Mục đích
Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 huyện Quỳnh Phụ nhằm đề xuất khoanh định và phân bổ đất đai phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của huyện Các mục tiêu cụ thể bao gồm phân bổ đất đai cho từng hạng mục công trình và từng đơn vị hành chính cấp xã, đảm bảo hài hòa giữa các mục đích ngắn hạn và dài hạn Nội dung này phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyện, đáp ứng các yêu cầu trước mắt và thúc đẩy sự phát triển bền vững của địa phương.
Làm căn cứ để phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa, thúc đẩy hình thành và mở rộng các mô hình chăn nuôi hiện đại, phù hợp với yêu cầu thị trường Đồng thời, mở rộng các khu vực sản xuất, kinh doanh, thương mại dịch vụ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi và thương mại.
Các cấp, các ngành quản lý đất đai cần dựa trên cơ sở pháp lý của Luật Đất đai năm 2013 để thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất một cách hiệu quả Việc này nhằm đảm bảo quản lý đất đai đúng quy định, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thực hiện các quy trình này đúng luật sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đồng thời tránh các sai phạm trong quản lý đất đai trên địa bàn.
Chúng tôi cung cấp tầm nhìn tổng quan về quản lý và sử dụng đất đai, giúp tạo ra sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành từ trung ương đến địa phương Điều này đảm bảo quá trình quản lý đất đai diễn ra hiệu quả, phù hợp với quy hoạch đã đề ra, thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên đất đai của quốc gia.
Chúng tôi đẩy mạnh đầu tư và triển khai các dự án, công trình nhằm thúc đẩy sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, văn hoá, y tế và giáo dục Đồng thời, đảm bảo an ninh, quốc phòng, khai thác hiệu quả nguồn vốn và điều tiết lợi ích từ đất đai Chiến lược này khuyến khích đầu tư sản xuất, kinh doanh, nhằm tăng thu nhập và đáp ứng nhu cầu về nhà ở ổn định, góp phần ổn định chính trị và xã hội.
Đảm bảo công tác quản lý và sử dụng đất đai của các cấp, ngành, tổ chức, gia đình và cá nhân trên địa bàn huyện được thực hiện đúng quy định của pháp luật Việc này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phòng chống hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và thúc đẩy phát triển bền vững của địa phương Thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về quản lý đất đai là yếu tố quyết định để đảm bảo quyền lợi chính đáng của mọi thành phần trong xã hội.
- Đề ra những biện pháp bảo vệ tài nguyên đất, sử dụng đất đai ổn định,lâu dài, bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái.
Yêu cầu
Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Quỳnh Phụ đến năm
2020 và quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu
Từ năm 2011-2015, huyện Quỳnh Phụ đã được phê duyệt các quy hoạch phát triển huyện theo từng giai đoạn, kết hợp với các quy hoạch ngành và lĩnh vực nhằm đảm bảo sự phát triển đồng bộ và bền vững Đồng thời, huyện Quỳnh Phụ đã xây dựng Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 dựa trên các quy hoạch đã được phê duyệt, nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển chung của toàn huyện và hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Đáp ứng yêu cầu quy hoạch trung tâm huyện lỵ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đảm bảo cảnh quan đô thị hài hòa và bền vững về mặt môi trường sinh thái Phát triển đất sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái đô thị, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế vùng một cách bền vững và thân thiện với môi trường.
Xác định và định hướng khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả toàn bộ quỹ đất đến năm 2020, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Bình Việc này phù hợp với các phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển bền vững của địa phương Tối ưu hoá sử dụng quỹ đất góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường, và đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các ngành, lĩnh vực trong tỉnh Thái Bình.
Cung cấp thông tin hiện trạng và tiềm năng sử dụng đất giúp định hướng chiến lược phát triển phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc xác định cơ hội đầu tư tiềm năng Việc nắm bắt chính xác tình hình đất đai hiện tại sẽ nâng cao khả năng ra quyết định đầu tư hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực Các dữ liệu về quy hoạch và tiềm năng sử dụng đất đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các cơ hội phù hợp để thu hút đầu tư và phát triển kinh tế địa phương.
+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
+ Điều chỉnh những bất hợp lý trong quá trình sử dụng đất.
Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 cụ thể hoá Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn 2011 – 2020, là cơ sở quan trọng để thúc đẩy phát triển các dự án đầu tư hiệu quả Việc xác lập kế hoạch này giúp định hướng sử dụng đất phù hợp, đảm bảo sự phát triển bền vững của huyện trong giai đoạn dự kiến.
- Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 huyện Quỳnh Phụ phải đảm bảo 4 yêu cầu là: Thực tế - Khoa học - Khả thi - Hiệu quả.
Dự báo xu hướng phát triển kinh tế xã hội và dân số đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hướng phát triển bền vững của huyện, tỉnh và vùng Việc tính toán chính xác giúp sử dụng hợp lý tài nguyên đất, đảm bảo tính bền vững và khai thác hiệu quả quỹ đất Các số liệu dự báo hỗ trợ lập kế hoạch phát triển dài hạn, bố trí quỹ đất phù hợp với từng mục đích sử dụng đất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Dự án tổng hợp đối chiếu các quy hoạch ngành theo nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 nhằm xác định vị trí, quy mô đất đai phù hợp cho từng lĩnh vực Việc này đảm bảo không xảy ra chồng chéo trong nhiệm vụ quy hoạch, thúc đẩy phát triển bền vững và đưa đất đai vào quá trình tạo ra lợi nhuận cao nhất cho xã hội.
Chúng tôi tổ chức hội thảo chuyên đề để lấy ý kiến chuyên gia và các ngành liên quan nhằm hoàn thiện phương án quy hoạch Sau đó, các ý kiến đóng góp sẽ được xây dựng thành nội dung cụ thể, trình hội đồng thẩm định và phê duyệt theo đúng quy định Việc này đảm bảo tính chính xác, phù hợp và đáp ứng các tiêu chí quy hoạch đã đề ra.
Các bảng số liệu điều tra và phân tích tổng hợp được xây dựng dựa trên công nghệ số, nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý và khai thác dữ liệu một cách thuận tiện và chính xác hơn Các loại bản đồ số hóa cũng được phát triển đa dạng để phục vụ tốt hơn công tác quản lý, nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực Việc sử dụng công nghệ số trong xây dựng các bảng số liệu và bản đồ giúp tối ưu hóa quy trình xử lý dữ liệu, tăng cường khả năng phân tích và đưa ra quyết định chính xác, nhanh chóng hơn.
5 Quá trình tổ chức triển khai
UBND huyện đã trực tiếp chỉ đạo các cơ quan, ngành chức năng và các xã, thị trấn trên địa bàn cung cấp số liệu và tài liệu cần thiết để xây dựng phương hướng sử dụng đất cụ thể, phù hợp với phạm vi quản lý của từng ngành, xã, thị trấn.
Trình tự lập kế hoạch sử dụng đất năm 2015 cấp huyện thực hiện theo Điều 65 Thông tư 29/2014/TT-BTNMT ngày 2/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai Quy trình này bao gồm các bước cụ thể nhằm thực hiện kế hoạch sử dụng đất phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Việc lập kế hoạch sử dụng đất cần đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các hoạt động quản lý đất đai Đây là hướng dẫn quan trọng giúp các huyện lập kế hoạch sử dụng đất đúng quy định, phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển lâu dài của tỉnh.
- Phân tích đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất của năm trước;
- Lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện;
- Thẩm định phê duyệt và công bố công khai.
6 Sản phẩm của dự án lập kế hoạch sử dụng đất
1 Báo cáo thuyết minh tổng hợp Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình;
2 Bản đồ kế hoạch sử dụng đất năm 2015 huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình;
3 Các văn bản, tài liệu, hồ sơ có liên quan trong quá trình lập, thẩm định, thông qua Hội đồng nhân dân tỉnh, UBND tỉnh phê duyệt;
Các sản phẩm nêu trên đều được ghi đĩa CD và in nhân sao thành 04 bộ.
I KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
Đ IỀU KIỆN TỰ NHIÊN , TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Điều kiện tự nhiên
Quỳnh Phụ là huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Bình, với tọa độ địa lý từ 20°30’ đến 20°45’ vĩ độ Bắc và 106°10’ đến 106°25’ kinh độ Đông Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 20.961,46 ha, cùng với hai hệ thống sông chính là sông Luộc và sông Hóa dài 36 km, chảy qua phía Bắc và phía Đông của huyện để dẫn nước vào các sông nội đồng Địa giới hành chính của huyện Quỳnh Phụ được xác định rõ ràng, góp phần phát triển kinh tế và nông nghiệp địa phương.
- Phía Đông giáp huyện Vĩnh Bảo – thành phố Hải Phòng với ranh giới là sông Hóa;
- Phía Tây giáp huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình;
- Phía Nam giáp huyện Đông Hưng và huyện Thái Thụy - tỉnh Thái Bình;
Huyện Quỳnh Côi có vị trí địa lý thuận lợi, phía Bắc giáp huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương với ranh giới là sông Luộc; phía Tây Bắc tiếp giáp tỉnh Hải Dương qua đường ĐT.396B và Cầu Hiệp; phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng qua Quốc lộ 10 và Cầu Nghìn Thị trấn Quỳnh Côi là trung tâm giao thương quan trọng, nơi giao nhau của ba tuyến đường tỉnh lộ ĐT.455, ĐT.396B và ĐT.452, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Toàn huyện có 38 xã, thị trấn với tổng dân số khoảng hơn 23 nghìn người.
Huyện Quỳnh Phụ nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, có địa hình tương đối bằng phẳng với đồng ruộng thấp và độ dốc thoải từ Tây sang Đông, Bắc xuống Nam, tạo thành lòng chảo rộng lớn Khoảng 62,5% diện tích toàn huyện là vùng đồng bằng phù hợp cho sản xuất nông nghiệp Độ cao trung bình của huyện khoảng 1,5 mét so với mặt nước biển, trong đó khu vực cao nhất tại xã Quỳnh Ngọc đạt khoảng 3 mét, còn khu vực thấp nhất chỉ khoảng 0,4 - 0,5 mét, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp địa phương.
Huyện có địa hình đa dạng, phân thành các tiểu vùng với cao nguyên và thấp trũng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng đặc trưng của vùng Địa hình này thúc đẩy nông nghiệp thâm canh, tăng vụ và đa dạng hóa sản phẩm cây trồng trên toàn khu vực.
Quỳnh Phụ có địa hình bằng phẳng, phù hợp cho phát triển nông nghiệp nhờ đất đai được bồi đắp phù sa từ sông Hồng, sông Luộc và sông Hóa Nhờ đặc điểm này, vùng đất Quỳnh Phụ thuận lợi cho trồng lúa nước và các loại cây rau màu, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp địa phương.
Huyện Quỳnh Phụ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có
4 mùa trong đó có 2 mùa rõ rệt: mùa Hạ nóng ẩm, mưa nhiều; mùa Đông lạnh giá buốt.
- Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23 - 24 0 C
Khu vực nhận lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.650 mm, phân bố không đều trong suốt năm Thời gian này chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 năm nay đến tháng 4 năm sau Sự phân bổ lượng mưa theo mùa ảnh hưởng lớn đến khí hậu và hoạt động nông nghiệp của vùng.
Nắng là yếu tố khí hậu quan trọng, với tổng số giờ nắng trung bình hàng năm từ 1.400 đến 1.600 giờ Tháng 7 thường có số giờ nắng cao nhất, đạt khoảng 220 giờ, trong khi tháng 1, 2 hoặc 3 có số giờ nắng thấp nhất, khoảng 30 giờ Mức độ nắng trung bình đến cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất liên tục 2 đến 3 vụ trong năm.
- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 85%, cao nhất vào các tháng 6,
Trong các tháng trong năm, độ ẩm không khí trên địa bàn không có sự chênh lệch đáng kể, với tỷ lệ thấp nhất đạt từ 82 – 84% vào tháng 12 và tháng 1 của năm sau Mức độ này chiếm khoảng 87 – 90%, cho thấy sự ổn định của độ ẩm không khí trong suốt cả năm.
- Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi nước trung bình hàng năm khoảng 950mm, tháng thấp nhất 90 mm và cao nhất 110 mm.
Chế độ gió tại Việt Nam chia thành hai mùa rõ rệt, với gió Đông Bắc mang không khí lạnh vào mùa đông và gió Đông Nam đưa không khí nóng, nhiều mưa vào mùa hè Sự thay đổi không khí theo các mùa này làm cho chế độ gió không ổn định trong năm, gây ra các điều kiện thời tiết khắc nghiệt và ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất của người dân.
Trên địa bàn huyện có mạng lưới sông dày đặc, phân bố thích hợp cho tưới tiêu tự chảy với các sông chính:
- Hệ thống sông Luộc, sông Hoá dài 36 km chảy qua phía Bắc và phía Đông của huyện dẫn nước và các sông nhánh;
- Sông Yên Lộng, tưới cho khoảng 8.300 ha;
- Sông Sành, sông Diêm Hộ, sông Cô với tổng chiều dài 83 km.
Ngoài ra trên địa bàn còn nhiều sông ngòi nhỏ khác với mật độ tương đối dày đặc và đồng đều trên toàn địa bàn.
Sông trong khu vực chủ yếu chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ dốc nhỏ, gây ra hiện tượng tiêu thoát nước chậm Trong mùa mưa, mực nước trên các sông lớn tăng cao nhưng không kịp thoát ra, dẫn đến tình trạng ngập úng cục bộ tại một số vùng trong huyện.
Hệ thống thuỷ văn và nguồn nước của huyện đảm bảo đủ tiêu chuẩn, đáp ứng tốt nhu cầu tưới tiêu trong nông nghiệp và sinh hoạt của người dân, kể cả trong mùa khô Ngoài ra, nguồn nước còn giúp bồi đắp phù sa, tạo nên vùng đất ngoài đê màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp hiệu quả và bền vững.
Các nguồn tài nguyên
Căn cứ ngồn gốc phát sinh đất đai, trên địa bàn huyện có những nhóm đất chính sau:
Đất phèn có độ pH từ 2,8 đến 3,5 và chứa cao các ion Fe +2, Al +3 di động, dẫn đến tính chua axit Tuy nhiên, diện tích đất phèn khá nhỏ và tầng sinh phèn chủ yếu nằm cách mặt đất khoảng 25 – 26 cm Khi trồng lúa nước quanh năm trên diện tích đất này, quá trình phèn bốc lên tầng đất canh tác được hạn chế, giúp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất nông nghiệp.
Đất phù sa chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của huyện, chủ yếu từ hệ thống sông Thái Bình và sông Luộc Phân loại đất phù sa gồm có hai loại chính: đất phù sa được bồi hàng năm, chủ yếu nằm ngoài đê, và đất phù sa không bồi hàng năm, nằm trong đê Các loại đất phù sa này đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương.
Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm dễ bị thoái hóa, thể hiện qua màu nâu pha bạc trắng do canh tác không hợp lý Những vùng đất này có thành phần cơ giới nhẹ, cát ít và chủ yếu là đất thịt nặng hoặc sét, phản ánh độ phì nhiêu và khả năng giữ nước Đặc biệt, đất có phản ứng pH trung tính từ 4,5 đến 7,0, tùy theo từng khu vực và loại hình canh tác, và hàm lượng đạm, lân đạt mức trung bình đến khá, đảm bảo điều kiện sinh trưởng phù hợp cho cây trồng.
Đất phù sa được bồi hàng năm có đặc điểm nổi bật như tính xốp lớn, màu nâu tươi và thành phần cơ giới thịt trung bình, đôi khi thịt nặng hoặc sét Đặc tính này giúp rễ cây phát triển tốt và dễ dàng hấp thụ chất dinh dưỡng pH của đất dao động từ 5,5 đến 6,5, phù hợp cho nhiều loại cây trồng, cùng với hàm lượng Cation trao đổi từ 1-4 Đl/100g đất giúp giữ lại dưỡng chất hiệu quả Ngoài ra, đất phù sa còn có hàm lượng lân tổng số và dễ tiêu đạt mức trung bình đến khá, đạm khá và lượng mùn duy trì ở mức trung bình, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng của thực vật.
