1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các hình thức dịch vụ điện thoại IP mới và đánh giá tác động đến thị trường viễn thông hiện hành

40 387 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 319 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VoIP chỉ là một trong những ứng dụng trên mạng IP Với việc mạng IP và các dịch vụ trên mạng IP đã mang lại nhiều thuận lợicho kinh doanh và người tiêu dùng thì một đất nước không năm đượ

Trang 1

BỘ BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG

VỤ VIỄN THÔNG

BÁO CÁO ĐỀ TÀI

Nghiên cứu các hình thức dịch vụ điện thoại IP mới và đánh giá tác động đến

thị trường viễn thông hiện hành.

MÃ SỐ: 44-06-KHKT-RDĐƠN VỊ CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: VỤ VIỄN THÔNG

Chủ trì đề tài : Lê Thị Ngọc Mơ

Thành viên tham gia : Nguyễn Thành Chung

Hà Nội, tháng 12 năm 2006

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: Tổng quan về điện thoại IP 5

1.1 Giới thiệu điện thoại IP 5

1.2 Phân loại: 6

1.3 Ảnh hưởng của điện thoại IP đến thị trường viễn thông 9

1.4 Chất lượng dịch vụ điện thoại IP 11

1.5 Kết nối và truy nhập 12

1.6 Nghĩa vụ công ích của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP 14

1.7 An toàn, an ninh trong cung cấp dịch vụ 19

1.8 Cấp đầu số điện thoại IP 19

1.9 Cấp phép cung cấp dịch vụ điện thoại IP 23

Chương II: Hiện trạng triển khai và quản lý các loại hình dịch vụ điện thoại IP ở Việt Nam 28

2.1 Hiện trạng triển khai và quản lý điện thoại IP tại Việt Nam 28

2.2 Nhu cầu triển khai các loại hình dịch vụ điện thoại IP mới 30

Chương III: Đề xuất chính sách phát triển và quản lý điện thoại IP tại Việt Nam 32

3.1 Phân loại dịch vụ điện thoại IP 34

3.2 Cấp phép cung cấp dịch vụ điện thoại IP 36

3.3 Điều kiện cung cấp dịch vụ điện thoại IP 37

3.4 Cấp đầu số cho điện thoại IP 37

3.5 Nghĩa vụ kết nối của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP 38

3.6 Quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ điện thoại IP 38

3.7 Thời gian dự kiến cho phép cung cấp dịch vụ điện thoại IP mới 39

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, khi dịch vụ Internet bùng nổ thì nó đãkích thích sự ra đời hàng loạt các dịch vụ ứng dụng Các dịch vụ trên nền băng rộngbao gồm âm thanh, hình ảnh, và dữ liệu đều có thể tạo ra trên nền mạng sử dụnggiao thức Internet (mạng IP) Các mạng số này đòi hỏi đầu tư chi phí tài chínhkhông lớn và rẻ hơn nhiều so với việc đầu tư chi phí xây dựng và điều hành cácmạng chuyển mạch thông thường Tuy vậy, nó lại tỏ ra thích hợp hơn trong việc cảitiến, nâng cấp mới và sẵn sàng trong việc cung cấp các dịch vụ giá rẻ, tiết kiệm hơncho người sử dụng dưới mọi hình thức

Có rất nhiều lợi ích từ mạng IP và đặc biệt là các ứng dụng trên mạng IP, đặcbiệt là dịch vụ Voice over IP (VoIP) Thứ nhất, mạng IP đòi hỏi chi phí triển khaithấp hơn Một trong những lợi ích vô cùng quan trọng trong việc tiết kiệm chi phí

là có thể sử dụng cả hạ tầng mạng cáp và không dây

Thứ hai, do kiến trúc đặc thù của mạng IP, các gói thông tin số được truyềntheo cách hiệu quả nhất (trái với cách truyền của mạch kênh end – to – end ) và tậndụng hiệu quả hơn năng lực của mạng

Thứ ba, với đặc điểm đa chức năng của mạng IP cho phép chi phí của mạngđược phân bổ rộng ra khi cùng một mạng có thể được sử dụng để cung cấp nhiềuloại dịch vụ khác nhau (âm thanh, hình ảnh, dữ liệu) Các nhà cung cấp mạng vàkinh doanh đã coi IP như một hình thức tiết kiệm và hiệu quả thực tế

Mạng IP và các ứng dụng trên mạng IP đã và sẽ đem lại nhiều sự lựa chọncho người sử dụng dịch vụ Chẳng hạn như, người sử dụng dịch vụ VoIP có thể lựachọn việc nhận tin nhắn bằng giấy hoặc bằng âm thanh hoặc bằng chính số điệnthoại khi họ đang đi du lịch VoIP chỉ là một trong những ứng dụng trên mạng IP

Với việc mạng IP và các dịch vụ trên mạng IP đã mang lại nhiều thuận lợicho kinh doanh và người tiêu dùng thì một đất nước không năm được cơ hội đưamạng IP vào cuộc sống sẽ tự đánh mất đi những thuận lợi này Các nước yêu cầuviệc chuyển thoại phải bằng mạng chuyển mạch kênh truyền thống và trì hoãn việc

sử dụng mạng IP chính là việc đang chấp nhận sử dụng các mạng đã cũ, lỗi thời vàchịu chi phí tốn kém hơn các nước khác Các nước đi theo phương thức truyềnthống cũ đã tự lấy đi của người dân và doanh nghiệp cơ hội chia sẻ lợi nhuận và đổimới nhanh chóng, tăng sức cạnh tranh và giảm giá Thực sự, mạng IP đã được sửdụng rất rộng rãi cho môi trường truyền dẫn quốc tế trong đó một phần dùng chothoại Tất cả các nước trên thế giới hiện nay đang tìm cách nắm lấy cơ hội sử dụng

Trang 4

công nghệ VoIP và các công nghệ khác dựa trên nền mạng IP Nhiều nước đang nỗlực tạo ra môi trường pháp lý mềm dẻo tạo điều kiện cho việc đầu tư, cạnh tranh,đổi mới và triển khai các mạng IP và các ứng dụng như VoIP.

