Bảng 4.15 Lợi ích khi mua đầu vào từ nguồn cố định 78 Bảng 4.16 Cách thức liên kết giữa người sản xuất với tác nhân tiêu thụ 79 Bảng 4.17 Nội dung liên kết của người sản xuất với tác nhâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
NGUYỄN THỊ CHÂM
NGHIÊN CỨU CÁC MỐI LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG
SẢN XUẤT LÚA GẠO CỦA HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGHIÊN CỨU CÁC MỐI LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG
SẢN XUẤT LÚA GẠO CỦA HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Châm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh
tế & Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hết lòng giúp
đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS Nguyễn Viết Đăng, giảng viên Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các cán bộ, chính quyền địa phương và các hộ nông dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Châm
Trang 5PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO CỦA HỘ NÔNG DÂN 5
2.1 Cơ sở lý luận về liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo 5
2.1.2 Sự cần thiết của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo 7 2.1.3 Nguyên tắc tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo 8 2.1.4 Nội dung của liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo 10 2.1.5 Các phương thức và hình thức liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ 13 2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ
2.2 Cơ sở thực tiễn về liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo 19 2.2.1 Thực tiễn liên kết ở một số quốc gia trên thế giới 19
Trang 62.2.2 Thực tiễn hoạt động liên kết của hộ nông dân trong sản xuất và tiêu
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
4.2 Thực trạng liên kết của hộ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa
4.2.2 Mô hình liên kết thông qua Hiệp hội sản xuất lúa Tám 57 4.2.3 Mô hình liên kết giữa hộ nông dân với đại lý cung cấp đầu vào 72 4.2.4 Mô hình liên kết giữa hộ nông dân với cơ sở thu mua, chế biến 78 4.2.5 Mô hình liên kết trong chuyển giao khoa học công nghệ 84 4.3 Đánh giá thực trạng mối liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ
4.3.1 Đánh giá lợi ích kinh tế của các tác nhân trong mối liên kết 92
Trang 74.3.2 Đánh giá hiệu quả trước và sau khi tham gia liên kết 94 4.3.3 Ma trận SWOT cho liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa
4.4 Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện mối liên kết kinh tế trong
sản xuất và tiêu thụ lúa gạo huyện Hải Hậu 104
4.4.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển mối liên kết kinh tế
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110
Trang 8Bảng 4.7 Chi phí sản xuất lúa Tám xoan của các hộ tham gia và không
tham gia hiệp hội sản xuất và tiêu thụ lúa Tám xoan năm 2013 61 Bảng 4.8 Kết quả sản xuất một số giống lúa chính tại các hộ điều tra 62 Bảng 4.9 So sánh hiệu quả sản xuất lúa Tám xoan BQ/sào giữa nhóm hộ
khi tham gia và không tham gia hiệp hội sản xuất lúa Tám xoan 64 Bảng 4.10 Chức năng của các tác nhân tham gia vào từng kênh tiêu thụ 67 Bảng 4.11 Hình thành giá 1kg gạo Tám xoan của hiệp hội trên thị trường 71 Bảng 4.13 Nguồn mua phân bón thường xuyên của các hộ điều tra 76 Bảng 4.12 Nguồn mua giống thường xuyên của các hộ điều tra 74 Bảng 4.14 Nguồn mua thuốc BVTV thường xuyên của các hộ điều tra 77
Trang 9Bảng 4.15 Lợi ích khi mua đầu vào từ nguồn cố định 78 Bảng 4.16 Cách thức liên kết giữa người sản xuất với tác nhân tiêu thụ 79 Bảng 4.17 Nội dung liên kết của người sản xuất với tác nhân tiêu thụ 82 Bảng 4.18 Lợi ích khi liên kết trong quá trình tiêu thụ sản phẩm của các hộ
Bảng 4.19 Một số chỉ tiêu kinh tế - kĩ thuật trong sản xuất một số giống lúa
Bảng 4.20 Kết quả thực hiện mô hình trình diễn các giống lúa thơm của các
Bảng 4.21 Tình hình đầu tư chi phí cho 1 sào sản xuất lúa trong liên kết
chuyển giao KHKT của các nhóm hộ điều tra năm 2013 89 Bảng 4.22 Phân tích lợi ích trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo đối với các
Bảng 4.23 Phân tích lợi ích liên kết trong sản xuất và tiêu thụ của các tác
nhân khác liên quan tại huyện Hải Hậu năm 2013 93 Bảng 4.24 Kết quả, hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các nhóm hộ điều tra
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 4.1 Tác nhân tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Sơ đồ 4.2 Các kênh phân phối gạo của huyện từ Hải Hậu lên Hà Nội 68
Sơ đồ 4.3 Các kênh phân phối gạo của Hiệp hội gạo Tám xoan Hải Hậu 69
Đồ thị 4.1 Kết quả sản xuất lúa giữa hộ liên kết và hộ không liên kết 95
Đồ thị 4.2 Hiệu quả sản xuất lúa của các hộ liên kết và hộ không liên kết 96
Trang 12PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 5 năm Việt Nam gia nhập WTO, trong khi công nghiệp thụt giảm sâu về tốc độ tăng trưởng thì nông nghiệp vẫn giữ vững nhịp độ tăng trưởng, thể hiện rõ vai trò trụ đỡ, cứu cánh của nền kinh tế, nông nghiệp vẫn đạt được
sự tăng trưởng tốt nhất, bình quân 3,4% Đóng góp vào sự tăng trưởng đó phải kể đến các mặt hàng nông sản nổi bật như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, rau quả… Đặc biệt là lúa gạo, không những đóng vai trò đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, sản xuất lúa gạo còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) năm 2012, xuất khẩu gạo đạt 7,72 triệu tấn, đạt hơn 3,5 tỷ USD, tăng gần 8,3% so với năm 2011
Mặc dù sản xuất lúa gạo ngày càng phát triển, nông nghiệp ngày càng
đi lên, thế nhưng đời sống của người nông dân vẫn chưa được cải thiện nhiều Người nông dân luôn là người gánh chịu rủi ro nhiều nhất, mà khi giá gạo tăng giá lúa không tăng cùng nhịp, vì vậy người nông dân vẫn là người chịu thiệt và chịu thiệt lớn nhất Để nâng cao đời sống cho người nông dân sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng cần có sự liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ Hiện nay, liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ trở nên rất cần thiết, thông qua các mối liên kết giúp cho người sản xuất có sự ràng buộc với nhau và với các tác nhân khác trong tất cả các khâu từ việc cung ứng đầu vào cho sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm đầu ra; hạn chế và khắc phục những bất lợi của tự nhiên, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, ổn định sản xuất, tránh tình trạng được mùa mất giá, bị
ép giá… Liên kết giữa các hộ nông dân và các chủ thể kinh tế nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất
Trang 13Nghị quyết TW 7 đã nêu rõ: “Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp, đội ngũ trí thức với nông dân trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi; có chính sách khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp, trí thức về nông thôn, đóng góp tích cực và có hiệu quả cho quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo đường lối của Đảng” Cùng với đó Thủ tướng Chính phủ cũng
đã ban hành Quyết định 80/2002/QĐTG, ngày 24 tháng 6 năm 2002 về
“Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng” nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền nông nghiệp hiện đại, tạo điều kiện cho người sản xuất yên tâm đầu tư, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam
Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định là huyện có nền kinh tế khá đa dạng, gồm nông nghiệp, đánh bắt và chăn nuôi thủy hải sản, thủ công mỹ nghệ, làm muối, cây cảnh và du lịch Hải Hậu cũng khá nổi tiếng trong sản xuất lúa gạo với nhiều loại gạo đặc sản như gạo tám, nếp hương, dự… cung ứng phần lớn cho người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh Người nông dân Hải Hậu nhiều kinh nghiệm trong sản xuất lúa gạo Thế nhưng cũng giống với thực trạng của sản xuất lúa gạo nói chung, cuộc sống người nông dân ở đây vẫn còn nghèo chưa được cải thiện nhiều từ việc trồng lúa Việc đánh giá, phân tích mối liên kết của hộ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Hải Hậu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế của các mối liên kết, cải thiện đời sống người dân Xuất phát từ những thực trạng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: "Nghiên cứu các mối liên kết kinh tế trong sản xuất lúa gạo của hộ nông dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng các mối liên kết của hộ nông dân trong sản xuất lúa gạo ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm tăng cường các mối liên kết, đẩy mạnh sản xuất lúa gạo, nâng
Trang 14cao đời sống cho người nông dân nói riêng và góp phần phát triển kinh tế xã hội nói chung
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
• Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định hiện nay như thế nào?