Theo thống kê đất đai tính đến ngày 01/01/2011, toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 20.961,46 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 14.894,54 ha, đất phi nông nghiệp đáp ứng 5.998,60 ha, và diện tích đất chưa sử dụng là 68,32 ha.
Huyện Quỳnh Phụ có nguồn nước mặt phong phú với hai con sông lớn là sông Hoá và sông Luộc, cùng hệ thống sông, kênh mương và nhiều ao hồ, đầm chứa nước Hệ thống này đảm bảo cung cấp đủ nguồn nước cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong huyện.
Nguồn nước ngầm của huyện có mực nước nông và chất lượng không đồng đều, nhưng chứa khối lượng lớn ở hai tầng Holoxen và Pleitoxen với khả năng khai thác hiệu quả Hiện tại, mức độ khai thác còn hạn chế, tuy nhiên, trong tương lai, tiềm năng mở rộng khai thác trên diện rộng là rất lớn để đáp ứng nhu cầu nước sạch ngày càng tăng của người dân.
Quỳnh Phụ là huyện hợp nhất của hai huyện Phụ Dực và Quỳnh Côi, nổi bật với nền văn hóa truyền thống lâu đời của tỉnh Thái Bình Vùng đất này nổi bật với nét đặc trưng của nền văn hoá khu vực, thể hiện tình làng nghĩa xóm đậm đà và bản sắc dân tộc phong phú Quỳnh Phụ còn giữ gìn những giá trị văn hoá truyền thống từ nhiều thế hệ của người Việt, góp phần làm nên sự đặc trưng và nét đẹp văn hóa của vùng đất này.
Huyện Quỳnh Phụ là vùng đất lịch sử gắn liền với các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc từ thời bà Trưng, Lý, Trần đến thời kỳ đấu tranh chống Pháp, Mỹ Nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội truyền thống mang đậm giá trị nhân văn, như lễ hội làng La Vân – Quỳnh Hồng, hội đền Đồng Bằng – An Lễ, hội làng Vọng Lỗ – An Vũ và lễ hội làng Đông Linh – An Bài Các hoạt động này không chỉ thể hiện tinh thần dân tộc kiên cường của cư dân địa phương mà còn góp phần gìn giữ và phát huy di sản văn hóa vượt thời gian.
Trong thời kỳ đổi mới, nhân dân trong huyện đã tích cực tiếp thu văn hóa hiện đại qua hệ thống truyền thông và các hoạt động tuyên truyền của Đảng và Nhà nước Đồng thời, họ giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc và tinh thần cộng đồng Những nỗ lực này nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập và phát triển chung của khu vực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và xây dựng nền văn hóa đa dạng, thống nhất.
Thực trạng môi trường
Huyện có nền sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và đô thị thương mại, dịch vụ đang trên đà phát triển Nhờ vậy, môi trường cảnh quan của huyện chưa bị ảnh hưởng nhiều bởi các hoạt động này, giúp môi trường đất, nước và không khí vẫn còn tương đối trong lành.
Trong tương lai, khi ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ phát triển mạnh mẽ hơn, đặc biệt là dọc theo tuyến quốc lộ 10, lượng rác thải, nước thải và khí thải phát sinh sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường Do đó, việc áp dụng các biện pháp thiết thực ngay từ bây giờ là cần thiết để ngăn chặn ô nhiễm môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Nhận xét chung
1.1.4.1 Những lợi thế chủ yếu
Quỳnh Phụ là huyện có diện tích rộng hơn 20.000 ha với 38 xã, thị trấn, sở hữu cơ cấu đất đai đa dạng phù hợp để phát triển kinh tế - xã hội Vùng đất này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp, bố trí các loại cây trồng, vật nuôi, cũng như mở rộng các dịch vụ và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của huyện.
Huyện Quỳnh Phụ có mạng lưới giao thông thuận lợi với nhiều tuyến đường quan trọng như quốc lộ 10 và các tuyến tỉnh lộ ĐT.396B, ĐT.451, ĐT.452, ĐT.455 cùng 17 tuyến đường huyện lộ từ ĐH.72 đến ĐH.84, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại và giao lưu giữa các xã trong huyện cũng như với các huyện, tỉnh lân cận Hệ thống các sông lớn bao quanh huyện cũng thúc đẩy phát triển giao thông đường thủy, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- Địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng giao thương với các xã trong huyện cũng như ngoài huyện.
Lực lượng lao động đông đảo và cần cù của huyện sẽ đóng vai trò trong việc thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế địa phương trong những năm tới.
Vì vị trí địa lý của huyện Quỳnh Phụ, nơi đây có nhiều thuận lợi giúp thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên, huyện cũng gặp phải những khó khăn nhất định ảnh hưởng đến quá trình mở rộng và nâng cao trưởng của các hoạt động kinh tế Các yếu tố về vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư và phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ của huyện Quỳnh Phụ Do đó, việc tận dụng lợi thế và vượt qua thách thức từ vị trí địa lý là yếu tố then chốt để thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững của huyện.
Hệ thống giao thông hiện nay dày đặc với nhiều tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ chạy qua các khu vực, nhưng mặt đường nhỏ, xuống cấp nghiêm trọng đã gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
- Khí hậu trong những năm gần đây biến động bất thường, vấn đề ô nhiễm, dịch bệnh đã và đang ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
T HỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm qua, huyện đã đạt được những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội, với cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao Những thành tựu này cho thấy huyện đã nỗ lực thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng hiệu quả các mục tiêu đề ra Kết quả phát triển kinh tế bền vững giúp nâng cao đời sống nhân dân và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của địa phương.
Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế huyện Quỳnh Phụ qua một số năm
Giá trị sản xuất (tỷ đồng)
Giá trị sản xuất (tỷ đồng)
Giá trị sản xuất (tỷ đồng)
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Quỳnh Phụ)
Kinh tế huyện Quỳnh Phụ đã ghi nhận sự tăng trưởng rõ rệt trong các ngành dịch vụ, công nghiệp, xây dựng và sản xuất nông nghiệp, trong đó ngành công nghiệp xây dựng có mức tăng mạnh nhất nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến Để thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và nâng cao đời sống nhân dân, trong tương lai cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, đồng thời đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại để tăng tỷ trọng các ngành này trong cơ cấu kinh tế của huyện.
Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
1.2.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp
Nông nghiệp là lĩnh vực chủ đạo với thế mạnh và lợi thế phát triển vượt trội tại huyện Quỳnh Phụ Với tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế địa phương, ngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện Do đó, phát triển nông nghiệp bền vững là mục tiêu trọng yếu nhằm nâng cao giá trị sản xuất và nâng cao đời sống cộng đồng nông thôn.
Sản xuất nông, ngư nghiệp giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế của huyện, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và thúc đẩy xuất khẩu Nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước và chỉ đạo của các cấp, các ngành, ngành nông nghiệp huyện đã đạt được những thành quả đáng kể trên các mặt Sự chuyển dịch cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi, cũng như giữa các loại cây trồng, đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và bước đầu thúc đẩy phát triển bền vững Việc chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đưa vào sản xuất các giống mới có năng suất, chất lượng cao là yếu tố then chốt giúp nâng cao năng suất và phát triển ngành nông nghiệp địa phương.
1.2.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp xây dựng
Trong những năm qua sản xuất Công nghiệp xây dựng của huyện Quỳnh Phụ có sự phát triển khá mạnh.
Năm 2010, giá trị sản xuất ngành công nghiệp đạt 1.842,33 tỷ đồng, tăng 821,82 tỷ đồng so với năm 2009 Trong đó, lĩnh vực công nghiệp tư nhân đóng góp 156,5 tỷ đồng, còn ngành công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.140 tỷ đồng, thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp FDI trong nền kinh tế địa phương.
Kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp theo khu vực kinh tế, góp phần thúc đẩy sự đa dạng và linh hoạt của nền kinh tế Trong khi đó, kinh tế có vốn Nhà nước tuy giữ vai trò quan trọng nhưng có tỷ trọng nhỏ hơn và ngày càng giảm, phản ánh xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang khu vực tư nhân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước Việc phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh góp phần nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đất nước.
1.2.2.3 Khu vực kinh tế thương mại – du lịch
Quỳnh Phụ là huyện nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc tỉnh Thái Bình, giáp Ninh Giang (Hải Dương) và huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng), với quốc lộ 10 giúp thúc đẩy giao lưu kinh tế và thương mại liên huyện và liên tỉnh Phát triển kinh tế xã hội đã kích thích hoạt động kinh doanh dịch vụ ngày càng tích cực và đa dạng, tạo điều kiện mở rộng thị trường, lưu thông hàng hóa thuận tiện và phong phú Chất lượng hàng hóa ngày càng nâng cao với mẫu mã đẹp, giá cả ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống của cư dân địa phương.
- Cơ sở vật chất các ngành dịch vụ
+ Cơ sở vật chất ngành thương mại
Hoạt động thương mại trên địa bàn huyện ngày càng phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể Sau khi chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể đã lớn mạnh đáng kể, góp phần đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của cộng đồng địa phương.
Huyện hiện có 32 chợ với tổng diện tích đất 10,69 ha, trong đó chỉ có 3 chợ loại II gồm chợ Quỳnh Côi, chợ Vĩnh Trà – An Bài và chợ Lầy – An Ninh Các chợ còn lại đều thuộc loại III hoặc chợ tạm, phản ánh quy mô và mức độ phát triển của hệ thống mạng lưới chợ trong khu vực.
Hệ thống các cửa hàng xăng dầu tại huyện hiện có 18 điểm, chủ yếu tập trung ven quốc lộ 10 đi Hải Phòng và các khu vực thị trấn, thị tứ Trong những năm gần đây, các cơ sở này đã được cải tạo và nâng cấp theo tiêu chuẩn quy định của nhà nước, đặc biệt là các cây xăng ven quốc lộ, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Đội ngũ nhân viên bán hàng tại các điểm xăng dầu ngày càng chuyên nghiệp, góp phần làm cho quá trình mua bán xăng dầu trở nên thuận tiện hơn Nhờ đó, nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và khách hàng đã được đáp ứng tốt hơn, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống này trong huyện.
+ Cơ sở vật chất các ngành dịch vụ khác
Trong những năm gần đây, hạ tầng các ngành dịch vụ như vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng tại huyện đã được quan tâm đầu tư và nâng cấp để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế, cơ sở vật chất của các lĩnh vực này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục để thúc đẩy sự phát triển bền vững của huyện.
- Cơ sở vật chất ngành du lịch
Huyện có tiềm năng du lịch rất lớn, đặc biệt là các điểm du lịch văn hóa, lễ hội truyền thống như đền Đồng Bằng, đền Lộng Khê và đền Trần A Sào Gần đây, huyện mới chính thức định hướng phát triển các điểm du lịch này để thu hút khách du lịch và giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống Đây là bước đi nhằm khai thác tối đa tiềm năng du lịch của địa phương, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức về bản sắc văn hóa trong cộng đồng.
Huyện Vân còn có nhiều điểm du lịch làng nghề truyền thống như làng đúc đồng An Lộng, làng dệt chiếu An Tràng, An Vũ, An Dục, và làng mây tre đan Quỳnh Hội Tuy nhiên, hạ tầng các điểm du lịch này còn rất sơ sài, đang được nâng cấp, tôn tạo để thu hút du khách Nhà hàng ăn uống trong huyện còn hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của khách tham quan và đầu tư, khiến ngành du lịch chưa phát triển tối đa.
Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Theo số liệu thống kê, dân số huyện Quỳnh Phụ tính đến hết ngày 31/12/2010 là 235.017 người, chiếm 13,03% dân số toàn tỉnh, được phân bố ở
38 xã, thị trấn Mật độ dân số trung bình 1.121 người/km 2
Dân số tập trung không đều, đông nhất là xã Quỳnh Hồng với 11.381 người; đơn vị có số dân số thấp nhất là xã Quỳnh Châu với 3.093 người.
Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 0,8%
Trong toàn huyện, tổng số lao động trong độ tuổi là 125.628 người, trong đó số lao động thực tế đạt 141.010 người Lao động ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất với 54,2%, phản ánh vai trò quan trọng của nông nghiệp trong cơ cấu lao động của địa phương Ngành công nghiệp xây dựng giữ vị trí thứ hai với 32,7%, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Lao động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ chiếm 13,1%, thể hiện sự đa dạng trong cơ cấu ngành nghề của huyện.
1.2.3.3 Thu nhập và mức sống
Trong những năm qua đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và ổn định Cụ thể
- Thu nhập bình quân đạt 15,22 triệu/người/năm
- Sản lượng lương thực đạt 172,9 nghìn tấn.
- Lương thực bình quân 735kg/người/năm.
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ 24,5% năm 2005 xuống còn 18,5% năm 2010.
- Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí năm 2005) còn 10,2% giảm 5,45% so với năm 2010.
- 23/38 trạm y tế xã có bác sỹ tổng số là 25 bác sỹ, số thôn có cán bộ y tế là 215 người.
- 143/242 thôn, làng, tổ dân phố có nhà văn hoá đạt 59,1%, ( trong đó số xây mới là 90, cải tạo 53).
Thực trạng phát triển các khu dân cư
Huyện Quỳnh Phụ có 2 thị trấn và 36 xã, tổng diện tích đất ở là 1.483,78ha, với bình quân diện tích đất ở đạt khoảng 63m²/người Toàn huyện có 242 thôn, làng, tổ dân phố phân bố đều trên 38 xã, thị trấn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và xây dựng cộng đồng vững mạnh.
Môi trường sinh thái tại các khu dân cư nông thôn duy trì tốt, ít bị ô nhiễm từ không khí, nước, đất do hoạt động công nghiệp Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh, phát triển công nghiệp cùng các hoạt động tiểu thủ công nghiệp và chăn nuôi gia trại, trang trại đã phần nào ảnh hưởng tiêu cực đến vệ sinh môi trường.
Dân cư trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ phân bố không đều, gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và xã hội địa phương Kiến trúc và văn hoá của khu dân cư thể hiện rõ nét đặc trưng của khu vực nông thôn, phản ánh truyền thống và đời sống cộng đồng Tuy nhiên, trình độ lao động trong nông thôn vẫn còn hạn chế, cần có các giải pháp nâng cao đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để thúc đẩy sự phát triển bền vững của vùng.
Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
Trong những năm gần đây, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cơ sở hạ tầng các khu dân cư đã được nâng cấp đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống người dân và phát triển kinh tế địa phương Mạng lưới giao thông của huyện đã trở nên đa dạng và đa dạng hơn, bao gồm các tuyến quốc lộ, đường liên tỉnh, liên huyện và liên xã, giúp cải thiện việc lưu thông hàng hóa và thúc đẩy hoạt động thương mại Các tuyến đường chính của huyện đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các khu vực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của địa phương.
Mạng lưới giao thông đường bộ tại khu vực này khá phát triển với các tuyến đường chính như Quốc lộ 10, Tỉnh lộ 451, 452, 455, 396B, cùng hệ thống đường huyện lộ, đường nội thị và đường xã, tổng chiều dài trên 1.200 km Hệ thống đường bộ đa dạng này giúp kết nối các khu vực một cách thuận tiện, thúc đẩy phát triển kinh tế, giao thương và du lịch địa phương Việc duy trì, mở rộng và nâng cao chất lượng các tuyến đường chính và đường liên huyện đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao cơ sở hạ tầng giao thông và phục vụ nhu cầu đi lại của người dân.
