Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống chúng ta, chúng ta không thể nào sinh sống, hoạt động mà không thải rác. Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng cùng với đời sống vật chất của người dân không ngừng được nâng cao đang làm cho lượng rác thải ngày càng tăng lên. Nếu không được xử lý tốt, rác thải sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng. Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, ngành và nhân dân đã được nâng lên đáng kể. Tại các nước phát triển, bên cạnh việc vận động và áp dụng các biện pháp, chế tài để giảm thiểu xả thải rác, các chính phủ đã chú trọng đầu tư cho ngành công nghiệp tái chế chất thải. Chỉ thị số 199/TTg ngày 2/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách trong quản lý chất thải rắn tại khu đô thị và khu công nghiệp và tiếp sau đó là quyết định số 152/199/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 chứng tỏ những nỗ lực lớn lao của Chính phủ trong việc đối phó với các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, ở đó vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt được xem là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược. Nhờ đó, môi trường được cải thiện đồng thời tăng nguyên liệu, sản phẩm cho nền kinh tế. Song công nghiệp tái chế chất thải chỉ phát triển được khi có nguồn rác được phân loại tốt, vì vậy phân loại rác tại nguồn đã được xác định là giải pháp cần thiết trong chu trình thu gom và xử lý chất thải nói chung và rác thải sinh hoạt đô thị nói riêng. Mặt khác, mỗi ngày ở Tp.HCM thải ra khoảng 6.000 tấn CTRSH trong đó hết 5.200 tấn được đem chôn lấp ở các bãi chôn (Nguồn: Cty Môi trường đô thị, 2007). Do đó lượng rác thải chưa được tái chế, tái sử dụng chiếm tới hơn 85% tổng khối lượng CTRSH. Với tốc độ này thì Thành phố sẽ không đủ quỹ đất để chôn lấp trong tương lai, các bãi chôn lấp sẽ quá tải và các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh sẽ xuất hiện ngày càng nhiều, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, đồng thời cũng kiềm hãm sự phát triển xã hội. Phân loại CTR tại nguồn có khả năng giải quyết các vấn đề đó. Những lợi ích của việc phân loại CTR tại nguồn là không thể phủ nhận, nó không chỉ mang tính chất là một giải pháp cho sự phát triển ở các thành phố lớn phát triển mà còn là một sự tái sử dụng vật chất cho tương lai. Do vậy nếu chúng ta thực hiện tốt việc phân loại rác thì rác không chỉ đi ra từ đời sống mà còn là một sản phẩm quay trở lại với cuộc sống chúng ta. Nhằm thực hiện tốt việc thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam, một trong những mục tiêu trong chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn là tổ chức thực hiện phân loại rác tại nguồn với tỉ lệ gia tăng qua từng giai đoạn: tối thiểu là 90% năm 2010 và đảm bảo 95% năm 2020. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay việc phân loại rác tại nguồn vẫn đang trong giai đoạn thực hiện thí điểm tại các quận 1,4,5,6,10 và huyện Củ Chi ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Và Quận 6 là 1 trong 5 quận của thành phố thực hiện thí điểm chương trình phân loại rác tại nguồn đầu tiên. Trong quá trình thực hiện dự án thí điểm Quận 6 đã đạt được những thuận lợi và khó khăn nhất định về các mặt như công tác tuyên truyền, hệ thống thu gom vận chuyển, kiểm tra giám sát, các quy định xử phạt, chế tài lực lượng thu gom và người dân khi thực hiện sai hay không thực hiện việc phân loại rác tại nguồn chính vì vậy đề tài “ Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn Đề tài: Đánh giá hiệu quả dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài:
Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống chúng ta, chúng ta không thể nào sinhsống, hoạt động mà không thải rác Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóađất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Bảo
vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của pháttriển bền vững Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, tốc độ đô thị hóa ngày cànggia tăng cùng với đời sống vật chất của người dân không ngừng được nâng cao đanglàm cho lượng rác thải ngày càng tăng lên Nếu không được xử lý tốt, rác thải sẽ gây
ô nhiễm nghiêm trọng Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp, ngành vànhân dân đã được nâng lên đáng kể Tại các nước phát triển, bên cạnh việc vận động
và áp dụng các biện pháp, chế tài để giảm thiểu xả thải rác, các chính phủ đã chútrọng đầu tư cho ngành công nghiệp tái chế chất thải
Chỉ thị số 199/TTg ngày 2/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấpbách trong quản lý chất thải rắn tại khu đô thị và khu công nghiệp và tiếp sau đó làquyết định số 152/199/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp ViệtNam đến năm 2020 chứng tỏ những nỗ lực lớn lao của Chính phủ trong việc đối phóvới các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, ở đó vấn đề quản lý chất thải rắnsinh hoạt được xem là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược
Nhờ đó, môi trường được cải thiện đồng thời tăng nguyên liệu, sản phẩm cho nềnkinh tế Song công nghiệp tái chế chất thải chỉ phát triển được khi có nguồn rác đượcphân loại tốt, vì vậy phân loại rác tại nguồn đã được xác định là giải pháp cần thiếttrong chu trình thu gom và xử lý chất thải nói chung và rác thải sinh hoạt đô thị nóiriêng
Mặt khác, mỗi ngày ở Tp.HCM thải ra khoảng 6.000 tấn CTRSH trong đó hết 5.200tấn được đem chôn lấp ở các bãi chôn (Nguồn: Cty Môi trường đô thị, 2007) Do đólượng rác thải chưa được tái chế, tái sử dụng chiếm tới hơn 85% tổng khối lượngCTRSH Với tốc độ này thì Thành phố sẽ không đủ quỹ đất để chôn lấp trong tương
Trang 2ngày càng nhiều, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, đồng thờicũng kiềm hãm sự phát triển xã hội
Phân loại CTR tại nguồn có khả năng giải quyết các vấn đề đó Những lợi ích củaviệc phân loại CTR tại nguồn là không thể phủ nhận, nó không chỉ mang tính chất làmột giải pháp cho sự phát triển ở các thành phố lớn phát triển mà còn là một sự tái sửdụng vật chất cho tương lai Do vậy nếu chúng ta thực hiện tốt việc phân loại rác thìrác không chỉ đi ra từ đời sống mà còn là một sản phẩm quay trở lại với cuộc sốngchúng ta
Nhằm thực hiện tốt việc thu gom và xử lý chất thải rắn ở Việt Nam, một trong nhữngmục tiêu trong chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn là tổ chức thực hiện phânloại rác tại nguồn với tỉ lệ gia tăng qua từng giai đoạn: tối thiểu là 90% năm 2010 vàđảm bảo 95% năm 2020 Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay việc phân loại rác tạinguồn vẫn đang trong giai đoạn thực hiện thí điểm tại các quận 1,4,5,6,10 và huyện
Củ Chi ở Thành Phố Hồ Chí Minh Và Quận 6 là 1 trong 5 quận của thành phố thựchiện thí điểm chương trình phân loại rác tại nguồn đầu tiên Trong quá trình thựchiện dự án thí điểm Quận 6 đã đạt được những thuận lợi và khó khăn nhất định vềcác mặt như công tác tuyên truyền, hệ thống thu gom vận chuyển, kiểm tra giám sát,các quy định xử phạt, chế tài lực lượng thu gom và người dân khi thực hiện sai hay
không thực hiện việc phân loại rác tại nguồn chính vì vậy đề tài “ Đánh giá hiệu quả
dự án thí điểm phân loại chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Quận 6 và đề xuất giải pháp hoàn thiện hơn” là hết sức cần thiết, nó góp phần nâng cao hiệu quả của