Tuy nhiên, vẫn có một số nước đi theo định hướng khác, họ không quan tâmđến lợi nhuận to lớn, thời cơ và tiết kiệm từ công nghệ này mà họ chỉ quan tâm đếnviệc liệu các cuộc gọi VoIP có làm giảm lợi nhuận rất cao thu từ các cuộc gọi quốc

tế và rất khó khăn trong việc triển khai mạng IP do kiến trúc mạng của họ

Báo cáo này tập trung vào việc nghiên cứu, đánh giá về công nghệ, lợi ích,tình hình triển khai, bối cảnh trong nước và quốc tế, đồng thời đưa ra những đềxuất về chính sách phát triển công nghệ mạng IP và các ứng dụng trên mạng IP,đặc biệt là các chính sách cho các hình thức điện thoại IP mới hiện chưa được phépcung cấp tại Việt Nam

Trang 5

Chương 1: Tổng quan về điện thoại IP

1.1 Giới thiệu điện thoại IP

1.1.1 Định nghĩa:

Điện thoại IP là một loại dịch vụ viễn thông truyền âm thanh, dữ liệu sửdụng một phần hoặc toàn phần công nghệ IP (Internet Protocol) Quá trình cơ bảnnhất trong một cuộc gọi điện thoại IP là việc chuyển tín hiệu âm thanh tương tựthành định dạng số và nén thành các gói IP và được truyền qua môi trường mạngthuê riêng hay mạng Internet hoặc mạng kết hợp cả hai loại trên Quá trình nàyđược duy trì đến khi cuộc gọi kết thúc

1.1.2 Nguyên lý cơ bản của công nghệ Điện thoại IP:

Điện thoại IP là công nghệ đóng gói tín hiệu thoại, fax và modem tương tựthành các gói (packets) theo thủ tục IP, sau đó các gói tin này được truyền tải trêncác mạng truyền số liệu Trước khi đến điểm người dùng cuối, các gói tin này lạiđược chuyển đổi thành dạng tín hiệu tương tự như ban đầu cho phù hợp với thiết bịđầu cuối tiếp nhận Các thuê bao sử dụng các máy điện thoại và fax thông thườngcủa họ và truy cập qua PSTN, những cuộc gọi có thể truyền lên mạng IP, ATM,hoặc Frame Relay hay thậm chí là Internet công cộng

1.1.3 Đặc điểm của công nghệ điện thoại IP:

Với khả năng chuyển đổi linh hoạt chuẩn nén và phương thức đóng gói, băngthông trong công nghệ điện thoại IP được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hơn

Theo công nghệ truyền thống, việc kết nối thoại trên mạng PSTN đòi hỏiphải thiết lập một đường kết nối riêng về mặt vật lý từ điểm gọi đến điểm được gọitrong suốt thời gian diễn ra cuộc gọi Điều này dẫn đến việc tiêu tốn một lượngbăng thông cố định cho mỗi cuộc gọi Trong khi đó, công nghệ điện thoại IP khôngđòi hỏi phải thiết lập một băng thông cố định để chuyển các gói tín hiệu từ điểmnày đến điểm kia mà băng thông có thể sử dụng chung cho tất cả các gói thông tincủa các dịch vụ khác

Hơn nữa, trong công nghệ điện thoại IP, các gói số liệu chỉ được tạo ra khi

có tiếng nói thực Do đó, băng thông sẽ không bị chiếm khi chuyển tải các giaiđoạn lặng của tín hiệu thoại (theo tính toán thực tế, giai đoạn lặng trong các cuộchội thoại có thể chiếm tới ½ băng thông) Vì vậy, công nghệ điện thoại IP được coi

là công nghệ loại bỏ tín hiệu lặng của cuộc gọi

Mặt khác, tín hiệu thoại trong công nghệ điện thoại IP được nén với hệ sốnén rất cao (hệ số từ 8:1 trở lên) nên băng thông được sử dụng rất tiết kiệm và cóhiệu quả hơn nhiều so với công nghệ thoại trên PSTN

Mạng điện thoại IP có khả năng tích hợp với các thiết bị truy nhập đầu cuốikhác nhau và có tính mở cao

Dựa vào công nghệ chuyển mạch gói, mạng điện thoại IP có khả năng tíchhợp với nhiều thiết bị truy nhập đầu cuối khác nhau như: điện thoại, máy tính,

Trang 6

video,… nhằm cung cấp dịch vụ mở rộng như: Internet, truyền thanh, tin nhắn, điệnthoại video, các dịch vụ dữ liệu, thoại, video theo yêu cầu; đồng thời là nền tảngcho việc xây dựng mạng truyền thống đa phương tiện trong tương lai

Mặt khác, trong mạng điện thoại IP, các thiết bị đơn giản như Gateway, thiết

bị định tính Router, Gatekeeper thực hiện chức năng chuyển mạch và báo hiệu sẽđược sử dụng thay thế cho các tổng đài toll với cấu trúc phức tạp

1.1.4 Ưu điểm và nhược điểm của điện thoại IP

Về mặt kỹ thuật, điện thoại IP có những ưu điểm và nhược điểm như sau:

Nhược điểm:

- Nhược điểm chính của điện thoại qua mạng IP chính là chất lượng dịch vụ.Các mạng số liệu vốn dĩ không phải xây dựng với mục đích truyền thoại thời gianthực, vì vậy khi truyền thoại qua mạng số liệu cho chất lượng cuộc gọi thấp vàkhông thể xác định trước được Sở dĩ như vậy là vì gói tin truyền trong mạng có trễthay đổi trong phạm vi lớn, khả năng mất mát thông tin trong mạng hoàn toàn cóthể xảy ra Một yếu tố làm giảm chất lượng thoại nữa là kỹ thuật nén để tiết kiệmđường truyền Nếu nén xuống dung lượng càng thấp thì kỹ thuật nén càng phức tạp,cho chất lượng không cao và đặc biệt là thời gian xử lý sẽ lâu, gây trễ

- Một nhược điểm khác của điện thoại IP là vấn đề tiếng vọng Nếu nhưtrong mạng thoại, do trễ ít nên tiếng vọng không ảnh hưởng nhiều thì trong mạng

IP, do trễ lớn nên tiếng vọng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng thoại Vì vậy, tiếngvọng là một vấn đề cần phải giải quyết trong điện thoại IP

1.2 Phân loại:

Việc dịch vụ viễn thông ngày càng hướng tới các dịch vụ viễn thông trên nền

IP là do sự thay đổi cơ bản trong mạng truyền thông trong mấy năm gần đây Ngàynay, công nghệ IP được coi như là cách mạng về dịch vụ thoại và các ứng dụngkhác Cuộc cách mạng công nghệ này tạo ra rất nhiều các dịch vụ trên mạngInternet mới trong đó có điện thoại IP

Trang 7

Điện thoại IP được coi như là một ứng dụng Rất nhiều các nhà cung cấpdịch vụ điện thoại IP hiện nay chỉ cung cấp duy nhất một ứng dụng này, trong khi

đó có nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác lại cung cấp hạ tầng mạng Do vậy, trongcông nghệ IP cũng cần phân biệt cung cấp hạ tầng mạng và cung cấp dịch vụ

Lịch sử về điện thoại IP bắt đầu từ khá sớm với việc hội thoại giữa nhữngngười sử dụng máy tính với nhau Để hội thoai được với nhau, những người sửdụng này cần có một tai nghe (handset) cắm vào máy tính và họ có thể hội thoạitrực tiếp với nhau hoặc gửi các tin nhắn cho nhau Các hình thức điện thoại IP cũngthay đổi nhanh chóng trong một vài năm gần đây, bao gồm các hình thức sau:

