ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TRẦN XUÂN ĐÍCH XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU PHỤC VỤ VIỆC QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HIỆN NAY
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN XUÂN ĐÍCH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU PHỤC VỤ VIỆC QUẢN LÝ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ HIỆN NAY
( Nghiên cứu trường hợp trên địa bàn Thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Ngọc Thạch
Hà Nội, 2011
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 11
4 Mục tiêu nghiên cứu 11
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
6 Vấn đề nghiên cứu 12
7 Giả thuyết nghiên cứu 12
8 Phương pháp nghiên cứu 13
9 Kết cấu của Luận văn 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU VỀ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 15
1.1 Khái quát về các tổ chức khoa học và công nghệ 15
1.1.1 Khái niệm và đặc diểm về tổ chức KH&CN 15
1.1.2 Vị trí, vai trò các tổ chức khoa học và công nghệ 17
1.2 Các lý thuyết về cơ sở dữ liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu các tổ chức khoa học và công nghệ 21
1.2.1 Các lý thuyết về cơ sở dữ liệu 21
1.2.2 Cơ sở lý luận về xây dựng cơ sở dữ liệu các tổ chức khoa học và công nghệ 23 Dữ liệu về một tổ chức KH&CN 23
Dữ liệu phục vụ cơ quan quản lý 30
1.2.3 Cơ sở pháp lý của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ 31
1.3 Một số thành tựu quốc tế về công tác thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) 33
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU ĐIỂM TẠI VIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ) 36
2.1 Thực trạng công tác thống kê KH&CN ở nước ta hiện nay 36
2.1.1 Hệ thống chỉ tiêu thống kê (HTCTTK) ngành KH&CN 36
2.1.2 Hiện trạng công tác cung cấp các chỉ tiêu thống kê 37
2.2 Hiện trạng công tác xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ở Việt Nam 39
2.3 Thực trạng công tác xây dựng cơ sở dữ liệu tại Viện ứng dụng Công nghệ 42
42
2.3.2 Thực trạng công tác xây dựng CSDL trong Viện Ứng dụng công nghệ 44
2.4 Một số kết quả ban đầu xây dựng hệ thống cổng thông tin điện tử phục vụ cho hoạt động quản lý KH&CN quả khảo sát 47
2.4.1 Trang thông tin điện tử 48
2.4.2 Chương trình quản lý khoa học 49
2.4.3 Chương trình báo cáo tổng hợp số liệu thống kê về tình hình hoạt động KH&CN tại các địa phương 56
2.4.3.4 Thiết kế giao diện: 59
2.5 Đánh giá chung về công tác xây dựng CSDL 61
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU QUẢN LÝ TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 63
3.1 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế duy trì, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu về hoạt động KH&CN tại các Bộ, ngành, địa phương 64
3.1.1 Xây dựng Quy chế quản lý hồ sơ điện tử về chuyên gia trong các lĩnh vực KH&CN 64
Trang 33.1.2 Xây dựng tiêu chuẩn chức danh và chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý cơ sở dữ liệu để có cơ sở đào tạo, tuyển dụng và bố trí nhân lực làm công tác xây dựng cơ sở dữ liệu 64 3.1.3 Chuẩn hóa các tiêu chí thông tin đầu vào và đầu ra trong cơ sở dữ liệu 65
3.2 Đổi mới công nghệ phục vụ cho việc xây dựng phần mềm quản lý hoạt động KH&CN thống nhất trong toàn quốc 66
3.2.1 Về xây dựng các phần mềm quản lý 66 3.2.2 Về trang thiết bị công nghệ thông tin 67 3.2.3 Về nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động khoa học và công nghệ 68 3.2.4 Về nguồn tài chính cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động khoa học
và công nghệ 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69 PHỤ LỤC 77
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trịnh Ngọc Thạch – Trưởng ban Tổ chức cán bộ - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi có thể hoàn thành Luận văn này
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS Vũ Cao Đàm và các Thầy- Cô tại Khoa Khoa học Quản lý - Đại học KHXHNV đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức, phương pháp luận, kỹ năng, kinh nghiệm… trong suốt thời gian học tập tại Khoa
Xin trân trọng cảm ơn Viện Ứng dụng Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ và một số Viện nghiên cứu khác đã hợp tác, tiếp đón, cung cấp thông tin số liệu và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình điều tra, tham quan, phỏng vấn phục vụ nghiên cứu
Mặc dù đã nỗ lực và cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian và năng lực của bản thân còn hạn chế nên Luận văn còn những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của Thầy – Cô để Luận văn có thể hoàn thiện hơn nữa
Xin trân trọng cảm ơn./
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6kỳ hội nhập Có thể nhận định rằng hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN cũng như nguồn nhân lực KH&CN chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới, hệ thống các văn bản pháp quy về KH&CN còn nhiều bất cập, chưa có đủ các chính sách hữu hiệu để huy động mọi nguồn lực trong xã hội đầu từ cho KH&CN, thiếu cơ chế chính sách nhằm đẩy mạnh việc gắn kết nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh
Để có thể kịp thời nắm bắt thông tin về tình hình hoạt động trong các
tổ chức KH&CN của trung ương cũng như địa phương để cung cấp kịp thời thông tin phục vụ yêu cầu của cho công tác lãnh đạo, quản lý, hoạch định chính sách đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở dữ liệu về tình hình hoạt động của các tổ chức KH&CN trong đó tập trung vào các yếu tố: nhân lực, vật lực, tài lực, việc triển khai các kết quả nghiên cứu của tổ chức KH&CN, những đóp góp của hoạt động đó đối với việc phát triển KTXH tại các Bộ, ngành, địa phương,
Mặt khác với việc hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) sẽ góp phần tăng cường năng lực và đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường sự hợp tác, gắn bó trong công tác tổ chức hệ thống tổ chức KH&CN qua đó đánh giá lại một cách toàn diện hoạt động của các tổ
Trang 7chức KH&CN trên phạm vi cả nước từ trung ương đến địa phương, phân loại được các tổ chức hoạt động có hiệu quả hoặc yếu kém; nhận dạng được chất lượng và số lượng nguồn nhân lực KH&CN, từ đó đề ra các những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn để tạo ra bước chuyển biến mới về chất trong hoạt động KH&CN nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi phát triển kinh tế -
xã hội và hội nhập quốc tế về KH&CN
Tiến hành điều tra nghiên cứu tì
giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng CSDL đóng góp thêm những phương án mới, giải pháp mới, cùng những luận cứ thuyết phục để các Tổ chức KH&CN trong toàn quốc cũng như cơ quan quản lý tham khảo áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng CSDL các tổ chức KH&CN nói riêng và quản lý KH&CN nói chung
- Góp phần thúc đẩy công tác ứng dụng CNTT trong việc xây dựng
cơ sở dữ liệu và quản lý các tổ chức KH&CN
- Cung cấp thông tin, số liệu, giải pháp cho các cơ quan quản lý
KH&CN nói riêng và cho hoạt động quản lý, xây dựng cơ chế chính sách nói chung
- Sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu về xây dựng và quản lý
cơ sở dữ liệu các tổ chức KH&CN
Trang 82 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong những năm gần đây, CNTT có những ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống, xã hội, khoa học, kỹ thuật đặc biệt tại các nước phát triển Với tốc độ phát triển “bùng nổ” Internet toàn cầu và sự tiến bộ vượt bậc của công nghiệp CNTT đã tác động mạnh mẽ tới giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tạo ra rất nhiều cơ hội phát triển cũng như nhiều thách thức mới Hầu hết các tổ chức KH&CN tại các nước phát triển đều xây dựng hệ thống mạng máy tính dùng riêng và ứng dụng nhiều hệ thống phần mềm trong quản lý …
Có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo được tổ chức với chủ đề nâng cao năng lực ứng dụng và phát triển CNTT trong nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, các tài liệu toàn văn được công bố trên mạng hoặc công bố tại Việt Nam không nhiều Sau đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan:
- Đánh giá CNTT trong công tác chăm sóc sức khỏe – Rào cản và
thách thức (Evaluating information technology in health care: barriers
and challenges) - Heather Heathfield, Giảng viên cao cấp, Khoa Tin học Y tế, Viện Y tế Công cộng, Đại học Cambridge, Anh Quốc