việc thực hiện phân loại rác tại nguồn trên địa bàn Quận 6
Trang 33 Ý nghĩa của đề tài:
Tìm ra các giải pháp mới nhằm hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý cũng như xử
lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận 6 để việc phân loại rác tại nguồn trên địabàn quận diễn ra đồng bộ từ khâu thu gom đến nhà máy tái chế
Xử lý được một lượng CTRSH khổng lồ của thành phố, góp phần cải thiện môitrường và sức khỏe cộng đồng
4 Nội dung nghiên cứu của đề tài:
Thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài: tìm hiểu về vị trí địa lý, điều kiện tựnhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng CTR của thành phố nói chung và quận 6nói riêng
Thu thập tài liệu về chương trình phân loại rác tại nguồn mà thành phố đãthực hiện thí điểm trên địa bàn quận 6
Đánh giá được những thuận lợi cũng như giới hạn của dự án thí điểmPLRSHTN trên địa bàn quận 6
Đề xuất các giải pháp về tuyên truyền, công cụ pháp lý, hệ thống thu gom vàvận chuyển, nhà máy chế biến phân compost và tái chế nhằm nâng cao hiệuquả của việc PLRSHTN trên địa bàn quận 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rác sinh hoạt từ các nguồn:
Trang 5Đề tài nghiên cứu chỉ thực hiện trong địa bàn quận 6
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp luận:
Dựa vào hiện trạng diễn biến môi trường cơ sở phải được nghiên cứu, thu thập chínhxác và khách quan Từ đó, đánh giá phương án thực hiện cần thiết, nhằm thực hiệncông tác quản lý môi trường đạt hiệu quả
Với sự gia tăng dân số cũng như mức sống của con người ngày càng được nâng caothì sự gia tăng về khối lượng cũng như thành phần rác thải ngày càng nhiều Trongkhi đó hệ thống quản lý CTR cũng như công nghệ xử lý chưa được phù hợp gây ônhiễm nghiêm trọng đến môi trường và cuộc sống của con người Vì vậy, việc thựchiện PLRTN và đề xuất các giải pháp quản lý cũng như chọn lựa công nghệ xử lýCTR một cách phù hợp cho tương lai là vấn đề cần thiết và cấp bách trong thời giannày
Hiện nay, lượng rác sinh hoạt đang chiếm khối lượng lớn với nhiều thành phần vàtính chất khác nhau nên rất khó thu gom và xử lý Tại các bãi chôn lấp gây ô nhiễmnghiêm trọng đến môi trường không khí, nước mặt và nước ngầm do khí thải vànước rỉ rác
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất nước với tốc dộ phát triển kinh tế và
đô thị hóa nhanh vì thế nó thúc đẩy quá trình ô nhiễm môi trường, đặc biệt ô nhiễmmôi trường do CTRSH ngày càng nghiêm trọng Do vậy, CTRSH là vấn đề cấp thiết
và cần được quan tâm hàng đầu bởi cộng đồng dân cư, các nhà quản lý đô thị cũngnhư các cấp lãnh đạo của mọi cấp Do vậy lượng CTRSH nếu không được quản lýmột cách triệt để sẽ dẫn tới hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng cho môi trường vàsức khỏe con người
6.2 Phương pháp cụ thể:
Phương pháp thu thập số liệu, tài liêu
Phương pháp chuyên gia
Trang 6Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA
BÀN TPHCM VÀ TỔNG QUAN VỀ QUẬN 61.1 Tổng quan CTR sinh hoạt trên địa bàn thành phố HCM:
1.1.1 Hệ thống kỹ thuật
Hệ thống quản lý kỹ thuật chất thải rắn đô thị tại thành phố HCM được thực hiệntheo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ hệ thống quản lý kỹ thuật chất thải rắn đô thị tại TP.HCM
a Công đoạn lưu chứa
Hiện tại các gia đình tự trang bị sử dụng thùng chứa chất thải rắn bằng nhựa, một sốgia đình sử dụng thùng chứa bằng kim loại hoặc các giỏ tre nứa Phổ biến nhất hiệnnay, người dân sử dụng các loại túi xốp, nilon chứa chất thải rắn Khi đến thời giangiao rác, thông thường các hộ đem thùng chứa hoặc túi nilon để trước cửa để côngnhân thu gom dễ dàng thu gom Đối với những hộ không ở nhà vào thời gian thugom rác, thường bỏ rác vào các bọc nilon buộc chặt, để trước cửa, chính hành độngnày đã tạo điều kiện cho những người thu nhặt ve chai có thể bươi, móc gây ô nhiễm,làm mất vẻ mỹ quan đô thị
Trang 7Tại các chợ, do diện tích kinh doanh có hạn nên đa số các tiểu thương buôn bán đềutận dụng khoảng trống làm nơi chứa hàng, rất ít nơi có thùng rác tiếp nhận rác, hầuhết rác phát sinh đều được thải bỏ ngay tại các lối đi trong chợ Sau khi tan chợ, côngnhân vệ sinh sẽ thu gom rác trong chợ.
Các hoạt động mua bán trên đường phố (cố định và di dộng), sinh hoạt đi lại củangười dân đang là vấn đề phức tạp và nhức nhối trong việc tổ chức lưu chứa chất thảicủa mình Tình trạng đường phố đầy rác do các đối tượng này xả thải bừa bãi khôngđúng nơi quy định là thường xuyên, liên tục và đã thành thói quen xấu khó điềuchỉnh
Đối với trường học, công sở, nhà hàng, khách sạn, rác được lưu giữ trong các thùngchứa nhỏ được trang bị ngay trong đơn vị Sau đó, hầu hết rác đều được chuyển ra đổvào các thùng 240l
Phần lớn các vị trí lưu chứa rác của các hộ gia đình, các khu chưng cư, đặc biệt khunhà cao tầng, các điểm chợ, các điểm đặt thùng rác công cộng, đều không có lưu ýnghiên cứu thiết kế ban đầu hay có nhưng bố trí không hợp lý, không thuận tiện.Tại các khu vực công cộng trên đường phố, vỉa hè, phần lớn chưa được bố trí thùngrác công cộng hoặc có nhưng không đảm bảo phục vụ theo đúng chức năng củathùng rác công cộng
Chưa có sự quản lý nhà nước, dẫn đến thiếu sự thống nhất và đồng bộ của hệthống lưu chứa tại nguồn
Trang 8Hàng ngày, lực lượng công nhân của các Cty Dịch vụ công ích của các quận huyệnphải thực hiện quét dọn vệ sinh hàng ngàn tuyến đường giao thông và vỉa hè Đểhoàn thành khối lượng công việc lớn này, hiện thành phố có trên 2.000 lao động vàkhoảng 1.500 phương tiện thô sơ thùng 660 lít thu gom lưu chứa chất thải Các hoạtđộng cung cấp dịch vụ diễn ra từ 18 giờ chiều tối và đến 6h sáng hôm sau Kỹ thuậtquét thực hiện bằng thủ công Kinh phí nhà nước chi trả cho hoạt động này trên 200
tỷ đồng/năm và khoản chi này đang gia tăng hàng năm Tất cả hoạt động này đều docác doanh nghiệp nhà nước thực hiện thông qua nguồn ngân sách của Ủy ban nhândân quận huyện với hình thức giao vốn kế hoạch hàng năm
Nhận xét
Hệ thống quét dọn hoạt động ổn định, kết nối rất tốt và nhịp nhàng với hệthống thu gom vận chuyển Chỉ có một thành phần duy nhất tham gia cungứng dịch vụ đó là nhà nước
Thiếu sự điều hành mang tính tích cực (về công nghệ, trong quản lý tácnghiệp, ) trong quá trình cung ứng dịch vụ thích nghi với sự thay đổi của xãhội
Công tác quét dọn chủ yếu bằng thủ công chưa đáp ứng được yêu cầu về chấtlượng vệ sinh (chủ yếu quét sạch rác, còn cát thì không)
Kinh phí dịch vụ tăng liên tục mà chất lượng dịch vụ tăng không tương ứng
Công tác quản lý nhà nước yếu kém, công tác kiểm tra giam sát bị buôn lỏng.Tình trạng chất lượng vệ sinh sau khi quét rất xấu và diễn biến ngày càngphức tạp do ý thức người dân quá kém
c Công đoạn thu gom
Hệ thống thu gom rác tại nguồn do lực lượng của Cty Dịch vụ công ích của các quậnhuyện ( chiếm khoảng 40%) và lực lượng tư nhân rác dân lập ( chiếm khoảng 60%)cùng thực hiện cung ứng dịch vụ trên toàn địa bàn thành phố Rác sinh hoạt từ nguồnthải ra được chứa đựng trong các thùng chứa 660 lít, xe ba gác đạp, xe đẩy tay hoặccác xe lam, xe ba gác có gắn động cơ được công nhân vệ sinh hay rác dân lập chuyển
Trang 9nhất Ở một số nơi, lực lượng rác dân lập có kết hợp quét dọn vệ sinh khu vực cáccon hẽm tại khu vực mình cung cấp dịch vụ mà không thu thêm kinh phí.
