1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM

48 8,4K 41

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 413,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Một là, phát huy các lợi thế so sánh để khai thác và sử dụng có hiệuquả các nguồn lực phát triển của quốc gia, địa phương như về đất đai, tài nguyênthiên nhiên, vốn nguồn nhân lực, trê

Trang 1

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

Chương 1 : Tổng quan về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 2

I Cơ cấu kinh tế 2

1.1 Khái niệm: 2

1.2 Các tính chất cơ bản của một cơ cấu kinh tế 2

II Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 2

2.1 Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế 2

2.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa của nó 3

2.3.Tính quy luật về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 4

2.4 Những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 5

2.5 Những nhân tố tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 6

III Khái quát quan điểm, đường lối của Đảng về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam qua các kỳ đại hội 7

Chương 2 : Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt nam 10

I Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam từ thập kỷ 1990 đến nay 10

1.1 Cơ cấu GDP 10

II Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ đổi mới vừa qua 22

2.1 Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 22

2.2 Nguyên nhân của những mặt hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 25

Chương 3 : Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam hiện nay 28

I Những nhân tố mới ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam 28

1.1 Đặc điểm mới của bối cảnh kinh tế quốc tế 28

1.2 Điểm xuất phát mới của kinh tế Việt Nam 32

II Các giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam hiện nay 35

2.1 Các giải pháp cơ bản dài hạn 36

2.2 Các giải pháp trực tiếp 39

2.3 Triển vọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở VN đến năm 2020 46

Trang 2

Chương 1 : Tổng quan về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

I Cơ cấu kinh tế

1.1 Khái niệm:

Cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ là một tổng thể hệ thống kinh tế baogồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trongnhững khoảng không gian và thời gian nhất định, được thể hiện cả về mặt địnhtính và định lượng, cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, phù hợp với mục tiêuđược xác định của nền kinh tế

Về bản chất: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh

tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng cuả chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổnđịnh hợ.p thành

1.2 Các tính chất cơ bản của một cơ cấu kinh tế

Một là, cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan

Hai là, cơ cấu kinh tế mang tính chất lịch sử - xã hội cụ thể

Ba là, cơ cấu kinh tế có tính động

Bốn là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình

II Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.1 Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế

_ Từ sự phân tích lý luận về cơ cấu kinh tế ở trên, chúng ta có thể hiểu: cơcấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỉ lệ, biểu hiệnmối quan hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân

_ Cơ cấu ngành kinh tế là một bộ phận cơ bản cấu thành cơ cấu của nềnkinh tế quốc dân Nó là một phạm trù trừu tượng, có quan hệ phức tạp với các

bộ phận kinh tế khác, nên muốn nắm vững bản chất của cơ cấu ngành kinh tế vàđưa ra được các giải pháp phù hợp nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tếnhanh và hiệu quả cũng cần xem xét, làm rõ bản chất của các bộ phận kinh tếhợp thành khác Đó là cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ và cơ cấu kinh tế thành phầnkinh tế

Trang 3

2.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và ý nghĩa của nó

- Khái niệm: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chính là sự vận động pháttriển của các ngành làm thay đổi vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác giữachúng theo thời gian để phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của lực lượngsản xuất và phân công lao động xã hội

- Ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế luôn là một trong những vấn đề thenchốt, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

+ Một là, phát huy các lợi thế so sánh để khai thác và sử dụng có hiệuquả các nguồn lực phát triển của quốc gia, địa phương như về đất đai, tài nguyênthiên nhiên, vốn nguồn nhân lực, trên cơ sở đó tái cơ cấu lại nền kinh tế theohướng phân bổ những nguồn lực từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực cónăng suất cao hơn

+ Hai là, tạo ra sức sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn, chất lượng cao,

đa dạng về chủng loại để đáp ứng nhu cầu cho nhân dân và xuất khẩu

+ Ba là, góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm và không ngừng tăng thunhập, nâng cao mức sống cho người lao động, tạo cơ hội thuận lợi cho mọithành phần trong xã hội vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ phápluật

+ Bốn là, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mở ra

cơ hội cho các ngành tiến hành công nghiệp hóa_hiện đại hóa, nâng cao trình độ

áp dụng khoa học kĩ thuật – công nghệ cao và phương thức quản lí tiên tiến vàocác hoạt động sản xuất – kinh doanh, mở ra cơ hội để thâm nhập ngày càng sâurộng vào nền kinh tế thế giới…

Việt Nam đã đạt được nhiều thành công vì đã có sự chuyển dịch cơ cấungành kinh tế đúng hướng Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 24,53% năm

2000 xuống còn 20,30% năm 2007: công nghiệp – xây dựng tăng từ 36,73%năm 2000 lên 41,58% năm 2007, dịch vụ giảm nhẹ từ 38,74% năm 2000 xuốngcòn 38,12% năm 2007 Điều đó đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của ViệtNam đạt khá cao, với mức bình quân giai đoạn (2000 – 2007) đạt 7,7%

Trang 4

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì vấn đề chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam hiện nay còn đứng trước nhiều khó khăn, tháchthức như chưa đầu tư đúng mức cho các ngành công nghiệp công nghệ cao, vẫncòn nặng nề về công nghiệp sử dụng nhiều lao động, quá trình hiện đại hóa chưađược quan tâm đúng mức, chưa xác định được cơ cấu đầu tư hợp lý

Ngành nông nghiệp về cơ bản vẫn sản xuất theo phương thức truyềnthống, chưa tạo ra được nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp diễn ra chậm chạp, trình độ sản xuất lạc hậu

Các ngành dịch vụ cao cấp có hàm lượng chất xám cao, phát triển chậm,đóng góp vào GDP còn nhỏ