- CNTT và Truyền thông trong đào tạo y học (Communication and
information technology in medical education) - J P Ward và cộng sự
- Điều tra ứng dụng CNTT y tế tại Trung Quốc (A survey on
application of Health information technologies in Chinese) - Xiang Dongping và cộng sự, Khoa Kỹ thuật, Đại học Tsinghua, Bắc Kinh, Trung Quốc
- CNTT trong đào tạo y học - Hiện tại và tương lai (Information
technology in medical education: current and future applications) - G
A Mooney, Bộ môn Đào tạo Y học, Khoa Y học, Đại học Liverpool, Anh Quốc
Trang 9- Ứng dụng CNTT trong giảng dạy dịch tễ học và y tế cộng đồng (The
application of information technology in the teaching of epidemiology and public health) của RD Smith
- CNTT nâng cao đào tạo từ xa và đào tạo truyền thống (Information
technology enhanced learning in distance and conventional education)
- Latchman, H.A và cộng sự
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện nay đã có một số nghiên cứu về xây dựng cơ sở dữ liệu đã và đang được triển khai và sử dung trong công tác quản lý nhà nước thuộc nhiều ngành và lĩnh vực như:
+ Đề tài "Xây dựng cơ sở dữ liệu và chương trình quản lý, khai thác
dữ liệu địa chất công trình khu vực thành phố Bến Tre" do Trung tâm
nghiên cứu công nghệ và thiết bị công nghệ, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện
+ Đề tài: "Nghiên cứu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu pháp luật phục
vụ quản lý nhà nước ngành xây dựng” do Vụ Pháp chế, Bộ Xây dựng thực
hiện
+ Đề tài: "Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu địa lý lớp 10,11 THPT
phục vụ việc soạn giảng cho sinh viên khoa địa lý trong quá trình tập giảng
và thực tập sư phạm” do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thực hiện
+ Đề tài: “Xây dựng cơ sở dữ liệu về bộ máy hành chính Nhà nước
của thành phố Hồ Chí Minh nhằm phục vụ việc hoàn thiện tổ chức quản lý Nhà nước trên địa bàn”
Bên cạnh đó nhiều chương trình dự án đang được triển khai theo Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ như: Trung tâm thông tin dữ liệu điện tử Chính phủ, Trung tâm kết nối, liên thông các hệ thống thông tin ở Trung ương và địa phương, Hệ thống thông tin quản lý văn bản tích hợp trong toàn quốc cho các cơ quan Chính phủ; Mạng thông tin điện tử phục vụ trao đổi thông tin giữa Văn phòng Chính
Trang 10phủ, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Hỗ trợ nhân rộng mô hình ứng dụng công nghệ thông tin điển hình cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cấp quận, huyện; Hệ thống thông tin quản lý các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải; Xây dựng Trung tâm nguồn lực quốc gia về Phần mềm nguồn mở; Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính trên Internet; Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán
bộ, công chức, viên chức; Cơ sở dữ liệu quốc gia kinh tế công nghiệp và thương mại; Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên và môi trường; Cơ sở dữ liệu quốc gia về Biên giới lãnh thổ; Cơ sở dữ liệu quốc gia về các dự án đầu tư; Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp; Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính
Có thể nói trên các lĩnh vực khác nhau tại các Bộ, ngành, địa phương
đã có những nghiên cứu để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý trong từng lĩnh vực
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào để xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ trực tiếp cho công tác quản lý và khai thác thông tin các tổ chức KH&CN trong nước, do đó cần có nghiên cứu về xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vục cho hoạt động công tác quản lý ở tổ chức KH&CN mang tính hệ thống và thống nhất trên phạm vi cả nước là một yêu cầu cấp thiết
CNTT ngày càng phát triển và ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam Thông qua một số dự án đầu tư của chính phủ, một số trường Y - Dược đã triển khai xây dựng hệ thống mạng máy tính nội bộ, kết nối với mạng Internet, ứng dụng các hệ thống phần mềm và đầu tư thiết bị CNTT phục vụ giảng dạy,
học tập
Nhằm ứng dụng CNTT nâng cao hiệu quả giáo dục – đào tạo, có một
số đề tài nghiên cứu ứng dụng CNTT để “cải tiến”, “đổi mới” phương pháp giảng dạy, hoặc “nâng cao hiệu quả công tác quản lý” Những đề tài này coi CNTT như đòn bẩy, công cụ đắc lực nhằm cải tiến, nâng cao hoạt động
Trang 11giảng dạy, nghiên cứu và điều trị tại nhà trường Tuy nhiên, có rất ít đề tài lấy “năng lực CNTT” làm đối tượng nghiên cứu để từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao năng lực CNTT, góp phần đẩy mạnh đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT Chưa thấy có công bố nào về công trình nghiên cứu nâng cao năng lực CNTT trong Giáo dục – Đào tạo Y học Sau đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan:
- Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng CNTT trong quản lý y tế”; Chủ nhiệm
đề tài: Trần Huy Dương; Cấp quản lý: cấp bộ ; Đơn vị quản lý: Viện KH&CN Việt Nam; Năm thực hiện: 2007 - 2008
- Đề tài nghiên cứu: "Ứng dụng CNTT trong quản lý các nhiệm vụ
nghiên cứu khoa học và công nghệ ở các trường đại học" Mã số: B
2002-52-26 Chủ nhiệm: TS Vương Thanh Hương Trung tâm Phát triển Giáo dục, Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục
- Đề tài nghiên cứu “Hệ thống quản lý hoạt động chuyên môn của bệnh
viện” - Trần Văn Lăng - Viện CNTT - Viện KH&CN Việt Nam
- Đề tài nghiên cứu "Nghiên cứu ứng dụng CNTT vào việc đổi mới
phương pháp giảng dạy tại Trường ĐHNN - ĐHQGHN” Mã số:
CB.02.14 Chủ trì: ThS Ngô Thị Thảo, Bộ môn Tin học - Trung tâm Mulltimedia, Trường Đại học Hà Nội
- Tổng điều tra “Việt Nam ICT Index 2008” của Bộ TT&TT nhằm
đánh giá mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT của các Bộ, ngành, các tỉnh, thành phố và các doanh nghiệp; Đồng thời góp phần làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về phát triển và ứng dụng CNTT -TT của Việt Nam
- Hội thảo quốc tế tại Việt Nam: “Nâng cao năng lực công nghệ thông
tin trong các tổ chức Năng suất Quốc gia NPO 2004 Thuộc chương
trình của Tổ chức Năng suất Châu Á - APO nhằm xem xét khả năng
và phạm vi ứng dụng CNTT vào trong hoạt động của các chính phủ
và doanh nghiệp tại các quốc gia thành viên nhằm đạt tới mục tiêu chia sẻ tri thức và kinh nghiệm ứng dụng CNTT
Trang 12- Hội thảo Triển lãm CNTT trong giáo dục và đào tạo ICTE 2004 tại
Hà Nội Chủ đề: “Nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong giảng
dạy”
- Hội thảo Quốc gia về CNTT lần thứ IV 2/2009 với chủ đề “CNTT và
sự nghiệp Giáo dục, Y tế” Với nội dung: xây dựng cơ chế đặc thù,
ứng dụng rộng rãi CNTT-TT để hiện đại hoá ngành giáo dục đào tạo Đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT trong hoạt động đào tạo, hình thành ngân hàng về tài nguyên CNTT dùng chung cho giáo dục và đào tạo Kết nối internet: 100% trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông, 50% trường trung học cơ sở trên toàn quốc Ứng dụng CNTT cho việc đổi mới cách dạy, cách học và ứng dụng trong quản lý giáo dục
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng:
- Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu trong các tổ chức KH&CN
- Giải pháp tăng cường công tác xây dựng cơ sở dữ liệu trong các tổ chức KH&CN
3.2 Phạm vi:
- Địa bàn nghiên cứu: Một số tổ chức KH&CN, nghiên cứu trường hợp Viện Ứng dụng công nghệ và một số Viện nghiên cứu khác trên địa bàn
Hà Nội
- Nghiên cứu trong giai đoạn 2007-2010
4 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là:
Nâng cao hiệu quả hoạt động và công tác quản lý các tổ chức KH&CN ở nước ta
Trang 135 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Về Lý thuyết: Nghiên cứu và phân tích tài liệu nhằm làm sáng tỏ cơ sở
lý luận về tổ chức KH&CN, về cơ sở dữ liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu trong các tổ chức KH&CN
- Về Thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng cơ sở dữ liệu trong các tổ chức KH&CN ở nước ta trong giai đoạn 2007-2010, nghiên cứu trường hợp là Viện Ứng dụng công nghệ và một số viện khác trên địa bàn
+ Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng cơ sở dữ liệu để quản lý có hiệu quả hoạt động trong các tổ chức KH&CN
6 Vấn đề nghiên cứu
6.1 Tại sao cần xây dựng cơ sở dữ liệu trong các tổ chức KH&CN? 6.2 Thực trạng công tác xây dựng CSDL tại các tổ chức KH&CN ở nước ta hiện nay như thế nào?