• Đang tồn tại những mối liên kết nào của hộ nông dân trong sản xuất
và tiêu thụ lúa gạo ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, các mối liên kết này tác động như thế nào đến khâu sản xuất và tiêu thụ lúa gạo?
• Các mối liên kết này mang lại lợi ích gì cho các tác nhân và các tác nhân gặp phải những khó khăn gì trong sản xuất, tiêu thụ lúa gạo?
• Những yếu tố nào ảnh hưởng đến các mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định?
• Giải pháp nào giúp tăng cường và nâng cao hiệu quả của các mối liên kết trong sản xuất, tiêu thụ lúa gạo ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các mối liên kết kinh tế của hộ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Trang 15Đối tượng nghiên cứu chính là các hộ nông dân tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo; và các tổ chức khác có liên quan như UBND huyện,
xã, hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về các mối liên kết của hộ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Hải Hậu, tập trung chủ yếu vào các mối liên kết của người sản xuất với các nhân khác trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo; các yếu tố ảnh hưởng, định hướng và giải pháp tăng cường các mối liên kết
+ Số liệu sơ cấp được điều tra trong năm 2013
+ Định hướng và giải pháp cho những năm tới
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi toàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Trang 16PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO CỦA HỘ NÔNG DÂN
2.1 Cơ sở lý luận về liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
2.1.1 Khái niệm liên kết và liên kết kinh tế
Theo từ điển ngôn ngữ học (1992) thì liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ
Liên kết (tiếng Anh là “integration”) trong hệ thống thuật ngữ kinh tế
nó có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên kết
Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại (David.W.Pearce) thì “liên kết kinh
tế chỉ tình huống khi mà các khu vực khác nhau của nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách
có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển Điều kiện này thường đi kèm sự tăng trưởng bền vững.”
Tác giả Phạm Thị Minh Nguyệt (2006) cho rằng “Liên kết kinh tế chính là những phương thức hoạt động của các hình thức hợp tác kinh tế, liên kết kinh tế phát triển ngày càng phong phú, đa dạng theo sự phát triển của hợp tác kinh tế; tất cả các mối quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với nhau dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định được gọi là liên kết kinh tế”
Theo quyết định số 38/1989/QĐ – HĐBT ngày 4 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng bộ trưởng về liên kết kinh tế trong sản xuất lưu thông và dịch
vụ và các văn bản của nhà nước thì liên kết kinh tế được hiểu là những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn
Trang 17bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất
Như vậy liên kết kinh tế là sự biểu hiện của các hình thức hợp tác, nó phản ánh mối quan hệ về hợp tác và phân công lao động trong các quá trình sản xuất xã hội của các ngành, các địa phương, các đơn vị kinh tế, các thành phần kinh tế Liên kết kinh tế là sự hợp tác, phối hợp giữa các chủ thể kinh
tế trên cơ sở tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất Liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh doanh thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý
• Liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Từ những khái niệm và nội dung về liên kết, liên kết kinh tế ta có thể đưa ra khái niệm về liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo: liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo là biểu hiện sự hợp tác, nó phản ánh mối quan hệ về hợp tác và phân công lao động trong các quá trình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong các đơn vị kinh tế, các thành phần kinh tế Liên kết kinh
tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo là hợp tác, phối hợp giữa các chủ thể kinh
tế trên cơ sở tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất Liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo có thể diễn ra và thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu thuộc mọi thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý
Liên kết kinh tế trong sản xuất lúa gạo là hình thức kết hợp các đơn vị sản xuất lúa gạo và tiêu thụ lúa gạo lại với nhau, dựa trên cơ sở tự nguyện liên kết lại với nhau trong một khâu hoặc nhiều khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo để các đơn vị cùng ổn định và phát triển lâu dài Đó là sự liên kết giữa hộ nông dân sản xuất và tiêu thụ lúa gạo với các công ty, cửa hàng dịch vụ nông nghiệp, các tác nhân thu mua, chế biến, tiêu thụ Các hộ nông dân đảm nhiệm sản xuất lúa; các doanh nghiệp, các dịch vụ nông nghiệp với tiềm lực
Trang 18kinh tế của mình thực hiện đầu tư vốn, vật tư, chuyển giao khoa công nghệ cho
hộ nông dân Liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo là sự liên kết giữa hộ nông dân, các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh lúa gạo với các tổ chức tín dụng trong đầu tư vốn, với các nhà khoa học trong nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, với Nhà nước trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
2.1.2 Sự cần thiết của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Liên kết trong sản xuất lúa gạo nhằm khai thác tốt tiềm năng cũng như khắc phục các thiếu hụt của mỗi chủ thể khi tham gia liên kết, hướng tới sự phát triển bền vững
Để sản xuất ra một loại sản phẩm nào đó thì yêu cầu những chủng loại vật tư, nguyên liệu đầu vào khác nhau mà bản thân đơn vị sản xuất (hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp) không tự sản xuất ra tất cả Ví dụ, trong sản xuất lúa gạo, người ta sử dụng các vật tư nông nghiệp chính là giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,… các vật tư này nằm ở nhiều vùng miền khác nhau do nhiều chủ thể khác nhau đang quản lý, hơn nữa với mỗi cung đoạn lại có các đầu vào khác nhau, quy trình công nghệ khác nhau và mang tính đặc thù riêng, vì vậy, liên kết hợp tác của hai hay nhiều bên nhằm phát huy lợi thế so sánh, giảm chi phí sản xuất và chủ động, ổn định sản xuất và tiêu thụ
Trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm, nhu cầu thị trường luôn có sự thay đổi, điều đó buộc các hộ sản xuất, nhà sản xuất vừa phải luôn thay đổi chất lượng các sản phẩm hiện có, vừa phải tìm cách đa dạng hoá sản phẩm Để có được những thay đổi phù hợp với nhu cầu của thị trường thì cần phải có thông tin và có đủ khả năng triển khai nhanh các phương án sản xuất mới và liên kết kinh tế sẽ giúp cho người sản xuất đạt được điều đó Thêm vào đó, giá cả thị trường luôn thay đổi vì vậy việc liên kết giữa các tác nhân sẽ giúp họ hạn chế được tình trạng bị ép giá cũng như việc phải mua đắt, bán rẻ Ngoài ra, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn giúp các tác nhân có thể tiếp cận
Trang 19nhanh chóng với khoa học công nghệ và kỹ thuật mới, nhanh chóng ứng dụng vào thực tiễn giúp quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hiệu quả hơn
2.1.3 Nguyên tắc tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Một là, phải đảm bảo sản xuất kinh doanh của các chủ thể tham gia liên kết không ngừng phát triển và có hiệu quả ngày càng tăng
Dù liên kết kinh tế dưới hình thức và mức độ nào đi nữa thì yêu cầu của hoạt động liên kết kinh tế ấy phải đảm bảo để sản xuất và kinh doanh của các chủ thể tham gia không ngừng được phát triển, doanh thu ngày càng tăng, năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng cao Liên kết kinh tế phải nâng cao được trình độ công nghệ, mở rộng mặt hàng, sản xuất ngày càng phù hợp với nhu cầu thị trường, giá thành hạ, đem lại nhiều lợi nhuận cho các chủ thể trên cơ sở giá bán và chất lượng sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận
Hai là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia liên kết
Các hoạt động hợp tác, liên kết kinh tế giữa các chủ thể tham gia được thực hiện một cách thuận lợi, trôi chảy, thành công và đem lại hiệu quả cao khi các chủ thể tự nguyện tìm đến với nhau, tự thoả thuận quan hệ hợp tác, liên kết làm ăn với nhau lâu dài trên tinh thần bình đẳng, cùng chịu trách nhiệm đến cùng về các thành công cũng như thất bại và rủi ro Tất cả các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế, tổ chức kinh tế được thiết lập trên cơ sở những ý đồ không xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện, từ những liên hệ tất yếu
về phương diện kinh tế, nghĩa là tiến hành trên cơ sở gò bó, gượng ép, bắt buộc đều hoạt động kém hiệu quả, không thành công
Ba là, phải đảm bảo sự thống nhất hài hoà lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia liên kết
Lợi ích kinh tế chính là động lực thúc đẩy các bên tham gia liên kết kinh
tế với nhau, là chất kết dính với nhau trong quá trình liên kết Các bên tìm đến với nhau thoả thuận tiến hành hợp tác, liên kết với nhau vì họ tìm thấy
Trang 20những lợi ích lâu dài Cho nên việc đảm bảo thống nhất hài hoà lợi ích giữa các bên sẽ tạo nên chất kết dính bền vững Khi lợi ích kinh tế của một hoặc một số chủ thể nào đó bị xâm phạm hoặc thiếu sự công bằng, thống nhất sẽ tạo ra sự rạn nứt của mối liên hệ bền vững, dẫn đến sự phá vỡ tổ chức liên kết, mối liên hệ đã được thiết lập Sự phân chia lợi nhuận, phổ biến thiệt hại, rủi ro, các tính toán về chi phí giá cả cần được tiến hành thoả thuận, bàn bạc một cách công khai, dân chủ, bình đẳng và đảm bảo công bằng trên cơ sở những đóng góp của các bên liên kết [Nguyễn Thị Bích Hồng, 2008]
Bốn là, phải thực hiện được trên cơ sở những ràng buộc pháp lý giữa các bên tham gia ràng buộc giữa các bên tham gia liên kết, và thông qua hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế là khế ước, là những thỏa thuận, những điều khoản ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi giữa các bên tham gia liên kết, được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh tế đều phải tiến hành trên cơ sở pháp luật của Nhà nước cho phép, đồng thời được pháp luật bảo hộ những tranh chấp giữa các bên quan hệ làm
ăn với nhau Cho nên, để có những căn cứ pháp lý cho các cơ quan pháp luật phán quyết những tranh chấp giữa các bên có quan hệ kinh tế với nhau đều phải có khế ước hay hợp đồng kinh tế được ký kết theo đúng luật pháp của quốc gia Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, mọi mối liên kết kinh tế muốn phát triển lâu dài, cần phải thực hiện theo đúng pháp luật, phải thông qua hợp đồng kinh tế Có như vậy nhà nước mới đủ căn cứ pháp
lý để giải quyết tranh chấp, bất đồng xảy ra giữa các bên Đối với hoạt động liên kết kinh tế là những mối quan hệ kinh tế ổn định, thường xuyên, lâu dài lại càng cần được tiến hành qua hợp đồng kinh tế Nó còn là những căn cứ để các bên tiến hành đàm phán giải quyết những bất đồng, tranh chấp nhỏ xảy ra giữa các bên, làm cho các quan hệ kinh tế liên kết ngày càng bền chặt hơn
Trang 21Việc thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế sẽ tạo thuận lợi cho các bên tham gia liên kết thực hiện tốt các kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình
Sự phát triển của liên kết kinh tế làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, mức độ tập trung hóa ngày càng cao, làm cho các khu vực kinh tế ngày càng xích lại gần nhau, gắn bó với nhau hơn Liên kết kinh tế là sợi dây,
là chất nhựa gắn bó các doanh nghiệp, các chủ thể liên kết lại với nhau trên
cơ sở đảm bảo lợi ích sống còn trên thị trường Hoạt động liên kết kinh tế là nhằm phát triển, tìm kiếm, khai thác ngày càng nhiều nguồn nguyên liệu cho sản xuất, đa dạng hóa mặt hàng, tăng nhanh khối lượng và chất lượng sản phẩm, rút ngắn và đẩy nhanh quá trình lưu thông, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng
và phát triển thị trường, tức là nâng cao năng suất lao động, tồn tại, phát triển
và mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao
Tùy từng loại hình tổ chức và yêu cầu của sản xuất kinh doanh, mức độ liên kết giữa các thành viên có thể theo từng loại công việc, từng bước của công nghệ sản xuất, theo từng loại sản xuất hoặc theo từng lĩnh vực hoạt động chuyên môn hóa cũng như cung ứng, sản xuất, bảo quản, tiêu thụ…
2.1.4 Nội dung của liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Liên kết trong sản xuất lúa gạo gồm các hoạt động, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm cuối cùng Các hoạt động này thể hiện ở mọi khía cạnh khác nhau
2.1.4.1 Liên kết thông qua Hiệp hội