Lực lượng rác dân lập được hình thành từ trước giải phóng đến nay Lực lượng này
có xuất thân phức tạp từ những gia đình nghèo, ở nhiều địa phương khác đến cũngnhư có trình độ văn hóa và hiểu biết thấp Hoạt động của lực lượng này mang tínhcha truyền con nối Lực lượng rác dân lập là một một nhóm tư nhân với các cá thểcung cấp dịch vụ độc lập ở một số khu vực nhất định Các khu vực này chủ yếu lànhững địa bàn, khu dân cư hình thành mới, hoặc ở những vùng sâu vùng xa, nhữngnơi chưa có lực lượng thu gom của nhà nước cung cấp dịch vụ này Những cá nhânnày tự tìm kiếm địa bàn và tự trang bị phương tiện thu gom cũng như tự thống nhất
về thời gian, giá dịch vụ với các hộ gia đình
Thời gian thu gom diễn ra khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng của từng khu vực hoặc
do lực lượng thu gom ấn định, thường diễn ra liên tục suốt cả ngày lẫn đêm Địa bànthu gom rất phức tạp do đặc điểm có quá nhiều các tổ chức nhà nước và tư nhân (trên
30 đơn vị), các cá thể rác dân lập (trên 2.000 người) cùng tham gia cung ứng dịch vụtrên địa bàn thành phố nói chung và một địa bàn phường xã cụ thể nói riêng
Việc cung cấp dịch vụ phần lớn không thông qua hợp đồng kinh tế và giá dịch vụthường do tự thương thảo với mức giao động trong khoảng từ 7.000 – 15.000đồng/hộ/tháng Tùy theo khu vực thu gom nội thành hay ngoại thành, mặt tiền haytrong hẽm, ở các khu chung cư cao tầng hay thấp tầng, các khu dân cư cao cấp haykhông cao cấp có mức giá dịch vụ thu khác nhau rõ rệt Giá thu dịch vụ chỉ tính đếnchi trả cho công đoạn thu gom ban đầu do người cung cấp dịch vụ tự thu và cân đốithu chi hoạt động Giá dịch vụ hiện đang áp dụng được quy định cách đây gần 10năm quá lạc hậu và không có cơ sở tính toán hợp lý trên nguyên tắc tính đúng tínhđủ
Hiện nay về mặt quản lý chuyên ngành do Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiệnthông qua ngành dọc là các Phòng Tài nguyên Môi trường Quận Huyện nhưng vềquản lý hành chính (nhân sự, cấp giấy hành nghề) các đường dây rác lại do các Ủy
Trang 10hành chính đều do Công ty Dịch vụ công ích đảm nhận luôn Lực lượng quản lý ởcác quận quận huyện, phường xã là không có, các cán bộ chủ yếu là kiêm nhiệm.
Hình 1.2 Hi n tr ng thu gom ch t th i r n ện trạng thu gom chất thải rắn ạng thu gom chất thải rắn ất thải rắn ải rắn ắn
Do có quá nhiều đầu mối quản lý, nhân sự thiếu và yếu kém dẫn đến sự quản
lý từ phía nhà nước không hiệu quả, khó có thể can thiệp vào công tác thu
Trang 11gom rác của lực lượng dân lập này (giá dịch vụ, thời gian thu gom, bảo hộ laođộng, đăng ký hành nghề, …).
Thiếu sự quản lý đồng bộ từ Thành phố đến địa phương, thiếu cơ chế quản lýphù hợp và hiệu quả cũng như thiếu các biện pháp chế tài hữu hiệu đối với lựclượng này
Phí thu gom chất thải rắn sinh hoạt chưa được tính toán và thu đầy đủ Thànhphố đang phải chi trả kinh phí rất lớn cho vấn đề này
d Công đoạn thu gom vận chuyển
Hàng ngày hệ thống thu gom vận chuyển phải giải quyết khoảng 6.000 tấn chất thảisinh hoạt Cơ sở vật chất để giải quyết lượng rác lớn này gồm có trên 40 bô/trạmtrung chuyển, trên 600 xe cơ giới các loại và có 23 đơn vị công ích và 1 Hợp tác xãtham gia cung ứng dịch vụ với khoảng trên 1.000 nhân công
Chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và tập trung tại điểm hẹn hay trạm ép rác kín,sau đó đổ trực tiếp vào xe ép rác (loại xe nhỏ hơn 4 tấn) chuyển đến trạm trungchuyển, một số xe đẩy tay đổ trực tiếp vào trạm trung chuyển khi thu gom chất thảirắn ở khu vực gần trạm trung chuyển Tại trạm trung chuyển xe tải và xe ép lớn (từ7-10 tấn) nhận chất thải rắn và đổ ra bãi chôn lấp Đa Phước (Bình Chánh) hoặcPhước Hiệp (Củ Chi) Tại một số điểm, chất thải rắn sau khi được thu gom bằng xe
đẩy tay chuyển trực tiếp sang xe ép lớn và chở thẳng đến bãi chôn lấp
Hiện nay Công ty Môi trường Đô thị đang chịu trách nhiệm chuyên chở 55% khốilượng chất thải rắn đô thị của TPHCM, Hợp tác xã Công nông chuyên chở 15%,phần còn lại 30% do các Công ty dịch vụ công ích các Quận, huyện chuyên chở
Sở Tài nguyên và Môi trường là đơn vị chủ quản giao vốn sự nghiệp hàng năm bằng
kế hoạch vốn cho Công ty Môi trường Đô thị Đơn vị này là đơn vị tổng thầu ký hợpđồng lại với các Cty Dịch vụ công ích Quận, huyện và Hợp tác xã tổ chức tiếp nhận,thu gom rác tại các điểm hẹn, các thùng rác công cộng hoặc các điểm phát sinh rác
đổ bừa bãi trên đường phố
Trang 12Ngoài ra, Quận 1, Quận Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Bình Chánh và Huyện CủChi, Cần Giờ là những đơn vị được phân cấp trực tiếp thực hiện công tác vận chuyểnrác thông qua giao kế hoạch vốn hàng năm của UBND Quận - Huyện cho các đơn vị.Mỗi năm Nhà nước phải chi trả cho công tác trung chuyển và vận chuyển từ 200 -
250 tỷ đồng Kinh phí này tăng lên hàng năm thông qua gia tăng khối lượng rác hàngnăm và đơn giá dịch vụ ngày một tăng
Chất lượng các xe vận chuyển rác còn sử dụng được ở mức tương đối khoảng 70%,các xe vận chuyển phần lớn là xe đã qua sử dụng Các bô rác, trạm trung chuyểnphần lớn nằm lẫn trong khu dân cư và hiện nay 90% trong số này là không đảm bảoyêu cầu hoạt động gây ô nhiễm môi trường Việc đầu tư cơ sở vật chất, phương tiệnvận chuyển từ nguồn ngân sách nhà nước còn quá manh mún, không đồng nhất và rấthạn chế
Nhận xét
Hệ thống thu gom vận chuyển hoạt động ổn định, đảm bảo vận chuyển hếtchất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày trên địa bàn thành phố Có sự thamgia của thành phần kinh tế ngoài nhà nước
Cơ sở hạ tầng, các phương tiện cơ giới cung ứng dịch vụ phần lớn là đã qua
sử dụng, củ kỹ và lạc hậu, không đảm bảo mỹ quan đô thị và vệ sinh môitrường Cần khoản kinh phí lớn để đầu tư đổi mới trang thiết bị và cơ sở vậtchất
Kinh phí vận chuyển tăng liên tục tuy nhiên chất lượng dịch vụ không thayđổi nhiều
Công tác quản lý nhà nước (bao gồm công tác kiểm tra giám sát) yếu kém,chưa theo kịp tốc độ thay đổi, phát triển tự nhiên của ngành, chưa nói đến việcđáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội
Hình 1.3 Hiện trạng hệ thống thu gom vận chuyển tại TP.HCM
Trang 14Sơ đồ 1.4 Sơ đồ hệ thống thu gom vận chuyển tại TP.HCM
e Công đoạn chôn lấp
Hiện nay, hầu hết lượng chất thải rắn tại thành phố Hồ Chí Minh được thu gom vàvận chuyển lên các bãi chôn lấp, kể cả những chất thải nguy hại Công tác vận hànhtất cả các bãi chôn lấp do Cty Môi trường đô thị thực hiện Chôn lấp là công nghệduy nhất được sử dụng để xử lý chất thải rắn đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
Tình hình chung các bãi chôn lấp rác tại TPHCM hiện nay:
Công trường Đông Thạnh: đang tiếp nhận xà bần (1000tấn/ngày)
BÃI CHÔN LẤP CTRSH
ĐIỂM HẸN THU GOM
ĐIỂM HẸN THU GOM
BÔ ÉP KÍN
BÔ ÉP KÍN
TRẠM TRUNG CHUYỂ N
TRẠM TRUNG CHUYỂ N
TRẠM TRUNG CHUYỂ N
TRẠM TRUNG CHUYỂ N
BÃI CHÔN LẤP CTRSH
BÃI CHÔN LẤP CTRSH
Trang 15Công trường Phước Hiệp: công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, đã ngưng tiếpnhận xử lý rác, hiện nay chỉ còn vấn đề xử lý nước rỉ rác và đóng bãi.