6.3 Cần có những giải pháp nào để tăng cường công tác xây dựng cơ
sở dữ liệu trong các tổ chức KH&CN?
7 Giả thuyết nghiên cứu
7.1 Việc xây dựng CSDL trong các tổ chức KH&CN sẽ giúp cho quản lý một cách thống nhất, có hiệu quả phục vụ kịp thời trong công tác quản lý
7.2 Công tác xây dựng CSDL tại các tổ chức KH&CN ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế: thiếu cơ chế chính sách quản lý, thiếu nguồn lực: cơ
điều hành còn hạn chế; thiếu các điều kiện đảm bảo duy trì hoạt động
Trang 14- Đổi mới công nghệ phục vụ cho việc xây dựng phần mềm quản lý hoạt động KH&CN thống nhất trong toàn quốc
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phân tích, tổng hợp tài liệu trong nước, thế giưới liên quan công tác xây dựng cơ sở dữ liệu các tổ chức KH&CN
Nguồn tài liệu: văn bản, sách, tạp chí, đề tài nghiên cứu, luận văn sau đại học, tài liệu trên mạng Internet… có liên quan đến nội dung nghiên cứu
8.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Sử dụng phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi nhằm thu thập thông tin số liệu thực trạng công tác xây dựng cơ sở dữ liệu tại Viện Ứ
xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu các tổ chức KH&CN Tiến hành phỏng vấn sâu (Lãnh đạo Viện)
8.3 Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến chuyên gia để xây dựng kế hoạch nghiên cứu, xây dựng
Bộ phiếu điều tra; và lấy ý kiến xây dựng các giải pháp nghiên cứu của đề tài
Đối tượng: Lãnh đạo Viện, các Vụ Chức năng, cán bộ phụ trách việc xây dựng cơ sở dữ liệu và một số chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý KH&CN
8.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu điều tra, nghiên cứu được xử lý theo các phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm thống kê SPSS kết hợp với một số hàm thống kê của phần mềm Ms Excel
Trang 159 Kết cấu của Luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng và khai thác hệ thống cơ
Trang 16PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU VỀ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 Khái quát về các tổ chức khoa học và công nghệ
1.1.1 Khái niệm và đặc diểm về tổ chức KH&CN
1.1.1.1 Khái niệm về tổ chức KH&CN: Hiện nay có nhiều khái niệm
về tổ chức như :
Tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm thực hiện một mục tiêu chung mà một người hay một nhóm người không thực hiện được
Tổ chức là một thực thể xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp để thực hiện mục tiêu chung, có 3 đặc trưng cơ bản ngang nhau:
+ Tổ chức được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng
+ Có cấu trúc phân công lao động
+ Có một ban quản lý chịu trách nhiệm đảm bảo sự điều phối và thực
hiện mục tiêu của tổ chức Như vậy: Tổ chức khoa học và công nghệ
(KH&CN) là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật KH&CN và pháp luật có liên quan để tiến hành hoạt động KH&CN
1.1.1.2 Đặc điểm của tổ chức KH&CN
a.Mục tiêu của hoạt động KH&CN
Mục tiêu của hoạt động KH&CN là xây dựng nền KH&CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới, góp phần phát triển nhanh, bền vững kinh tế xã
Trang 17hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh1
b.Nhiệm vụ của hoạt động KH&CN:
Nhiệm vụ chủ yếu của hoạt dộng KH&CN là: Nghiên cứu những vấn
đề lý luận và vận dụng vào thực tế khoa học về xã hội và nhân văn để xây dựng luận cứu khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, luật pháp và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần làm giàu kho tàng văn hóa khoa học của thế giới; Nâng cao năng lực KH&CN để làm chủ và sáng tạo công nghệ; Tiếp thu các thành tựu KH&CN và thực hiện chuyển giao công nghệ tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao
c Nguyên tắc hoạt động KH&CN
Hoạt động KH&CN phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh
Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về KH&CN của đất nước, tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới phù hợp với thực tiễn của đất nước
Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn, gắn khoa học với công nghệ và công nghệ với giáo dục và đào tạo
Phát huy khả năng lao động và sáng tạo của mọi tổ chức cá nhân Trung thực, khách quan đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ
d.Phân loại tổ chức KH&CN
Có nhiều kiểu phân loại tổ chức KH&CN khác nhau tùy theo tiêu chí, mục tiêu đã định Một số cách phân loại chủ yếu như sau:
+ Phân loại theo lĩnh vực KH&CN: Theo lĩnh vực KH&CN người ta chia thành 5 lĩnh vực:
Trang 18- Khoa học xã hội và nhân văn
- Khoa học nông nghiệp
- Khoa học y - dược + Phân loại theo hoạt động KH&CN
Theo các hoạt động KH&CN người ta chia thành 3 loại tổ chức KH&CN:
- Nghiên cứu triển khai
- Chuyển giao công nghệ
- Dịch vụ khoa học và công nghệ + Phân loại theo chủ sở hữu: Theo chủ sở hữu, người ta chia tổ chức KH&CN thành các loại:
- Tổ chức KH&CN thuộc khu vực nhà nước
- Tổ chức KH&CN thuộc khu vực tư nhân
- Tổ chức KH&CN thuộc khu vực tập thể
- Tổ chức KH&CN thuộc khu vực đa quốc gia + Phân loại theo Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam: Điều 9, Luật KH&CN qui định, các tổ chức khoa học và công nghệ bao gồm:
- Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển)
- Trường đại học, học viện, trường cao đẳng (sau đây gọi chung là trường đại học)
- Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ
1.1.2 Vị trí, vai trò các tổ chức khoa học và công nghệ
Kinh nghiệm thế giới cho thấy việc đánh giá đúng vị trí và vai trò và tầm quan trọng của KH&CN sẽ góp phần quan trọng vào trong quá trình phát triển KT-XH của mỗi quốc gia, điều này đã được Tổng bí thư, Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào khẳng định trong bài phát
biểu trước Quốc hội tại kỳ họp thứ 10, khóa XI như sau: “Qua thực tiễn
chúng ta đã nhận thức rằng, muốn làm KT-XH Trung Quốc phát triển vừa
Trang 19nhanh vừa tốt, cần phải thực hiện tốt bốn nội dung Nội dung thứ nhất là cần phải kiên trì lấy quan niệm về phát triển khoa học để chỉ đạo toàn cục phát triển KT-XH, đưa quan niệm về phát triển khoa học xuyên suốt cả quá trình phát triển KT-XH và thực hiện vào mọi khâu phát triển KT-XH ”
Chính vì nhận thức được vai trò của KH&CN, hiện nay Trung Quốc đang
triển khai thực hiện chiến lược: “sử dụng KH&CN cộng với giáo dục để
chấn hưng đất nước”
Ở Việt Nam Khoa học và Công nghệ đã được xác định là nền tảng, động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước Đảng và Nhà nước ta đó sớm xác định vai trò then chốt của cách mạng khoa học và kỹ thuật Trong thời gian qua, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, nhiều văn bản quan trọng về định hướng chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển KH&CN đã được ban hành: Nghị quyết hội nghị Trung ương 2 Khóa VIII (1996); kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX (2002); Luật KH&CN (2000); Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm
2010 (2003); Đề án đổi mới cơ chế quản lý KH&CN (2004), Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và nhiều chính sách cụ thể khác về xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và đặc biệt sự cố gắng của đội ngũ cán bộ KH&CN, hoạt động KH&CN nói chung và hoạt động KH&CN của các tổ chức NC&PT nói riêng đã có bước chuyển biến, đạt được một số tiến bộ và kết quả nhất định, đúng góp tích cực vào sự phát triển KT-XH, bảo đảm an ninh, quốc phòng
Hệ thống tổ chức NC&PT Việt Nam được hình thành và phát triển
trên cả 5 lĩnh vực khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học
nông nghiệp, khoa học y - dược, khoa học xã hội và nhân văn), đã tạo ra
những sản phẩm khoa học góp phần quan trọng phát triển kinh tế và nâng cao trình độ công nghệ của xã hội, cụ thể là:
Trang 20Đã xây dựng các luận cứ khoa học đảm bảo cho các quyết định có tính chất chiến lược của Đảng và Nhà nước đã và đang tạo ra thế ổn định và phát triển về chính trị và kinh tế của đất nước, đưa đất nước vượt qua những thử thách cực kỳ khó khăn, đồng thời những thành tựu KH&CN đạt được góp phần quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo
vệ tổ quốc, tạo cho đất nước một vị thế trên trường quốc tế
Kết quả của công tác điều tra cơ bản đã từng bước tạo được bức tranh toàn cảnh về các điểm tài nguyên và các dạng tài nguyên của đất nước là cơ
sở dữ liệu khoa học giúp Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển
KT-XH, đồng thời có kế hoạch chuẩn bị các công nghệ khai thác, chế biến và sử dụng trong cơ chế thị trường
Tạo ra khả năng an toàn về lương thực quốc gia, đảm bảo đủ lương thực tiêu dùng trong nước và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu Vấn đề lương thực của đất nước được giải quyết một cách cơ bản, góp phần rất quan trọng trong ổn định xã hội, đồng thời tạo thế đứng của Việt Nam trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới
Nhiều sản phẩm được tạo ra từ nguyên liệu của Việt Nam có khả năng thay thế hàng nhập khẩu và có khả năng xuất khẩu Đây là một lợi thế của Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường cần được tập trung đầu tư
để hoàn thiện về chất lượng đủ sức cạnh tranh trên thị trường
Khối lượng tri thức được tạo ra từ hệ thống các tổ chức KH&CN góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao mặt bằng dân trí và trình độ khoa học cho toàn thể dân tộc Việt Nam
Chúng ta nhận thấy rằng, có những tác động khác nhau của nhà nước vào tổ chức KH&CN: tác động thông qua các công cụ quản lý vĩ mô; can thiệp ở nhiều mức độ tuỳ thuộc theo ý đồ ra đời tổ chức NC&PT nhà nước Những phân biệt này sẽ là cơ sở tiếp tục tiến hành phân tích vấn đề quản lý nhà nước đối với các tổ chức KH&CN
Tuy nhiên, vị trí, vai trò của các tổ chức KH&CN ở các cấp và cơ quan quản lý khác nhau là khác nhau
Trang 21Tổ chức KH&CN cấp quốc gia được thành lập chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận
cứ khoa học cho việc hoạch định ra đường lối, chính sách, pháp luật, tạo ra các kết quả KH&CN mới có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài về KH&CN Tổ chức KH&CN cấp quốc gia là những đơn vị hành chính sự nghiệp nên tổ chức cũng mang tính hành chính Trong tổ chức KH&CN cấp quốc gia có các tổ chức KH&CN trực thuộc, thường được thành lập theo chuyên ngành khoa học Nước ta hiện có 2 tổ chức KH&CN cấp quốc gia đó
là Viện KH&CN Việt Nam và Viện khoa học xã hội Việt Nam Xuất phát từ nhiệm vụ nêu trên, vai trò và chức năng của tổ chức KH&CN cấp quốc gia là:
Là thành phần chủ đạo quyết định việc xây dựng và phát triển nền KH&CN của đất nước, thực hiện vai trò hạt nhân trong hợp tác nghiên cứu Trong mỗi lĩnh vực khoa học, các tổ chức này đều thể hiện vai trò nòng cốt quyết định sự phát triển về trình độ khoa học, đồng thời chủ trì nghiên cứu các chương trình KH&CN trọng điểm quốc gia
Tạo ra tiến bộ công nghệ thực hiện các chương trình nghiên cứu có mục tiêu tương đối dài hạn và phát triển công nghệ nhằm tạo ra sự đổi mới hướng vào tiến bộ công nghệ và đi đầu những đổi mới này trong phạm vi toàn quốc
Thường xuyên nâng cao cơ sở hạ tầng KH&CN chú trọng nghiên cứu
cơ bản làm cơ sở thúc đẩy phát triển công nghệ đáp ứng nhu cầu vận hành thường nhật của nền kinh tế (đặc biệt cần thiết với các nước đang trong giai đoạn công nghiệp hóa như Việt Nam hiện nay)
Tổ chức KH&CN của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
tổ chức KH&CN của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là tổ chức KH&CN cấp bộ) được lập ra chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ mục tiêu phát triển KT-XH của ngành và địa phương, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN
Trang 22Tổ chức KH&CN khác là loại hình tổ chức KH&CN thuộc các doanh nghiệp, các trường đại học, viện nghiên cứu, hoặc các tổ chức, cá nhân có nhu cầu chủ yếu thực hiện các hoạt động KH&CN theo mục tiêu, nhiệm vụ
Tạo ra nguồn tri thức khoa học gúp phần nâng cao mặt bằng về trình
độ khoa học và trình độ dân trí cho cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo ra khả năng làm chủ vận mệnh của đất nước và tiến tới hội nhập với khu vực
Nâng cao khả năng làm chủ và tiếp thu công nghệ mới
Tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa góp phần tăng thu nhập cho xã hội
và cải thiện điều kiện sống
1.2 Các lý thuyết về cơ sở dữ liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu các tổ chức khoa học và công nghệ
1.2.1 Các lý thuyết về cơ sở dữ liệu
1.2.1.1 Cơ sở dữ liệu (viết tắt CSDL; tiếng Anh là database):
Công nghệ thông tin (CNTT), tiếng Anh là viết tắt là IT (Information Technology) Trước đây người ta thường sử dụng thuật ngữ Tin học (Infomatics), sau đó là CNTT (IT), và cho đến thời điểm hiện nay, có thêm thuật ngữ CNTT – TT (ICT) Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn này, sử dụng thuật ngữ CNTT, có một số cách hiểu và định nghĩa về CNTT như sau:
Trang 23“CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ ngành khoa học và công nghệ liên quan
đến thông tin và quá trình xử lý thông tin, bao gồm phương pháp khoa học, phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là máy tính, mạng truyền thông cùng với hệ thống nội dung thông tin điện tử nhằm tổ chức, lưu trữ, khai thác và sử dụng hiệu các nguồn thông tin trong hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người”, “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”2