1 Từ PC to PC;

2 Từ PC to Phone;

3 Từ Phone to Phone thông qua môi trường truyền dẫn IP

Ngày nay, các khái niệm “điện thoại IP”; “điện thoại Internet” và “VoIP”đều được sử dụng, trong một số trường hợp chúng có thể sử dụng chung cho nhau

và một số trường hợp khác với các nghĩa khác nhau Có rất nhiều cách định nghĩa

và hiểu về các khái niệm trên như sau:

“Điện thoại Internet” (theo định nghĩa trong từ điển Internet của Newton):công nghệ Internet đơn giản được hiểu là công nghệ và phương pháp cho phép mộtngười có thể thực hiện được các cuộc gọi nội hạt, đường dài và quốc tế qua Internet

sử dụng máy tính của họ Định nghĩa về điện thoại Interenet được thay đổi từngngày và sau này có bao gồm cả truyền thông (thoại, video, hình ảnh), và tất cả cáchình thức tin nhắn và sự biến đổi tốc độ từ thời gian thực sang thời gian trễ

“Điện thoại IP” (theo định nghĩa của Microsoft): Điện thoại IP là một tậphợp các công nghệ cho phép thoại, dữ liệu và video qua mạng IP sẵn có như mạngLAN, WAN và Internet Đặc biệt, điện thoại IP sử dụng các tiêu chuẩn mở củaIETF và ITU để thực hiện việc truyền thông qua bất kỳ một mạng nào sử dụng giaothứ IP

Voice over IP (VoIP): Là công nghệ được sử dụng để truyền các hội thoại

âm thanh qua mạng dữ liệu sử dụng giao thức IP (Internet Protocol) Các mạng dữliệu này có thể là mạng Internet, Intranet hoặc các mạng dùng riêng thông thườngđược các nhà cung cấp dịch vụ thoại nộ hạt, đường dài sử dụng để cung cấp dịch vụVoIP

Sau khi điện thoại IP ra đời thì xu thế trong cách phân loại dịch vụ điện thoại

đã dần thay đổi

Trang 8

Như vậy, dần dần dịch vụ thoại không phải là dịch vụ cơ bản nữa mà thaythế vào đó là dịch vụ dữ liệu được coi là dịch vụ cơ bản và dịch vụ thoại là dịch vụgia tăng giá trị trên mạng viễn thông Xu thế này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến cáchquản lý của cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo môi trường viễn thông cạnhtranh bình đẳng.

Việc phân loại điện thoại IP cũng như cách định nghĩa điện thoại IP có ýnghĩa rất lớn trong việc quyết định xem chính sách hiện tại cho điện thoại PSTN cóthể áp dụng cho điện thoại IP hay không

Tại các nước khác nhau có cách phân loại dịch vụ điện thoại IP theo các cáchkhác nhau với cách hiểu cũng như tên gọi khác nhau

Theo định nghĩa của tổ chức viễn thông thế giới (ITU) thì

Điện thoại IP = VoIP + Điện thoại InternetTrong đó:

- VoIP: sử dụng mạng truyền dẫn là mạng IP riêng;

- Điện thoại Internet: sử dụng mạng truyền dẫn là mạng Internet công cộng

Tại Singapore:

- Năm 1998: chủ yếu là dịch vụ VoIP Phone-to-Phone;

- Năm 1999: PC-to-Phone phát triển;

- Năm 2002: PC to PC phát triển;

- Sau năm 2003: Wireless IP phone – to Wireless IP phone

Tuy nhiên, đối với các cuộc gọi IP Phone – to IP Phone sẽ không còn cáckhái niệm tính chi phí cuộc gọi dựa trên thời gian và khi triển khai sẽ không phânbiệt được khái niệm cuộc gọi nội hạt, đường dài hay cuộc gọi IDD

Dựa vào quá trình phát triển của dịch vụ điện thoại được mô tả như trên, cơquan quản lý Singapor đã quyết định coi dịch vụ điện thoại IP là bất kỳ một dịch vụthoại IP nào có sử dụng đầu số theo chuẩn E.164 (số dùng cho điện thoại IP) đượccung cấp cho khách hàng tại Singapore và cho phép khách hàng có thể thực hiện và

Trang 9

nhận các cuộc thoại, thực hiện các cuộc gọi có tích hợp dữ liệu, video sử dụng cùngmột số điện thoại IP từ bất kỳ nơi nào trong nước hoặc nước ngoài có kết nốiInternet băng rộng Cũng với lý do trên, tại Singapore cho phép cả doanh nghiệp có

hạ tầng mạng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông đều được phép cungcấp dịch vụ điện thoại IP

Tại Trung Quốc:

Bộ Công nghiệp và thông tin đã quyết định xếp loại hình dịch vụ điện thoại

IP loại hình Phone -to-Phone và PC – to – Phone vào dịch vụ viễn thông cơ bản,còn dịch vụ điện thoại PC-to-PC hiện nay chưa được phép cung cấp tại TrungQuốc

Tại Hồng Kông:

Cơ quan quản lý về viễn thông của Hồng Kông quyết định phân loại điệnthoại IP vào dịch vụ cơ bản lớp 1 và dịch vụ lớp 2 (Class1 Services và Class2Services);

- Dịch vụ điện thoại khởi đầu hoặc kết cuối trên mạng PSTN và có hoặckhông cấp đầu số theo chuẩn E.164 cho khách hàng Và các loại hình dịch

vụ này được coi như dịch vụ điện thoại truyền thống – cơ bản

1.3 Ảnh hưởng của điện thoại IP đến thị trường viễn thông

Sự ra đời của điện thoại IP góp phần tăng sức cạnh tranh và kích thích sựphát triển của thị trường viễn thông trong việc đa dạng hoá dịch vụ thoại Việc cóthêm nhiều loại hình dịch vụ thoại góp phần làm giảm giá cước và chi phí trongviệc cung cấp dịch vụ viễn thông Ngoài ra, điện thoại IP cũng góp phần địnhhướng sự tăng trưởng và phát triển dịch vụ truy nhập Internet băng rộng

Trang 10

Lợi ích mà điện thoại IP mang lại cho người sử dụng và nhà cung cấp vôcùng to lớn, bao gồm việc làm tăng khả năng truy cập thông tin, thu hẹp giới hạnkhoảng cách địa lý, giảm giá với một chất lượng dịch vụ phù hợp và góp phần tănglợi nhuận cho doanh nghiệp Đặc biệt, trong việc đẩy mạnh khả năng truy cậpthông tin, điện thoại IP đã mang lại rất nhiều lợi ích như:

- Góp phần phát triển các dịch vụ cung cấp thông tin tới từng hộ gia đìnhthông qua môi trường truyền dẫn là cáp, DSL hay các công nghệ truy cậptích hợp khác

- Là một phương tiện truyền thông độc lập;