Công trường Gò Cát: công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh, đã ngưng tiếp nhận xử
lý rác, hiện nay chỉ còn vấn đề xử lý nước rỉ rác và đóng bãi Bên cạnh đó, hệthống thu khí gas và chạy máy phát điện đang vận hành tốt hòa vào mạng lướiđiện quốc gia
Bãi chôn lấp 1A – Công trường xử lý rác Phước Hiệp: hiện bãi chôn lấp nàyđang tiếp nhận 3000 tấn/ngày Đây là bãi chôn lấp được xây dựng và vận hànhtheo tiêu chuẩn của bãi chôn lấp hợp vệ sinh Tuy nhiên, hiện nay bãi chôn lấpnày vẫn đang hoạt động quá tải với công suất tiếp nhận khoảng 6.000 tấn/ngày
và tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra phức tạp do sự cố lún trượt rác.Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước: Được thiết kế tiếp nhận 3000tấn/ngày Đây là bãi chôn lấp được xây dựng và vận hành theo tiêu chuẩn củabãi chôn lấp hợp vệ sinh kết hợp công nghệ xử lý rác làm compost và phânloại tái chế chất thải rắn Dự kiến Khu này sẽ đưa vào hoạt động cuối năm
2007 với bãi chôn lấp và trong năm 2008 sẽ vận hành các công nghệ còn lại.Hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đang phải chi trả trên 200 tỷ đồng/năm choCty Môi trường đô thị thông qua giao vốn kế hoạch hàng năm thực hiện cung ứngdịch vụ xử lý chất thải sinh hoạt này Bên cạnh đó, công tác xử lý nước rỉ rác của cácbãi chôn lấp cũng đang thực hiện với các đơn vị tư nhân như Cty Quốc Việt, CtyĐức Lâm và Cty Seen Các đơn vị này hoạt động xử lý và nhà nước thực hiện muanước sạch và thanh toán thông qua từng m3 nước xử lý đạt yêu cầu
Nhận xét:
Chưa đa dạng công nghệ xử lý và các thành phần kinh tế tham gia
Kinh phí xử lý rác ngày một gia tăng nhưng chất lượng dịch vụ không đượccải thiện nâng cao
Trang 161.1.2 Công tác thu gom CTRSH tại TPHCM
a Lực lượng thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại TPHCM
Hiện nay trên địa bàn TPHCM đang tồn tại song song 2 hệ thống tổ chức thu gomrác sinh hoạt: hệ thống thu gom công lập và hệ thống thu gom dân lập
- Hệ thống công lập gồm 22 Công ty Dịch vụ công ích của các Quận Hệthống này đảm nhận toàn bộ việc quét dọn vệ sinh đường phố, thu gom rác chợ, rác
cơ quan và các công trình công cộng, đồng thời thực hiện dịch vụ thu gom rác sinhhoạt cho khoảng 30% số hộ dân trên địa bàn, sau đó đưa về trạm trung chuyển hoặcđưa thẳng tới bãi rác Một số đơn vị ký hợp đồng với Công ty Môi trường Đô thị đểvận chuyển rác trên địa bàn
- Hệ thống thu gom dân lập bao gồm các cá nhân thu gom rác, các nghiệpđoàn thu gom và các Hợp tác xã vệ sinh môi trường Lực lượng thu gom dân lập chủ
Trang 17yếu thu gom rác hộ dân (thông qua hình thức thỏa thuận hợp đồng dưới sự quản lý
của UBND Phường), trên 70% hộ dân trên địa bàn và các công ty gia đình (Nguồn: Điều tra chỉ số hài lòng về dịch vụ thu gom 2008, Cục Thống kê và Viện Nghiên cứu Phát triển) Rác dân lập chịu trách nhiệm quét dọn rác trong các ngỏ hẻm, sau đó tập
kết rác đến các điểm hẹn dọc đường hoặc bô rác trung chuyển và chuyển giao ráccho các đơn vị vận chuyển rác
Số lượng lao động thu gom công lập và dân lập tại các quận/huyện được thống kê tạibảng sau
Bảng 1.1 : Số lượng lao động thu gom chất thải rắn đô thị tại các quận/huyện của
Trang 18Đối với hệ thống thu gom rác công lập thì vấn đề tổ chức thu gom đã đi vào nề nếp,từng bước ổn định Đây là lực lượng nòng cốt có trách nhiệm duy trì các hoạt độngthu gom rác khu vực công cộng, quét dọn đường phố Còn với lực lượng thu gom rácdân lập do được hình thành một cách tự phát từ rất lâu nên lực lượng này thường làmviệc một cách độc lập và thường không ký hợp đồng thu gom bằng văn bản với các
hộ dân Chính quyền địa phương hầu như không thể quản lý được lực lượng này, vìthế đã gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý chung của Thành phố
b Quy trình thu gom:
Quy trình thu gom của lực lượng thu gom công lập
- Quy trình thu gom thủ công: Công nhân xuất phát từ địa điểm tập trung
thùng, công nhân đẩy thùng 660L đi thu gom hết các hộ ở một bên tuyến đường sau
đó quay về bên còn lại của tuyến đường để thu gom tiếp Nếu tuyến thu gom có mộtngười thì người công nhân có thể đẩy từ 1 tới 2 thùng 660L, tuyến có 2 người có thểđẩy từ 2-3 thùng 660L đến khoảng giữa tuyến đường, đẩy từng thùng đi thu gom rác
Trang 19- Quy trình thu gom cơ giới: Một xe lam chạy chậm dọc theo lề đường của các
tuyến được quy định trước, một công nhân đi nhặt các túi rác bỏ vào trong xe Xeđầy, chạy về trạm trung chuyển đổ rồi tiếp tục đi thu gom cho tới hết tuyến quy định
- Đối với các khu vực phát sinh chất thải lớn: Công ty cho xe tới thu gom một
hoặc vài cơ sở vào ngày thoả thuận trước rồi vận chuyển về trạm trung chuyển để xelớn vận chuyển đi bãi chôn lấp
Quy trình thu gom của lực lượng dân lập
Lực lượng rác dân lập sử dụng phương tiện cá nhân đến thu gom rác tại các nguồnthải (chủ yếu là hộ dân) theo giờ đã thỏa thuận với chủ nguồn thải hay theo giờ họquyết định Sau khi thu gom tại nguồn thải họ phân loại một số chất thải rắn có thểtái chế đem bán phế liệu Sau đó, một số rác dân lập đẩy xe (thùng) đến điểm hẹn đổvào xe cơ giới theo giờ quy định của đơn vị vận chuyển, một số khác đến đổ rác trựctiếp tại bô rác gần nhất
Tại các điểm hẹn, chất thải rắn từ xe đẩy tay sẽ được đưa lên các xe ép nhỏ (2-4 tấn)
và đưa về trạm trung chuyển Tại trạm trung chuyển, một số công nhân thu gom sẽthu nhặt lại một lần nữa chất thải rắn có thể tái chế, sau đó xe tải và xe ép lớn (từ 7-
10 tấn) tiếp nhận chất thải rắn và vận chuyển ra bãi chôn lấp
c Phương tiện thu gom rác:
Phương tiện thu gom rác hiện nay vẫn chưa thống nhất, mỗi địa bàn sử dụng phươngtiện thu gom khác nhau, có khi một địa bàn sử dụng cùng lúc nhiều loại phương tiệntùy vào mức độ tiện dụng và tổ chức thu gom sử dụng Các loại phương tiện tạiTPHCM rất đa dạng, chủ yếu là các loại xe thô sơ, điển hình như các loại xe đẩy tay,
xe ba gác đạp, ba gác máy, xe lam Ngoài ra còn có các loại xe khác như xe tải, xecông nông cải tiến, xe máy cày cải tiến,… Chính các phương tiện thu gom thô sơ này
đã không bảo đảm yêu cầu vệ sinh môi trường, gây bốc mùi, để rơi vải rác dọcđường vận chuyển
Theo số liệu của Phòng Quản lý chất thải rắn vào năm 2005, TPHCM có tổng cộng
Trang 20Dung tích chứa của các phương tiện này đều bị lực lượng thu gom tận dụng tối đa,thậm chí quá tải do phần lớn các phương tiện đều bị cơi nới cao lên Các loại phươngtiện như xe lam, lavi, xe ba gác máy (do lực lượng rác dân lập sử dụng),…có khảnăng thu gom rác với khối lượng lớn gấp 1,5 – 2 lần so với các loại thùng 660L vàvận tốc vận chuyển cũng nhanh hơn rất nhiều Tuy nhiên, hầu hết các phương tiệnnày là tự chế, không theo quy chuẩn hay thiết kế đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi trườngnên các phương tiện này thường không bảo đảm vệ sinh môi trường trong khi thugom
Đa số lực lượng thu gom công lập sử dụng phương tiện thu gom là xe thùng 660Lthu gom chủ yếu trên các tuyến đường chính, còn các phương tiện như xe ba gác, xelam được lực lượng dân lập sử dụng thu gom trên các đường nhỏ, các hẻm trongThành phố Ngoài xe thùng 660L có cấu trúc như nhau trên toàn địa bàn Thành phố
và được thiết kế dành riêng cho việc thu gom CTR, các loại phương tiện còn lại đều