2.3.Tính quy luật về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

2.3.1 Quy luật biến đồi chung của các ngành kinh tế vĩ mô

Cơ cấu ngành kinh tế luôn có sự biến đổi và phát triển không ngừng theonguyên lý của sự phát triển từ thấp đến cao Các bộ phận hợp thành cơ cấungành kinh tế là các ngành kinh tế vĩ mô giữa chúng đều có mối liên hệ gắn bóhữu cơ với nhau, thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau, tạo ra những điềukiện, tiền đề cho nhau trong quá trình phát triển

Về bản chất, đây là sự chuyển dịch từ khu vực có năng suất lao ộng thấpsang khu vực có năng suất lao động cao hơn để tái cơ cấu lại nền kinh tế, ngànhkinh tế nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế so sánh của đấtnước trong xu thế toàn cầu hóa để tạo ra tốc độ phát triển nhanh và bền vững

2.3.2 Quy luật biến đổi trong nội bộ các ngành kinh tế

Về mặt lượng: các phân ngành có thể biến đổi theo hướng tăng lên hoặcgiảm đi tùy theo điều kiện sản xuất ở các thời kỳ khác nhau

Về mặt chất: trong một ngành kinh tế, những phân ngành nào có trình độsản xuất cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn thì sẽ ngày càng phát triển, còn nhữngngành nào có năng suất lao động thấp, hiệu quả kinh tế kém thì sẽ phát triểnchậm, quy mô sẽ ngày một thu hẹp lại hoặc thậm chí bị tiêu vong

Trang 5

2.3.3 Tính đặc thù về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đối với một địa

phương

Mỗi địa phương có các điều kiện khác nhau về tự nhiên, kinh tế - xã hội,truyền thống, kinh nghiệm sản xuất lực lượng lao động… nên việc xây dựngchiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung và chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế nói riêng cũng mang tính đặc thù và không nhất thiết phải tuyệt đối tuântheo quy luật chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nên trên

Việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung, chínhsách chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói riêng phải dựa trên cơ sở chiến lượcphát triển vùng miền

2.4 Những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.4.1 Cơ cấu tổng sản phầm quốc nội ( GDP)

Trong đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu GDP giữa cácngành kinh tế là một trong những tiêu chí quan trọng nhất phản ánh xu hướngvận động và mức độ thành công của công nghiệp hóa

Để đánh giá sát thực hơn cơ cấu ngành kinh tế, việc phân tích cơ cấu cácphân ngành phản ánh sát thực hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hóacủa nền kinh tế

2.4.2 Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế

Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, sự chuyển dịch cơ cấungành kinh tế còn được đánh giá qua một tiêu chí rất quan trọng là cơ cấu laođộng đang làm việc trong nền kinh tế được phân bổ như thế nào vào các lĩnhvực sản xuất khác nhau

So với cơ cấu GDP, cơ cấu lao động phân theo ngành được đánh giá cao

là do tiêu chí này không chỉ phản ánh sát thực hơn mức độ chuyển biến sang xãhội công nghệp của một đất nước mà còn bị ảnh hưởng bởi nhân tố ngoại laihơn

Trang 6

2.4.3 Cơ cấu hàng xuất khẩu

Trong điều kiện cả một nền kinh tế đang công nghiệp hóa, cơ cấu mặthàng xuất khẩu cũng được xem như một tiêu chí quan trọng đánh giá mức độthành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphóa – hiện đại hóa

Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa để trở thành mộtnước công nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong cơcấu sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩuhàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp chế biến , lúc đầu là sản phẩm củacông nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động , kỹ thuật thấp như dệt may, lắpráp, chế biến nông lâm ngư nghiệp… chuyển dần sang sản phẩm sử dụng nhiềucông nghệ kĩ thuật cao như hóa, điện tử, cơ khí chế tạo

2.5 Những nhân tố tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.5.1 Nhóm các nhân tố đầu vào của sản xuất

Nhóm này bao gồm toàn bộ các nguồn lực mà xã hội có thể huy độngđược vào quá trình sản xuất, bao gồm các nhân tố chính là: nguồn lực tự nhiên ,nguồn lực con người, nguồn vốn và tiềm lực khoa học – công nghệ

2.5.2 Nhóm các nhân tố đầu ra của sản xuất ( yếu tố thị trường)

Nếu các nhóm yếu tố đầu vào phản ánh sự tác động của các nguồn nhânlực có thể huy động cho sản xuất và sự phân bố chúng vào những lĩnh vực sảnxuất kinh doanh khác nhau, thì nhóm các yếu tố đầu ra của sản phẩm quyết định

xu hướng vận động của thị trường, nơi phát ra tín hiệu quan trọng bậc nhất dẫndắt các nguồn vốn đầu tư cũng như các nguồn lực sản xuất khác quyết định phân

bổ vào những lĩnh vực sản xuất nào, với quy mô bao nhiêu Những nhân tố nàybao gồm : dung lượng thị trường và thói quen của người tiêu dùng

- Dung lượng thị trường: Độ lớn của dung lượng thị trường là một trongnhững nhân tố có ý nghĩa đối với sự di chuyển các nguồn lực được phân bổ vàocác lĩnh vực sản xuất khác nhau, dung lượng thị trường ( lượng cầu ) được quyđịnh bởi quy mô dân số và mức thu nhập Khi mức thu nhập của dân cư còn

Trang 7

thấp, hầu hết thu nhập chỉ được chi dùng cho những mặt hàng thiết yếu Nhưngkhi thu nhập của dân cư tăng lên , cơ cấu tiêu dùng của họ cũng thay đổi theohướng chi cho các mặt hàng cao cấp tăng lên Rõ ràng những dấu hiệu dịchchuyển cơ cấu có khả năng thanh toán có động dẫn dắt hường đầu tư kinh doanhcủa các nhà đầu tư và vì thế, tác động không nhỏ dẫn đến sự hình thành vàchuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