Qua các định nghĩa nêu trên cho thấy, với các mô tả từ ngữ khác nhau nhưng về cơ bản đều coi CNTT bao gồm các “phương pháp khoa học” và các “phương tiện thiết bị hiện đại thuộc lĩnh vực máy tính, truyền thông” dùng để “thu thập, lưu trữ, trao đổi, xử lý thông tin ” Trong luận văn này
sử dụng định nghĩa CNTT theo Luật CNTT 2006
Cơ sở dữ liệu (CSDL) được hiểu theo cách định nghĩa kiểu kĩ thuật thì nó là một tập hợp thông tin có cấu trúc, tuy nhiên, thuật ngữ này thường dùng trong công nghệ thông tin và nó thường được hiểu rõ hơn dưới dạng một tập hợp liên kết các dữ liệu, thường đủ lớn để lưu trên một thiết bị lưu trữ như đĩa hay băng, dữ liệu này được duy trì dưới dạng một tập hợp các tập tin trong hệ điều hành hay được lưu trữ trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu
Một số ưu diểm mà CSDL mang lại gồm:
Giảm sự trùng lặp thông tin xuống mức thấp nhất, do đó đảm bảo thông tin có tính nhất quán và toàn vẹn dữ liệu
Đảm bảo dữ liệu có thẻ được truy suất theo nhiều cách khác nhau - Nhiều người có thể sủ dụng một cơ sở dữ liệu
Những vấn đề mà CSDL cần phải giải quyết
Tính chủ quyền của dữ liệu
Thể hiện ở phương diện an toàn dữ liệu
2
Luật Công nghệ thông tin
Trang 24Khả năng biểu diễn mỗi liên hệ ngữ nghĩa của dữ liệu và tính chính xác của dữ liệu
Người khai thác cơ sở dữ liệu phải cập nhật cho CSDL những thông tin mới nhất
Tính bảo mật và quyền khai thác thông tin của người sử dung: Do ưu điểm CSDL có thể cho nhiều người khai thác đồng thời nên cần phải có một cơ chết bảo mật phân quyền khai thác CSDL Các hệ điều hành nhiều người sử dụng hay cục bộ đều cung cấp cơ chế này
Tranh chấp dữ liệu: Khi nhiều người cùng truy nhập CSDL với các mục đích khác nhau rất có thể sẽ xảy ra hiện tượng tranh chấp dữ liệu
Cần có cơ chết ưu tiên khi truy cập CSDL Ví dụ: admin luôn có thể truy cập cơ sở dữ liệu
Cấp quyền ưu tiên cho từng người khai thác
Đảm bảo an toàn dữ liệu khi có sự cố
Khi CSDL nhiều và được quản lý tập trung thì khả năng rủi ro mất dữ liệu rất cao Các nguyên nhân chính là mất điện đột ngột hoặc hỏng thiết bị lưu trữ
1.2.2 Cơ sở lý luận về xây dựng cơ sở dữ liệu các tổ chức khoa học
và công nghệ
Dữ liệu về một tổ chức KH&CN
Để có thể hình thành cơ sở dữ liệu về các tổ chức KH&CN nói chung
ta có thể hình dung một cách tổng quát trong Hình 1 dưới đây về các chỉ số
liên quan đến quá trình KH&CN
Trang 25Hình 1 Tổng quan các chỉ số đánh giá KH&CN3
1) Các chỉ số đầu vào (nguồn lực KH&CN)
Nhân lực KH&CN
Nguồn nhân lực KH&CN là yếu tố quan trọng nhất trong các nguồn lực KH&CN, vì nhân lực KH&CN là người triển khai, là chủ thể sáng tạo KH&CN, không có các nhà khoa học hết lòng vì sự nghiệp lao động sáng tạo thì cũng không có những thành tựu KH&CN Đồng thời, tầm quan trọng của nhân lực KH&CN còn xuất phát từ vai trò quan trọng của KH&CN trong sản xuất và đời sống
Trong ba yếu tố của lực lượng sản xuất: người lao động, công cụ lao động và đối tượng lao động, thì người lao động là yếu tố năng động nhất Ngày nay, việc nâng cao hiệu quả sản xuất chủ yếu dựa vào việc nâng cao trình độ văn hóa và trình độ tri thức chuyên ngành Địa vị của người lao động trí óc nắm vững tri thức văn hóa, khoa học ngày càng quan trọng Đó
là xu thế tất yếu của sự phát triển xã hội Xem xét về mặt công cụ sản xuất: sản xuất vật chất dựa vào tiến bộ KH&CN mới có thể thực hiện việc cải tiến
và chế tạo công cụ sản xuất Lịch sử phát triển KH&CN đã nêu rõ, mỗi phát minh sáng tạo ra các máy móc đều là kết tinh lao động sáng tạo của nhân lực KH&CN Xem xét từ góc độ tư liệu sản xuất: tài nguyên thiên nhiên chỉ
Chỉ số quá trình/
đầu ra (khoa học)
Hợp tác KH&CN
Sản phẩm/qui trình mới Hợp đồng CGCN Chỉ số đầu ra (kinh tế và công nghệ)
Trang 26có thể trở thành đối tượng lao động thông qua sự phát hiện của con người, dựa vào tri thức KH&CN để ứng dụng nó vào sản xuất Nhân lực KH&CN chính là người triển khai và đại biểu của lực lượng sản xuất mới
Nhân lực KH&CN là người phát minh sáng tạo, truyền bá và ứng dụng rộng rãi công nghệ mới Lịch sử phát triển KH&CN trên thế giới đã nói rõ, số lượng và chất lượng của đội ngũ nhân lực KH&CN ở một quốc gia và tỷ lệ tương quan so sánh với các nước trên thế giới có liên quan mật thiết với trình độ và tốc độ phát triển KH&CN của nước đó và địa vị trên thế giới Do đó, yếu tố con người phải được coi là trung tâm, con người vừa là chủ thể sáng tạo KH&CN vừa là đối tượng của nghiên cứu KH&CN Con người ở đây là người lao động có đầy đủ tố chất văn hóa, nắm được KH&CN và có tính sáng tạo cao
Có 2 cách tiếp cận phổ biến về nhân lực KH&CN:
Thứ nhất, nhân lực KH&CN được mô tả trong cuốn sổ tay của OECD
năm 1995 với tên gọi “OECD’s Canberra Manual” và đã được sử dụng phổ
biến trong các quốc gia cũng như các tài liệu nghiên cứu Theo đó, nhân lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây (OECD, 1995: §49):
- Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN4
- Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương
Trên cở sở này, cách hiểu về nhân lực KH&CN được diễn giải gồm những người: i) Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng và làm việc trong một ngành KH&CN; ii) Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; iii) Chưa tốt nghiệp ĐH-CĐ, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương
Thứ hai, theo UNESCO thì nhân lực KH&CN được xác định như
“…tổng số những người tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN và các
4
Tốt nghiệp CĐ, ĐH ở đây tương đương với hoàn thành giáo dục mức độ thứ ba trong một lĩnh vực KH&CN (loại 5, 6 và 7 theo phân loại giáo dục quốc tế - ISCED)
Trang 27dịch vụ KH&CN trong một tổ chức hoặc một đơn vị Nhóm này gồm cả những nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực hỗ trợ…” (i) Nhà khoa học và kỹ sư đề cập đến những người sử dụng năng lực của họ để tạo
ra tri thức khoa học, các nguyên lý kỹ thuật và công nghệ, có nghĩa là những người được đào tạo về KH&CN tham gia vào công việc chuyên môn về các hoạt động KH&CN, những người quản lý cấp cao và những người hướng dẫn thực hiện các hoạt động KH&CN (trong trường hợp các hoạt động NC&TK khái niệm này đồng nghĩa với khái niệm nghiên cứu viên và trợ lý nghiên cứu viên hoạt động từ các lĩnh vực khoa học tự nhiên đến các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn) (ii) Kỹ thuật viên đề cập đến những người tham gia vào các hoạt động KH&CN, những người đã qua đào tạo nghề hoặc đào tạo kỹ thuật trong một ngành tri thức hoặc công nghệ nhất định (iii) nhân lực hỗ trợ đề cập đến những người mà công việc của họ trực tiếp liên quan đến việc thực hiện các hoạt động KH&CN, có nghĩa là các cán bộ hành chính, thư ký, cán bộ có kỹ năng, có ít kỹ năng và chưa có kỹ năng trong các nghề khác nhau và tất cả các cán bộ hỗ trợ khác