do người thu gom cải tiến từ các loại xe mà không qua kiểm định của cơ quan chứcnăng
1.1.3 Chiến lược phát triển ngành xử lý CTR tại TPHCM
a Mục tiêu:
Từng bước hình thành một hệ thống quản lý đồng bộ về công tác quản lý CTR đô thị,với kỹ thuật xử lý rác tiên tiến nhằm kiểm soát toàn bộ quá trình từ khâu phát sinhđến khâu xử lý sau cùng, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững trong thời kì côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Mục tiêu đến năm 2015:
- Hoàn tất việc phân loại CTR tại nguồn, tiến hành tái sử dụng tái chế phế liệuthu hồi từ rác, giảm thiểu tối đa khối lượng rác đưa đến các khu xử lý rác
- Thu gom, vận chuyển và xử lý được 95% tổng khối CTR phát sinh
- Xử lý triệt để CTR công nghiệp nguy hại bằng công nghệ tiên tiến
Trang 21- Hoàn thiện hệ thống quản lý công tác giải quyết CTR đô thị bảo đảm đồng bộ
về luật pháp, về đầu tư phát triển, về tổ chức bộ máy điều hành tác nghiệp, vềchính sách tạo nguồn tài chánh
b Các giải pháp chủ yếu:
Hoàn thiện khung pháp luật
Rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn luật trong lĩnh vực quản lýCTR, nâng cao hiệu lực thi hành Luật Bảo vệ môi trường
Lập quy hoạch quản lý CTR đô thị TPHCM đến năm 2020 làm cơ sở để lập và phêduyệt các dự án đầu tư phát triển ngành
Xây dựng, ban hành quy trình công nghệ tổng thể và chi tiết công tác phân loại tạinguồn, tái sử dụng và tái chế phế liệu được thu hồi, quét dọn, thu gom, vận chuyển
và xử lý rác cho từng loại CTR
Xây dựng, ban hành chính sách xã hội hóa, khuyến khích các thành phần kinh tế kể
cả trong và ngoài nước tham gia quản lý CTR Hiệu chỉnh Quy chế quản lý lực lượnglấy rác dân lập ( một hình thức xã hội hóa ) làm cơ sở cũng cố tổ chức thu gom rácdân lập theo hướng tăng cường quản lý Nhà nước, bảo đảm vệ sinh môi trường.Xây dựng, ban hành chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất hànghóa áp dụng công nghệ sản xuất sạch, ít chất thải, có những nghiên cứu nhằm giảmthiểu CTR sau khi tiêu dùng hàng hóa đó
Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý CTR
Nghiên cứu, tổ chức lại hệ thống quản lý, điều hành tác nghiệp hoạt động của ngành
vệ sinh Một cơ quan được chính quyền thành phố giao nhiệm làm đầu mối quản lýtạp trung, xuyên suốt toàn bộ hoạt động của ngành, còn hoạt động tác nghiệp đượcphân cấp một phần hoặc toàn bộ quy trình giải quyết CTR cho đơn vị công ích Quậnhuyện thực hiện hoặc tổ chức đấu thầu rộng rãi kêu gọi các thành phần kinh tế thamgia
Trang 22Cũng cố phát huy các doanh nghiệp Nhà nước làm công tác vệ sinh môi trường đanghoạt động có hiệu quả, cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệuquả.
Hiện đại hóa công nghệ và sản xuất thiết bị chuyên ngành xử lý CTR
Thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học, các dự án đầu tư đưa vào áp dụng cáccông nghệ kỹ thuật tiên tiến, phù hợp với điều kiện của thành phố trong tất cả cáckhâu của quy trình giải quyết chất thải rắn
Nhập khẩu, tiến tới tự sản xuất các thiết bị phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lýCTR
Nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu, tiêu chuẩn trong việc lựa chọn công nghệ, lập
hồ sơ thiết kế kỹ thuật, xây dựng và vận hành các dự án xử lý rác bảo đảm kỹ thuậtmôi trường
Tăng cường quan hệ và hợp tác quốc tế
Tích cực tranh thủ các nguồn viện trợ của Chính phủ các nước, các tổ chức phi chínhphủ và các nguồn tài trợ quốc tế khác về đào tạo, học tập kinh nghiệm, chuyển giaocông nghệ, trợ giúp kỹ thuật trong lĩnh vực quản lý CTR
Các giải pháp hỗ trợ cụ thể khác
Tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao nhận thức cộng đồng góp phầngiữ gìn vệ sinh môi trường, thực hiện nếp sống văn minh đô thị thông qua giáo dụctại trường học, họp Tổ dân phố, các phương tiện thông tin đại chúng, các chươngtrình phát động Xanh – Sạch – Đẹp nhân các ngày Lễ lớn trong năm
Tăng cường kiểm tra, giáo dục cưỡng bức bằng xử phạt nghiêm mọi hành vi vi phạmhành chính về vệ sinh môi trường; Thành lập lực lượng cảnh sát trật tự đô thị trên cơ
sở hợp nhất các lực lượng kiểm tra xử phạt vi phạm trât tự và mỹ quan đô thị; ápdụng mức phạt, hình thức phạt phù hợp điều kiện thực tiễn của thành phố
Trang 23Thực hiện việc thu tiền dịch vụ lấy rác áp dụng trên toàn địa bàn thành phố Bướcđầu trang trải chi phí vận hành hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý rác; về lâu dàinâng cao mức thu đủ bù dắp kinh phí ban đầu tư phát triển ngành giải quyết CTR.
Mở rộng dự án phân loại rác tại nguồn trên toàn thành phố, tiếp tục hoàn thiện côngtác lấy rác trên sông rạch địa bàn quận 8, mở rộng dự án giải quyết rác trên sông rạchtoàn thành phố; tiếp tục triển khai kế hoạch mở rộng địa bàn thu gom, xử lý rác racác đô thị mới
Hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, đạt hiệu quả các dự án đầu tư lĩnh vựcgiải quyết CTR đã được phê duyệt và đang triển khai thực hiện
Tiếp tục nghiên cứu, lập báo cáo khả thi các dự án xử lý CTR công nghiệp, giảiquyết bùn hầm tự hoại, xây dựng Trạm xử lý rác y tế ( thứ II),…
Trang 24 Bắc giáp Quận Tân Phú, Quận 11
Nam giáp Quận 8
Tây giáp Quận Bình Tân
Đông giáp Quận 5
Trang 25Diện tích Quận 6 là 7,14 km2 (chiếm 0,34% so với toàn thành phố), với dân số
241902 người, toàn Quận có 14 phường (gồm 49870 hộ trong đó có khoảng 5000 hộsống trong các khu nhà lụp xụp và trên các kênh bị ô nhiễm nặng, thiếu cơ sở hạtầng
1.2.1.2 Địa hình:
Về vị trí địa lý và quy mô lãnh thổ, Quận 6 có diện tích rộng 7,14 km2, chiếm khoảng0,34% toàn diện tích thành phố Diện tích của các phường không đồng đều nhau.Trong đó, phường 10 có diện tích lớn nhất là 0,21 km2
Cao độ quận 6 thấp hơn các quận nội thành khác, với cao độ trung bình + 1m trênmực nước biển, tại khu trũng nhất chỉ là 0,5m Khu vực này thường xuyên chịu ảnhhưởng bởi cường triều
1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu:
Là một quận nội thành của TPHCM, đặc điểm khí hậu của Quận 6 đều mang tính đặctrưng của khí hậu TPHCM, có khí hậu nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của gió mùa.Nhiệt độ cao nhất là 390C và thấp nhất là 150C với hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùamưa từ tháng năm đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Lượngmưa trung bình 1.979 mm/năm, ít có mưa kéo dài Độ ẩm tương đối trung bình hàngnăm khoảng 79,5% Do vị trí địa lý của TPHCM thuộc nữa bán cầu bắc nên có hiệntượng tháng nắng nhiều hơn tháng mưa hoặc ngược lại Số giờ nắng trung bình trongnăm đạt từ 160 giờ đến 270 giờ/năm
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội quận 6
1.2.2.1 Điều kiện kinh tế:
Quận 6 có hệ thống giao thông nối liền trung tâm với các Quận 5, 11, 8, Tân Phú,Bình Tân, có những đường xuyên Quận nên rất thuận lợi cho việc giao thông và pháttriển các Khu thương mại – dịch vụ Đây là yếu tố cơ bản dẫn đến sự hình thành cácchợ lớn và khu thương mại dọc theo những trục đường chính
Trang 26Do quận 6 có vị trí chiến lược về vận chuyển, trao đổi hàng hóa, cơ cấu kinh tế củaquận 6 gồm các thành phần kinh doanh, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp Tốc độ tăngtrưởng kinh tế hàng năm đạt 14%.
