) 2.5(2.8) 42(50)
Công suất riêng ở mức điện 4300 2900
Trang 32Khối lượng (kg) 0.525 16 6.5
Nhiệt độ hoạt độnga (oC) -35 - +65-35 - +65 Nhiệt độ bảo quản (oC) -35 - +65-35 - +65
a
trong trường hợp nhiệt độ ổn định
7.3 BÁNH ĐÀ SIÊU TỐC
Trang 33Sử dụng bánh đà để tích trữ năng lượng dưới dạng cơ học không phải là một khái niệm mới
mẻ Cách đây hơn 25 năm, công ty Oerlikon Engineering ở Switzerland đã chế tạo chiếc xe bus đầu tiên với giải pháp công suất bằng một bánh đà khối lượng Bánh đà này có khối lượng 1500 kg, hoạt động ở tốc độ 3000 rpm
và nạp điện lại ở mỗi trạm xe bus Các bánh đà truyền thống là một khối rotor với khối lượng lên đến hàng trăm kg và quay với tốc độ khoảng 700 rpm Ngược lại, các bánh đà cải tiến chỉ là các rotor nhẹ khoảng vài chục kg và
Trang 34có thể quay với tốc độ 7000 rpm Chúng được gọi là bánh đà siêu tốc
Khái niệm bánh đà siêu tốc xuất hiện như một phương tiện thỏa mãn các yêu cầu nghiêm ngặt cho một thiết bị tích trữ năng lượng cho
EV và HEV, được biết đến như năng lượng riêng cao, công suất riêng cao, chu kỳ dài, hiệu suất năng lượng cao, nạp nhanh, không cần bảo dưỡng, giá thành phù hợp và thân thiện với môi trường
Bảng 7.4
Trang 37Trong đó J f là mômen quán tính của bánh đà kgm2/s và ω f là vận tốc góc của bánh đà rad/s Phương trình (7.32) cho thấy rằng sự tăng vận tốc của bánh đà là cách tốt nhất để tăng khả năng năng lượng của nó và giảm khối lượng và thể tích bánh đà Hiện nay, tốc độ của bánh đà
đã đạt được hơn 60000 rpm trên một số mẫu bánh đà siêu tốc Với công nghệ này, thật khó
để sử dụng trực tiếp năng lượng cơ học tích trữ trong bánh đà để đẩy xe, do đó cần thiết có một hộp số vô cấp (CVT) với phạm vi tỉ số truyền rộng Một cách thông thường là nối một
Trang 38máy điện trực tiếp với bánh đà hoặc thông qua một hộp số để tạo thành một ắc quy cơ khí Máy điện có chức năng như một đường vào hoặc đường ra năng lượng, chuyển đổi năng lượng cơ học thành năng lượng điện năng hoặc
ngược lại, minh họa như Hình 7.14
Phương trình (7.35) cho thấy rằng năng lượng tích trữ trong bánh đà tỉ lệ với mômen quán tính của bánh đà và bình phương vận tốc của nó Một bánh đà khối lượng nhẹ được thiết
kế để đạt đến một chỉ số mômen quán tính trên một đơn vị khối lượng và một đơn vị thể tích
Trang 39nào đó thông qua thiết kế hình dáng của bánh
đà Mômen quán tính của bánh đà có thể được
Trong đó ρ là mật độ khối lượng vật liệu và
W(r) là độ dày của bánh đà tương ừng với bán
kính r, minh họa trên Hình 7.15 Khối lượng
Trang 40Do đó, mômen quán tính riêng của bánh đà
được định nghĩa là mômen quán tính trên một
đơn vị khối lượng, có thể được biểu diễn như
sau:
( )
2 1 2 1
3
R R
f R
R
W r r dr J
W r r dr
= ò
Phương trình (7.35) cho thấy rằng mômen
quán tính riêng của một bánh đà độc lập với
mật độ khối lượng của vật liệu và phụ thuộc
hoàn toàn vào cấu trúc hình học của nó W(r)
Trang 41Với một bánh đà có độ dày bằng nhau thì
Mật độ khối của mômen quán tính được định
nghĩa là mômen quán tính trên một đơn vị thể
tích, thật sự nó tương ứng với mật độ khối
lượng của vật liệu thể tích của một bánh đà có
thể tính được:
Trang 42Mật độ khối của mômen quán tính có thể được
biểu diễn như sau:
( )
2 1 2 1
3
R R
fV R
R
W r r dr J
W r r dr
r
Đối với một bánh đà có độ dày bằng nhau, mật
độ khối của mômen quán tính là:
2 1
fV
Phương trình (7.42) và (7.43) cho thấy rằng
với một vật liệu nặng có thể giảm thể tích của
Trang 43bánh đà với một giá trị mômen quán tính cho
trước
7.3.2 Khả năng công suất của hệ thống
bánh đà
Công suất của một bánh đà thu được có thể
tìm được bằng cách vi phân phương trình
(7.35) theo thời gian:
Trong đó T f là mômen của máy điện tác dụng
lên bánh đà Khi bánh đà giải phóng năng
Trang 44lượng của nó thì máy điện hoạt động như một máy phát và chuyển năng lượng cơ học của bánh đà thành năng lượng điện Mặt khác, khi bánh đà nạp, máy điện hoạt động như một motor điện và chuyển đổi điện năng thành năng lượng cơ học tích trữ ở bánh đà Phương trình (7.44) cho thấy rằng khả năng công suất của một bánh đà phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng công suất của máy điện
Một máy điện thường có các đặc tuyến như
Hình 7.16, nó có hai phạm vi hoạt động riêng
biệt – vùng mômen không đổi và công suất
Trang 45không đổi Trong vùng mômen không đổi, điện
áp của máy điện tỉ lệ với vận tốc góc của bánh
đà và từ thông qua khe hở không khí là không
đổi Tuy nhiên, trong vùng công suất không
đổi, điện áp không đổi và từ trường yếu dần đi
cùng với sự tăng của vận tốc góc máy điện
Trong khi bánh đà nạp năng lượng, bánh đà