Tài chính cho hoạt động KH&CN (tài lực)
Tài chính là một trong những điều kiện cơ bản để phát triển KH&CN Việc tuân theo quy luật phát triển KH&CN và quy luật phát triển kinh tế để tăng cường quản lý có hiệu quả đối với tài chính KH&CN, phát huy đầy đủ tác dụng của nó là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Hoạt động KH&CN vừa có tính sáng tạo, vừa có tính kinh tế Do vậy
nó chịu sự chi phối của quy luật phát triển KH&CN và quy luật phát triển kinh tế cơ bản Căn cứ vào đặc điểm các hoạt động KH&CN, thông qua sự chi phối hợp lý đối với kinh phí KH&CN mới có thể giảm tới mức chi tiêu hợp lý, đạt hiệu quả tốt nhất và có thể tăng nhanh tốc độ phát triển KH&CN
Đầu tư cho KH&CN là một quá trình phức tạp bao gồm: xác định mục tiêu, phương hướng, tạo nguồn vốn, phân bổ và cân đối vốn, thực hiện cấp phát và quản lý chi tiêu
Trang 28Đầu tư cho KH&CN không thể tách rời khỏi môi trường KT-XH Sự phát triển KT-XH trong cơ chế thị trường và xu thế hội nhập sẽ tạo môi trường tốt hơn cho hoạt động KH&CN Trong nền kinh tế hàng hóa đòi hỏi mọi sản phẩm phải được không ngừng nâng cao chất lượng và hạ giá thành Muốn đạt được điều đó nhà sản xuất phải bỏ vốn đầu tư cho KH&CN, vì vậy có thể nói kinh tế hàng hóa là động lực cho KH&CN phát triển
Đầu tư cho KH&CN là nhiệm vụ của nền kinh tế Sản phẩm của khoa
học là loại hàng hóa đặc biệt Các thành tựu khoa học là của chung, phục vụ
sự phát triển của toàn xã hội Vì vậy xã hội cần đầu tư lại một cách tương xứng cho nhu cầu phát triển khoa học Đầu tư này đòi hỏi lượng vốn lớn và liên tục Chẳng những thế, đầu tư cho khoa học còn có độ rủi ro cao, nhưng hiệu quả của khoa học lại vô cùng to lớn
Ngoài nguồn vốn đầu tư từ NSNN, cần có chính sách kích thích các
cơ sở nghiên cứu triển khai gắn kết với SX-KD và khai thác nguồn kinh phí theo hợp đồng Phải có cơ chế khuyến khích các nhà khoa học và nhà SX-
KD tìm đến nhau Kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng hoạt động nghiên cứu của các tổ chức KH&CN là nghiên cứu những gì sản xuất đặt ra chứ không phải chỉ nghiên cứu cái gì mà nhà khoa học biết Đây là cách khai thác tốt nhất nguồn vốn cho KH&CN phục vụ phát triển KT-XH
Trước yêu cầu phát triển KT-XH, việc đổi mới chính sách KH&CN nói chung và đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho KH&CN nói riêng đòi hỏi phải có những bước chuyển biến mạnh mẽ hơn Đổi mới chính sách tài chính KH&CN theo hướng thương mại hóa các sản phẩm khoa học trên thị trường trong và ngoài nước Thị trường là nơi đánh giá khả năng tồn tại của các sản phẩm khoa học
Theo phương pháp chung của các nước trên thế giới cũng như của UNESCO đầu tư tài chính cho KH&CN được đánh giá theo các chỉ tiêu như:
- Tỷ lệ đầu tư KH&CN/NC&TK so với GDP hoặc GNP;
- Mức đầu tư KH&CN bình quân cho 01 cán bộ KH&CN;
Trang 29- Mức đầu tư KH&CN bình quân trên 01 người dân
Các nguồn vốn đầu tư cho KH&CN gồm:
- Nguồn vốn từ NSNN
- Nguồn vốn từ khu vực SX-KD (ngoài nhà nước)
- Nguồn vốn tự có của các tổ chức và cá nhân ngoài nhà nước
- Nguồn vốn hợp tác với nước ngoài
Nguồn tài chính KH&CN trong các số liệu thống kê là kinh phí hoạt động của các tổ chức KH&CN (bao gồm tất cả các nguồn); kinh phí hoạt động KH&CN của các đơn vị ngoài tổ chức KH&CN và nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN do ngân sách tỉnh chi cho hoạt động KH&CN hằng năm
Cơ sở vật chất-kỹ thuật, trang thiết bị cho hoạt động KH&CN (vật lực)
Cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ hoạt động KH&CN là một trong những nguồn lực quan trọng và cần thiết để đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong đó thiết bị nghiên cứu
có quan hệ mật thiết với kết quả nghiên cứu khoa học Khoa học kỹ thuật càng phát triển đòi hỏi phương tiện nghiên cứu càng tiên tiến và hiện đại Tuy nhiên, mức độ đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật phụ thuộc vào nguồn lực tài chính, khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật của cán bộ KH&CN và trình
độ phát triển của nền kinh tế
Cơ sở vật chất - kỹ thuật của các tổ chức KH&CN bao gồm: nhà xưởng, phòng thí nghiệm, các trạm trại,… và máy móc, thiết bị phục vụ cho việc nghiên cứu, triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN của đơn vị
Việc thu thập các thông tin về cơ sở vật chất - kỹ thuật của các tổ chức KH&CN thường được thống kê thông qua chỉ tiêu “Giá trị TSCĐ” và chia thành 03 nhóm gồm: nhà xưởng, máy móc thiết bị và TSCĐ khác để thuận tiện trong việc tổng hợp, đánh giá và so sánh mức độ đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật của các tổ chức KH&CN qua các năm Ngoài ra còn thu thập
số liệu về tình hình đầu tư cơ sở vật chất-kỹ thuật của cơ quan (theo nguồn đầu tư)
Trang 30Thông tin cho hoạt động KH&CN (tin lực)
Hoạt động thông tin KH&CN là một dạng lao động khoa học được hình thành có tổ chức nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của NC&TK và ĐMCN và nâng cao chất lượng của các quyết định quản lý
Ngày nay, thông tin được xem là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống
xã hội, là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu giữa các quốc gia, dân tộc Thông tin KH&CN cung cấp tri thức cho công chúng, là nguồn lực phát triển KT-XH
Thông tin KH&CN ở nước ta trong thời kỳ CNH-HĐH là cơ sở hoạch định các chiến lược, chính sách, kế hoạch dài hạn, trung hạn về phát triển KT-XH nói chung và phát triển KH&CN nói riêng Sự bùng nổ về nhu cầu thông tin, khả năng truy cập các nguồn thông tin càng được mở rộng đòi hỏi phải có các công cụ và biện pháp đáp ứng nhu cầu thông tin một cách hiệu quả nhất Mặt khác, xu hướng toàn cầu hóa đòi hỏi chất lượng thông tin đáp ứng ở trình độ quốc tế đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin cần cung cấp
Những dịch vụ thông tin KH&CN chủ yếu là: cung cấp tài liệu KH&CN, dịch tài liệu KH&CN, phổ biến thông tin KH&CN, các dịch vụ trao đổi thông tin KH&CN, triển lãm hội chợ KH&CN, dịch vụ tư vấn thông tin KH&CN
2) Các chỉ số đầu ra (kinh tế và công nghệ)
Sản phẩm/quy trình mới
Việc sản xuất các sản phẩm dựa trên công nghệ là thước đo quan trọng về mức độ KH&CN và ứng dụng tiến bộ KH&CN vào trong quá trình SX-KD Thời gian qua, các nước đang phát triển với trình độ KH&CN hạn chế thì các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên, kỹ năng, lao động giá rẻ Chính vì vậy nhiều nước hiện nay đang chuyển chiến lược từ xuất khẩu các sản phẩm dựa trên tài nguyên, lao động với mức độ công nghệ thấp và trung bình sang xuất khẩu các sản phẩm ít dựa vào tài nguyên, kỹ năng lao động mà chủ yếu dựa vào công nghệ cao