Các ngành chủ yếu và tốc độ phát triển: các ngành nghề chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấukinh tế bao gồm: sản xuất cao su, dệt, nhựa, may mặc, sản xuất giày, túi sách…Trên toàn quận 6 có 2.653 cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh ( doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, công ty cổ phần, các cơ sở sản xuất côngnghiệp các thể ) thu hút 21.649 lao động
1.2.2.2 Điều kiện xã hội:
Quận 6 có diện tích là 7,14 km2 với mật độ dân số khá cao ( 37.503 người/km2 ).Quận 6 thuộc khu vực hạ lưu của hệ thống kênh Tân Hóa – Lò Gốm, có nhiều chợnhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư với nhiều chung cư – cư xá
a Dân số
Hiện nay, Quận 6 có dân số khá đông ( 251.912 người ) với mật độ dân số khá cao35.282 người/km² Sự tăng trưởng dân số của quận 6 từ năm 2003 đến năm 2009được thống kê như sau:
Bảng 1.2: Thống kê dân số Quận 6 Năm Dân số (người) Tỷlệ (%/năm)
Trang 27Trong tổng số 251.912 người, tổng số người thuộc dân tộc kinh chiếm 71,54%, sốcòn lại là dân tộc Hoa và các dân tộc thiểu số khác.
Bảng 1.3: Thống kê tỷ lệ dân số Quận 6 chia theo dân tộc
Tỷ lệ nữ trong từng dân tộc (%)
Tỷ lệ từng dân tộc trong tổng số (%)
Nguồn: Phòng Thống kê Quận 6, 2008
a Giáo dục
Quận 6 có hệ thống giáo dục nhìn chung đáp ứng được nhu cầu của Quận Trườnghọc thuộc Quận bao gôm các khối: mầm non ( 16 trường ), tiểu học ( 16 trường ),trung học cơ sở ( 9 trường ), trung học phổ thông ( 3 trường thuộc sự quản lý củaThành phố ) Ngoài ra, Quận 6 còn có 62 lớp phổ cập giáo dục ( bao gồm tiểu học vàtrung học cơ sở ), 1 trường bổ túc văn hóa
b Y tế
Toàn Quận có 1 bệnh viện, 1 nha học đường, 1 phòng khám, 1 đội y tế dự phòng, 14trạm y tế cấp phường
Trang 28Trên toàn Quận 6 có 478 cơ sở y tế tư nhân, bao gồm: phòng mạch, phòng nha khoa,nhà hộ sinh, nhà thuốc tây, đông dược, sản xuất đông dược trong đó, có 313 cơ sởđang lần lượt ký hợp đồng ( 220 cơ sở đã chính thức ký hợp đồng ), khối lượng thugom ước chừng 100 đến 120kg/ngày Trên cơ sở phối hợp tốt giữa công ty Dịch vụCông ích quận với trung tâm y tế quận, phòng Quản lý Đô thị ( tổ Tài nguyên và Môitrường ), công ty Dịch vụ Công ích quận thực hiện ký hợp đồng đối với các cơ sở y
tế tư nhân ngày càng nhiều hơn
Công tác thu gom CTR y tế tại công ty Dịch vụ Công ích được giao cho 1 công nhânchuyên trách Thời gian lấy rác được tiến hành cả ngày lẫn đêm Phương tiện thugom: sử dụng xe gắn máy cá nhân
1.2.3 Hiện trạng môi trường trên địa bàn Quận 6:
Quận 6 có cơ sở hạ tầng, hệ thống cấp thoát nước và mạng lưới giao thông tương đốihoàn chỉnh Trên địa bàn có nhiều chợ lớn, nhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư vànhiều chung cư – cư xá, các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ mang tính chất hộ giađình tập trung khá nhiều tại Quận 6 Do những đặc điểm như trên nên các vấn đề môitrường của Quận 6 có liên quan tới các lĩnh vực sau:
a Lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Do nến kinh tế chủ yếu của Quận 6 là tiểu thủ công nghiệp ( toàn Quận 6 có 10.135
hộ kinh doanh, 2.495 cơ sở sản xuất và 158 doanh nghiệp tư nhân, công ty, hợp tác
xã ), hoạt động với qui mô nhỏ dạng hộ gia đình, máy móc thiết bi lạc hậu, tự chế vànguồn vốn sản xuất nhỏ, việc đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ rất hạn chế nên khiđưa vào sản xuất thường gây ô nhiễm môi trường Thực hiện chủ trương di dời các
cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm, hiện nay trên toàn Quận 6 có 58 cơ sở, công
ty trong danh sách di dời, trong đó có 50 cơ sở, công ty đã di dời và đang triển khai
di dời, 8 đơn vị còn lại đang trong quá trình di dời
Trang 29b Lĩnh vực xây dựng
Tốc độ xây dựng nhà cửa tại Quận 6 rất cao Tuy nhiên, việc quản lý môi trườngtrong lĩnh vực này còn có hạn chế Tình trạng một số xe chở vật liệu xây dựng làmrơi vãi trên lề đường và tập kết bừa bãi đã làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường
và làm mất vẻ mỹ quan đô thị của Quận
c Cộng đồng dân cư
Do tình hình phát triển dân số và dân nhập cư sống trên địa bàn ngày càng gia tăngnên lượng CTR sinh hoạt thải ra mỗi ngày càng lớn Đây cũng là một trong nhữngyếu tố gây ô nhiễm môi trường nếu không có biện pháp thu gom hợp lý và hiệu quả.Nhận thức của một số người dân về việc bảo vệ môi trường chưa cao nên vẫn có tìnhtrạng đổ rác bừa bãi
d Lĩnh vực giao thông
Do giao thông Quận nối liền với vùng trung tâm của thành phố và các Quận vùngven vì vậy một số tuyến đường chính của Quận thường xuyên bị quá tải vào các giờcao điểm như đường Hồng Bàng, Hậu Giang, Kinh Dương Vương…Do đó, lượngkhí thải từ các phương tiện giao thông thải vào không khí ở các khu vực này vào giờcao điểm thường rất cao nên dễ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân cư ngụtại đây
1.2.4 Tình hình phát triển kinh tế chung trên địa bàn Quận 6:
Kinh tế trên địa bàn Quận 6 trong những năm qua có những bước tăng trưởng đáng
kể, có chợ đầu mối Bình Tây là tring tâm buôn bán lớn của cả nước, do đó thế mạnhcủa Quận là thương mại dịch vụ, trong đó chủ yếu là buôn bán thực hiện trao đổi sảnphẩm với các tỉnh miền Tây Nam Bộ, bên cạnh đó với phần đông là dân lao động, cóđông người Hoa nhiều kinh nghiệm, nhạy bén trong sản xuất – kinh doanh, phát triểnmạnh về sản xuất nhỏ tiểu thủ công nghiệp
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “Thương mại – Dịch vụ - Công nghiệp –Tiểu thủ công nghiệp” đã tạo sự chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội
Trang 30theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận nhiệm kỳ VIII (2000-2005) đề ra, tốc độ tăngtrưởng kinh tế hàng năm đạt trên 14%, riêng trong năm 2008 tăng 14,9% so với năm
2007 Bên cạnh đó, Quận đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ nhằm khai thác tiềmnăng thế mạnh của các thành phần kinh tế, đa dạng hóa các hình thức hợp tác, khaithác có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tạo điều kiện thuận lợi
để các đơn vị kinh tế tư nhân mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, kinh tế hợp tác,hợp tác xã hoạt động ổn định
Hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn phát triển mạnh, tốc độ năm sau caohơn năm trước; doanh nghiệp tư nhân, các cơ sở cá thể hình thành ngày càng nhiều
đã nâng tổng doanh thu mua bán hàng hóa, dịch vụ tăng bình quân giai đọan
2000-2005 là 17,5% năm, riêng năm 2006 tăng 18,9% so với năm 2000-2005, vượt 0,9% soNghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận Khóa IX đã đề ra Về sản xuất công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quânhàng năm giai đọan 2000-2005 là 15,02%; riêng trong năm 2006 tăng 10,9% so vớinăm 2005 Hiện nay trên địa bàn Quận có 1.606 Cty, doanh nghiệp với tổng vốnđăng ký kinh doanh là 4.446,249 tỷ đồng, 26 hợp tác xã với tổng vốn điều lệ là34,170 tỷ đổng và 14.212 hộ sản xuất – kinh doanh với vốn đăng ký hinh doanh là314,622 tỷ đồng quận 6 có 4 chợ trực thuộc gồm Chợ Bình Tây, Chợ Phú Lâm, ChợMinh Phụng, Chợ Bình Tiên và Chợ Bình Phú trực thuộc Tổng Cty xây dựng SàiGòn; 02 Coop-mart, 01 Siêu thị Metro Bình Phú; đã hình thành các Trung tâmthương mại lớn như Trung tâm thương mại Bình Tây, Trung tâm thương mại PhúLâm, Trung tâm thương mại Bình Phú và Trung tâm thương mại Minh Phụng Trongnăm 2006, Quận đã hòan thành công tác di dời Chợ rau Mai Xuân Thưởng về Trungtâm thương mại Bình Điền, đã hòan thành đưa vào sử dụng xây dựng mới Chợ tạmTrần Bình, Lê tấn Kế, Chợ Phú Hòa; cải tạo nâng cấp Chợ Bình Tiên…đang xúc tiếnlập thủ tục triển khai các Dự án: Trung tâm thương mại Châu Hải Thành, 50 PhanVăn Khỏe Khu hoa viên-dịch vụ phục vụ phía sau Chợ Bình Tây và sửa chữa máingói Chợ Bình Tây, qua việc triển khai các Dự án này sẽ tạo chuyển biến tích cựcđối với Khu Trung tâm thương mại Bình Tây
Trang 311.2.5 Những định hướng, quy hoạch phát triển KT-XH-MT Quận 6
1.2.5.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội 2010-2020
Để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; đồng thờitriển khai thực hiện có hiệu quả chủ đề “Năm văn minh đô thị” theo chủ trương củaThành phố UBND Quận xác định các nhiệm vụ trọng tâm và chỉ tiêu chủ yếu cầntập trung thực hiện như: tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện với nổ lực
và quyết tâm cao, khai thác tối đa các nguồn vốn để ưu tiên cân đối cho các côngtrình trọng điểm đã xác định của chương trình phát triển và quản lý đô thị, nhất làcân đối đủ vốn cho công trình đang thi công để hoàn thành đúng tiến độ; tập trungtháo gở các khó khăn, vướng mắc nhằm đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng và đẩymạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại - dịch vụ - sản xuất côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp; tiếp tục thực hiện chủ đề “năm văn minh đô thị” kếthợp với phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư; quan tâm đầu
tư cho sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
1.2.5.2 Định hướng chiến lược và chương trình hành động cho công tác quản lý bảo vệ môi trường Quận 6
Thực hiện chương trình hnh động của UBND Quận 6, nhằm thực hiện đề án côngnghiệp hóa – hiện đại hóa của Quận Mục tiêu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển sảnxuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đi vào chiều sâu, theo hướng hiện đại hóa,chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Quận theo yêu cầu phát triển bền vững
a Chương trình nâng cao ý thức cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường
- Đưa chương trình nhận thức về mơi trường phổ cập vào các trường tiểu học
và trung học cơ sở trên địa bàn Quận
- Nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ môitrường thông qua các phong trào, cuộc thi tìm hiểu về môi trường ở các khu
Trang 32dân cư, tổ dân phố, trường học, công sở Từ đó dần dần tiến đến việc thựchiện chương trình phân loại rác tại nguồn ở Quận
- Tiếp tục áp dụng các nghị định, quy định của Chính phủ về xử phạt vi phạmhành chính, bảo vệ môi trường một cách chặt chẽ để áp dụng có hiệu quảtrong công tác quản lý Nhà nước
b Chương trình Giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Khuyến khích các cơ sở đổi mới máy móc, công nghệ sản xuất hoặc chuyểnđổi ngành nghề sản xuất ít ô nhiễm
- Giảm bớt ô nhiễm trong sản xuất, tất cả các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm đềuphải có hệ thống xử lý
- Giảm thiểu ô nhiễm không khí ở các trục đường giao thông bằng cách pháttriển hệ thống giao thông trên địa bàn Quận
- Duy trì chất lượng không khí ở các khu dân cư cộng đồng… trong giới hạncho phép: di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khu dân cư tập trung
- Thực hiện chính sách khuyến khích hỗ trợ Của UBND Thành phố cho các cơ
sở ô nhiễm di dời vào khu công nghiệp tập trung
c Chương trình bảo vệ nguồn nước
- Xây dựng chương trình giám sát nước ngầm: xác định các cơ sở, doanhnghiệp kinh doanh khai thác sử dụng nước ngầm, kiểm soát việc khai thác
- Đảm bảo việc cung cấp nước sạch cho mọi người dân trên địa bàn Quận
- Tăng cường việc kiểm soát các nguồn chính gây ô nhiễm nước ngầm
- Nâng cao nhận thức cộng đồng về việc tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước
d Công tác đào tạo cán bộ quản lý môi trường
Tiếp tục đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ môi trường 14 phường trên địa bàn Quận
6 qua các buổi tập huấn do Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức để có đủ kiến thức,
năng lực về quản lý môi trường đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Trang 33CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN 62.1 Đặc điểm chất thải rắn:
2.1.1 Nguồn phát sinh
Với dân số hơn hai trăm năm mươi ngàn dân, hằng ngày Quận 6 phát thải một lượnglớn chất thải rắn sinh hoạt ước tính khoảng từ 310 – 320 tấn/ngày Mọi hoạt động củangười dân đều phát sinh chất thải Nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn củaQuận 6 rất đa dạng, các nguồn phát sinh chất thải thông thường:
Bảng 2.1 Nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn đô thị tại Quận 6
STT Nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị Thành phần chủ yếu
1 Nhà ở, hộ gia đình Rau quả, thực phẩm dư thừa, giấy, da, vải, nhựa, thủy tinh , sành sứ,
kim loại…
2 Trường học Giấy, dụng cụ học tập, bao bì, vỏ
hộp, hóa chất phòng thí nghiệm…
3 Cơ quan, công sở Giấy, đồ dùng văn phòng, nhựa, thủy tinh, bao bì…
4 Nhà hàng, khách sạn, quán ăn Rác thực phẩm các loại, giấy, nhựa,
7 Đường phố Cành lá cây khô, xác chết động vật,phân súc vật và các loại rác sinh
hoạt thông thường,…
8 Các cơ sở sản xuất công Rác sinh hoạt thông thường, rác
Trang 34nghiệp công nghiệp và rác nguy hại.
9 Chợ và các trung tâm thương mại
Rau quả, đầu ruột tôm cá, thức ăn dưthừa và các loại rác sinh hoạt thông thường khác
10 Các cơ sở dịch vụ Rác sinh hoạt thông thường, những chất thải đặc thù khác tùy theo loại
hình dịch vụ sản xuất kinh doanh,…
2.1.2 Thành phần chất thải rắn đô thị Quận 6
Thành phần CTR là một trong những thông số quan trọng nhất dùng để thiết kế, lựachọn thiết bị, tính toán nhân lực vận hành hệ thống kỹ thuật quản lý CTR
Khảo sát, phân tích 50 mẫu chất thải sinh hoạt tại các hộ gia đình và 6 trường học, 4nhà hàng, 4 cơ quan – công sở trên địa bàn Quận 6, thành phần CTR sinh hoạt đượcthể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.2 : Thành phần CTR sinh hoạt của Quận 6
STT Thành phần
Thành phần phần trăm khối lượng ( % )
Hộ gia đình Trường học Khách sạn Nhà hàng Cơ quan Công sở Chất thải hữu cơ
dễ phân hủy
44,25 ÷ 90,67 53 ÷ 69,41 70,04 ÷ 75 22,73 ÷ 67,26 Chất thải khó/
không phân hủy 9,33 ÷ 55,75 30,59 ÷ 47 25 ÷ 29,96 32,74 ÷ 77,27
1 Giấy 0 ÷ 26,55 7 ÷ 27,78 14,26 ÷ 19,41 5,31 ÷ 50
Trang 35Hầu hết các hệ thống sản xuất compost đều bắt nguồn từ việc phân loại các vật liệu
có khả năng tái chế, kim loại, những chất độc hại, sau đó nghiền nhỏ đến kích thướcthích hợp và tách các thành phần tạp chất khác ( nếu cần ) Sản phẩm của quá trìnhcompost thường dùng làm chất cải tạo đất Tuy nhiên, do quá trình phân loại khôngtriệt để, trong thành phần rác thực phẩm làm phân compost thường lẫn thủy tinh vànylon làm sản phẩm kém giá trị
Trang 36Methane được sản xuất từ rác thực phẩm nhờ quá trình phân hủy kỵ khí trong điềukiện không kiểm soát chặt chẽ tại các bãi chôn lấp hợp vệ sinh hay trong điều kiệnkiểm soát của các thiết bị kị khí Khí metan được ưa chuộng vì là loại nguyên liệusạch và có thể lưu trữ được Phần chất rắn còn lại trong các thiết bị phân hủy kỵ khí