- Thói quen ( thị hiếu) của người tiêu dùng:

Tính ưa thích theo thói quen tiêu dùng một số loại sản phẩm nào đó đòihỏi các nhà đầu tư phải nghiên cứu để tìm cách đáp ứng, vì thế tình trạng thỏadụng của người tiêu dùng đã trở thành một trong các chỉ tiêu tác động vào sựhình thành cơ cấu ngành kinh tế

2.5.3 Nhóm các nhân tố về cơ chế chính sách của nhà nước

Qúa trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chịu sự tác động tổng hợp củanhiều nhân tố Trong điều kiện hiện nay, dưới tác động của quá trình toàn cầuhóa, thị trường hóa và tiến bộ khoa học công nghệ diễn ra nhanh chóng, bảnthân những nhân tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cũngkhông ngừng biến đổi và hàm chứa những nội dung kinh tế không hoàn toàngiống nhau Vì vậy, khi đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố cũng nhưtổng hợp các nhân tố đó, cần phải nhìn nhận chúng như những quá trình động đểxem xét xu hướng tác động dài hạn lên quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành củanền kinh tế Nhưng dù có tiếp cận vấn đề như thế nào đi nữa thì trong một nềnkinh tế thị trường, tập hợp các nhân tố đầu vào ( nguồn lực sản xuất), đầu ra( điều kiện thị trường) và cơ chế chính sách ( chủ yếu là sự tác động của nhànước) vẫn là những tác nhân quan trọng nhất đối với xu hướng chuyển dịch cơcấu của nền kinh tế

III Khái quát quan điểm, đường lối của Đảng về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam qua các kỳ đại hội

Ngay từ đại hội lần thứ III của Đảng (1960), vấn đề công nghiệp hóa vàchuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã được đề cập tới với quan điểm chỉ đạo là “thực hiện công nghiệp hóa XHCN bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp

Trang 8

nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệpnhẹ”

_ Đại hội lần thứ IV của Đảng ( 1976) đã tái khẳng định việc “ đẩy mạnhcông nghiệp hóa XHCN nước nhà” với phương châm “ưu tiên” phát triển côngnghiệp nặng một cách hợp lý nhưng không phải “đồng thời”, mà thay vào đó là

“trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”

- Đại hội lần thứ V của Đảng ( 1982), trong khi tiếp tục khẳng địnhđường lối nhất quán coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kì quá

độ tiến lên CNXH, đã bước đầu chỉ ra sai lầm về chính sách cơ cấu mà điểmmấu chốt là thiếu chuẩn bị đầy đủ những điều kiện tiền đề có tính chất thiết yếucủa nó Đứng trước sự trì trệ có nguy cơ dẫn đến khủng hoảng, Đại hội V đãnhấn mạng tính chất nhiều giai đoạn của hành trình công nghệp hoá Vì vậy,thay vì quan điểm cho rằng phải “thúc đấy thực hiện công nghiệp hóa”, giờ đây,

ở chặng đường đầu, vấn đề cơ cấu được nhận thức lại là “tập trung sức mạnhphát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, ra sức đẩymạnh hàng sản xuất, hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành côngnghiệp quan trọng”

- Từ đánh giá lại thực trạng của xuất phát điểm như trên, đại hội lần thứ

VI (1986) xác định giải pháp cơ cấu là “phải thực sự tập trung sức người, sứccủa vào việc thực hiện cho được 3 chng trình mục tiêu về lương thực – thựcphẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”

- Đến đại hội VII (1991), sau khi kiểm điểm lại tình hình tiến hành côngcuộc “đổi mới” đã ghi nhận “ những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện các mụctiêu của 3 chương trình kinh tế ( lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàngxuất khẩu), đã đồng thời nhận định rằng :” khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫnchưa chấm dứt” Điều đó cũng có nghĩa là, chúng ta lại đứng trước “những nămtrước mắt” mới của chặng đường đầu tiên với “mục tiêu tổng quát của 5 năm tới

là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế xã hội…, đưa đấtnước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay” và coi việc”phát triển,nông, lâm ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế

Trang 9

nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu để ổn định tìnhhình kinh tế - xã hội”

- Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ( 1996), trên cơ sởnhững thành tựu bước đầu của hơn 10 năm thực hiện đổi mới kinh tế và những

xu hướng vận động, phát triển mới của đời sống kinh tế quốc tế, trước những cơhội và thách thức của thời đại , đã đề ra mục tiêu tổng quát là : “ra sức phấn đấuđưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” vào năm 2020 Từ mụctiêu tổng quát đó, phương hướng chung về mô hình công nghiệp hóa được xácđịnh là: “ xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướngmạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trongnước có hiệu quả”

- Trên cơ sở kết quả bước đầu của 15 năm đổi mới kinh tế và về cơ bản

đã hoàn thành những mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đầu tiên( 1991 – 2000), Đại hội lần thứ IV của Đảng (4/2001) đã đặt một dấu mốc mớicho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tại Đại hội này, nhữngmục tiêu mới của chiến lược phát triển kinh tế xã hội lần thứ hai ( 2001- 2010)cũng đã được thông qua là: “ Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển,nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đếnnăm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”Đại hội tiếp tục khẳng định phát triển kinh tế, công nghiệp hóa – hiện đại hóa lànhiệm vụ trung tâm, và “con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước tacần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước vọt

Tóm lại, cùng với thời gian, quan điểm về vấn đề cơ cấu và chuyển dịch

cơ cấu trong thời kỳ công nghiệp hóa ở nước ta đã có sự chuyển biến lớn và cănbản Cái trục xuyên suốt quá trình ấy là hiểu rõ mình hiện đang nằm ở đâu trongcái nấc thang phát triển kinh tế và vị trí nào trong mối quan hệ kinh tế quốc tế,những cái chi phối động tái của sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế

Trang 10

Chương 2 : Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt nam

I Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam từ thập kỷ 1990 đến nay

1.1 Cơ cấu GDP

Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) ởnước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trịtrong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) vàthương mại - dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷtrọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp(gọi chung là nông nghiệp)

1.1.1 Cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô

 Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn

định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tíchcực Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1%năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, và đếnnăm 2008 ước còn 20,6% Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm

1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% vàđến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến 41,6% Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưabiến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm2005: 38,1%; năm 2008 là khoảng 38,7%

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo

xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Số lao động trong các ngành côngnghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp

ngày càng giảm đi

Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã có sự chuyển

dịch ngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọnggiá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3% năm 2001 lên19,3% năm 2007 Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu

Trang 11

lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch

cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp,thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần tuý giảm dần Tỷ

lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp) đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộcông nghiệp tăng lên 8,78% Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địabàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000

 Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày

càng tăng, nghĩa là hệ số mở cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47%năm 2001, và đến năm 2005 là trên 50% Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001

- 2005 đã đạt 111 tỉ USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm),khiến cho năm 2005, bình quân kim ngạch xuất khẩu/người đã đạt 390USD/năm, gấp đôi năm 2000 Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mứccao - 40 tỉ USD, tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD, tăng

21,5% so với năm 2006; năm 2008 tăng 29,5% so với năm 2007, đưa tỷ lệ

XK/GDP đạt khoảng 70%

Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hảisản đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Các hoạt động kinh tế đốingoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chínhthức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước pháttriển tích cực, tăng mạnh từ năm 2004 đến nay Năm 2001, vốn FDI vào ViệtNam là 3,2 tỉ USD; tiếp theo, năm 2002: 3,0 tỉ USD; 2003: 3,2 tỉ USD; 2004:4,5 tỉ USD; 2005: 6,8 tỉ USD; 2006: 10,2 tỉ USD; và năm 2007 vừa qua đã lànăm thứ hai nước ta liên tục nhận được các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nướcngoài (FDI) đạt con số kỷ lục: 20,3 tỉ USD, tăng gấp đôi so với năm 2006, bằngtổng mức thu hút FDI của cả giai đoạn 5 năm 2001-2005, chiếm 1/4 tổng vốnFDI vào Việt Nam trong suốt hơn 20 năm vừa qua

Năm 2008, tuy kinh tế toàn cầu có nhiều khó khăn lớn trong xu thế suythoái, song đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tại Việt Nam đạt 64,011 tỉ USD,tăng gấp đôi năm 2007 Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam

Trang 12

năm 2008 diễn ra đầu tháng 12, tại Hà Nội, tổng cam kết từ các nhà tài trợ lêntới 5,014 tỉ USD (thấp hơn 1 chút so với năm 2007: 5,4 tỉ USD) Giải ngân vốnODA được 2,2 tỉ USD, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và cao hơn mức năm 2007(2,176 tỉ USD)

Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã bước đầu được triểnkhai Các doanh nghiệp Việt Nam đã có một số dự án đầu tư ra nước ngoài nhưkhai thác dầu ở An-giê-ri, Xin-ga-po, Vê-nê-du-ê-la; trồng cao su ở Lào

Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới là một trongnhững nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả, thành tựutăng trưởng kinh tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp để chúng tagiữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách, vốn tích luỹ,cán cân thanh toán quốc tế , góp phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế -

xã hội theo hướng bền vững Các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đóigiảm nghèo, chương trình về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hộicho các vùng khó khăn, các chương trình tín dụng cho người nghèo và chínhsách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 17,2%

năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007, và năm 2008 còn 13,1% Chỉ số phát

triển con người (HDI) đã không ngừng tăng, được lên hạng 4 bậc, từ thứ 109 lên

105 trong tổng số 177 nước

Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2007 đạt 8,5% là tốc độ tăng trưởng caonhất kể từ năm 1997 Nhưng cũng khó có thể nói đây là một con số thật ấntượng Tỷ lệ đầu tư so với GDP năm 2007 quá cao, tới 44% Sự sôi động của thịtrường tài chính, hoạt động ngân hàng, và thị trường bất động sản ít chuyển hóa

sang nền kinh tế thực Khu vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm vẫn chiếm

chưa tới 2,0% GDP năm 2007

Trang 13

Bảng 1: Tăng trưởng GDP, 2003-2007 (%)

2003 2004 2005 2006 2007Tốc độ tăng (%)

Nông-lâm-thủy sản 3,62 4,36 4,02 3,40 3,40Công nghiệp-xây dựng 10,48 10,22 10,69 10,37 10,60

Nguồn: Tổng cục Thống kê (TCTK) và tính toán của Viện NCQLKTTƯ

Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam đã trải qua

nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Nếu như trước thời kỳ đổi mới một trong

những khiếm khuyết lớn của tư duy cũ, của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quanliêu, bao cấp là cố gắng hình thành nên cơ cấu ngành kinh tế dựa trên ý chí chủquan, bất chấp quy luật, do đó đã kéo theo tình trạng đầu tư lãng phí, không đemlại hiệu quả kinh tế, thì bước vào công cuộc đổi mới quá trình chuyển dịch cơcấu ngành kinh tế của nước ta đã đem lại những kết quả rất tích cực Nhờ vậy,chỉ sau 3 năm của thời kỳ phôi thai về kinh tế thị trường (từ 1987 - 1989) nềnkinh tế nước ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá trong những năm 1990 -

1997 Mọi dự kiến của kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 đều được thực hiện vượtmức khá cao Trong thời kỳ khủng khoảng tài chính tiền tệ ở các nước châu Á,tuy tốc độ tăng trưởng của nước ta có sự giảm sút, nhưng về cơ bản chúng ta vẫntránh được "cơn bão" của cuộc khủng khoảng, để sau đó tiếp tục tăng quy môGDP của đất nước, tăng xuất khẩu, phát triển công nghiệp, trở thành một nước

có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới

Bảng 2: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế qua các năm, %

Trang 14

Năm 1991990 1995 1997 2000 2001 2002 2003 2004 2005GDP 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0Nông - lâm - thủy

sản 38,74 27,18 25,77 24,53 23,24 23,03 22,54 21,8 20,9Công nghiệp và

xây dựng 22,67 28,76 32,08 36,73 38,13 38,49 39,47 40,2 41,0Dịch vụ 38,59 44,06 42,15 38,73 38,63 38,48 37,99 38,0 38,1

Nguồn: Tổng hợp số liệu của Tổng cục Thống kê

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm thay đổi cơ cấu xuất khẩu theo hướng cólợi, đó là tăng tỷ trọng hàng chế biến có giá trị gia tăng cao (từ 45,1% trongnhững năm 1996 - 2000 lên 48,0% trong những năm gần đây), giảm tỷ trọnghàng thô và sơ chế; tăng tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ côngnghiệp sử dụng nhiều lao động như hàng dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, ;giảm tỷ trọng nhóm hàng nông - lâm - thủy sản (từ 52,2% năm 1990 xuống còn27,6% năm 2003)

Điều đáng lưu ý là, tuy tỷ trọng của hàng nông - lâm - thủy sản trong cơcấu xuất khẩu của nước ta giảm, nhưng nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngànhnông nghiệp theo hướng tăng sản xuất các sản phẩm có năng suất cao, giá trịkinh tế hơn nên giá trị xuất khẩu của hàng nông - lâm - thủy sản của nước ta vẫnkhá cao và có những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: xuất khẩu gạo đạt kimngạch 4,4 tỉ USD; cà phê 2,6 tỉ USD, cao su 2,2 tỉ USD, thủy sản 11,2 tỉ USDtrong 5 năm 2001- 2005

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu củađất nước nhờ phát huy những lợi thế so sánh của từng ngành, vùng và sự chuyểndịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu một cách có hiệu quả Kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam tăng nhanh cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:

Bảng 3 Kim ngạch xuất khẩu từ 2000 – 2009

Trang 15

1.1.2 Cơ cấu nội bộ các khu vực ngành kinh tế

Xét trong từng ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp cónhiều bước tiến bộ, đi đúng hướng, đã khai thác được lợi thế cây, con và vùnglãnh thổ, góp phần thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu phát triển Trong khi giá trịtuyệt đối của sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng, thì tỷ trọng nông nghiệp trongGDP ngày càng giảm (xem bảng) Trong ngành nông nghiệp, tỷ trọng giá trị sảnxuất trong lĩnh vực chăn nuôi tăng từ 19,3% (năm 2000) lên đến 21,6% (năm2004) và 23,4% (năm 2005); còn tỷ trọng trong trồng trọt lại giảm từ 78,2%(năm 2000) xuống còn 75,4% (năm 2003), nhưng tăng nhẹ tới 76,3% (năm2004) và 74,5% (năm 2005) Điều đó thể hiện, nông nghiệp của nước ta đã từngbước phát triển theo một cơ cấu tiên tiến Trong trồng trọt diện tích trồng lúagiảm dần để tăng diện tích trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn (như câycông nghiệp ngắn ngày: bông, mía, đậu tương , cây công nghiệp lâu năm: chè,cao su, hạt tiêu, cây ăn quả ), song vẫn bảo đảm được an ninh lương thực quốcgia và tăng xuất khẩu gạo một cách đáng kể, phản ánh sự chuyển dịch cơ cấucây trồng trong nông nghiệp ngày càng đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường và

có hiệu quả hơn

Đặc biệt thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng vàNhà nước, những năm gần đây đã có sự chuyển mạnh một phần diện tích trồnglúa có năng suất, hiệu quả thấp sang nuôi trồng thủy sản (tập trung nhiều ở vùngđồng bằng sông Cửu Long và duyên hải Nam Trung Bộ), nhờ vậy đã góp phầntích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao đời sống cho nôngdân

Trang 16

Cơ cấu công nghiệp có sự chuyển dịch khá, nhất là giai đoạn từ năm 1998đến nay Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 32,08% GDP (năm1997) lên tới 36,73% (năm 2000) và 41,0% (năm 2005) Trong ngành côngnghiệp sự tăng nhanh của tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến (từ 78,7% năm

2000 lên tới 81,23% năm 2004 tính theo giá thực tế) và sự giảm tỷ trọng củacông nghiệp khai thác mỏ (từ 15,7% xuống còn 12,8%), tăng tỷ trọng của côngnghiệp sản xuất và phân phối điện, ga, nước (từ 5,6% lên 5,9%) trong thời kỳtương ứng đã phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu đúng hướng Nếu xét theo tiêuthức công nghệ, càng thấy rõ hơn xu hướng chuyển dịch cơ cấu trong ngànhcông nghiệp những năm qua là tích cực, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa và phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta Bởi, các ngành công nghiệp cócông nghệ cao ngày càng được mở rộng và phát triển nhanh, tạo ra những sảnphẩm tiêu dùng có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một nâng lên ởtrong nước và tham gia xuất khẩu, như ô-tô, sản phẩm điện tử, tàu thủy Cácngành có trình độ công nghệ trung bình và thấp phát triển ở tốc độ trung bình vàthấp để sản xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng chưa quá khắt khe củathị trường trong nước, cũng như nhằm duy trì cung cấp những sản phẩm thôngthường thiết yếu cho nhân dân

Trong lĩnh vực dịch vụ, đã có bước phát triển nhảy vọt cả về chất vàlượng, nhất là từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây Tuy nhiên, tốc độ tăngtrưởng của lĩnh vực này lại không đều qua các thời kỳ khác nhau, thể hiện nổibật qua việc tăng nhanh của ngành dịch vụ trong thời kỳ 1990 - 1995, sau đóliên tục bị giảm sút và chỉ có dấu hiệu phục hồi nhẹ trong một vài năm gần đây.Điều đó khiến tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP, sau khi tăng tương đốimạnh trong thời kỳ 1990 - 1995 (năm 1995 đạt 44,06%) đã liên tục bị giảm: năm

1996 còn 42,51%; năm 1997 còn 42,15%; năm 1998 còn 41,73%; năm 1999 còn40,08% và năm 2005 còn 38,1% Điều đáng lo ngại là tỷ trọng của một số ngànhdịch vụ quan trọng trong cơ cấu của lĩnh vực dịch vụ và trong cơ cấu GDP cònthấp như ngành tài chính - ngân hàng, khoa học - công nghệ, vận tải, viễn thông,dịch vụ kinh doanh Và, mặc dù đã xuất hiện một số ngành dịch vụ mới trong

Trang 17

lĩnh vực dịch vụ, nhưng nhìn chung tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong cơ cấunền kinh tế của nước ta vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực, biểu hiệnmột sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa hiệu quả và theo hướng hiện đại

Tuy nhiên, nếu đánh giá khách quan thì rõ ràng quá trình chuyển dịch cơcấu ngành kinh tế của nước ta hiện nay vẫn bộc lộ nhiều hạn chế Nếu nhìn nhận

ở khía cạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng phát triển xuất khẩu,thì tỷ trọng của ngành nông - lâm - thủy sản còn chiếm cao trong GDP của đấtnước Đây là ngành mà sản xuất phải phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, bịgiới hạn bởi năng suất, diện tích, khả năng khai thác, giá cả sản phẩm lại chịunhiều tác động của sự biến động lên xuống trên thị trường thế giới và có xuhướng giảm theo giá "cánh kéo" với hàng công nghiệp, do đó giá trị kim ngạchxuất khẩu của hàng nông sản sẽ không cao và không ổn định Chưa kể, tỷ trọngcủa ngành chăn nuôi trong nông nghiệp cũng thấp và chưa có dấu hiệu phát triểntrong những năm tới Đồng thời, tỷ trọng của ngành công nghiệp chưa cao, đặcbiệt là ngành công nghiệp chế tạo Sự đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu củangành công nghiệp một số năm qua mới chủ yếu là do phát triển các ngành côngnghiệp lắp ráp, gia công như lắp ráp ô-tô, xe máy, dệt may, giày dép, là nhữngngành chủ yếu "lấy công làm lãi", nguồn nguyên liệu bị phụ thuộc vào thịtrường nước ngoài Tỷ trọng công nghiệp chế biến của nước ta còn nhỏ (tỷ lệsản phẩm chế biến trong cơ cấu xuất khẩu chỉ tăng khoảng 1,5%/năm), vì thếkéo theo tỷ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biến sâu vẫn còn thấp, mới xuấtkhẩu chủ yếu hàng thô, sơ chế, làm hạn chế giá trị gia tăng của sản phẩm và kimngạch xuất khẩu Tỷ trọng thấp của ngành dịch vụ trong GDP và rất thấp trongtổng kim ngạch xuất khẩu (13,4% tổng kim ngạch xuất khẩu - dưới mức trungbình của thế giới là 20,0%) càng cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế của nước ta chưa có khả năng tạo ra sự chuyển biến mạnh trong xuấtkhẩu của đất nước Ngoài ra, năng lực cạnh tranh yếu của nhiều mặt hàng cũngnhư sản phẩm dịch vụ đã hạn chế và làm cho sự phát triển xuất khẩu trở nênkhông vững chắc

1.2 Cơ cấu lao động

Trang 18

Cơ cấu lao động là một phần trong cơ cấu kinh tế ngành.Cơ cấu lao động

đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Do tỷ trọng của ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ tăng dần từng năm vìvậy cơ cấu lao động có sự thay đổi Lao động trong các ngành dịch vụ và côngnghiệp xây dựng tăng lên Tỷ trọng lao động của các ngành công nghiệp và xâydựng trong tổng số lao động xã hội tăng từ 12,1%năm 2000 lên 17,9% năm2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25,3%; lao độngtrong các ngành nông lâm, thủy sản giảm từ 68,2% xuống còn 56,8% Đến năm

2010 Việt Nam sẽ cố gắng đưa Tỷ lệ lao động nông nghiệp sẽ còn khoảng50%.Đặc biệt Nghị quyết của Đảng đến năm 2020, Việt Nam cơ bản thành nướccông nghiệp hoá Tiêu chí của nước công nghiệp là gì? Rõ ràng là lao động nôngthôn dưới 20%

Bảng 1: có cấu lao động theo nhóm kinh tế %

thủy sản

Công nghiệpxây dựng

Nguồn: thời báo kinh tế năm 2008 -2009

Như vậy cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã chuyển dịch theo hướngtích cực trong tổng số lao động tăng thêm tufw1990 đến năm 2008 (15.624,9nghìn người ) Nhóm Nông lâm thủy sản đã thu hút thêm 2,148 nghìn người.Chiếm 13,8% tổng số tăng Nhóm ngành công nghiệp đã thu hút thêm 6079,8nghìn người, chiếm 38,9% tổng số tăng Nhóm nghành dịch vụ đã thu hút thêm7396,4 nghìn người chiếm 47,3% tổng số tăng Nhóm ngành dịch vụ tăng nhiềunhất Sau đó đến công nghiệp xây dựng Do năng xuất lao động của nhóm ngànhcông nghiệp xây dựng (62924 đông/ người) nên con đường chuyển dịch lao

Trang 19

động cơ cấu theo ngành tăng và dịch (46849 đồng/người) cao hơn nhóm ngànhnông, lâm, thủy sản Do vậy, cơ cấu lao động sẽ dịch chuyển theo con đườngnào mà năng xuất lao động chung và con đường giảm thiểu mức sống dân cư,giảm tỷ lệ nghèo cao.