- Thúc đẩy sự phát triển xã hội thông qua việc truy cập vào các mạng IP tíchhợp sẵn các dịch vụ họp tập trực tuyến, chữa bệnh từ xa, chính phủ điện tử

Ngoài ra, điện thoại IP góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các thiết bị khôngdây và có dây và giúp cho việc kết nối dễ dàng hơn Công nghệ Điện thoại IP cũng

có thể cho phép độc lập về mặt địa lý, tính di động, và khả năng truy cập thông quamột số điện thoại ở bất kỳ đâu một cách thuận tiện

Giảm giá thành cũng là một trong các tiêu chí khi triển khai công nghệ điệnthoại IP Đối với việc truyền thông thoại, dữ liệu đã được nén và truyền đi trênmạng máy tính dựa trên công nghệ IP, có nghĩa là điện thoại IP có thể tiết kiệm đến90% băng thông so với các cuộc gọi trên mạng PSTN truyền thống Chi phí xâydựng một mạng chuyển mạch gói bằng 1/3 chi phí xây dựng một hệ thống chuyểnmạch vòng và có thể tiết kiệm từ 50% - 60% chi phí điều hành mạng

Mạng IP có thể thiết kế đặc biệt cho việc cung cấp dịch vụ điện thoại IP đảmbảo chất lượng Các mạng IP riêng biệt hỗ trợ khả năng ưu tiên thoại và giúp chotruyền thông nhanh chóng và đảm bảo mà không phải quan tâm đến việc nghẽnmạng Trong môi trường này người sử dụng không phân biệt được chất lượng giữacuộc gọi trên môi trường điện thoại IP thuê riêng với cuộc gọi trên môi trườngPSTN truyền thống

Ngoài ra, điện thoại IP còn góp phần tăng lợi nhuận cho nhà cung cấp dovịec mang lại những nguòn lợi nhuận mới từ các dịch vụ mới, thậm chí cả nhữngnơi mà lợi nhuận từ dịch vụ thoại truyền thống đang bị giảm Lợi nhuận được giatăng bao gồm từ:

- Tăng lưu lượng truyền thông nội hạt bởi vì điện thoại IP làm tăng tổnglưu lượng truyền thông qua mạng nội hạt

Trang 11

- Là một đường thoại thứ 2 (bên cạnh đường PSTN truyền thống) cung cấptới các hộ gia đình và từ đó góp phần gia tăng đường thuê bao.

- Gia tăng truyền thông trên đường trục backbone

- Tăng số lượng các dịch vụ mới như dịch vụ trung chuyển cuộc gọi quacác VoIP gateway, các dịch vụ tin nhắn hợp nhất, các mạng riêng ảo IPcho việc kinh doanh, các dịch vụ hối đoái ngân hàng VoIP cho các ISP

1.4 Chất lượng dịch vụ điện thoại IP

Khái niệm chất lượng dịch vụ được áp dụng cho điện thoại giữa hai người sửdụng được công bằng trong một phạm vi lớn Từ những tham số xuất phát từ bảnchất của mạng cho phép chúng ta có thể xác định được số lượng và chất lượng dịch

vụ cung cấp Ngoài ra, các khía cạnh khác cũng cần được quan tâm khi xem xétquan điểm của người dùng về việc đánh giá chất lượng dịch vụ như khách hàngthân thiện, mức độ sẵn sàng dịch vụ, an toàn an ninh, tính thân thiện, dễ sử dụngcủa dịch vụ

Liên quan đến chính sách quản lý chất lượng dịch vụ điện thoại IP ở cácnước cũng có sự khác nhau Một số nước quy định bắt buộc quản lý về chất lượng,một số nước chỉ quản lý ở một số chỉ tiêu nhưng cũng có một số nước khác khôngbắt buộc yêu cầu về đảm bảo chất lượng mà quy vào sự lựa chọn của khách hàng

1 Kinh nghiệm của các nước EU

Chất lượng và giá cả là hai nhân tố đóng vai trò chính và quyết định trongmột thị trường viễn thông cạnh tranh Các nhà cung cấp dịch vụ trong môi trườngcạnh tranh có thể mong muốn hoặc không mong muốn công bố các thông tin mangtính so sánh phụ thuộc vào việc công bố này có đem lại những thuận lợi về tàichính cho họ hay không

Theo luật của Hoa Kỳ US Directive Art.11 và Art.22, cơ quan quản lý viễnthông yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông điện tử phải công bố cácthông tin mang tính chất so sánh, đầy đủ và cập nhật vê chất lượng dịch vụ của họcho người sử dụng Mục đích của việc làm này là để chắc chắn người sử dụng cuối

có thể hiểu rõ, so sánh được các thông tin hữu ích đối với họ

a) Tính sẵn sàng của các thông tin về chất lượng dịch vụ VoIP

Hiện tại, ở một số các nước thành viên như: Cộng hoà Séc, Ireland, Thuỵ sĩ,Estonia, Đan Mạch, Tây Ban Nha và Na Uy không yêu cầu về tính sẵn sàng của cácthông tin về chất lượng dịch vụ VoIP Việc cung cấp các thông tin này là tuỳ vàocông việc cung cấp dịch vụ VoIP của mỗi nhà cung cấp

Tuy nhiên, ở một vài nước thành viên không yêu cầu toàn bộ hoặc một vàinhà cung cấp dịch vụ VoIP phải cung cấp các thông tin về chất lượng dịch vụ Đặcbiệt tại Hungary, Slovenia, Bungary, Italia, Thụy Điển và Hà Lan đều yêu cầu tất

cả các nhà cung cấp dịch vụ không kể đó là nhà cung cấp dịch vụ VoIP hay dịch vụ

Trang 12

điện thoại truyền thống đều phải ghi rõ các thông tin về chất lượng dịch vụ trongbản hợp hợp ký kết với khách hàng Cyprus còn áp dụng các nghĩa vụ về thông tinchất lượng dịch vụ đặc biệt đối với các nhà cung cấp dịch vụ VoIP.

Một số nước thành viên khác lại yêu cầu các thông tin về chất lượng dịch vụchỉ bắt buộc phải công bố đối với các nhà cung cấp dịch vụ VoIP Do đó, ở Đức vàAustralia nghĩa vụ này chỉ là trách nhiệm trong cam kết của các nhà cung cấp dịch

vụ điện thoại công cộng và ở Malta va Lithuania là cam kết của các nàh cung cấpdịch vụ phổ cập (Universial Service Provider)

Tại Anh chỉ các nhà cung cấp dịch vụ thoại cố định phải đáp ứng các yêu cầucông khai thông tin về chất lượng dịch vụ Tuy nhiên, hầu hết các nhà cung cấpdịch vụ VoIP đều bắt buộc phải thông tin cho khách hàng về mức độ tin tưởng chấtlượng dịch vụ

b) Các tham số về chất lượng dịch vụ

Một số nước thành viên như: Lithuania, Slovenia, Australia, Thụy Sĩ vàNetherland không chỉ rõ các tham số về chất lượng dịch vụ cần phải đánh giánhưng chỉ yêu cầu các thông tin chung đối với chất lượng dịch vụ VoIP

Một số nước thành viên khác yêu cầu các báo cáo về dịch vụ VoIP phải

2 Kinh nghiệm của Singapore:

- Không quy định bắt buộc về chất lượng dịch vụ đối với dịch vụ điện thoại IP

và cho phép thị trường tự điều tiết với giá cả đi đôi với chất lượng dịch vụ

- Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP phải thông báo cho kháchhàng của họ về việc họ không tuân theo các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu

do IDA quy định đối với dịch vụ điện thoại di động và điện thoại cố định

3 Kinh nghiệm của Hồng Kông

Cơ quan quản lý về viễn thông của Hồng Kông đưa ra các quy định khácnhau đối với các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại IP loại 1 và loại 2

- Dịch vụ điện thoại IP loại 1 phải đáp ứng được các yêu cầu chất lượng củakhách hàng như các nàh cung cấp dịch vụ mạng viễn thông cố đinh FTNShoặc FC và phải đáp ứng được các tiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng đặt ratrong tương lại

- Nhà cung cấp dịch vụ điện thoại IP loại 2 không phải tuân theo các yêu cầu

do người sử dụng đặt ra hoặc các yêu cầu và các tiêu chuẩn chất lượng tốithiểu

1.5 Kết nối và truy nhập.

Mặc dù Điện thoại IP đang phát triển với tốc độ rất nhanh, song về cơ bảnĐiện thoại IP vẫn phải dựa trên các thuê bao sẵn có của mạng PSTN, và việc kếtthúc cuộc gọi Điện thoại IP vẫn phải thực hiện trên mạng PSTN Gateway do đó

Trang 13

vẫn là thiết bị trung gian cần thiết để biến đổi và chuyển các cuộc gọi từ mạng IPsang mạng PSTN và ngược lại, dựa trên các chuẩn về bắt đầu, truyền đưa, và kếtthúc cuộc gọi Điện thoại IP như H323 và một số chuẩn khác tương tự Trong môhình cung cấp điện thoại IP PC-to-Phone, gateway thường nằm ở điểm gần nhất vớimạng PSTN nơi kết thúc cuộc gọi Trong mô hình Phone-to-Phone cần có haigateway: một đặt ở nhà cung cấp dịch vụ điện thoại IP nơi bắt đầu cuộc gọi, và mộtđặt ở điểm gần nhất với mạng PSTN nơi kết thúc cuộc gọi.

Hiện nay, các thành viên APEC đã có chính sách đáp ứng các nguyên tắc kếtnối do nhóm nghiên cứu về viễn thông của APEC đưa ra Các nguyên tắc kết nốinày có một số nội dung chính như sau:

- Nhà cung cấp mạng lưới chủ đạo phải có nghĩa vụ cung cấp việc kết nối tạibất cứ điểm nào trên mạng nếu điều kiện kỹ thuật cho phép

- Nhà cung cấp mạng lưới chủ đạo phải có nghĩa vụ cung cấp kết nối tại cácđiểm bên ngoài mạng của mình nếu như có nhiều doanh nghiệp khác yêu cầu(các doanh nghiệp sẽ phải trả chi phí cho việc đầu tư thêm thiết bị cần thiết)

- Nhà cung cấp mạng lưới chủ đạo phải có nghĩa vụ cung cấp kết nối trên cơ

sở các điều khoản và điều kiện rõ ràng, minh bạch và bình đẳng đối với tất cảcác doanh nghiệp

- Nhà cung cấp mạng lưới chủ đạo phải có nghĩa vụ cung cấp kết nối với giá

cả bình đẳng (với cùng chất lượng) giữa các doanh nghiệp khác và các doanhnghiệp thành viên của mình

- Trách nhiệm của nhà cung cấp chủ đạo trong việc đảm bảo thực hiện kết nốikhi có yêu cầu Chế tài rõ ràng nếu nhà cung cấp chủ đạo gây khó khăn khithực hiện kết nối với nhà khai thác mới

- Chi phí đảm bảo kết nối, cước kết nối được xác định trên cơ sở giá thành, cácđiều kiện kỹ thuật hợp lý, không có chế độ bù chéo

Mặc dầu vậy, đó là những nguyên tắc khi kết nối giữa hai mạng công cộngvới nhay, nhằm khai thác khách hàng của nhau Trong trường hợp Điện thoại IP,việc kết nối giữa nàh cung cấp điện thoại IP với nhà khai thác chủ đạo thực chất làviệc truy nhập của nhà cung cấp dịch vụ vào mạng nội hạt của nhà khai thác mạnglưới để bán lại dịch vụ trên cơ sở thuê kênh nội hạt

1 Kinh nghiệm của Singapore:

- Tại Luật cạnh tranh viễn thông, IDA quy định các doanh nghiệp FBO vàSBO phải sử dụng thiết bị chuyển mạch hoặc định tuyến để cung cấp dịch vụviễn thông cho công cộng để đáp ứng các yêu cầu kết nối tối thiểu có liênquan chắc chắn hoạt động viễn thông là thông suốt trong Singapor Nhữngyêu cầu này vẫn áp dụng đối với dịch vụ điện thoại IP

- Về phương diện thương mại, một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại

IP có thể tự quyết định việc thiết lập một mạng “người dùng thân thiện –

Trang 14

close user” và không yêu cầu bắt buộc phải kết nối với các mạng viễn thônghiện tại.

- Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP muốn kết nốivới các mạng viễn thông hiện tại như PSTN hay các mạng di động, thì cácdoanh nghiệp FBO và SBO phải tuân theo các yêu cầu về kết nối trong Luậtcạnh tranh viễn thông để cho phép kết nối Ngược lại nếu các doanh nghiệpFBO và SBO có yêu cầu kết nôí với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điệnthoại IP thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP cũng phải tuân theocác yêu cầu về kết nối quy định trong Luật cạnh tranh viễn thông

2 Kinh nghiệm của Malaysia

- Đối với kết nối cuộc gọi giữa các mạng IP với nhau, việc kết nối phải đượcthoả thuận giữa các nhà cung cấp dịch vụ

- Đối với kết nối cuộc gọi giữa các dịch vụ mạng IP với dịch vụ mạng PSTN

và mạng tế bào công cộng, các nhà cung cấp dịch vụ phải tiến hành khảo sátcác lựa chọn kết nối sử dụng kết nối POI đơn hoặc đa kết nối POI

3 Kinh nghiệm của Hồng Kông

- Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP phải có nghĩa vụ kết nốitrực tiếp với một hoặc nhiều doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụmạng viễn thông cố định (FTNS) hoặc Fixed Carrier (FC)