Trang 31Ngoài số lượng sách, bài báo khoa học thì chỉ số về mức độ trích dẫn sách, bài báo nói lên chất lượng của các công trình công bố của ấn phẩm đó
Đề tài NCKH Các đối tượng SHCN
Ngoài các ấn phẩm được công bố ở những tạp chí khác nhau thì số lượng những phát minh dựa trên các kết quả nghiên cứu (sáng chế, giải pháp hữu ích,…) cũng là những chỉ tiêu chỉ ra nỗ lực của các đơn vị thực hiện hoạt động KH&CN, CGCN và hợp tác trong hoạt động KH&CN
4) Chỉ số chưa được phân loại (người viết tự đặt)
Hợp tác KH&CN
Hợp tác KH&CN có thể được xếp vào các chỉ số đầu vào (tiềm lực KH&CN) khi sự hợp tác này nhằm tăng cường nhân lực, tài chính cho hoạt động KH&CN, cũng có thể được xếp vào các chỉ số đầu ra khi sự hợp tác này đem đến việc ứng dụng các thành tựu KH&CN tạo ra những sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng KH&CN cao với giá trị gia tăng lớn, thậm chi sự hợp tác này có thể xếp vào các chỉ số quá trình khi các bên cùng tham gia xuất bản các ấn phẩm khoa học hay cùng đứng sở hữu trong các đối tượng đăng ký bảo hộ SHCN
Dữ liệu phục vụ cơ quan quản lý
- Theo địa phương (địa chỉ cơ quan)
- Theo sự phát triển tổ chức KH&CN
- Theo chế độ sở hữu
- Cơ chế hoạt động hiện nay
Trang 32- Chu trình nghiên cứu
- Tổ chức KH&CN phân theo loại hình nghiên cứu
- Tổ chức KH&CN phân theo lĩnh vực hoạt động
1.2.3 Cơ sở pháp lý của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ
Trong thời gian qua nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
đã được ban hành nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào thực tiễn góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, cụ thể là:
- Chỉ thị 58CT/TW ngày 17/10/2000 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
- Quyết định 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước giai
đoạn 2001-2005 với mục tiêu "Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ việc
quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước; đến cuối năm 2005, đưa hệ thống thông tin điện tử vào hoạt động";
- Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010
- Quyết định 137/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Điều hành Tin học hoá Quản lý Hành chính Nhà nước của Chính phủ giai đoạn 2001-2005;
- Thông tư 34/2002/TT/BTC ngày 14/04/2002 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công tác quản lý tài chính thực hiện Đề án tin học hoá quản
lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005;
- Công văn số 3402TC/HCSN ngày 11/04/2003 của Bộ Tài chính về việc đồng ý đề nghị của Ban điều hành đề án 112 – Văn phòng Chính phủ tạm thời áp dụng Quy trình xây dựng và triển khai phần mềm ứng dụng tin học thuộc đề án 112 trong năm 2003 do Ban quản lý và ứng dụng tin học Bộ
Trang 33tài chính phối hợp với Ban điều hành đề án 112 – Văn phòng Chính phủ xây dựng;
- Thông tư số 111 /1998/TT/BTC ngày 03/8/1998 của Bộ Tài chính
về việc hướng dẫn mức chi tạo lập tin điện tử thuộc công nghệ thông tin;
- Thông tư liên tịch số 45/2001/TTLT/BTC-BKHCNMT của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường ngày 18/6/2001 về việc Hướng dẫn một số chế độ chi tiêu đối với các nhiệm vụ khoa học công nghệ;
- Quyết định số 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về việc đầu tư, mua sắm các sản phẩm công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005
- Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006
- Quyết định số 223/2006/QĐ-TTg ngày 04/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi một số điều của Quyết định số 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/7/2006 quy định việc đầu tư, mua sắm các sản phẩm công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Thông tư số 02/2007/TT-BBCVT ngày 02/8/2007 của Bộ Bưu chính Viễn thông Hướng dẫn chi tiết một số nội dung của Quyết định 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/7/2006 và Quyết định số 223/2006/QĐ-TTg
ngày 04/10/2006
- Quyết định số 08/2007/QĐ-BTTTT ngày 24/12/2007 của Bộ Thông tin và Truyền thông Ban hành Danh mục các sản phẩm phần mềm mã nguồn
mở đáp ứng các yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước
- Quyết định Số 1605/QĐ-TTG về việc Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước
giai đoạn 2011 - 2015
Những văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng, đã và đang góp phần hữu hiệu cho việc tăng cường hiệu lực của công tác quản lý nhà nước
Trang 341.3 Một số thành tựu quốc tế về công tác thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL)
Một số kinh nghiệm trong công tác thống kê xây dựng cơ sở dữ liệu của Hàn Quốc:
Một điểm quan trọng trong việc xây dựng cơ sở dũ liệu của Hàn Quốc là xây dựng CSDL về nhân lực R&D và các nhà nghiên cứu, hàng năm Hàn Quốc tiến hành điều tra các hoạt động R&D (MOST: Bộ Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc thực hiện), các số liệu thống kê về nhân lực R&D và các nhà nghiên cứu phù hợp với các tiêu chuẩn của OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế), ví dụ: Số liệu thống kê về nhân lực R&D và nhà nghiên cứu đã được tiến hành trong giai đoạn 1996-2004 tại Hàn Quốc
Hình 2: Xu hướng của số lượng các nhà nghiên cứu (1996-2004)
Theo kết quả thống kê cho thấy số lượng nhân lực R&D và các nhà nghiên cứu tăng liên tục, năm 2004 có 312.314 nhân lực R&D và 209,970 nhà nghiên cứu (tính theo đầu người), tương đương với tỉ lệ 6,7 nhà khoa
Trang 35học/1000 người dân, tỉ lệ này gần tương đương với Đức và Pháp, nhưng thấp hơn Nhật và Mỹ Phân bổ các nhà nghiên cứu thay đổi theo từng lĩnh vực và trình độ giáo dục Hơn 70% người có bằng tiến sĩ làm việc tại trường đại học, trong khi đó chỉ có 15% làm việc tại khu vực doanh nghiệp Mặc dù
số lượng tăng, R&D trong lĩnh vực công nghiệp chỉ được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu có bằng đại học hoặc cao học Số người làm việc trong các ngành liên quan tới KHCN dự đoán sẽ là hơn 2 triệu người vào năm 2014 tỉ
lệ phụ nữ sẽ tăng nhanh hơn so với tỉ lệ tăng của tổng nguồn nhân lực KHCN Số người làm việc trong các ngành liên quan tới KHCN
Trang 36Số lượng người nhận bằng tiến sĩ là 5.595, tăng 5,9% so với 2003, bằng cao học là 67.695, tăng 5.6%, và bằng đại học là 69 892, tăng 3.4% Tỉ lệ các nhà nghiên cứu tính theo trình độ như sau: tiến sĩ 26,5%, cao học 34,2%, đại học 35,3, khác 4,0%
Trang 37CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU ĐIỂM TẠI VIỆN
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ)
2.1 Thực trạng công tác thống kê KH&CN ở nước ta hiện nay
2.1.1 Hệ thống chỉ tiêu thống kê (HTCTTK) ngành KH&CN