Hiện nay do khu vực kinh tế nhà nước hiệu quả kinh doanh cũng nhưđóng góp vào GDP còn thấp Mặt khác do lương của khu vực kinh tế nhà nướccòn thấp Vì vậy có sự chảy máu chất xám từ nhà nước sang khu vực kinh tếngoài nhà nước Thời điểm 31/12/2000 cục thống kê TP HCM đã có cuộc điềutra về cơ cấu lao động

BẢNG CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO KHU VỰC

Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00

Phân theo ngành kinh tế

A Nông nghiệp và Lâm nghiệp 0,43 0,93 0,13

C Công nghiệp khai thác mỏ 0,17 0,26 0,15

D Công nghiệp chế biến 60,29 49,14 56,85 88,82

Trang 21

Trong tổng số lao động tăng thêm của toàn bộ nền kt 15624,9 nghìn ngườitrong thời kỳ 1990-2008 thì khu vực nn tăng thêm 657,7 nghìn người chiếm4,2% tổng số tăng thêm khu vực ngoài nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài tăngthêm 14967,2 nghìn người chiếm 42,9% tổng số tăng thêm Do vậy cơ cấu laođộng hiện nay có sự chuyển dịch Xét riêng trong các loại hình doanh nghiệptổng số lao động tính đến năm 2007 la 6715,2 nghìn người, tăng 89,9% so vớinăm 2000 Bình quân 11,9%- cao gấp nhiều lần của toàn nền kinh tế quốc dântrong thời gian tương ứng Về số tuyện đối, tổng số lao động trong các doanhnghiệp tăng 3128,5 nghìn người Trong đó doanh nghiệp nn giảm 188,6 nghìnngười doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 2329 nghìn người chiếm 73% tổng sốtăng Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1037 nghìn người chiếm32,7% tổng số tăng Như vậy doanh nghiệp ngoài nhà nước và vốn đầu tư nướcngoài đã đóng góp tích cực vào việc thu hút lao động.

Lao động hiện nay không chỉ số lượng mà còn chất lượng Hiện nay cáctrường đại học cao đẳng chuyên nghiệp với số lượng các trường ngày càng tăng

vì vậy tỷ trọng lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm2005.Tuy nhiên theo thống kê của Bộ LĐ-TB-XH, Năm 2005 có đến 74,7% lựclượng lao động chưa qua đào tạo; còn số lao động đã qua đào tạo cũng khônghoàn toàn giỏi nghề Chính vì vậy, năng suất của lao động VN kém lao động cácnước trong khu vực ASEAN từ 2 đến 15 lần Chất lượng nguồn nhân lực của

VN năm 2008 mới chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12nước châu Á tham gia xếp hạng, theo đánh giá mới của Ngân hàng Thế giới(WB) 1 nghiên cứu khác cho thấy lao động VN chỉ đạt 32/100 điểm Trong khi

đó, những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mấtsức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu

Trang 22

II Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu và hạn chế của quá trình

chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ đổi mới vừa qua

2.1 Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu chuyển dịch cơ cấu ngành

kinh tế

Có thể có nhiều cách phân loại các nguyên nhân góp phần thúc đẩy quátrình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời gian qua Như đã nêu ở trên,những thành tựu nổi bật về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian qua chủyếu biểu hiện qua chỉ tiêu cơ cấu GDP với sự gia tăng đều đặn tỷ trọng tỷ trọngcác khu vực phi nông nghiệp, đồng thời với mức suy giảm tương ứng của tỷtrọng của khu vực nông nghiệp trong khi về giá trị tuyệt đối, quy mô của khuvực nông nghiệp vẫn tăng lên Đóng góp vào thành tựu này có thể kể đến nhữngnhân tố sau:

a) Nguyên nhân khách quan

- Thứ nhất, rút kinh nghiệm từ bài học không thành công trong quá khứ vềphân bổ nguồn lực phát triển, vấn đề công nghiệp hóa nói chung và chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế nói riêng được nhìn nhận lại theo tinh thần đổi mới tư duykinh tế

Chúng ta đều biết, Việt Nam cũng như các nước thuộc hệ thống XHCN(cũ) đã có một thời kỳ dài theo đuổi mô hình công nghiệp hóa XHCN theophương châm chủ đạo chung là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Đồng thời,trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, mọi nguồn lực phát triển của nền kinh tếhầu như nằm trong khu vực công hữu (sở hữu quốc doanh và sở hữu tập thể),nên ưu tiên phát triển công nghiệp nặng cũng đồng nghĩa với ưu tiên cho riêngkhu vực công nghiệp quốc doanh Những nghiên cứu phân tích về hệ thốngXHCN (cũ) đều thống nhất cho rằng, cả hai đặc điểm này đã là những nguyênnhân căn bản nhất, trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng cơ cấu kinh tế nói riêng

và khủng hoảng kinh tế - xã hội mang tính toàn hệ thống nói chung Đầu thập kỷ

1990, sự sụp đổ của hệ thống XHCN (cũ) đã đem lại bài học, bắt buộc phải nhìnnhận lại vấn đề về cách tiếp cận mô hình công nghiệp hóa cũng như việc phân

bổ các nguồn lực phát triển và chuyển dich cơ cấu ngành kinh tế kém phát triển,bước vào quá trình công nghiệp hóa muộn như Việt Nam, ít nhất có hai bài học