1.6 Nghĩa vụ công ích của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP

Nghĩa vụ phổ cập dịch vụ viễn thông được các nước đặc biệt coi trọng Đốivới các dịch vụ Internet, hiện nay nhiều nước đã xác định là một trong các dịch vụgiá trị gia tăng do vậy không đặt vấn đề về nghĩa vụ phổ cấp dịch vụ đối với dịch

vụ này Điện thoại IP nếu cung cấp dưới hình thức PC-to-PC hay PC-to-Phone dovậy sẽ không bị điều chỉnh bởi các quy định về nghĩa vụ phổ cập dịch vụ

Đối với dịch vụ Điện thoại IP Phone-to-Phone, việc thực hiện nghĩa vụ phổcập dịch vụ là cần thiết Tuy nhiên qui định về nghĩa vụ phổ cấp ở các nước, thậmchí cùng là các nước phát triển cũng không giống nhau Tại Mỹ, nếu coi đây là dịch

vụ viễn thông cơ bản thì doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ trảhai khoản phí, một dùng để bù cho việc thiếu hụt truy cập nội hạt, khoản phí thứhai dùng để đóng góp vào quỹ dịch vụ viễn thông công ích

Ngoài việc đóng góp vào việc thực hiện nghĩa vụ công ích, doanh nghiệpviễn thông còn phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ các cuộc gọi khẩn cấp(cấp cứu, cứu hoả …) và dịch vụ tra cứu thông tin, nơi gọi tuỳ theo quy định củamỗi nước

a) Kinh nghiệm của Malaysia:

- Khuyến khích các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại IP cung cấp các dịch vụ:

Trang 15

+ Các dịch vụ cuộc gọi khẩn cấp như : 999, 994 và 991;

+ Dịch vụ tra cứu danh bạ;

+ Dịch vụ hỗ trợ tổng đài

b) Kinh nghiệm của Hồng Kông

Cơ quan quản lý về viễn thông tại Hồng Kông đã quyết định phân loại điệnthoại IP vào dịch vụ lớp 1 và dịch vụ lớp 2, do vậy quyền và nghĩa vụ của doanhnghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP cũng phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đóđược phép cung cấp dịch vụ lớp 1 hay dịch vụ lớp 2

Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP lớp 1 có quyền và nghĩa

vụ sau:

- Phải đáp ứng các điều kiện cấp phép quy định liên quan áp dụng đối với nhàcung cấp mạng cố định cung cấp các dịch vụ điện thoại thông thường tuântheo các quy định cấp phép cung cấp dịch vụ mạng viễn thông cố định(Fixed Telecommunications Network Services) hoặc Fixed Carrier (FC)

- Cả doanh nghịêp hạ tầng mạng FBOs và doanh nghiệp cung cấp dịch vụSBOs đều được phép cung cấp dịch vụ này

- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP lớp 1 bắt buộc phải cung cấpcác dịch vụ khẩn cấp

- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP cung cấp dịch vụ khẩn cấp phải

có nghĩa vụ cung cấp cơ sở dữ liệu cho việc duy trì thông tin vị trí của kháchhàng mới nhất và cho phép khách hàng có thể sửa đổi được các thông tinnày

- Phải cung cấp dịch vụ tra cứu danh bạ điện thoại, tra cứu thông tin miễn phí

- Các doanh nghiệp FBOs và SBOs cung cấp dịch vụ này phải cung cấp khảnăng chuyển đổi số (number portalbility) đối với dịch vụ này

- Phải thông tin chi tiết cho khách hàng về giới hạn và khả năng cung cấp dịch

vụ của mình trước khi ký kết hợp đồng

Đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP loại 2 có quyền vànghĩa vụ sau:

- Phải tuân theo các điều kiện cấp phép tối thiểu để bảo vệ quyền lợi củakhách hàng và đảm bảo cạnh tranh bình đẳng

- Các nhà cung cấp dịch vụ phải quảng cáo trên thị trường dịch vụ mình cungcấp là dịch vụ điện thoại IP loại 2 và tuân theo các điều kiện cấp phép đốivới dịch vụ điện thoại loại 2

- Cả doanh nghịêp hạ tầng mạng FBOs và doanh nghiệp cung cấp dịch vụSBOs đều được phép cung cấp dịch vụ này

- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại IP lớp 2 bắt buộc phải cung cấpcác dịch vụ khẩn cấp nếu số thuê bao cấp cho khách hàng là số của HồngKông

Trang 16

- Khuyến khích doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tra cứu danh bạ, tra cứu thôngtin cho khách hàng.

- Không bắt buộc phải cung cấp khả năng chuyển đổi số (number portalbility)đối với dịch vụ này Tuy nhiên nếu cơ quan quản lý về viễn thông thấy cầnthiết thì sẽ quy định sau khi nhu cầu của khách hàng tăng lên

- Phải thông báo rõ ràng cho khách hàng về loại hình dịch vụ mình sẽ cungcấp (dịch vụ điện thoại IP loại 2) khi quảng cáo dịch vụ

- Phải thông tin chi tiết cho khách hàng về giới hạn và khả năng cung cấp dịch

vụ của mình trước khi ký kết hợp đồng

So sánh giữa hình thức điện thoại IP loại 1 và loại 2

cấp phép giống như ápdụng đối với các doanhnghiệp FTNS/FC ngoạitrừ các điều kiện vềthiết lập hạ tầng mạng

Áp dụng các điềukiện cấp phép tốithiểu

hàng sử dụng số thuêbao nằm trong Quyhoạch về số củaHồng Kông

hàng sử dụng số thuêbao nằm trong Quyhoạch về số củaHồng Kông

điện thoại, dịch vụ tra cứu

thông tin

6 Dịch vụ gọi khẩn cấp và

cung cấp cơ sở dữ liệu cho

việc duy trì, cập nhật thông

tin mới nhất về khách hàng

hàng sử dụng số thuêbao nằm trong Quyhoạch về số củaHồng Kông

7 Cung cấp nguồn điện dự

phòng cho các thiết bị

Bắt buộc nếu kháchhàng không tin tưởng

Khuyến khích

Trang 17

mạng vào nguồn điện thiết bị

Bắt buộc nếu dịch vụđược cung cấp chokhách hàng “life-lines”

cầu của khách hàng và đáp

ứng các tiêu chuẩn chất

lượng tối thiểu

c) Kinh nghiệm từ các nước Châu Mỹ và Châu Âu

Theo chỉ thị của liên bang Mỹ thì điều đặc biệt quan trọng mà bất kỳ một nhàcung cấp dịch vụ điện thoại VoIP đều phải cung cấp miễn phí cho người sử dụngdịch vụ là dịch vụ 112 Tất cả các thành viên của liên bang đều phải đảm bảo chắcchắn rằng tất cả các cuộc gọi đến số khẩn cấp này đều phải được trả lời và xử lý.Thông tin về địa điểm cuộc gọi phải sẵn sàng được trong cuộc gọi khẩn cấp Điềunày tăng mức độ bảo vệ và an ninh cho người sử dụng dịch vụ 112 và hỗ trợ chodịch vụ cuộc gọi khẩn cấp nằm trong khả năng kỹ thuật cho phép có thể thực hiệnđược và đây cũng chính là nghĩa vụ của các nhà cung cấp dịch vụ

Khả năng người sử dụng cuối dịch vụ điện thoại VoIP có thể sử dụng đượcđược dịch vụ cuộc gọi khẩn cấp 112 tuỳ thuộc vào các quy định bắt buộc đối vớinhà cung cấp dịch vụ điện thoại VoIP Điều này cũng là hạn chế về mặt kỹ thuậtlien quan đến đến việc truy cập hoặc thông tin vị trí cuộc gọi

Các quốc gia khác nhau quy định về việc thực hiện cuộc gọi cũng rất khaunhau kể cả về khía cạnh chính sách cũng như quan điểm về mặt kỹ thuật

Trong khi một số nước chỉ quy định các cuộc gọi khẩn cấp tích hợp vào duynhất số 112 như Slovenia, Đan Mạch, Sweden, Hy Lạp, Tây Ban Nha vàNertherland, thì một số nước khác như Cộng Hoà Séc, Hà Lan, Hungary, Malta,Lithuania, Cyprus, Đức, Switzerland, Belgium, UK, Australia, Bồ Đào Nha và Na

Uy có các số gọi khẩn cấp cho các dịch vụ khẩn cấp là khác nhau bao gồm: cuộc gọcứu hoả, cảnh sát và cứu thương

Số lượng các điểm truy cập an toàn công cộng (Public Safety Access Point)

ở các nước cũng khác nhau từ 1 điểm (Malta) đến vài trăm (Đức) Ở hầu hết cácnước đều có các tổ chức ở địa phương có nghĩa là PSAT chứa một vùng địa lý đặcbiệt Trong trường hợp này lộ trình cuộc gọi dựa trên vị trí của người gọi Tại Đức

số của cuộc gọi khẩn cấp được chuyển thành số thể hiện lộ trình đặc biệt của cuộcgọi nhằm để xác định được lộ trình của cuộc gọi đó thông qua mạng liên quan xácđịnh đúng vị trí địa lý của PSAT đó Hệ thống này đã được sử dụng ở rất nhiềunước

Trang 18

Liên quan đến giải pháp công nghệ để cung cấp thông tin về vị trí cuộc gọi,tại Đức PAST sử dụng một đường dẫn số điện thoại đảo ngược trong trường hợp đó

là cuộc gọi khẩn cấp từ PSTN/ISDN hoặc liên hệ với tổng đài mạng GSM để cóđược thông tin ID trong trường hợp cuộc gọi khẩn cấp từ trạm GSM (công nghệ

“pull”) Tại Lithuania thì PAST lớn nhất sẽ chứa thông tin cập nhật về người sửdụng với nhà cung cấp đường dây cố định chính Công nghệ “pull” nói trên cũngđược áp dụng đối với điện thoại di động

Dữ liệu tại các nước cũng chỉ ra rằng giới hạn chủ yếu khi sử dụng dịch vụđiện thoại VoIP để kết nối tới các dịch vụ khẩn cấp đó là giới hạn về việc sử dụngdịch vụ ở một nơi khác, lộ trình cuộc gọi và hỏng hóc về nguồn điện

Giới hạn về việc sử dụng dịch vụ ở một nơi khác khi sử dụng dịch vụ VoIP

là do công nghệ hiện nay rất khó có thể xác định được thông tin về vị trí cuộc gọinếu dịch vụ VoIP được sử dụng ở một nơi khác Trong trường hợp này, nhà cungcấp dịch vụ điện thoại VoIP sẽ không biết khách hàng sử dụng cuối đang ở đâu

Một số nước cũng chỉ ra rằng lộ trình cuộc gọi tới Trung tâm ứng cứu khẩncấp là một giới hạn Tại Đức, một số nhà cung cấp dịch vụ có thể làm việc nàynhưng một số khác thì không thể

Tại Switzerland đã cài đặt hệ thống tại Trung tâm ứng cúu khẩn cấp có thểchỉ ra được cuộc gọi đến là cuộc gọi thông qua VoIP hay không Do vậy, mộtngười có thể sử dụng dịch vụ cuộc gọi khẩn cấp để tra cứu thông tin vị trí về đốitượng gọi của mình

Hư hỏng về nguồn điện cũng là một giới hạn của dịch vụ VoIP Tuy nhiên,đây không chỉ là giới hạn của dịch vụ VoIP mà còn là giới hạn của dịch vụ điệnthoại truyền thống PSTN/ISDN và hệ thống điện thoại di động

Trong hầu hết các nước như: Cộng hoà Séc, Ireland, Hà Lan, Hungary,Swithzerland, Slovenia, belgium, Tây ban nha và Na Uy, các nhà cung cấp dịch vụđiện thoại IP phải có nghĩa vụ thông báo cho khách hàng biết về giới hạn dịch vụcủa mình Đây là một nghĩa vụ riêng đối với nhà cung cấp dịch vụ VoIP phải thôngbáo cho khách hàng về điều kiện sử dụng

Tại Malta và Estonia không quy định nghĩa vụ này, nhưng khuyến khích phảithông báo cho khách hàng về những hạn chế có thể có của dịch vụ UK sẽ áp dụngbắt buộc đối với nhà cung cấp dịch vụ phải thông báo cho khách hàng về tình trạngkhông thể kết nối hoặc ít tin tưởng khi cung cấp dịch vụ vào năm tới Tại Đức vấn

đề này cũng đang được xem xét kỹ lưỡng Sweden cũng đang trong kế hoạch đưa

ra các tham số bắt buộc nhà cung cấp dịch vụ phải thông báo cho khách hàng TạiĐan mạch, nhà cung cấp dịch vu phải chắc chắn các cuộc gọi tới số 112 là luônluôn sẵn sàng Tại Bồ Đào Nha và Italia, nhà cung cấp dịch vụ VoIP với đầu sốtheo chuẩn E.164 đuợc sử dụng thông tin vị trí để đáp ứng cho cuộc gọi khẩn cấp

112 Nếu không cung cấp dịch vụ khẩn cấp thì phải thông báo cho khách hàngtrong hợp đồng và điều kiện cung cấp dịch vụ

Trang 19

1.7 An toàn, an ninh trong cung cấp dịch vụ.

Cùng với sự bùng nổ phát triển của Internet cả về tốc độ truyền dữ liệu và sốlwonjg người sử dụng, các dịch vụ tiện ích Internet kèm theo ra đời và phát triểnmạnh mẽ Điện thoại Internet là một trong số các dịch vụ đó, với sự tiện dụng, chiphí hợp ký cho các cuộc gọi đường dài trong nước và quốc tế, hiện nay dịch uvjnày đã và đang được ứng dụng và phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới

Tuy nhiên do tính chất không biên giới của Internet nên việc kiểm soát vàgiám thính các cuộc gọi từ một máy tính đến một máy điện thoại rất phức tạp và chiphí cũng rất tốn kém

Kinh nghiệm của Hồng Kông

Để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, cơ quan quản lý viễn thông của HồngKông đưa ra các yêu cầu chung và riêng đối với từng nhà cung cấp dịch vụ điệnthoại IP loại 1 và loại 2, cụ thể như sau:

- Các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại IP loại 1 phải cung cấp nguồn điện dựphòng theo quy định tại Luật Code of Practice như quy định đối với dịch vụđiện thoại truyền thống

- Các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại IP loại 1 và loại 2 không được chào bándịch vụ điện thoại “hỗ trợ tính mạng”(life-lines users) cho khách hàng trừ khi

có cung cấp dịch vụ dự phòng điện năng cho các thiết bị của khách hàng nhưđiện thoại IP, adaptor, modem … và thiết bị mạng

1.8 Cấp đầu số điện thoại IP

Một trong những thuận lợi trong việc phân bổ đầu số cho điện thoại IP là tổchức viễn thông quốc tế đã thông qua quy hoạch đánh số cho điện thoại IP sử dụngchuẩn E.164

Quy hoạch đánh số này cho phép cung cấp các dịch vụ một cách phổ biến.Bất kỳ thuê bao của mạng điện thoại nào cũng có thể kết nối tới thuê bao của mạngđiện thoại khác trên thế giới sử dụng cùng một chuẩn đầu số E.164 được cung cấpbởi nhà cung cấp của họ Đầu số này là phổ biến và quan trọng nhất vì tính toànvẹn và duy nhất của nó được đảm bảo trên toàn cầu Có thể khẳng định rằng: vớiviệc cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ bằng hợp đồng sẽ trở thành nét đặc trưngtiêu biểu nhất trong quá trình giảm chi phí đường truyền

Một trong những thách thức về công nghệ trong việc tích hợp giữa các mạngchuyển mạch và chuyển gói là cách đánh địa chỉ các cuộc gọi đi từ mạng này tớimạng khác Nói chung, chúng ta đều mong muốn có một kế hoạch quản lý thuê baotoàn cầu hợp nhất Ví dụ như, một số điện thoại theo chuẩn ITU-E.164 có thể là củamột thuê bao sử dụng công nghệ IP hoặc PSTN

Thông thường hiện nay việc khởi đầu một cuộc gọi từ các mạng IP tới cácmạng khác nhưng hiếm khi có một cuộc gọi từ các mạng khác kết thúc trên mạng

IP Tuy nhiên, khi các cuộc gọi thông thường kết thúc trên mạng PSTN thì bên phíađầu bị gọi chỉ có thể sử dụng một thiết bị đầu cuối kết nối đến các mạng này Để

Trang 20

truy cập tới một thuê bao trong mạng IP từ mạng PSTN thì một số kiểu đánh số/đánh địa chỉ từ mạng PSTN đến mạng IP cần được phát triển và thực hiện.

Sự khác nhau chủ yếu giữa đầu số phân bổ cho điện thoại IP với đầu số phân

bổ cho điện thoại cố định và điện thoại di động là việc sử dụng đầu số điện thoại IPkhông bị giới hạn về địa lý ở trong nội địa (trong một nước) mà nó được sử đượctrên toàn cầu Một người sử dụng một số điện thoại IP có thể gọi và nhận cuộc gọi

ở bất kỳ đâu trên thế giới nếu nơi đó có thể truy cập được Internet băng rộng

Việc cấp đầu số cho điện thoại IP có thể sẽ tạo ra nguy cơ thiếu hụt trầmtrọng đối với kho số quốc gia nếu có nhu cầu về đầu số cho điện thoại IP trên toàncầu

a) Kinh nghiệm cấp đầu số tại Singapore:

IDA có đưa ra 4 lựa chọn cho việc cấp đầu số cho điện thoại IP ở Singapor,

- Nếu chọn phương án 2 thì về mặt lý thuyết có thể cung cấp được 10 triệu sốthuê bao Với một dãy đầu số mới này thì sẽ phân biệt được đâu là cuộc gọitrên mạng truyền thống PSTN và đâu là cuộc gọi trên mạng IP Tuy nhiên,nếu có nhu cầu toàn cầu hoá về đầu số thì đòi hỏi về tài nguyên đầu số sẽ giatăng Khi đó, 4 mức số còn lại không thể đương đầu với như cầu toàn cầuhoá cao

- Theo Phương án 3 thì cũng giống như việc áp dụng mã quốc gia cho cácquốc gia khác nhau, giống như Anh và Mỹ Phương án này cũng được NhậtBản áp dụng với việc chọn 3 số mã là “050” cho điện thoại IP, trong khi đónước Anh là “056” Lựa chọn này có thể cung cấp được 100 triệu số và cóthể đáp ứng được sự đòi hỏi về đầu số Tuy nhiên, đối với các nhà cung cấphiện tại phải đương đầu với chi phí gia tăng do việc phải định tuyến cấu trúc

Ngày đăng: 27/01/2016, 08:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. VoIP Deployment and Regulation in Asia in 2006, Novo Law Group, P.C 2. IP Telephony in Practice, ITU 2001 Khác
3. A discussion of the Evolution of VoIP Regulation Worldwide, Canadian Cable Telecommunication Association, 11/2005 Khác
4. Report on VoIP and Consumer Issues, European Regulator’Group (ERG), 2006 Khác
5. Examination of Policy and Regulation relating to voice over Internet protocol (IP) services, the department of communications, information technology and the arts, 11/2005 Khác
6. Regulation of Internet Protocol (IP) Telephony, Statement of Telecommunication Authority, HongKong 20/06/2005 Khác
7. Guideline on Telephony Service over IP, Malaysian Communications and Multimedia Commission, 29/07/2005 Khác
8. Guideline on Licensing and Regulatory framework for IP Telephony services in Singapor, 13/06/2005 Khác
9. Guideline to Interconnection with dominant license, Singapore, 2005 10.Taiwan to Grant telephony numbers to VoIP services, 19/04/2005 11. Are you ready for IP Telephony, Nortel networks, 2005 Khác
12.Selecting VoIP for Your enterprise, Global Knowledge, Internet Telephony Khác
13. Internet Telephone Services, Robert D.Artkinson, Vice president of PPI and Director of its Technology and New Economic Project, 03/2005 Khác
14.Regulation of VoIP Services, Office of Communication of United Kingdom, 03/05/2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê tổng quan về chính sách điện thoại IP ở Châu Á - Nghiên cứu các hình thức dịch vụ điện thoại IP mới và đánh giá tác động đến thị trường viễn thông hiện hành
Bảng th ống kê tổng quan về chính sách điện thoại IP ở Châu Á (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w