có thể dùng để sản xuất phân compost hoặc vật liệu che phủ bãi chôn lấp
b Giấy và carton:
Giấy là thành phần chiếm tỷ lệ khá cao trong các thành phần của CTR sinh hoạt Cácnhà máy giấy thường tái chế lại các sản phẩm bị hỏng và phế liệu từ các nhà máy sảnxuất sản phẩm giấy vì phế liệu được biết rõ thành phần và thường giấy chưa in nên
có thể thay thế nguyên liệu sản xuất giấy trực tiếp Do đó, việc thu hồi và tái sử dụnggiấy sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế nhờ giảm được lượng rác thải đỗ về bãi chônlấp, tái sử dụng nguồn lợi sẵn có, giảm tác động đến rừng do hạn chế việc khai thác
gỗ làm giấy và giảm lượng tiêu thụ cần thiết để sản xuất giấy Các loại có thể tái chếbao gồm:
- Giấy cũ: quầy bán báo, báo thải bỏ từ các hộ gia đình…
- Carton hỏng: sử dụng đóng gói các thùng hàng lớn, bao bì của đồ dùng cáckích thước lớn Giấy carton là một trong những nguồn phế liệu riêng biệt đểtái chế Thùng carton được ép kiện và chuyển đến các cơ sở tái chế làm vậtliệu cho lớp đáy hoặc lớp giữa của các dạng bao bì carton
- Giấy cao cấp: giấy in máy tính, giấy thải từ văn phòng, giấy trắng, giấy màu
từ sách, gáy sách hay phần giấy phế liệu cắt xén từ sách, giấy vẽ tranh…Cácloại giấy này có thể thay thế trực tiếp bột gỗ hoặc có thể tẩy mực để sản xuấtgiấy vệ sinh hoặc các loại giấy chất lượng cao khác
- Giấy hỗn hợp: hỗn hợp giấy vụn, tạp chí, giấy in…giấy hỗn hợp được dùng đểsản xuất thùng carton và các sản phẩm ép khác
Trang 37c Nhựa:
Cùng với sự phát triển các mặt hàng tiêu dùng bằng nhựa, nhựa phế thải đặc biệt lànilon ngày càng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong thành phần CTR sinh hoạt Tuynhiên, sự phổ biến của chúng gặp phải sự phản đối của các nhà bảo vệ môi trường vìnhững lý do sau đây:
- Chất độc thải ra trong quá trình chế tạo nhựa
- Chất độc do phân hủy nhựa plastic gây ra khi đốt rác
- Làm giảm chất lượng CTR, đặc biệt là chất lượng phân compost chế tạo từrác
Do nhựa có tính bền vững dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của chúng trong thiên nhiênsau khi sử dụng Để phân rã sinh học hoàn toàn chất plastic có nguồn gốc từ hóa dầucần có một thời gian từ 2 đến 4 thế kỷ Vì vậy, để tăng tính năng môi trường, ngàynay người ta đang nghiên cứu chế tạo nhựa phân rã sinh học nhưng không làm giảm
đi tính ưu việt của nó về mặt sử dụng Như vậy, nếu thu hồi và tái sinh lượng phếliệu này sẽ giảm đáng kể lượng thể tích chôn lấp cần thiết Tuy nhiên, việc thu hồinhựa hiện nay được quyết định bởi khía cạnh kinh tế hơn là khía cạnh công nghệ haythị trường tiêu thụ Khả năng tái sinh vật liệu nhựa được xác định trên cơ sở phântích tổ hợp các thông số sau đây:
- Cân bằng năng lượng tổng thể, yêu cầu năng lượng để thu gom và tiêu hủychất thải
- So sánh chất lượng/giá thành vật liệu plastic thu gom
- Ô nhiễm môi trường không khí trong quá trình chuyên chở và tiêu hủy CTR
- Ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là nước để rửa sản phẩm và lọc khói.Nhựa có nhiệt trị cao nên có thể thu hồi năng lượng của chúng bằng cách đốt Tuynhiên, phương pháp này gây ô nhiễm môi trường và mặt khác việc thu hồi nănglượng bàng phương pháp đốt chưa hẳn tối ưu so với việc thu hồi plastic để tái chế Vìvậy, việc tái sinh polymere sẽ trở thành một hoạt động thực sự trong tương lai Sự
Trang 38hấp dẫn của nguồn nguyên liệu và thị trường tái chế bao gói sử dụng plastic bị khốngchế bởi vấn đề kinh tế hơn là vấn đề kỹ thuật.
d Thủy tinh:
Gồm các loại:
- Thủy tinh trong hay màu ( lục, nâu, hổ quách )
- Các loại kính phẳng ( kính cửa sổ ) hay kính cong ( kính xe )
- Chai, lọ, ly, thùng chứa ( thực phẩm, nước giải khác…) bằng thủy tinh
Trong thành phần CTR sinh hoạt tại các hộ gia đình, thủy tinh chiếm khoảng 0-19%,trong đó chủ yếu là miểng chai Các loại chai lọ nguyên hầu như được người dân bánlại cho những người thu mua phế liệu
Hầu hết thủy tinh được dùng để sản xuất các loại chai lọ thủy tinh mới, một phần nhỏ
để chế tạo bông thủy tinh hoặc chất cách điện bằng sợi thủy tinh Các loại phế liệuthủy tinh không thể phân loại theo màu được dùng để sản xuất vật liệu lát đường vàvật liệu xây dựng như gạch, đá lát đường, đá lát sàn nhà và bê tông nhẹ Tuy nhiên,việc tái sử dụng miểng chai để sản xuất vật liệu lát đường cũng gặp trở ngại vì chiphí vận chuyển và sản xuất cao Hơn nữa sản phẩm mới này cũng không có chấtlượng cao hơn so với sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu cổ điển
e Sắt, thép:
Sắt, thép thu hồi từ CTR sinh hoạt chủ yếu là các dạng lon thiếc và sắt phế liệu.Nhôm và những kim loại màu khác được phân loại bằng phương pháp từ tính Thépsau khi được làm sạch các tạp chất được khử thiếc bằng cách gia nhiệt trong lò nung
để làm hóa hơi thiếc hoặc bằng quá trình hóa học sử dụng NaOH và tác nhân oxyhóa Thiếc được thu hồi từ dung dịch bằng quá trình điện phân nhân tạo thành thiếcdạng thỏi
Thép đã khử thiếc được dùng để sản xuất thép mới Các phế liệu được khử thiếcbằng phương pháp gia nhiệt không thích hợp để sản xuất thiếc vì quá trình gia nhiệtlàm cho môt phần thiếc khuếch tán vào thép và làm cho thép mới không tinh khiết
Trang 39f Lon nhôm:
So với những thành phần chất thải có khả năng tái chế như giấy, thủy tinh, nhựa thìlon nhôm là loại CTR được tái chế thành công nhất Tái chế lon nhôm mang lại hiệuquả về kinh tế do:
- Việc tái chế tạo ra nguồn nguyên liệu trong nước ổn định
- Năng lượng cần thiết đẩy sản xuất một lon nhôm từ nhôm tái chế ít hơn so vớinhôm nguyên chất 5%
- Lon nhôm được tái chế là nguyên liệu đồng nhất, có thành phần xác định biếttrước và hầu như không có tạp chất
- Tái chế cho phép các nhà máy sản xuất lo nhôm cạnh tranh với các nhà máysản xuất bao bì thủy tinh và kim loại
g Cao su:
Cao su được thu hồi từ tái chế lớp xe, làm nhiên liệu và nhựa rải đường Cũng nhưcác thành phần phế liệu khác, cao su sau khi phân loại cũng được ép thành kiện đểgiảm thể tích trước khi chở đến cơ sở tái chế
h Các thành phần khác:
Các thành phần khác hiện diện trong rác thải khác như ( vải, bông băng, sành sứ,…)
do giá trị kinh tế không cao nên ít được chú ý trong hệ thống tái sinh tái chế Nhữngloại này thường được xử lý bằng chôn lấp
Bên cạnh những thành phần thông thường hiện diện trong CTR sinh hoạt phát sinh từcác hộ dân, trường học, cơ quan công sở,… có những thành phần mang tính chất đặctrưng khác, cụ thể như sau:
- CTR đặc trưng khác: bao gồm rác quét đường, thùng chứa, chất thải côngcộng, xác động vật…
- Chất thải nguy hại có trong CTR sinh hoạt: bên cạnh các loại chất thải hữu cơ,thành phần CTR sinh hoạt còn có thể chứa các loại chất thải nguy hại như:pin, đồ điện tử gia đình hư hỏng,…
Trang 402.1.3 Khối lượng và tốc độ phát sinh chất thải rắn đô thị Quận 6
Theo số liệu thống kê khối lượng CTR sinh hoạt thu gom trên địa bàn Quận 6 từ năm
2003 đến năm 2009 được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.3 : Thống kê khối lượng CTRSH thu gom trên địa bàn Quận 6
Năm Khối lượng (tấn/ngày) Tỷ lệ tăng (%/năm)
Nguồn: Công ty dịch vụ công ích Quận 6
Biểu đồ 2.1: Biến thiên khối lượng CTRSH thu gom trên địa bàn Quận 6
Số liệu thống kê cho thấy khối lượng CTRSH thu gom trên địa bàn Quận 6 tăng dầnqua các năm Tuy nhiên mức độ gia tăng này không đồng đều giữa các năm và đặc