Liên kết thông qua Hiệp hội hiện nay khá phổ biến trong sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa Các hộ nông dân có đủ điều kiện về sản xuất sẽ được tham gia vào Hiệp hội và được hỗ trợ về giống, phân bón và quy trình thâm canh sản xuất để đạt được năng suất cao nhất Đồng thời, sản phẩm nông sản mà các hộ nông dân tham gia vào Hiệp hội sản xuất ra sẽ được Hiệp hội kí hợp đồng tiêu thụ để đảm bảo lợi ích cao nhất cho người nông dân Trong nền kinh tế phát triển như hiện nay, với xu thế liên kết từ quá trình sản
Trang 22xuất đến quá trình tiêu thụ sản phẩm thì các Hiệp hội ra đời không những góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp mà còn bảo vệ lợi ích cho người nông dân khi tham gia Hiệp hội
2.1.4.2 Liên kết trong việc mua bán nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Quá trình mua bán các nguyên liệu đầu vào như (giống, phân bón, thuốc trừ sâu…), thường là sự liên kết giữa hộ nông dân với các công ty, đại
lý, HTX dịch vụ nông nghiệp hay các cửa hàng bán lẻ tại xã, huyện, tỉnh… Liên kết để việc trao đổi các nguyên liệu đầu vào được dễ dàng hơn, chất lượng tốt hơn và tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau hơn Thông qua mối liên kết này, các nhà cung ứng vật tư sẽ bán được sản phẩm mình sản xuất ra và thu lại lợi nhuận cho cơ sở, tổ chức, đơn vị mình Đồng thời người nông dân lại
có đầu vào để sản xuất với cam kết đảm bảo số lượng, chất lượng,… vật tư đầu vào Khi liên kết này được thực hiện đều mang lại lợi ích cho các bên tham gia Từ đó người nông dẫn sẽ chủ động về các nguồn đầu vào và sẽ yên tâm sản xuất hơn
Liên kết trong việc tiêu thụ sản phẩm Đây là một hình thức góp phần làm
nâng cao giá trị của sản phẩm Sự liên kết này thường diễn ra giữa cơ sở chế biến với hộ nông dân thông qua một tổ chức đại diện cho nông dân tại địa phương như HTX, tổ, đội sản xuất hay câu lạc bộ sản xuất Thường khi liên kết trong hoạt động nay thì yêu cầu về số lượng và chất lượng sản phẩm cao hơn cũng như thời hạn giao hàng khắt khe hơn Bù lại đó thì nông dân nhận được một mức giá cao, hợp lý và tiêu thụ ổn định hơn với số lượng cũng nhiều hơn
Hiện nay đại đa phần người nông dân muốn liên kết trong khâu tiêu thụ sản phẩm vì mục đích cuối cùng của hộ sản xuất là làm sao bán được sản phẩm của mình làm ra và thu được lợi nhuận càng nhiều càng tốt Mà muốn thu được lợi nhuận nhiều thì nó phụ thuộc vào giá bán và lượng hàng mình bán ra với độ dễ dàng hay khó khăn như thế nào Thường khi liên kết trong
Trang 23tiêu thụ thì các hộ nông dân hay liên kết với các thương lái thu gom tại địa phương, các thương lái thu gom ở các thị trường khác, hay các cơ sở chế biến các doanh nghiệp ngay gần địa phương mình Khi liên kết trong tiêu thụ thì người nông dân sẽ an tâm để sản xuất hơn vì bán được lượng hàng thường xuyên và ổn định còn bên mua hàng thì có được đủ số hàng mình cần ổn định không tốn nhiều công đi thu mua
2.1.4.3 Liên kết trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
Liên kết trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật như (các
giống mới, kỹ thuật chăm sóc mới, hay công thức luân canh cây trồng mới…), lĩnh vực này, liên kết thể hiện ở mối liên kết của các trường, viện nghiên cứu của các cơ quan nhà nước hay các công ty tư nhân với nông dân thông qua các cơ quan đoàn thể tại địa phương Các cơ quan đoàn thể tại địa phương thường là HTX, hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên,… để đưa các tiến
bộ khoa học kỹ thuật tới nông dân Các trường, viện nghiên cứu của các cơ quan nhà nước đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật này đến với nông dân thường dựa vào chủ trương của nhà nước là ngày càng nâng cao trình độ cũng như kỹ thuật canh tác của nông dân đê góp phần tăng thu nhập nâng cao mức sống của họ Công tác này thường mang tính chất hỗ chợ là chính nông dân không phải mất phí để tiếp thu nhưng tiến bộ mới này
Bên cạnh các cơ quan của nhà nước thì các công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng muốn liên kết với nông dân thông qua việc tuyên truyền, quảng bá các giống, phân bón, thuốc trừ sâu,… mới cũng như các kỹ thuật chăm sóc mới để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường Người dân tiếp nhận hình thức chuyển giao khoa học kỹ thuật mới này thường phải mất một lượng chi phí nhất định Khi áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới này mà phù hợp với điều kiện của vùng thì chắc chắn sẽ góp phần nâng cao giá trị thu nhập cho người dân
Trang 242.1.5 Các phương thức và hình thức liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ 2.1.5.1 Các phương thức liên kết kinh tế
Liên kết theo chiều ngang (làm chủ thị trường) là hình thức liên kết
mà trong đó mỗi tổ chức hay cá nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung Trong liên kết này mỗi thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế, nhờ quy mô của tổ chức liên kết kinh
tế Việc liên kết này cho thấy có hiệu quả tốt đặc biệt đối với những người kinh doanh quy mô nhỏ hoặc nông dân, liên kết tạo cho họ khả năng làm chủ thị trường, giúp họ hạn chế được sự ép cấp, ép giá của tư thương hay các cơ
sở chế biến Kết quả của liên kết theo chiều ngang là hình thành nên những tổ chức liên kết như hợp tác xã, liên minh, hiệp hội… và cũng có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhất định
Liên kết theo chiều dọc là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu
của quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm) Kiểu liên kết theo chiều dọc toàn diện nhất bao gồm các giai đoạn từ sản xuất, từ chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm Trong mối liên kết này thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là khách hàng của các tác nhân trước đó đồng thời là người cung cấp sản phẩm cho các tác nhân tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể giảm đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian Chẳng hạn thương lái thu gom là khách hàng của các hộ nông dân sản xuất lúa nhưng lại là người cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp xay xát, chế biến gạo
Chúng ta chia thành hai phương thức liên kết như trên, nhưng trong bất
kỳ một ngành hàng nào chúng ta cũng có thể thấy sự xuất hiện của hai
Trang 25phương thức liên kết này và mỗi tác nhân có thể đồng thời tham gia cả hai phương thức liên kết nói trên
Sơ đồ 2.1: Các phương thức liên kết kinh tế
Sơ đồ trên thể hiện hai phương thức liên kết theo chiều ngang và theo chiều dọc Ta thấy liên kết theo chiều dọc làm tăng độ dài các mối liên kết và liên kết theo chiều ngang giúp mở rộng mối liên kết
- Hợp đồng trên cơ sở cá nhân
Là quan hệ trực tiếp giữa người sản xuất (như nông hộ, trang trại) với
cơ sở chế biến được thực hiện thông qua hợp đồng ký kết với hai bên Các
Trang 26chủ thể có trách nhiệm giao nộp sản phẩm đúng thời hạn, địa điểm, số và chất lượng cho cơ sở chế biến Ngược lại cơ sở chế biến có trách nhiệm nhận sản phẩm (nông sản) và thanh toán hợp đồng cho bên kia Bên nào vi phạm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận
- Hợp đồng trên cơ sở nhóm: Có hai dạng
+ Dạng thứ nhất: Hợp tác thông qua hiệp hội Hiệp hội là tập hợp các nhà sản xuất có cùng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của quá trình sản xuất trên thị trường Hiệp hội thay mặt các nhà sản xuất ký hợp đồng chung với cơ sở chế biến về thời gian giao nộp sản phẩm, địa điểm, số và chất lượng, giá cả cũng như phương thức thanh toán
+ Dạng thứ hai: Hợp tác thông qua hợp tác xã dịch vụ Những người sản xuất có quan hệ gián tiếp với cơ sở chế biến và quan hệ trực tiếp với các hợp tác xã dịch vụ Hợp tác xã thay mặt người sản xuất đứng ra ký hợp đồng với cơ sở chế biến, trực tiếp thanh toán, nhận, trả với cơ sở chế biến sau đó thanh toán cho từng cơ sở sản xuất (hoặc từng hộ nông dân)
Đối với mối liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với người sản xuất (nông dân) thì chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội khác nhau Về mặt kinh tế, nhân tố quy định mạnh mẽ nhất là chế độ kinh tế - xã hội, tức chế độ sở hữu và cơ chế vận hành nền kinh tế, bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đặc điểm ngành nghề, sản phẩm nguyên liệu
cụ thể, nhân tố chính trị - xã hội cũng có tác động nhất định đến liên kết
• Hợp đồng miệng
Hợp đồng miệng là các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động công việc nào đó Hợp đồng miệng cũng được hai bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các bên tham gia hợp đồng Hợp đồng miệng thường được thực hiện giữa các tác nhân
Trang 27có quan hệ thân thiết như (họ hàng, bạn bè, anh em ruột…) hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác, liên kết sản xuất-kinh doanh với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể hiện được nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức
và trách nhiệm giữ chữ tín với các đối tác Tuy nhiên hợp đồng miệng chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa Việc tăng khả năng tiếp cận các công nghệ kĩ thuật mới giúp nông dân giải phóng sức lao động, cho phép giảm giá thành và tăng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Đây là hướng tích cực và có nhiều triển vọng cho hàng triệu hộ nông dân sản xuất nhỏ chưa có điều kiện để tích lũy đất đai, có điều kiện áp dụng công nghệ mới trong sản xuất
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đóng vai trò định hướng cho phát triển kinh tế nói chung, sự phát triển của nền nông nghiệp và mối liên kết giữa các chủ thể nói riêng Yếu tố này càng được quan tâm đúng đắn, kịp thời thì hiệu quả liên kết càng cao Có thể kể đến một số chính sách sau:
- Chính sách kinh tế nhiều thành phần: Trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay nhiều thành phần có thể tham gia như: kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác, kinh tế hộ nông dân, kinh tế trang trại, kinh tế tư nhân Việc quy định vị trí vai trò của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế là quan trọng nhằm đảm bảo tính ổn định của sản xuất
- Chính sách ứng dụng tiến bộ kĩ thuật vào nông nghiệp Đầu tư trước hết vào việc xây dựng vào cải tạo cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường giao thông và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa
Trang 28- Chính sách giá cả, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp: khi cần thì Nhà nước
có những chính sách tác động đến giá cả, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể
và hỗ trợ cho các chủ thể một phần khi gặp khó khăn trong quá trình sản xuất
- Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng và các chính sách hỗ trợ kèm theo Chính sách này trực tiếp tác động vào mối liên quan ba nhà và tạo điều kiện cho cả ba chủ thể tham gia vào liên kết có hiệu quả
Trình độ nhận thức, năng lực, tư duy của các chủ thể tham gia liên kết
- Trình độ nhận thức, năng lực, tư duy của các chủ thể liên kết là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của liên kết trong sản xuất nông nghiệp Người dân không có kiến thức, tư duy về liên kết sẽ không hiểu về kiên kết, do đó sẽ khó thực hiện tốt vai trò của mình trong liên kết Các nhà khoa học không hiểu biết về các chủ trương, chính sách liên kết, không có năng lực chuyên môn sẽ không đảm nhiệm được vai trò cầu nối khoa học kĩ thuật tới người dân Bản chất các doanh nghiệp không biết về tầm quan trọng liên kết, không biết về các chính sách ưu đãi sẽ không tích cực tham gia Trình độ và tư duy liên kết tốt sẽ nâng cao hiệu quả liên kết các nhà trong sản xuất nông nghiệp
Trình độ của nền sản xuất, quy mô sản xuất
Sản xuất hàng hóa càng cao thì nhu cầu liên kết càng lớn Trên thực tế, bất cứ nền sản xuất của nước nào mang tính tự cấp, tự túc sẽ không xuất hiện quá trình liên kết, hợp tác, thì nó cũng chỉ mang tính giản đơn Trong nông nghiệp thể hiện rất rõ yếu tố này Ở Việt Nam, trình độ sản xuất nông nghiệp
ở các vùng khác nhau thì mức độ hợp tác, liên kết cũng khác nhau
Điều kiện sản xuất quy mô lớn hay nhỏ có tầm quan trọng rất lớn đối với liên kết Quy mô lớn tạo điều kiện cho việc đầu tư đồng bộ, thuận tiện trong sản xuất, tiêu thụ và tiết kiệm được rất nhiều chi phí trung gian Tăng cường liên kết trực tiếp giữa các chủ thể khi quy mô sản xuất đủ lớn và điều kiện sản xuất, tiêu thụ cho phép Ngược lại, quy mô nhỏ lẻ, manh mún khiến
Trang 29các chủ thể gặp khó khăn trong việc thực hiện vai trò của mình trong liên kết
và thường phải qua trung gian
Yếu tố thị trường
Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển mạnh thì quá trình liên kết diễn
ra càng sôi động Mỗi vùng mỗi địa bàn có những điều kiện khác nhau, thông qua thị trường để thực hiện giá trị sản xuất của mình, điều đó quyết định có nên sản xuất sản phẩm hay không và bán được giá cao hay giá thấp Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển thấp thì giá bán càng bất lợi cho nhà sản xuất
và ngược lại Thị trường sôi động, hàng hóa giao dịch nhiều thì nơi ấy tạo lập được giá đúng với bản chất của thị trường Để đáp ứng yêu cầu thị trường trong điều kiện người nông dân còn khó khăn, nhất là các yếu tố đầu vào, đầu
ra của sản xuất, khi ấy buộc người nông dân phải thực hiện liên kết với các nhà có điều kiện cung cấp các dịch vụ đầu vào, đầu ra Càng nhiều hộ có nhu cầu cung cấp dịch vụ thì quá trình liên kết diễn ra càng mạnh
Vốn đầu tư sản xuất
Bất kì ngành sản xuất vật chất nào đều cần đến vốn để đầu tư cho sản xuất Với những người nông dân, đủ vốn họ sẽ có đủ các yếu tố đầu vào để tiến hành sản xuất và dễ dàng tham gia vào liên kết khi có điều kiện Các nhà khoa học cũng cần có sự đầu tư về kinh phí để thực hiện các nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm nhiệm vụ chuyên môn Doanh nghiệp cần vốn để mở rộng sản xuất, đầu tư nhà xưởng, trang thiết bị và các chi phí khác
Trang 30Yếu tố áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ
Việc áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến là điều kiện nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm, giá thành sản xuất và đặc biệt là tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường của sản phẩm, tiến bộ khoa học thì thường xuyên được nghiên cứu, cải tiến, sáng chế để mang lại nhiều lợi ích cho người
sử dụng Vì vậy, nhà sản xuất phải tăng cường áp dụng khoa học công nghệ, đồng nghĩa việc liên kết với nhà khoa học được đẩy mạnh, nhất là liên kết trong các dịch vụ đảm bảo chất lượng hàng hóa
2.2 Cơ sở thực tiễn về liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
2.2.1 Thực tiễn liên kết ở một số quốc gia trên thế giới
Trung Quốc
Tại Trung Quốc, liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp
và nhà nông phát triển rất nhanh chóng trong thời gian gần đây và đã trở thành công cụ khuyến khích các thành phần công, thương nghiệp tham gia nhiều hơn nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tạo liên kết chặt chẽ giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ nông sản Trung Quốc gọi là “kinh doanh sản nghiệp hoá nông nghiệp” Đây là phương thức kinh doanh nông nghiệp kiểu mới, trong đó nhà nước phối hợp với các xí nghiệp và các nhà khoa học trong các khâu tác nghiệp trước sản xuất, trong sản xuất và sau sản xuất của hàng triệu hộ nông dân, nhằm hướng vào thị trường nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất thực hiện nhất thể hoá sản xuất - chế biến - tiêu thụ, đưa sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng quy mô hoá, chuyên môn hoá và thâm canh hoá
Có 4 hình thức chính của sản nghiệp hoá:
Thứ nhất, hình thức doanh nghiệp chế biến gia công là chủ thể: tức là
doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước rồi thông qua hình thức ký hợp đồng, khế ước, cổ phần rồi liên hệ với nhân dân và vùng sản xuất nguyên liệu Trong đó doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ, thu mua nông
Trang 31sản định hướng sản xuất cho nông dân Nông dân đảm bảo nguyên liệu ổn định cho doanh nghiệp sản xuất Nhà nước tạo điều kiện cho doanh nghiệp và nông dân vay vốn, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và nông dân trước các thay đổi của thị trường nhằm cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư, người dân yên tâm sản xuất
Thứ hai, hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể: Các tổ chức hợp
tác nông dân đứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biến, các đơn
vị kinh doanh nông sản, mặt khác tiến hành tổ chức nông dân sản xuất họ đóng vai trò như chiếc cầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ với nông dân
Thứ ba, hình thức hiệp hội nông dân chuyên nghiệp: Đây là hình thức
chia sẻ thông tin, hỗ trợ nhau về tiền vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ Giữa các hộ gia đình trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi
Thứ tư, hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: Ở hình thức này
hạt nhân trung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản Tức là các chợ công ty này tác động hướng dẫn nông dân sản xuất các mặt hàng riêng biệt, từ đó hình thành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào cho kinh doanh của mình
Thái Lan
Thái Lan là nước có kinh nghiệm lâu năm áp dụng rộng rãi hình thức liên kết hợp tác bằng hợp đồng sản xuất nông sản, với nhiều loại nông sản Hiểu rõ rằng khi mở cửa thương mại tự do, nông dân sẽ phải đương đầu với những biến động của thị trường thế giới, mặt khác cũng biết rằng nếu để Nhà nước đóng vai trò trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp sẽ tốn kém và hiệu quả không cao Chính phủ Thái Lan đã quyết định đưa hình thức hợp đồng lên thành nội dung chính của chiến lược “tư nhân liên kết phát triển nông nghiệp” trong chương trình phát triển kinh tế đất nước
Trang 32Hình thức hợp đồng được áp dụng phổ biến ở Thái Lan là: các công ty tư nhân cung cấp vật tư nông nghiệp, vốn tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật, mua nông sản và
tổ chức tiếp thị hợp đồng với nông dân Tại Thái Lan, phương thức hợp đồng thu hút sự tham gia cao của khu vực tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài Một chính sách quan trọng của chính phủ Thái Lan là yêu cầu mọi ngân hàng thương mại phải đầu tư 20% tổng tiền gửi cho tín dụng tại nông thôn Trong điều kiện đó các ngân hàng thương mại muốn cho vay thông qua phương thức hợp đồng hơn là cho nông dân vay riêng lẻ trực tiếp, nhờ đó phương thức hợp đồng thêm phát triển Quả thật, hình thức tổ chức sản xuất hợp đồng đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp của nước này từ một nền sản xuất nông sản thô sang sản xuất kinh doanh nông sản chế biến tạo nên khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới
2.2.2 Thực tiễn hoạt động liên kết của hộ nông dân trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo Việt Nam
2.2.2.1 Hoạt động liên kết kinh tế ở Việt Nam
Nhằm phát triển bền vững các vùng nguyên liệu để phục vụ cho sản xuất và chế biến thì tại nhiều địa phương nhiều mô hình liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông đã xuất hiện Với mục đích là để có được những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn trong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc tế thì việc liên kết bốn nhà là vô cùng quan trọng Điển hình một số nơi đã thực hiện thành công mô hình này như: Trà Vinh, Nam Định
Mô hình liên kết “4 nhà” trong sản xuất lúa chất lượng cao tại xã
Thạnh Phú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh
Thạnh Phú là một xã vùng sâu của huyện Cầu Kè, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 32,6%, kinh tế nông nghiệp chiếm hơn 63% Trong những năm qua, sản xuất lúa nơi đây thường xuyên bị sâu bệnh, năng suất lúa thấp, chất lượng sản phẩm kém,
Trang 33sản phẩm lúa khó tiêu thụ dẫn tới thu nhập của người nông dân thấp
Để nâng cao chất lượng hạt lúa, khâu hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất từ: chọn giống, lịch thời vụ, kỹ thuật sạ hàng, bón phân đúng kỹ thuật,… được xác định là yếu tố ban đầu, quyết định 50% hiệu quả kinh tế Ngoài ra, đối với người nông dân, việc gắn kết doanh nghiệp, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) từ lâu cũng luôn là một trở ngại Hiểu được những khó khăn của nhà nông, dự án IMPP-TV đã xây dựng mô hình sản xuất “liên kết bốn nhà” theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Chính phủ
Dự án hỗ trợ hình thành tổ chức liên kết “Cộng đồng trồng lúa” gồm 108 hộ với diện tích canh tác 91,7 ha, đồng thời hỗ trợ kinh phí cho các nhà khoa học Chi cục Trồng trọt Bảo vệ thực vật chuyển giao kỹ thuật theo phương pháp 3 giảm 3 tăng, kết hợp phương pháp khử lẫn Trung tâm giống nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp hợp đồng tiêu thụ sản phẩm
Sau khi thực hiện mô hình tại vụ lúa đông xuân, kết quả vượt xa sự mong đợi của nông dân và các nhà khoa học: Thời gian sinh trưởng rút ngắn 5-10 ngày, năng suất thực tế bình quân 6,92 tấn/ha, cao hơn 0,5-1,5 tấn/ha
Mô hình này giúp giảm chi phí sản xuất 8,24%, tăng năng suất bình quân từ 30-42% so với vụ trước và chất lượng sản phẩm tăng trên 30% Với diện tích canh tác 91,7 ha, vụ lúa đông xuân 2008-2009, nông dân thu nhập gần 3,3 tỉ đồng, lợi nhuận hơn 2 tỉ đồng Bình quân 1 ha canh tác nông dân thu lãi hơn
20 triệu đồng Đây là năm đầu tiên hiệu quả kinh tế từ trồng lúa đạt cao nhất
Trang 34Mô hình liên kết “4 nhà” trong sản xuất, tiêu thụ rau màu tại Nam Định
Để nền kinh tế nông nghiệp ngày càng phát triển và đứng vững trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, tỉnh Nam Định đang nhân rộng mô hình liên kết "4 nhà" trong sản xuất, tiêu thụ rau màu đặc biệt là các loại cây trồng vụ đông nhằm phục vụ xuất khẩu
Mô hình này đã tạo ra một khối lượng lớn nông sản hàng hoá xuất khẩu,
do đó có sức cạnh tranh trên thị trường, giúp nông dân và các doanh nghiệp cùng làm giàu Mục tiêu của tỉnh là phấn đấu đến năm 2015 mở rộng diện tích cây vụ đông phục vụ chế biến xuất khẩu lên 3.000 ha Trong đó, tỉnh tập trung ở các huyện: Hải Hậu 900 ha, Ý Yên 600 ha, Nghĩa Hưng 400 ha, Vụ Bản 400 ha để có sản lượng trên 72.000 tấn rau màu đưa vào chế biến sản phẩm xuất khẩu Nếu đạt được mục tiêu này thì đến năm 2015, hàng năm các huyện này sẽ
có thu nhập với giá trị 105 tỷ đồng từ cây vụ đông xuất khẩu
Tỉnh Nam Định đã thúc đẩy liên kết “4 nhà” trong trồng rau màu xuất khẩu, triển khai các chính sách hỗ trợ người nông dân trồng các loại cây vụ đông phục vụ xuất khẩu, đồng thời tổ chức cho các doanh nghiệp gặp gỡ với nông dân để thoả thuận, ký kết hợp đồng trồng và tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, tỉnh cũng vận động các Ngân hàng Thương Mại tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân và các doanh nghiệp vay vốn đầu tư, mở rộng diện tích, chế biến rau màu xuất khẩu
Đến nay đã có 10 doanh nghiệp thường xuyên ký kết với gần 50 địa phương trong tỉnh, nhằm phát triển trồng cây vụ đông xuất khẩu với tổng số diện tích hơn 1.000 ha Các doanh nghiệp còn ký kết hợp đồng với nông dân các địa phương trong tỉnh cung cấp giống cây trồng có chất lượng cao và chủ động đưa các giống cây mới vào đồng rộng
Về phía người nông dân, họ đã đa dạng hoá cơ cấu cây trồng với nhiều loại cây rau màu như cà chua, dưa chuột bao tử, ngô bao tử, ngô ngọt, ớt Thu nhập bình quân từ trồng cà chua nhót đạt 68 triệu đồng/ha/vụ, cà chua
Trang 35quả to cho thu nhập 79,3 triệu đồng/ha/vụ, dưa chuột bao tử cho thu nhập 56,2 triệu đồng/ha/vụ
Tuy vậy, theo các công ty chuyên chế biến rau màu xuất khẩu, nông dân trong tỉnh vẫn chưa đáp ứng được việc cung cấp nguồn nguyên liệu rau màu chất lượng cao Với nhu cầu hiện nay tại Nam Định, các doanh nghiệp cần thu mua của nông dân ở các địa phương từ 5.000 đến 10.000 tấn sản phẩm rau màu để chế biến xuất khẩu trong khi nguồn cung chỉ mới đáp ứng được 30%
Nhằm khắc phục bất cập, yếu kém trong phát triển cây trồng vụ đông, tỉnh Nam Định đã có các giải pháp như: Các địa phương cần tổ chức rà soát, quy hoạch lại vùng chuyên canh cây vụ đông xuất khẩu; ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi ở các vùng sản xuất cây rau màu vụ đông; tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất rau màu; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dân trồng cây rau màu vụ đông; xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích nông dân phát triển trồng cây vụ đông đồng thời khuyến khích các
doanh nghiệp lo đầu ra tốt cho sản phẩm rau màu vụ đông
2.2.2.2 Một số chủ trương, chính sách của nhà nước có liên quan đến hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị khi bàn về phát triển kinh tế trang trại đã chỉ rõ: “Chú trọng liên kết giữa doanh nghiệp Nhà nước và thành phần kinh tế khác Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn với công nghiệp chế biến ngành nghề, gắn sản xuất với tiêu thụ để hình thành liên kết công - nông nghiệp, dịch vụ và thị trường ở nông thôn để xây dựng nông thôn mới”
Nghị quyết 09/2002/NQ-CP của Chính Phủ cũng “Khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh về chế biến, thương mại thuộc các thành phần kinh tế mở rộng diện ký hợp đồng tiêu thụ nông sản với hợp tác xã hoặc ký trực tiếp với
Trang 36nông dân, gắn kết cho được sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu”
QĐ 80/2002/TTg của Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng Quyết định 80 và việc liên kết bốn nhà là một chủ trương chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, là thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tiến tới nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại
Thông tư số 77/2002/TT- BTC: Hướng dẫn một số vấn đề về tài chính thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ
về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng: Hỗ trợ về đầu tư và hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, về tín dụng đầu tư phát triển nhà nước, hỗ trợ tài chính vùng khó khăn, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật và công nghệ,
về chính sách thuế, hỗ trợ xuất khẩu và xúc tiến thương mại
2.3 Khung phân tích các mối liên kết
2.4 Một số công trình nghiên cứu có liên quan
Lê Văn Lương (2008) “Nghiên cứu mối liên kết sản xuất – tiêu thụ rau
an toàn trên địa bàn Hà Nội”, tác giả cho rằng: liên kết trong sản xuất - tiêu thụ rau an toàn là cần thiết làm tăng giá trị, giảm rủi ro cho các tác nhân tham
Các tác nhân
Người sản xuất
Đại lý thu gom, tiêu thụ
Doanh nghiệp chế biến,
Lợi ích đạt được Khó khăn gặp phải Các yếu tố ảnh hưởng
Trang 37gia Phần lớn các mối liên kết giữa các tác nhân là tự do và hợp đồng miệng, phần đông các tác nhân khác ngoài hợp tác xã thu gom rau an toàn cho rằng hợp đồng bằng văn bản phức tạp và không cần thiết trong sản xuất rau Tác giả cũng chỉ ra việc phân chia lợi ích giữa các tác nhân chưa cho sự hài hoà, người sản xuất luôn nhận được lợi ích thấp nhất Mỗi hình thức liên kết có mức độ phù hợp và mang tính chất pháp lý khác nhau, yêu cầu những điều kiện khác nhau nhưng đều mang lại hiệu quả thiết thực thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ rau an toàn Tuy nhiên tác giả quá đề cập đến kênh tiêu thụ về rau an toàn chưa tập trung sâu phân tích vào các hình thức liên kết
Hoàng Thị Mơ, 2009 đã cho ta thấy mối liên kết kinh tế trong sản xuất
và tiêu thụ cà chua tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tác giả đã đề cập đến vấn đề liên kết giữa các tác nhân (Người sản xuất, người bán buôn, bán lẻ và người tiêu dùng) và sự phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia vào quá trình liên kết Nhưng bên cạnh đó, tác giả chưa đề cập đến sự tham gia đóng góp của nhà khoa học, Nhà nước và doanh nghiệp trong mối liên kết kinh tế đó
Mai Ngọc Mác, 2004 “Nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cói tại làng nghề của xã Nga Tân – Nga Sơn – Thanh Hoá’’, luận văn tốt nghiệp đại học, Hà Nội Tác giả cho rằng phát triển nghề đan cói đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, góp phần tạo công ăn việc làm tại chỗ, nâng cao đời sống nhân dân, tăng sức mua, xoá đói giảm nghèo
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Trang 38PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hải Hậu là một huyện nằm ở khu vực phía Nam của tỉnh Nam Định, có toạ độ địa lý vào khoảng 2007' vĩ độ Bắc và 106015 kinh độ Đông
- Phía Đông và Đông Bắc giáp vịnh Bắc Bộ và huyện Xuân Trường
- Phía Tây giáp huyện Nghĩa Hưng
- Phía Bắc giáp huyện Xuân Trường và huyện Trực Ninh
- Phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ
Hải Hậu cách thủ đô Hà Nội 130 km, cách thành phố Nam Định 30 km
là vùng đất nằm ven bờ phía Tây vịnh Bắc Bộ với chiều dài của bờ biển là 32
km, dọc theo thị trấn Thịnh Long và các xã Hải Hòa, Hải Triều, Hải Chính, Hải Lý, Hải Đông Vùng đất này được hình thành trên dải đất phù sa phì nhiêu và màu mỡ cuối vùng Đồng Bằng Châu Thổ Sông Hồng vì thế rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và giao lưu kinh tế với các vùng khác
Trang 393.1.1.3 Khí hậu và thủy văn
Hải Hậu là vùng nằm ở vùng Đồng Bằng Châu Thổ Sông Hồng, ven bờ phía Tây vịnh Bắc Bộ vì vậy mà vùng đất này mang đặc trưng cho kiểu vùng sinh thái ven biển của Đồng Bằng Sông Hồng
Khí hậu đặc trưng cho vùng sinh thái này là khí hậu gió mùa, một năm
- Lượng mưa trung bình hàng năm của huyện là 1653 mm, mặc dù có lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều, thường tập trung vào giai đoạn từ tháng
5 là 228,3 mm đến tháng 10 là 215,8 mm, và cao nhất tập trung vào tháng 8 với 292,4 mm, thấp nhất vào tháng 1 chỉ có 16,5 mm Do có hai hệ thống sông Ninh
Cơ và sông Đào chảy qua nên nguồn nước khá dồi dào cung cấp một lượng lớn phù sa hàng năm cho sản xuất nông nghiệp
Do vùng này nằm ở vị trí ven biển nên còn mang những đặc điểm sau: Thời tiết có đặc trưng vùng ven biển, mùa hè thì mát, đặc biệt về đêm, mùa đông thì lạnh ấm Do vậy rất thích hợp với các loại lúa đặc sản có sự tích luỹ chất thơm phụ thuộc vào biên độ khác nhau lớn về nhiệt độ giữa ngày và đêm Tuy nằm ở vùng ven biển nhưng nơi đây có hệ thống ruộng canh tác chủ yếu là vàn cao và vàn thấp, chỉ có một số diện tích nhỏ bị nhiễm mặn, vì vậy rất thuận lợi cho sự phát triển của các loại cây trồng
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi do vị trí ven biển mang lại thì vùng này cũng gặp không ít khó khăn trong phát triển sản xuất Thời tiết biến động thất thường, thiên tai năm xảy ra sớm, năm thì muộn, vì vậy rất khó khăn cho việc
Trang 40phòng chống, nhất là việc bố trí lịch thời vụ sản xuất thích hợp Ngoài ra vào mùa mưa hệ thống nước biển theo đường sông dâng cao ảnh hưởng đến việc tưới tiêu của nông dân
Tóm lại, với đặc điểm về điều kiện tự nhiên như trên Hải Hậu rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, tuy nhiên để hạn chế sự ảnh hưởng của những biến động thời tiết, nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp thì cần bố trí hệ thống và cơ cấu cây trồng phù hợp
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội,
an ninh quốc phòng Đất đai là tư liệu sản xuất không gì thay thế được, đặc biệt là đối với nông nghiệp Tình hình đất đai của huyện Hải Hậu qua ba năm
2011 – 2013 được thể hiện qua bảng 3.1
Diện tích đất tự nhiên của huyện vào khoảng gần 23 nghìn ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm phần lớn, năm 2011 là 15,83 nghìn ha, năm
2012 là 15,68 nghìn ha, năm 2013 là 15,64 nghìn ha, bình quân giảm 0,60 % qua
3 năm Diện tích đất nông nghiệp qua các năm có xu hướng giảm dần, điều này là
do đất nông nghiệp bị lấy ra làm các mục đích khác
Trong diện tích đất nông nghiệp thì đất trồng lúa chiếm đại đa số diện tích Năm 2011, diện tích đất trồng lúa của huyện là 11,01 nghìn ha, năm 2012 giảm xuống còn 10,86 nghìn ha, và năm 2013 chỉ còn 10,84 nghìn ha, bình quân giảm 0,85 % qua 3 năm Bình quân diện tích đất canh tác/ lao động qua các năm 2011,
2012, 2013 lần lượt là 798,34; 748,74; 744,44 m2/ lao động Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp làm cho diện tích canh tác của lao động địa phương cũng giảm dần Tuy nhiên, có thể thấy diện tích đất canh tác bình quân trên 1 lao động của huyện Hải Hậu vẫn ở mức khá cao, hơn 2 sào ruộng trên 1 lao động Diện tích đất canh tác nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho các lao động sản xuất