- Đường quốc lộ: quốc lộ 10 chạy qua huyện dài 11 km từ Km58 (Cầu nghìn, thị trấn An Bài) đến Km69 (Ngã Ba Đợi, xã Đông Hải)
- Đường tỉnh lộ: Tổng cộng qua huyện gồm 4 tuyến dài 50 km
+ Đường ĐT.396B (tên cũ là đường 217) dài 14 km từ Km12 (bến Hiệp, xã Quỳnh Giao) đến Km26 (Ngã Ba Đợi)
+ Đường ĐT.451 (đường trục phố cũ thị trấn Quỳnh Côi) dài 1,2 km từ Ngã
Tư Bạt qua ngã tư cầu Tây đến Ngã Ba cống ông Sắt giao vào đường tỉnh 396B.
+ Đường ĐT.452 ( tên cũ là đường 224) dài 9 km từ Km0 thị trấn Quỳnh Côi đến Km9, xã Quỳnh Ngọc.
+ Đường ĐT.455 (tên cũ đường 216) dài 26 km từ Km9 (xã Quỳnh
Nguyên) đến Km35 (xã Đồng Tiến)
Đường huyện lộ gồm 17 tuyến, được đánh số từ ĐH.72 đến ĐH.84, với tổng chiều dài 78,6 km đã được rải đá láng nhựa, đảm bảo giao thông thuận tiện cho địa phương Trong đó, có 2,6 km đường đạt tiêu chuẩn cấp IV đồng bằng với mặt đường rộng 6m và nền đường rộng 8–9m, góp phần nâng cao chất lượng đường bộ Toàn bộ các tuyến còn lại, chiều dài gần 74 km, có tiêu chuẩn tương đương đường cấp, giúp đảm bảo sự kết nối và phát triển hạ tầng giao thông ổn định cho khu vực.
V đồng bằng có mặt đường 3 – 4m, nền đường 4 – 5m.
- Đường đô thị: Tổng chiều dài 8,7 km trong nội 2 thị trấn Quỳnh Côi và
An Bài (bao gồm cả đường quốc lộ và đường tỉnh)
- Đường xã: Tổng chiều dài 216 km trong đó phân ra đá nhựa 138 km, bê tông 3 km còn lại là các loại khác.
- Đường giao thông nông thôn đường nội thị dài khoảng 1.262 km.
Trong đó chủ yếu các tuyến đường đã được cứng hoá (trải nhựa, đổ bê tông, lát gạch) còn ít đường đất và đường rải đá cấp phối.
Dù lượng phương tiện giao thông ngày càng tăng, nhưng nhiều tuyến đường đang xuống cấp nghiêm trọng, gây ra không ít khó khăn trong quá trình lưu thông.
Trong giai đoạn tới để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của huyện, cần thiết phải mở rộng nâng cấp nhiều tuyến đường.
Huyện Quỳnh Phụ có hai con sông lớn là sông Hoá và sông Luộc, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy Ngoài ra, tuyến đường thủy trên các sông Yên Lộng, Cô và Diêm Hộ cũng góp phần thúc đẩy hoạt động vận tải thủy nội địa Hiện tại, huyện đã đưa vào sử dụng tổng cộng 83 km tuyến vận tải đường sông, trong đó 43 km do trung ương quản lý và 40 km do chính quyền địa phương quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả vận chuyển và phát triển kinh tế địa phương.
Hệ thống bến xe, bến cảng: Huyện hiện có 2 bến xe khách là Quỳnh Côi,
Tư Môi – An Bài có hai bến cảng lớn là Bến Hiệp và Cầu Nghìn, cùng với các bến cảng nhỏ và đò ngang phục vụ nhu cầu đi lại của người dân trong huyện Tuy nhiên, để đáp ứng sự phát triển của huyện trong tương lai, hệ thống trung chuyển cần được mở rộng nhằm thúc đẩy nhanh hơn hoạt động giao thương giữa các xã, giữa huyện với tỉnh và khu vực Việc này sẽ là nền tảng quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế toàn huyện trong bối cảnh dân số tăng và kinh tế ngày càng phát triển.
Hệ thống thủy lợi của huyện đã hình thành từ lâu trong hệ thống thủy lợi Bắc Thái Bình và được thường xuyên cải tạo, tu bổ để duy trì hiệu quả Nhờ đó, hệ thống đảm bảo tưới tiêu nông nghiệp kịp thời, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp của địa phương Nguồn nước trong hệ thống được kiểm soát dựa trên lưu lượng của sông Hoá và sông Luộc, cùng với lượng mưa hàng năm và hoạt động của hệ thống thủy lợi.
Ngoài 83 km sông chính, trên địa bàn huyện còn có 200 km kênh mương cấp I, II, III và 600 km kênh mương nội đồng khác với trên 140 trạm bơm nằm rải rác tại 38 xã, thị trấn của huyện, phục vụ tương đối tốt cho nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn. Đê: huyện có 35 km đê sông Luộc, sông Hoá và 32,7 km đê bối.
1.1.5.3 Hệ thống điện, thông tin liên lạc
Hiện tại, tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đều có trạm biến áp, đảm bảo 100% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia Hệ thống phát thanh truyền hình và đài truyền thanh cơ sở liên tục được củng cố và phát triển, với 38/38 xã, thị trấn đều có đài truyền thanh và loa truyền thanh tại tất cả các khu dân cư Ngành bưu chính viễn thông phát triển mạnh mẽ, với các xã đều có điểm bưu điện văn hóa xã, góp phần nâng cao dịch vụ liên lạc và thông tin phục vụ cộng đồng.
1.1.5.4 Hạ tầng cấp thoát nước
Huyện có địa hình bằng phẳng, dân cư phân bố tập trung, chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm khai thác từ giếng đào, giếng khoan, cùng với nguồn nước từ sông, suối và nước mưa Trong những năm gần đây, nhiều công trình cấp nước tập trung đã được xây dựng tại các thôn, xóm, góp phần nâng cao tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch Hiện tại, thị trấn An Bài và Quỳnh Côi đã có hệ thống cấp nước máy đảm bảo cung cấp nước sạch đến người dân Ngoài ra, ba trạm cấp nước sạch tại An Đồng, Quỳnh Xá và An Lễ đang trong giai đoạn chuẩn bị vận hành và sẽ sớm đi vào hoạt động.
Hiện nay, huyện Quỳnh Côi đã xây dựng hệ thống thoát nước thải tại thị trấn Quỳnh Côi và thị trấn An Bài, góp phần nâng cao vệ sinh môi trường Tuy nhiên, đối với các xã, phần lớn nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình vẫn chủ yếu thoát trực tiếp xuống các khu vực ruộng sâu trũng, ao hồ, kênh mương rãnh hiện có Việc cải thiện hệ thống thoát nước tại địa phương là cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước sinh hoạt, hướng đến phát triển bền vững.
Trong những năm qua, ngành giáo dục đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nỗ lực của toàn ngành, góp phần thúc đẩy sự phát triển về quy mô, số lượng và chất lượng Các chương trình như phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia và phổ cập trung học cơ sở đã được thực hiện có kết quả rõ rệt Việc thực hiện đúng chế độ luân chuyển và điều động cán bộ quản lý, giáo viên nhằm đảm bảo cơ cấu nhà trường hợp lý, đồng bộ Đồng thời, công tác bồi dưỡng giáo viên giỏi, học sinh giỏi luôn được chú trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Theo số liệu thống kê, năm học 2010 toàn huyện có 39 trường mầm non,
40 trường tiểu học, 37 trường trung học cơ sở, 5 trường trung học phổ thông
(trong đó có 3 trường công lập, 2 trường tư thục) giáo dục thường xuyên có 2 trung tâm.
Công tác đào tạo và dạy nghề được chú trọng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia Việc thúc đẩy đào tạo nghề giúp tăng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong độ tuổi, nâng cao năng suất lao động và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế Các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đã góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Hoạt động giáo dục được thực hiện nghiêm túc theo tinh thần cuộc vận động “2 không” do Bộ Giáo dục Đào tạo phát động Các trung tâm dạy nghề, trung tâm hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên đều hoạt động hiệu quả trong việc dạy nghề cho học sinh và đào tạo nghề cho người lao động Trung tâm học tập cộng đồng và công tác khuyến học đã thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần xây dựng xã hội học tập từ cơ sở.