Trang 23

quan trọng được rút ra từ thất bại của kiểu công nghiệp hóa trong cơ chế kếhoạch hóa tập trung là:

+ Nhận thức về quá trình tái sản xuất mở rộng với quy luật “ các ngànhsản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất, sau đó đếnsản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng; và chậm nhất là sự pháttriển của sản xuất tư liệu tiêu dùng” (V.I Lenin- Toàn tập, tập1 NXB Tiến bộ,Matxcova, 1976, tr 98) Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, không phải chỉxem xét bó hẹp trong phạm vi mỗi nền kinh tế quốc gia; mà còn trong nhữngđiều kiện cụ thể, nền kinh tế mang tính toàn cầu trong sự phân công lao độngquốc tế

+ Đối với mỗi nền kinh tế quốc gia, nhất là với nhưng nền kinh tế cònkém phát triển, không thể tập trung mọi nguồn lực hiện có của đất nước để ưutiên phát triển riêng ngành công nghiệp nặng mà không chú ý đến các ngànhkinh tế khác Bởi vì, thực tế cho thấy rằng trong lúc nguồn vốn tích lũy cho côngnghiệp hóa còn rất thiếu, sản xuất chưa đủ tiêu dùng, mà dồn mọi nguồn lực sẵn

có cho công nghiệp nặng thì các khu vực sản xuất khác sẽ không có điều kiệnphát triển Công nghiệp nặng với đặc điểm cần lượng vốn đầu tư lớn, thời gianhoàn vốn dài…., đã hạn chế khả năng khắc phục những thiếu thốn trước mắt vềlương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu

Hướng đổi mới cách tiếp cận chuyển dịch cơ cấu để thực hiện côngnghiệp hóa trên thực tế đã có nhóm NIEs thành công với mô hình công nghiệphóa hướng về xuất khẩu trong sự đối lập với mô hình công nghiệp hóa thay thếhàng nhập khẩu đã tỏ ra không có triển vọng xét về dài hạn

b) Nguyên nhân chủ quan

Nước ta đã có sự đổi mới về chính sách cơ cấu, ngày càng phù hợp hơnvới tình hình thực tế, nên đã có tác dụng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấungành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa

- Những chính sách điều chỉnh cơ cấu đầu tư, phân bổ lại nguồn lựccủa nền kinh tế nói chung và nguồn vốn ngân sách nói riêng đã có tác dụng làmgiảm bớt mức độ căng thẳng do chủ trương tập trung ưu tiên phát triển công

Trang 24

nghiệp nặng quá sức chịu đựng của nền kinh tế gây ra Thật vậy, từ năm 1980,

sự điều chỉnh chính sách cơ cấu được đánh dấu bằng chủ trương coi nôngnghiệp là “mặt trận hàng đầu” Và sau đó là “ba chương trình mục tiêu về lươngthực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” Quyết sách về sự điềuchỉnh cơ cấu này không chỉ có ý nghĩa thực tế to lớn là giảm sự bất cân bằngtrong các mối quan hệ kinh tế vĩ mô cơ bản như tích lũy – tiêu dùng, xuất khẩu –nhập khẩu,…; mà điều không kém phần quan trọng trong bối cảnh nhận thức lýluận lúc đó là phá vỡ tư tưởng giáo điều, để từ đó đi một bước ngoặt quyết địnhtrong tư duy đổi mới toàn diện nền kinh tế theo hướng thị trường mở cửa

- Cùng với sự điều chỉnh cơ cấu đầu tư là các chính sách khuyếnkhích sự phát triển một nền kinh tế đa hình thức sở hữu, trong đó có mốc đặcbiệt quan trọng là:

+ Khoán sản phẩm trong nông nghiệp, coi nông hộ là đơn vị kinh tế cơbản (Chỉ thị 100/CT năm 1981 và Nghị quyết 10- BTC năm 1988) đã huy độngđược nguồn lực to lớn của nông dân đầu tư vào phát triển sản xuất nông nghiệp.Kết quả là nông nghiệp từ chỗ sản xuất không đủ lương thực tiêu dùng đã nhanhchóng trở thành một trong số nhưng quốc gia có lượng gạo xuất khẩu hàng đầuthế giới

+ Ban hành Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 ( và đến nay đã 3 lần sửađổi vào các năm 1992, 1996 và 2000), đã thu hút được một nguồn vốn đầu tư rấtquan trọng từ bên ngoài (bình quân chiến 20-25% tổng đầu tư xã hội) Chủ yếutập trung vào phát triển các lĩnh vực công nghiệp chế biến và một số lĩnh vựccông nghiệp chế biến và một số lĩnh vực dịch vụ có công nghiệp hiện đại Sựhiện diện của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm thay đổiđáng kể diện mạo của khu vực công nghiệp và dịch vụ, hiện đang tạo ra chừnghơn 10%GDP, hơn 50% giá trị xuất khẩu, có đóng góp vào việc tạo việc làm vớimức lương khá cao so với mặt bằng chung, vào ngân sách, vào việc du nhậpcông nghệ kỹ thuật và quản lý hiện đại, vào việc tạo ra một nền kinh tế ngàycàng có tính cạnh tranh hơn

Ngày đăng: 26/01/2016, 14:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Kim ngạch xuất khẩu từ 2000 – 2009 - CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Bảng 3. Kim ngạch xuất khẩu từ 2000 – 2009 (Trang 14)
Bảng 1: có cấu lao động theo nhóm kinh tế % - CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Bảng 1 có cấu lao động theo nhóm kinh tế % (Trang 18)
BẢNG CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO KHU VỰC - CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM
BẢNG CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO KHU VỰC (Trang 19)
Bảng Cơ cấu GDP ngành kinh tế của VN tới 2020 (%) - CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM
ng Cơ cấu GDP ngành kinh tế của VN tới 2020 (%) (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w