Là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình KH&CN chủ yếu của đất nước phục vụ việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển KH&CN từng thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê về KH&CN của các tổ chức, cá nhân, HTCTTK ngành KH&CN bao gồm danh mục chỉ tiêu, những phân tổ chủ yếu và kỳ hạn công bố của các chỉ tiêu hoặc nhóm chỉ tiêu thống kê chủ yếu của ngành Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành KH&CN bao gồm bao gồm
60 chỉ tiêu/nhóm chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động KH&CN và được xếp vào nhóm 12 chỉ tiêu:
1 Nhân lực cho KH&CN: gồm 4 chỉ tiêu;
2 Tài chính cho hoạt động KH&CN: gồm 4 chỉ tiêu;
3 Cơ sở hạ tầng cho KH&CN: gồm 3 chỉ tiêu;
4 Hợp tác quốc tế trong KH&CN: gồm 6 chỉ tiêu
5 Hoạt động NC&PT: gồm 3 chỉ tiêu;
6 Công bố KH&CN: gồm 3 chỉ tiêu;
7 Sở hữu công nghiệp: gồm 4 chỉ tiêu;
8 Năng lực và hoạt động đổi mới công nghệ: gồm 7 chỉ tiêu;
9 Đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ: gồm 3 chỉ tiêu;
10 Tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng: gồm 14 chỉ tiêu;
11 An toàn bức xạ và hạt nhân: gồm 6 chỉ tiêu;
12 Thanh tra KH&CN: gồm 3 chỉ tiêu
Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành KH&CN khi được triển khai sẽ đáp ứng việc cung cấp chỉ tiêu thống kê KH&CN thuộc HTCTTK quốc gia, đáp ứng
Trang 38và tuân thủ các chuẩn mực và thông lệ quốc tế liên quan đến thống kê KH&CN5
2.1.2 Hiện trạng công tác cung cấp các chỉ tiêu thống kê
Chỉ tiêu - Số đơn vị khoa học và công nghệ
Hiện tại, số liệu về số đơn vị KH&CN chưa được thu thập một cách thường xuyên theo chế độ báo cáo thống kê Năm 2008, Vụ Tổ chức cán bộ
có tiến hành điều tra về nhân lực KH&CN, trong đó có xác định số tổ chức KH&CN Tuy nhiên đây là con số điều tra Một đơn vị khác của Bộ KH&CN là Văn phòng Đăng ký hoạt động KH&CN có thể cung cấp số liệu
về số tổ chức đăng ký hoạt động KH&CN song chưa có cơ chế xác định biến động số lượng (do giải thể, sát nhập, chia tách, )
Chỉ tiêu - Số người làm khoa học và công nghệ, số người có học vị, chức danh
Bộ Khoa học và Công nghệ mới thực hiện một cuộc điều tra tổ chức nghiên cứu và phát triển nhưng chưa xây dựng xong chế độ báo cáo thống
kê KH&CN, do vậy chỉ tiêu số người làm KH&CN cũng chưa có tính hệ thống Chỉ tiêu về nhân lực nghiên cứu và phát triển cũng chưa thể được cung cấp vì chưa tiến hành điều tra nghiên cứu và phát triển (theo Quyết định 144/2008/QĐ-TTg, cuộc điều tra này thực hiện vào các năm có tận cùng là 0, 2, 4, 6, 8; như vậy cuộc điều tra đầu tiên sẽ thực hiện vào năm 2012)
Mặt khác, chưa có các nghiên cứu cần thiết để làm cơ sở cho việc tính toán nguồn nhân lực trong lĩnh vực KH&CN tính theo FTE (Full Time Equivalent – Thời gian toàn phần tương đương) Đây là chỉ số rất quan trọng và có ý nghĩa so sánh quốc tế cao
Chỉ tiêu - Số đề tài khoa học được nghiệm thu, số đề tài đã đưa vào ứng dụng
Hiện tại, chỉ cung cấp được số liệu về số đề tài cấp nhà nước do chưa triển khai chế độ báo cáo thống kê nên chưa tổng hợp được ở quy mô toàn
5 Thông tư số 05/2009/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ
Trang 39quốc (cấp Bộ, cấp địa phương và cấp cơ sở) do chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho các cấp
Mặt khác, hiện tại không thể thu thập và cung cấp số liệu về đề tài đã đưa vào ứng dụng vì không có tiêu chí xác định mức độ ứng dụng cũng như
do đặc tính về độ trễ trong tác động của nghiên cứu khoa học
Chỉ tiêu - Số phát minh, sáng chế được cấp bằng bảo hộ
Chỉ tiêu này được thu thập hệ thống đầy đủ Tuy nhiên chỉ có thể cấp
số liệu về số sáng chế được cấp bằng bảo hộ Không có số liệu về phát minh
vì theo Luật Sở hữu trí tuệ, Việt Nam không cấp bằng bảo hộ độc quyền cho phát minh
Chỉ tiêu - Số giải thưởng khoa học và công nghệ quốc gia, quốc tế được trao tặng
Hiện có thể cung cấp chỉ tiêu này đối với giải thưởng khoa học và công nghệ trong nước (Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước)
Chỉ tiêu - Chi cho hoạt động khoa học và công nghệ
Thống kê tài chính cho hoạt động KH&CN chủ yếu dựa vào các số liệu báo cáo kế hoạch, hiện tại có thể cung cấp số liệu báo cáo về Chi ngân sách nhà nước cho KH&CN theo loại chi (chi sự nghiệp khoa học và chi đầu tư phát triển), theo cấp quản lý (trung ương; địa phương)
Những chỉ tiêu về chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D expenditures) chưa được tổng hợp vì chưa thực hiện điều tra thống kê về nghiên cứu và phát triển và chế độ báo cáo thống kê cơ sở và tổng hợp
Chỉ tiêu - Chi cho đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp
Bộ KH&CN không cung cấp chỉ tiêu này Chỉ tiêu này được thu thập từ điều tra doanh nghiệp do Tổng cục thống kê thực hiện Trong thời gian tới
sẽ cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa Bộ KH&CN với Tổng cục thống kê
để thu thập chỉ tiêu này
Chỉ tiêu - Giá trị mua/ bán công nghệ
Hiện nay chưa thể cung cấp chỉ tiêu thống kê này do chưa có chế độ báo cáo thông kê về mua bán công nghệ hiện đang được dự thảo Ngoài ra,
Trang 40hiện tại cũng chưa xác định được rõ ràng nguồn cung cấp dữ liệu về giá trị mua bán công nghệ (Hải quan, ngân hàng hay thông qua điều tra)
Chỉ tiêu - Giá trị mua/ bán bằng phát minh sáng chế
Hiện nay chưa thể cung cấp chỉ tiêu thống kê này do chưa có chế độ báo cáo thông kê về mua bán sáng chế Cục Sở hữu trí tuệ của Bộ KH&CN chỉ cung cấp được số liệu về đăng ký chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và số vụ vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
2.2 Hiện trạng công tác xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ở Việt Nam
Có thể nói, so với tiến trạnh phát triển tự động hóa công tác thông tin
- thư viện nói chung ở nước ta, chủ yếu đang phát triển theo hướng tích hợp mạng lưới, thúc đẩy phát triển các mạng LAN và kết nối thành mạng diện rộng Theo hướng đó, hiện tại trong toàn hệ thống thông tin tư liệu KH&CN quốc gia có 125 CSDL phản ánh một cách cơ bản với thông tin của hệ thống
Xét về lĩnh vực bao quát hầu hết các CSDL đã bao quát hết các lĩnh vực KH&CN các ngành kinh tế quốc dân, cụ thể:
- Các lĩnh vực khoa học cơ bản
- Các lĩnh vực khoa học ứng dụng
- Các ngành kỹ thuật
- Các ngành khoa học xã hội và nhân văn
Đáng lưu ý một số năm gần đây, nhiều cơ quan thông tin tư liệu đã tự mình xây dựng hoặc mua các cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý, sản xuất kinh doanh của đơn vị chủ quản Đồng thời tỷ trọng CSDL về thông tin kinh tế, thị trường phục vụ trực tiếp chop sản xuất và kinh doanh cũng tăng lên
Tuy nhiên, các CSDL về thông tin công nghệ vẫn chưa nhiều Hiện tại mới chỉ có Cục Thông tin KH&CN Quốc gia đã xây dựng và tiếp tục cập nhật 6 CSDL, Trung tâm Thông tin Bộ Kế hoạch và Đầu tư: 1; Trung tâm Thông tin Thương mại: 1
Về loại hình CSDL