* Văn hoá - Thể dục thể thao
Công tác quản lý Nhà nước về các lĩnh vực văn hoá - xã hội đã không ngừng được tăng cường, thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao rộng khắp trong cộng đồng Các chương trình tuyên truyền về nếp sống văn minh, gia đình văn hóa đã lan tỏa đến từng thôn, góp phần nâng cao nhận thức của người dân Hoạt động truyền hình đã được cải thiện rõ rệt về nội dung và chất lượng, đóng vai trò trung tâm trong việc truyền tải chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến mọi người dân Hiện tại, toàn huyện có 143 thôn, làng, tổ dân phố có nhà văn hóa, 100% các khu dân cư có loa truyền thanh và tỷ lệ phủ sóng truyền hình đạt 100% về diện tích, khẳng định sự phát triển đồng bộ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội.
Đ ÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN , KINH TẾ , XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG
Lợi thế
Huyện Quỳnh Phụ có những lợi thế và cơ hội cho phát triển kinh tế - xã hội như sau:
Huyện có quốc lộ 10 đi qua, là cửa ngõ phía Đông Bắc của tỉnh, nằm liền kề với thành phố Hải Phòng Vị trí thuận lợi này giúp thúc đẩy giao lưu kinh tế với các đô thị lớn trong vùng và tạo điều kiện thuận lợi để kết nối với hệ thống cảng biển khu vực phía Bắc.
Huyện Quỳnh Phụ có đất đai màu mỡ, nằm trong vùng có truyền thống và trình độ thâm canh cao trong sản xuất nông nghiệp tại đồng bằng Sông Hồng Điều kiện tự nhiên và sinh thái thuận lợi tạo điều kiện phát triển đa dạng cây trồng và vật nuôi, tăng năng suất và sản lượng Quỹ đất sản xuất nông nghiệp của huyện Quỳnh Phụ khá lớn, chiếm tới 71,06% tổng diện tích tự nhiên, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương một cách bền vững.
Các nguồn tài nguyên nhân văn phong phú và đa dạng là tiềm năng lớn để phát triển du lịch văn hóa và tâm linh Người dân địa phương có truyền thống kinh doanh buôn bán, tạo thuận lợi cho sự phát triển các hoạt động thương mại Đồng thời, địa phương xếp thứ hai toàn tỉnh về phát triển chợ nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và du lịch cộng đồng.
Huyện sở hữu nguồn nhân lực dồi dào, người lao động cần cù, năng động và sáng tạo, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề truyền thống đang trên đà tiến bộ Với vị trí thứ tư toàn tỉnh về phát triển nghề và làng nghề, huyện ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương.
Khi thị trường mở rộng, môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn nhờ vào sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống kết cấu hạ tầng cùng hệ thống chính sách thông thoáng, thu hút các nhà đầu tư xây dựng nhà máy mới Nhu cầu xây dựng trong kỳ quy hoạch rất lớn, đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trung tâm cụm xã, trung tâm thương mại và dịch vụ, cũng như các điểm dân cư tập trung nhằm mở rộng đô thị Sự phát triển của ngành xây dựng không chỉ thúc đẩy các ngành phụ trợ như tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện.
Những thách thức, hạn chế
Bên cạnh lợi thế và cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội, huyện Quỳnh Phụ cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như:
Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của huyện đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn tới Các lĩnh vực như giao thông, thủy lợi, viễn thông, giáo dục, y tế, thể thao và các cơ sở phúc lợi xã hội còn nhiều hạn chế, chưa đủ khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững trong thời gian tới.
Dù đã có sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế giữa các ngành và nội bộ từng ngành, huyện vẫn duy trì lớn về nông nghiệp Ngành Nông nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế địa phương, trong khi các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ đang còn chiếm tỷ lệ thấp, chưa phản ánh đúng tiềm năng và yêu cầu phát triển của huyện Các cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn hạn chế về quy mô và hiệu quả hoạt động, chưa khai thác tối đa tiềm năng phát triển.
Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất đai vẫn còn thấp, trong khi các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp chưa phát triển đáp ứng yêu cầu thực tế Cơ cấu lao động còn bất hợp lý, tỷ lệ lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản còn quá cao, chủ yếu là lao động phổ thông hạn chế trong việc tiếp thu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất.
Đất canh tác nông nghiệp tại nhiều địa phương vẫn còn manh mún, chưa hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung Điều này khiến cho các sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường do thiếu quy mô và đồng bộ trong sản xuất, hạn chế khả năng nâng cao chất lượng và giá trị nông sản Việc tổ chức lại và phân vùng rõ ràng sẽ giúp các nông hộ hợp tác, tăng năng suất, đồng thời tạo ra các sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường trong và ngoài nước.
- Trên địa bàn huyện không có tài nguyên khoáng sản gì đáng kể.
- Huyện Quỳnh Phụ có mật độ dân số lớn, lao động dư thừa, việc bố trí sản xuất, tạo công ăn việc làm chưa cao.
Đánh giá chung
Trong thời gian qua, công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện đã đi vào nền nếp, đảm bảo đúng quy định của pháp luật và thúc đẩy sự phát triển bền vững Cơ cấu sử dụng đất phù hợp hơn, góp phần tối ưu hoá nguồn tài nguyên đất đai Việc giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được triển khai đồng bộ và rộng khắp, giúp người dân chủ động hơn trong khai thác và sử dụng đất Các chế độ chính sách về đất đai được thực hiện hiệu quả, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về đất đai của cộng đồng Nhờ đó, hiệu quả sử dụng đất trên mỗi đơn vị đất đai được nâng cao rõ rệt, đáp ứng tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Trong những năm gần đây, huyện Quỳnh Phụ đã ghi nhận bước tăng trưởng kinh tế - xã hội đáng kể, làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, cơ sở sản xuất và nhà ở Việc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đã dẫn đến giảm diện tích đất nông nghiệp qua các năm Để đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao này đồng thời đảm bảo an ninh lương thực, huyện Quỳnh Phụ cần có chiến lược quản lý và khai thác đất đai hiệu quả hơn, phù hợp với phát triển bền vững.
II KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NĂM TRƯỚC
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm
Huyện Quỳnh Phụ đã được UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt tại quyết định số 1478/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2013 Điều này tạo cơ sở pháp lý để đánh giá lại các chỉ tiêu sử dụng đất năm 2014, đồng thời giúp xây dựng kế hoạch sử dụng đất phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của địa phương trong năm 2015. -Cải thiện nội dung SEO bài viết về Quy hoạch sử dụng đất Quỳnh Phụ với dịch vụ viết lại chuyên nghiệp, chuẩn xác và súc tích!
Đ ÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NĂM TRƯỚC
Kế hoạch sử dụng các chỉ tiêu đất được phân bổ
Dưới đây là các câu chính chứa ý nghĩa của đoạn văn, phù hợp với quy tắc SEO:Huyện Quỳnh Phụ đã thực hiện đúng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 1478/QĐ-UBND ngày 12 tháng 7 năm 2013 của UBND tỉnh Huyện đã triển khai thu hồi đất, giao đất và chuyển mục đích sử dụng đất đúng theo kế hoạch và quy hoạch đã được phê duyệt Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2014 dựa trên số liệu thống kê diện tích đất đai tính đến ngày 1 tháng 1 năm.
Đến hết tháng 9 năm 2014, số liệu biến động các loại đất được tổng hợp để lập kế hoạch sử dụng đất cho cả năm Dựa trên dự kiến các công trình, dự án sẽ thực hiện trong 3 tháng cuối năm 2014, các số liệu này giúp xác định kết quả thực hiện và so sánh với chỉ tiêu kế hoạch đã được duyệt cho năm 2014 Việc đánh giá này nhằm đảm bảo quản lý hiệu quả quỹ đất, phù hợp với mục tiêu phát triển đã đề ra trong chiến lược sử dụng đất của địa phương.
* Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2014 trong kỳ kế hoạch đã được duyệt như sau:
TT Chỉ tiêu sử dụng đất Mã
Diện tích kế hoạch được duyệt (ha)
Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước LUC 11.740,9
1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 862,38 940,98 78,60 109,11 1.3 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 942,69 1.033,94 91,25 109,68
2 Đất phi nông nghiệp PNN 6.663,53 6.070,48 -593,05 91,10 2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp CTS 52,84 42,15 -10,69 79,76
2.4 Đất cụm công nghiệp, khu công nghiệp SKK 199,17 93,07 -106,10 46,73 2.5 Đất cơ sở sản xuất kinh doanh SKC 115,83 35,51 -80,32 30,66
2.6 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ SKX 11,26 11,26 0,00 100
2.7 Đất di tích, danh thắng DDT 7,95 7,95 0,00 100
2.8 Đất xử lý, chôn lấp chất thải DRH 23,49 10,14 -13,35 43,15
2.9 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 55,40 54,05 -1,35 97,56
2.10 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 190,12 178,32 -11,80 93,79
2.11 Đất có mặt nước chuyên dùng SMN 458,68 472,92 14,24 103,10
2.12 Đất phát triển hạ tầng DHT 3.954,44 3.660,72 -293,72 92,57 2.13 Đất ở tại nông thôn ONT 1.486,64 1.417,17 -70,47 95,26 2.14 Đất chưa sử dụng CSD 65,67 67,33 1,66 102,52
Dưới đây là đánh giá các chỉ tiêu sử dụng đất theo quyết định 1478/QĐ-UBND ngày 12/7/2013 của UBND tỉnh Thái Bình, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm đầu (2011-2015) của huyện Quỳnh Phụ Các chỉ tiêu này được thực hiện theo Thông tư 19/2009/TT-BTNMT ngày 2/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đảm bảo quản lý và phát triển đất đai phù hợp với quy định pháp luật.
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất năm 2014 đã cơ bản đạt so với kế hoạch được duyệt, trong đó đất nông nghiệp còn thiếu 4,16% so với chỉ tiêu quy hoạch, đất phi nông nghiệp đã đạt 91,1%, và khai thác đất chưa sử dụng đạt 95,48% Các chỉ tiêu chính về sử dụng đất đều có tiến bộ rõ rệt và phù hợp với kế hoạch đề ra, đảm bảo phát triển bền vững và quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai.
Năm 2014, kế hoạch diện tích thực hiện theo chỉ tiêu đã được phê duyệt là 14.232,26 ha, tuy nhiên, kết quả thực hiện đến cuối năm đạt 14.823,66 ha, vượt kế hoạch ban đầu Trong số diện tích đã thực hiện, còn 591,4 ha chưa hoàn thành theo quy hoạch đề ra Việc đạt và vượt chỉ tiêu đề ra thể hiện sự nỗ lực trong việc thúc đẩy phát triển diện tích phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt.
Diện tích đất lúa nước theo chỉ tiêu được duyệt là 11.897,75 ha, tuy nhiên trong năm 2014 diện tích thực hiện đã đạt 12.126,83 ha, vượt chỉ tiêu kế hoạch 229,08 ha Như vậy, còn 229,08 ha chưa được thực hiện đúng theo chỉ tiêu được phê duyệt.
- Đất trồng cây lâu năm
Chỉ tiêu phê duyệt là 862,38 ha, kết quả thực hiện là 940,98 ha vượt 9,11% so với chỉ tiêu được phê duyệt (tăng 78,6 ha).
- Đất nuôi trồng thủy sản
Chỉ tiêu phê duyệt là 942,69 ha, kết quả thực hiện năm 2014 là 1.033,94 ha vượt 9,68% (tăng so với chỉ tiêu phê duyệt là 91,25 ha). b Đất phi nông nghiệp
Tính đến năm 2014, quy hoạch diện tích đất đạt 6.663,53 ha, nhưng thực tế thực hiện đến hết năm 2014 là 6.069,48 ha, đạt 91,09% so với chỉ tiêu được duyệt, còn 594,05 ha chưa hoàn thành theo quy hoạch.
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp
Chỉ tiêu được phê duyệt là 52,84 ha, kết quả thực hiện 42,15 ha đạt79,76% (còn 10,69 ha chưa thực hiện theo quy hoạch được phê duyệt).
Chỉ tiêu được phê duyệt là 12,66 ha, nhưng thực hiện chỉ đạt 4,09 ha, chiếm tỷ lệ 32,34%, còn lại 8,57 ha chưa được triển khai Nguyên nhân chính khiến đất quốc phòng thực hiện đạt thấp so với chỉ tiêu đề ra là do ngân sách địa phương và ngân sách quốc phòng phân bổ cho các dự án xây dựng khu vực phòng thủ và trường bắn còn hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện kế hoạch.
Chỉ tiêu phê duyệt năm 2014 là 3,74 ha, tuy nhiên, diện tích thực hiện đạt 4,62 ha, vượt kế hoạch đề ra 23,45% Đặc biệt, vào tháng 6 năm 2014, UBND tỉnh đã giao cho Công an tỉnh 3,0 ha tại xã Quỳnh Hải để xây dựng trụ sở mới của Công an huyện Quỳnh Phụ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác và phát triển hạ tầng ngành công an trong địa phương.
- Đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Chỉ tiêu được phê duyệt năm 2014 là 199,17 ha, trong đó thực hiện được 93,07 ha, đạt 46,73%, còn 106,1 ha chưa được triển khai Việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp để thu hút doanh nghiệp đầu tư đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương Trong những năm qua, huyện Quỳnh Phụ đã tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất của doanh nghiệp, kêu gọi các nhà đầu tư có năng lực tài chính để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng các cụm công nghiệp Tuy nhiên, số dự án đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp vẫn còn hạn chế, với chỉ KCN Cầu Nghìn do tỉnh quản lý có 3 dự án đang hoạt động trên diện tích 35,12 ha, vốn đăng ký 625,2 tỷ đồng, tạo việc làm cho 1.293 lao động Ngoài ra, có 126,7 ha quy hoạch cho 5 cụm công nghiệp khác Theo quy hoạch nông thôn mới, huyện cũng đã chỉ đạo các xã dành từ 5-10 ha mỗi xã để phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ, tuy nhiên, hiện nay đa số doanh nghiệp đầu tư rải rác, số lượng dự án vào các cụm công nghiệp còn rất ít.
- Đất phát triển hạ tầng
Chỉ tiêu phê duyệt dự án xây dựng tuyến đường bộ nối tỉnh Thái Bình, Hà Nam với cao tốc Cầu Giẽ là 3.955,44 ha Trong đó, kết quả thực hiện đạt 3.660,72 ha, hoàn thành 92,57% mục tiêu đề ra Hiện còn 293,72 ha chưa được thực hiện theo quy hoạch đã duyệt, cho thấy tiến độ dự án vẫn đang trong quá trình triển khai và cần tập trung đẩy nhanh tiến độ hoàn thành kế hoạch đã đề ra.
Ninh Bình đã hoàn thành giải phóng mặt bằng tại các xã Quỳnh Hưng, Quỳnh Trang, Quỳnh Xá, Đông Hải, An Vinh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Mặc dù gặp nhiều khó khăn về kinh tế, huyện Quỳnh Phụ đã ưu tiên huy động mọi nguồn lực để cải tạo và nâng cấp hệ thống đường giao thông toàn huyện, tạo ra mạng lưới liên tỉnh, liên huyện và giao thông nông thôn hoàn chỉnh Phát triển hệ thống giao thông nông thôn không chỉ giúp thay đổi diện mạo các xóm thôn mà còn thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư, xây dựng làng nghề và trung tâm tiêu thụ nông sản, đồng thời rút ngắn thời gian di chuyển giữa Quỳnh Phụ và các huyện, tỉnh lân cận, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường Các dự án phát triển hạ tầng như xây dựng trường học, trung tâm y tế, cơ sở văn hóa, thể thao, thủy lợi, năng lượng, bưu chính viễn thông và chợ đã cơ bản hoàn thành đúng tiến độ, giúp các xã hướng tới mục tiêu xây dựng nông thôn mới bền vững.
- Đất cơ sở sản xuất kinh doanh
Chỉ tiêu được phê duyệt là 115,83 ha, kết quả thực hiện 35,51 ha đạt 30,66% còn lại 80,32 ha chưa thực hiện được.
- Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ
Chỉ tiêu này đạt 100% với diện tích thực hiện là 11,26 ha năm 2014.
- Đất di tích, danh thắng
Chỉ tiêu này đạt 100% với diện tích thực hiện là 7,95 ha năm 2014.
- Đất xử lý chôn lấp chất thải
Chỉ tiêu được phê duyệt 23,49 ha, kết quả thực hiện năm 2014 là 10,14 ha đạt được 43,15% so với phê duyệt còn 13,35 ha chưa thực hiện được.
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng
Chỉ tiêu được phê duyệt là 55,4 ha, kết quả đạt được năm 2014 là 54,05 ha đạt 97,56% so với phê duyệt còn lại 1,35 ha chưa thực hiện được.
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa
Chỉ tiêu được phê duyệt là 190,12 ha, kết quả thực hiện năm 2014 là 178,32 ha đạt 93,79% còn 11,8 ha chưa thực hiện theo quy hoạch được duyệt.
- Đất có mặt nước chuyên dùng
Chỉ tiêu được duyệt 458,68 ha, kết quả thực hiện năm 2014 là 472,92 ha, tăng 14,24 ha so với quy hoạch được duyệt.
Trong năm 2014, chỉ tiêu được phê duyệt là 1.486,64 ha, nhưng kết quả thực hiện chỉ đạt 1.417,17 ha, chiếm tỷ lệ 95,33% so với chỉ tiêu đề ra, còn lại 69,47 ha chưa được thực hiện theo quy hoạch Đặc biệt, vẫn còn diện tích đất chưa sử dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả và kế hoạch phát triển của địa phương.
Chỉ tiêu được phê duyệt là 65,67 ha, tuy nhiên, trong năm 2014, diện tích thực hiện đạt 67,33 ha, vượt kế hoạch đề ra Số diện tích còn lại là 1,66 ha chưa được đưa vào khai thác sử dụng theo quy hoạch đã duyệt, cho thấy sự chênh lệch tích cực giữa kế hoạch và thực tế thực hiện.
Đ ÁNH GIÁ NHỮNG TỒN TẠI TRONG THỰC HIỆN KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NĂM TRƯỚC
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện cần gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương và phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã, nhằm đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả trong quản lý đất đai Đây là nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng, tạo nền tảng để cấp huyện và cấp xã xây dựng kế hoạch sử dụng quỹ đất hàng năm, tối ưu hóa nguồn lực đất đai của địa phương Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất tại địa phương vẫn còn tồn tại một số hạn chế và thiếu sót cần khắc phục.
Chất lượng quy hoạch còn thấp, chưa đảm bảo tính bền vững và phù hợp với thực tế Phương án quy hoạch chưa phản ánh chính xác tình hình thực tế và còn mang tính chủ quan cao Công tác quản lý quy hoạch sau khi được phê duyệt còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng người dân tự ý chuyển mục đích sử dụng đất mà không kiểm soát chặt chẽ.
Nhiều quy hoạch đúng đắn và cần thiết với lộ trình rõ ràng nhưng gặp khó khăn do thiếu kinh phí hoặc nguồn thu bị động, dẫn đến việc phải dừng lại sau khi công bố triển khai, đặc biệt là các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
Việc chấp hành các quy định pháp luật về điều chỉnh hoặc huỷ bỏ quy hoạch chưa được coi trọng và thực hiện nghiêm túc Nhiều khu vực quy hoạch đã không còn phù hợp với diễn biến thực tế hoặc khả thi, gây ra sự mất cân đối trong phát triển hạ tầng và sử dụng đất Chính sách quy hoạch cần được thực thi chặt chẽ hơn để đảm bảo tính khả thi và bền vững trong phát triển đô thị.
Trong quy hoạch sử dụng đất, nhiều địa phương vẫn sử dụng lớn đất để trồng lúa, gây ảnh hưởng đến cân đối tài nguyên Việc quy hoạch các khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa được thực hiện đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật và xã hội, cũng như công tác bảo vệ môi trường Điều này dẫn đến những tồn tại trong phát triển bền vững của khu vực, ảnh hưởng tới môi trường và sinh kế người dân Để đảm bảo sự phát triển bền vững, cần chú trọng tích hợp các quy hoạch để tránh gây áp lực lên tài nguyên đất đai và môi trường.
Hiện chưa xác định rõ nội dung cũng như mối quan hệ giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và các quy hoạch ngành khác, dẫn đến thiếu sự phối hợp chặt chẽ và ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước Việc này làm giảm tính nhất quán trong xây dựng chiến lược phát triển dài hạn của địa phương và gây khó khăn trong việc lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực phù hợp Do đó, cần có các cơ chế rõ ràng để xác định mối liên hệ giữa các loại quy hoạch nhằm đảm bảo sự đồng bộ, phát huy hiệu quả tối đa của các nguồn lực đầu tư và phát triển bền vững.
- Thiếu ngân sách để thực hiện quy hoạch, nhất là quy hoạch sử dụng đất.
Đ ÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN CỦA TỒN TẠI TRONG VIỆC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NĂM TRƯỚC
Những tồn tại trong việc thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch chủ yếu là:
Thiếu vốn đầu tư đồng bộ và chưa đưa ra các giải pháp thực hiện triệt để khiến một số chỉ tiêu quy hoạch chậm tiến độ và kéo dài thời gian thi công Điều này ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả phát triển dự án và làm giảm khả năng đạt được các mục tiêu đề ra Việc đảm bảo nguồn vốn ổn định, cùng với chiến lược hành động rõ ràng là yếu tố quan trọng để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch.
Huyện có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội khá cao, góp phần làm nguồn cầu sử dụng đất tăng mạnh Tuy nhiên, một số chỉ tiêu quy hoạch chưa bắt kịp yêu cầu phát triển của vùng, đòi hỏi cần điều chỉnh các chỉ tiêu quy hoạch của kỳ trước để phù hợp với sự phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai.
Việc tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất gồm ba cấp (tỉnh, huyện, xã) không diễn ra đồng thời và kéo dài, trong đó cấp xã còn thực hiện song song với quy hoạch nông thôn mới, gây ra những khó khăn trong quá trình triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện.
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch chuyên ngành như nông nghiệp, xây dựng, giao thông không được tiến hành đồng bộ, gây ra khó khăn trong công tác quản lý đất đai và phát triển bền vững Việc thiếu sự phối hợp giữa các quy hoạch chuyên ngành khiến quá trình quản lý, phân bổ và sử dụng đất đai gặp nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và phát triển đô thị Đảm bảo tính nhất quán giữa các quy hoạch là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả quản lý đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ổn định.
Các quy định và thủ tục quản lý nhà nước còn chưa hoàn chỉnh, gây ra nhiều bất cập và thiếu ổn định lâu dài, dẫn đến khó khăn và ách tắc cho nhà đầu tư Điều này làm chậm tiến độ thực hiện kế hoạch sử dụng đất, ảnh hưởng tiêu cực đến quy hoạch phát triển bền vững của địa phương.
Trong quá trình thực hiện quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, khi có nhu cầu phát sinh như các dự án mới, UBND tỉnh chỉ đạo các cấp lập điều chỉnh quy hoạch và kế hoạch để phù hợp với thực tiễn Tuy nhiên, việc quản lý và thực hiện các điều chỉnh này gặp khó khăn do thiếu nguồn lực về kinh phí và cán bộ chuyên môn tại các xã, thị trấn, dẫn đến tiến độ thực hiện chậm hơn so với yêu cầu thực tiễn.
III LẬP KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT