1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực tập quy trình thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể theo quy định của pháp luật việt nam

38 1,6K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 234 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ lao động chủ yếu được hình thành trên cơ sởthương lượng, Thỏa thuận giữa các bên: Người lao động và người sử dụng lao động.. V

Trang 1

Họ Tên : Vi Văn Đạt

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Phạm vi nghiên cứu

3 Phương pháp nghiên cứu

4 mục đích nghiên cứu.

Trang 2

2 Một số vấn đề lý luận về thỏa ước lao động tập thể.

1 Q uy định của pháp luật về quy trình thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể.

2.1 Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về thương lượng ký

kết thỏa ước lao động tập thể.

2.2 Đánh giá

Chương III: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quy trình thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể

III - Kết Luận.

Danh mục viết tắt.

Tài liệu tham khảo.

Trang 3

Lời Cảm ơn

Kính thưa các thầy, cô giáo trong khoa Luật

Qua quá trình thực tập này, với khoảng thời gian hơn ba tháng em đã có thời giantiếp xúc, làm việc và nghiên cứu ở Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp kiến thuận, địa chỉ tại xãBình Thuận – Văn Chấn – Yên Bái Đạt được kết quả như ngày hôm nay không chỉ dựavào sự nỗ lực của bản thân em mà còn có sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía nhà trường và cơsở thực tập

Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn nhà trường và khoa đã tạo điều kiện chochúng em đi thực tập, rèn luyện và đặc biệt là Thạc sĩ Phan Thị Thanh Huyền đã tận tìnhgiúp đỡ và hưỡng dẫn em trong quá trình hoàn thành bài viết này Đây là một cơ hội tốtđể em được vận dụng các kiến thức, lý thuyết đã được học trong chương trình đào tạo củanhà trường vào trong thực tế, đồng thời giúp chúng em có thêm những trải nghiệm vachạm trong cuộc sống và làm quen với công việc của mình trong tương lai

Em xin trân thành cảm ơn các cô các chú trong hợp tác xã, và đặc biệt là cô phóchủ nhiệm HTX dịch vụ tổng hợp kiến thuận đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho emcho em hoàn thành đợt thực tập này

Đây là đợt thực tập lần thứ hai của em, được vận dụng các kiến thức trên lớp vànhững kỹ năng đã học vào trong thực tiễn Trong quá trình làm việc tuy em đã cố gắng rấtnhiều nhưng vì điều kiện, thời gian và do nhận thức còn hạn chế, kinh nghiệm còn nonnớt nên không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp củathầy cô, để bài thu hoạch của em trở nên hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ lao động chủ yếu được hình thành trên cơ sởthương lượng, Thỏa thuận giữa các bên: Người lao động và người sử dụng lao động Nhànước không quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên trong trong mối quan hệnày, mà chỉ điều chỉnh bằng các nguyên tắc khung pháp luật, tạo hành lang pháp lý làm

cơ sở cho các bên tự thương lượng, thỏa thuận các quyền và nghiã vụ cụ thể, phù hợp vớiđiều kiện khả năng thực tế của từng doanh nghiệp Song trong quan hệ lao động người laođộng luôn ở vị thế yếu hơn người sử dụng lao động, họ luôn phải chịu tác động của quyluật cung cầu sức lao động, sức ép mất việc làm thất nghiệp Tuy nhiên sự bất bình đẳngvà sự bóc lột sức lao động đến mức nào đó thì người lao động liên kết lại và cùng nhauđình công chống lại người sử dụng lao động Điều đó sẽ có nguy cơ khiến cho quan hệ laođộng bị phá vỡ, sản xuât kinh doanh bị ngừng trệ, ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như cơhội kinh doanh của các doanh nghiệp Chính vì vậy cần có những thỏa thuận chung giữanhững người lao động và tập thể người lao động, đó chính là những bản thỏa ước laođộng tập thể Điều quan trọng hơn cả để đi đến việc ký kết thảo ước lao động tập thể đóchính là quy trình thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, sự công bằng cho người lao động và nguồi sửdụng lao động, pháp luật lao động Việt Nam đã có những quy định về quy trình thươnglượng và những bản thỏa ước lao động tập thể Tuy nhiên, Những quy định về vấn đề nàynhư thế nào đồng thời việc hiểu và thực hiên các quy định đó trong thực tiễn ra sao? Nhưvậy, qua bài viết này tôi muốn các bạn có những hiểu biết cụ thể về những quy định củapháp luật việt nam về quá trình thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể và thựctrạng thực hiện các quy định đó trong một phạm vi nhất định tại Việt Nam Đồng thời đưa

ra những bất cập và ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này

Trang 5

3 Phương pháp nghiên cứu.

Để thể hiện lên tính chân thực, chính xác, đồng thời đảm bảo tính logic thì bài viếtđược vận dụng khá nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phán đoán, phươngpháp suy luận, thu thập thông tin, nhưng chủ yếu nhất là hai phương pháp phân tích, đánhgiá và tổng hợp Để làm rõ nội dung về quy trình thương lượng ký kết thỏa ước lao độngtập thể thì cần phải nghiên cứu là phân tíc kỹ lưỡng các quy định của pháp luật về vấn đềnày, đánh giá và tổng hợp lại một cách hoàn chỉnh

4 Mục đích nghiên cứu.

Từ tính cấp thiết của đề tài cho thấy tầm quan trọng của quy trình thương lượng ký kếtthỏa ước lao động trong thực tiễn là không hề nhỏ, do vậy tôi muốn làm rõ lên các vấn đềtrong quy trình thương lượng ký kết thỏa ước lao động theo quy định của pháp luật việtnam hiện hành

Từ mục đích đó, tôi mong muốn đây sẽ là tài liệu để doanh nghiệp nơi tôi thực tập thamkhảo và bổ xung vào những bất cập thiếu xót trước đây Đồng thời góp phần xây dựngnên quan hệ lao động hài hòa ổn định tiến bộ cho xã hội Ngoài ra, bài viết này có thểmang đến cho người lao đông và người sử dung lao đông có những hiểu biết rõ ràng hơnvề những quy định của pháp luật Việt Nam về quá trình thương lượng Chỉ ra những bấtcập trong quy định của pháp luật và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiên pháp luậttrong lĩnh vực này

Trang 6

1.2 Mục đích thương lượng.

Căn cứ theo điều 66 bộ luật lao động 2012 thì mục đích của thương lượng tập thể là:+ Xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ;

+ Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký kết thoả ước lao độngtập thể;

+ Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ củamỗi bên trong quan hệ lao động

1.3 Chủ thể của thương lượng tâp thể.

Căn cứ theo quy định tại điều 69 luật lao động 2012 thì chủ thể thương lượng tập thể là:

Trang 7

Về phía tập thể lao động trong thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp là tổchức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; thương lượng tập thể phạm vi ngành là đại diệnBan chấp hành công đoàn ngành;

Bên người sử dụng lao động trong thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp làngười sử dụng lao động hoặc người đại diện cho người sử dụng lao động; thương lượngtập thể phạm vi ngành là đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ngành

Vấn đề đại diện thương lượng tập thể trong doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nayđược quy định như sau: Về phía tập thể lao động có quyền thương lượng tập thể là banchấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đối vớidoanh nghiệp chưa có công đoàn cơ sở; còn đại diện thương lượng tập thể bên phía doanhnghiệp là người sử dụng lao động hoặc người đại diện cho người sử dụng lao động

Thông qua quy định của pháp luật về đại diện thương lượng tập thể tại doanh nghiệp nhưtrên, có thể đưa ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, thương lượng tập thể vẫn

có thể được thực hiện tại doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn và chủ thể thươnglượng tập thể trong trường hợp này là ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp củacông đoàn cơ sở

Thứ hai, thực tiễn trong quan hệ lao động đã cho thấy rằng, đa số các trường hợp,

công đoàn cơ cở chưa có vị thế hoặc năng lực, kỹ năng tốt để có thể thương lượng mộtcách bình đẳng, hiệu quả với người sử dụng lao động nên rất cần sự hỗ trợ, tham gia trựctiếp của công đoàn cấp trên hoặc của những chuyên gia bên ngoài là những người có hiểubiết, năng lực và kỹ năng thương lượng tập thể tốt Tuy nhiên, chủ thể thương lượng tậpthể tại cấp doanh nghiệp bên phía người lao động ở những doanh nghiệp đã có công đoànđược quy định là ban chấp hành công đoàn cơ sở Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở đượcquy định là có thể tham dự phiên họp thương lượng tập thể nếu có yêu cầu của một tronghai bên

Trong nhiều trường hợp, chủ thể có quyền thương lượng, thường là công đoàn,đồng thời là những người trực tiếp thương lượng Trong nhiều trường hợp khác, chủ thể

có quyền thương lượng có thể kêu gọi sự hỗ trợ về năng lực và kỹ năng của những chuyên

Trang 8

gia độc lập từ bên ngoài Theo quy định pháp luật lao động cho phép bên người sử dụnglao động có thể ủy quyền cho người khác thay mặt giám đốc tiến hành thương lượng tậpthể với bên đại diện tập thể lao động, song lại không có quy định về vấn đề này đối vớibên người lao động, gây khó khăn cho việc xử lý những trường hợp người sử dụng laođộng từ chối sự tham gia của các chuyên gia đàm phán độc lập do công đoàn bên đại diệncho tập thể lao động mời.

1.4 Ý nghĩa của thương lượng.

Thương lượng có ý nghĩ vô cùng quan trọng trong quan hệ lao động, góp phần xâydựng quan hệ lao động hài hòa ổn định và tiến bộ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp,cân bằng cho người lao động và người sở dụng lao động Xác lập các điều kiện lao độngmới làm căn cứ để tiến hành ký kết thoả ước lao động tập thể; Giải quyết những vướngmắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ laođộng

Thương lượng còn là quá trình không thể thiếu trong ký kết thỏa ước lao động tậpthể và mang ý nghĩa trực tiếp quyết định đến quá trình này

2 Một số vấn đề lý luận về thỏa ước lao động tập thể.

Thỏa ước lao động tập thể là một sự tiến bộ xã hội, thừa nhận quyền của mọi ngườilàm công ăn lương, được thông qua người đại diện của mình là công đoàn để xác địnhmột cách tập thể những điều kiện lao động, đặc biệt là những điều kiện có lợi hơn chongười lao động, so với quy định của pháp luật lao động, đây là một trong những tiêu chí

cơ bản của vấn đề nhân quyền Thông qua thỏa ước lao động tập thể các bên quan hệ laođộng được thương lượng để thỏa thuận về những quyền và lợi ích cao hơn cho người laođộng so với những quy định pháp luật Với thỏa ước, sự liên kết tập thể lao động được thểhiện, củng cố, tăng cường vị thế và năng lực đại diện tập thể lao động

2.1 Khái niệm

Tùy theo từng thời kỳ, từng nơi mà thỏa ước lao động tập thể có những tên gọi khácnhau như: tập hợp khế ước, cộng đồng hiệp ước lao động, hợp đồng lao động tập thể, thỏa

Trang 9

ước lao động tập thể Nhưng xét về thực chất thỏa ước lao động tập thể là những quyđịnh nội bộ của doanh nghiệp, trong đó bao gồm những thỏa thuận giữa tập thể lao độngvà người sử dụng lao động về những vấn đề có liên quan đến quan hệ lao động.

Trước đây, trong pháp luật lao động Việt Nam gọi thỏa ước lao động tập thể là “hợpđộng tập thể” với nội dung và phạm vi áp dụng chủ yếu trong doanh nghiệp nhà nước Sovới hợp đồng lao động cá nhân, thỏa ước lao động tập thể có những điểm khác biệt dễnhận biết là về chủ thể của hợp đồng Nếu trong hợp đồng lao động, chủ thể của quan hệpháp luật một bên là cá nhân người lao động và một bên là người sử dụng lao động; thìtrong thỏa ước lao động tập thể, một bên là tập thể những người lao động và bên kia làngười sử dụng lao động hoặc đại diện của tập thể những người sử dụng lao động (nếu làthỏa ước ngành) Hình thức thỏa thuận trong hợp đồng lao động có thể là văn bản hoặcgiao kết bằng miệng, còn thỏa ước lao động tập thể nhất thiết phải bằng văn bản Cónhững điểm khác biệt này là tính chất, đặc điểm của mối quan hệ trong thỏa ước lao độngtập thể Thực chất, đó là mối quan hệ về lợi ích của hai bên, một bên là tập thể lao độngvà một bên là chủ doanh nghiệp Xuất phát từ lợi ích của mỗi bên, trong quá trình laođộng đòi hỏi các bên phải cộng tác với nhau, nhân nhượng lẫn nhau và vì lợi ích của cảhai bên, đồng thời cũng vì mục đích phát triển doanh nghiệp, làm lợi cho đất nước Do đó,thỏa ước lao động tập thể chính là sự thỏa thuận của hai bên, là nhân tố ổn định quan hệlao động trong phạm vi một đơn vị kinh tế cơ sở, một ngành và có tác dụng rất quan trọngvề kinh tế xã hội

Chính vì những lý do trên, tên gọi "hợp đồng tập thể" đã được sửa lại là "thỏa ước laođộng tập thể” để phân biệt cả về tính chất và nội dung với "hợp đồng lao động"

Theo quy định tại Điều 73 Bộ luật lao động 2012 thì “Thỏa ước lao động tập thể là

văn bản thoả thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện laođộng mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể”

Từ định nghĩa cho thấy:

Thực chất, thỏa ước lao động tập thể trước hết là một văn bản pháp lý thể hiện sự thỏathuận của các bên tham gia thương lượng và là kết quả của quá trình thương lượng

Trang 10

Sự thương lượng, thỏa thuận và ký kết thỏa ước mang tính chất tập thể, thông qua đạidiện của tập thể người lao động và đại diện sử dụng lao động.

Nội dung của thỏa ước lao động tập thể chỉ giới hạn trong việc quy định nhưng điềukiện lao động và sử dụng lao động, giải quyết các mối quan hệ giữa người sử dụng laođộng và người lao động Vì vậy, các bên cần thỏa thuận thương lượng cụ thể hơn cho phùhợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh của từng doanh nghiệp để đi đến quá trình ký kếtthoả ước

2.2 Bản chất pháp lí và đặc trưng của thỏa ước lao động tập thể:

2.2.1 Bản chất của thỏa ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể là một sự tiến bộ xã hội, thừa nhận quyền của mọi ngườilàm công ăn lương, được thông qua người đại diện của mình là công đoàn để xác địnhmột cách tập thể những điều kiện lao động, đặc biệt là những điều kiện có lợi hơn chongười lao động so với quy định của pháp luật lao động, đó la một trong những tiêu chí cơbản của vấn đền nhân quyền Thông qua thỏa ước lao động tập thể sẽ thống nhất hóa đượcchế độ lao động đối với những người lao động cùng một ngành nghề, công việc, trongcùng một doanh nghiệp, một vùng, một ngành (nếu là thỏa ước vùng, ngành) Như vậy sẽloại trừ được sự cạnh tranh không chính đáng, nhờ sự đồng hóa các đảm bảo phụ xã hộitrong các bộ phận doanh nghiệp, trong các doanh nghiệp cùng loại ngành nghề, công việc(nếu là thỏa ước ngành)

Về bản chất pháp lý, thỏa ước lao động tập thể vừa có tính chất là một hợp đồng, vừa có

tính chất là một văn bản có tính pháp quy.

- Tính hợp đồng của thỏa ước lao động tập thể:

Thỏa ước tập thể được hình thành trên cơ sở sự thương lượng, thỏa thuận giữa cácbên: tập thể lao động và NSDLĐ nên đương nhiên thỏa thuận phải mang tính chất của khếước Đó là tính hợp đồng Yếu tố hợp đồng này được thể hiện rất rõ trong việc tạo lậpthỏa ước Không thể có thỏa ước nếu không có sự hiệp ý của của hai bên kết ước Sự

Trang 11

tương thuận này là đặc tính căn bản của thỏa ước lao động tập thể, không gì có thể thaythế được.

Khi các bên nhận thấy cần phải có thỏa ước tập thể để ràng buộc trách nhiệm giữacác bên với nhau thì các bên có quyền đề xuất yêu cầu và cùng nhau ngồi vào bàn đàmphán thương lượng Trong quá trình thương lượng, mỗi bên đều có quyền đưa ra ý kiếncủa mình và giá trị ý kiến của các bên là ngang nhau Nếu các bên thống nhất được vớinhau về nội dung của thỏa ước và đa số NLĐ trong doanh nghiệp nhất chí với nội dung đóthì thỏa ước tập thể sẽ được kí kết

Nội dung mà các bên thỏa thuận trong thỏa ước thường là các điều kiện lao động,điều kiện sử dụng lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động NLĐvà NSDLĐ nên kí thỏa ước lao động tập thể vì để phù hợp với điều kiện kinh doanh củamình, hơn nữa, những thỏa thuận này thường có lợi với NLĐ hơn so với quy định củapháp luật

Như vậy, thỏa ước tập thể là kết quả của sự tự do thỏa thuận giữa tập thể lao độngvà NSDLĐ dưới hình thức văn bản Đây đồng thời cũng là yếu tố quan trọng nhất củathỏa ước lao động tập thể

- Tính quy phạm của thỏa ước lao động tập thể:

Mặc dù được thiết lập trên cơ sở sự thương lượng thỏa thuận giữa tập thể lao độngvà NSDLĐ song thỏa ước lại có tính quy phạm Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản giữathỏa ước lao động tập thể và HĐLĐ Tính chất này được hình thành qua nội dung, trình tựkí kết và hiệu lực của thỏa ước Về nội dung, thỏa ước là sự cụ thể hóa các quy định củapháp luật cho phù hợp với điều kiện, khả năng thực tế của đơn vị Vì vậy, nội dung củathỏa ước thường được xây dựng dưới dạng các quy phạm, theo từng điều khoản thể hiệnquyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động như việc làm, tiềnlương, thời gian làm việc,

Hơn nữa, để có hiệu lực, thỏa ước tập thể khi kí kết phải tuân theo trình tự nhấtđịnh Trước khi kí kết thỏa ước, Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải tổ chức lấy ý kiếncủa tập thể lao động về nội dung thỏa ước Thỏa ước chỉ được kí kết nếu đa số (trên 50%)những NLĐ trong doanh nghiệp tán thành nội dung của nó Đặc biệt, khi thỏa ước đãđược kí kết, nó sẽ có hiệu lực trong toàn bộ đơn vị Tất cả những NLĐ, kể cả những

Trang 12

người vào làm việc sau khi thỏa ước được kí kết, những người không thuộc tổ chức côngđoàn cũng phải tuân thủ các điều khoản của thỏa ước Những quy định nội bộ trong đơnvị, những thỏa thuận trong hợp đồng trái với thỏa ước (theo hướng bất lợi cho NLĐ) đềuphải được sửa đổi lại cho phù hợp Như vậy, có thể nói thỏa ước tập thể là "luật" của cácdoanh nghiệp Tuy nhiên, luật này có tính chất "động" bởi nó có thể được sửa đổi bổ sungnếu các bên có yêu cầu, miễn là tuân thủ trình tự pháp luật quy định.

Tóm lại, trong thỏa ước tập thể luôn tồn tại đồng thời hai yếu tố thỏa thuận và bắtbuộc Chính sự kết hợp này đã làm nên bản chất đặc biệt của thỏa ước lao động tập thể.Vấn đề là ở chỗ cần phải điều chỉnh như thế nào để hai yếu tố đó cùng phát huy tác dụng.Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng bản chất của quan hệ lao động là quan hệ thỏa thuận

2.2.2 Đặc trưng của thỏa ước lao động tập thể:

Thỏa ước tập thể có đặc điểm hết sức riêng biệt, đó là tính tập thể như đúng theotên gọi của nó Tính tập thể của thỏa ước được thể hiện rất rõ trong chủ thể và nội dungcủa thỏa ước

Về chủ thể, một bên của thỏa ước bao giờ cũng là đại diện của tập thể lao động.Đại diện của tập thể lao động (tổ chức công đoàn ở Việt Nam và hầu hết các nước hay cácđại diện do các thành viên bầu ra như ở một số ít nước khác) tham gia thương lượng thỏaước không phải vì lợi ích cá nhân, hay một số NLĐ mà là vì lợi ích của tất cả mọi NLĐtrong doanh nghiệp Tuy nhiên, tùy theo cơ cấu tổ chức, quy mô của từng đơn vị mà tậpthể lao động ở đây có thể được xác định trong phạm vi doanh nghiệp, tổng công ti hayngành hoặc cũng có thể chỉ trong bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp

Về nội dung, các thỏa thuận trong thỏa ước bao giờ cũng liên quan đến quyền,nghĩa vụ và lợi ích của tập thể lao động trong đơn vị Nó không chỉ có hiệu lực đối vớicác bên kết ước, các thành viên hiện tại của doanh nghiệp mà còn có hiệu lực đối với cácthành viên tương lai của doanh nghiệp, kể cả những người không phải là thành viên của tổchức công đoàn

Vì thế, tranh chấp về thỏa ước bao giờ cũng được xác định là tranh chấp lao độngtập thể (thỏa mãn các dấu hiệu của tranh chấp lao động tập thể: có sự tham gia đông đảocủa những NLĐ trong doanh nghiệp và có nội dung liên quan đến quyền và lợi ích chungcủa tập thể lao động)

Trang 13

2.3 Phân loại thỏa ước lao động tập thể.

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại lao động tập thể như tiêu chí thời gian tiêu chínội dung… song nhìn chung người ta thường hay phân loại theo tiêu chí chủ thể ký kết vàphạm vi áp dụng của nó Thông thường thỏa ước lao động tập thể gồm các loại sau

2.3.1 Thỏa ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp

Đây là thỏa ước được ký kết giữa đại diện tập thể lao động của doanh nghiệp với ngườisử dụng lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động thỏa ước này được thực hiện dễdàng nhất, bởi việc thương lượng thỏa ước này không mấy khó khăn, không đòi hỏi bộmáy đàm phán phức tạp vấn đề trao đổi quan điểm thông tin cũng đơn giản các bên dễ

đi đến thương lượng, dễ đi đến thành công

2.3.2 Thỏa ước lao động tập thể cấp ngành, liên ngành.

Thỏa ước tập thể cấp ngành liên ngành được ký kết giữa các tập thể lao động của ngành,với đại diện người sử dụng lao động của ngành hoặc liên ngành đó Thỏa ước lao độngtập thể này được ký kết sẽ thống nhất được chế độ lao động, tiền lương trong phạm vitoàn ngành, liên ngành nên hạn chế được xung đột và tranh chấp trong phạm vi ngành,liên ngành Việc kí kết thỏa ước lao động tập thể ở cấp này thường khó hơn ký kết thỏaước loa động tập thể ở cấp độ doanh nghiệp, bởi nó đòi hỏi các doanh nghiệp trongngành tương đối đồng đề về điều kiện lao động cũng như sử dụng lao động Hơn nữa vấnđề đại diện ký kết cũng là vấn đề cần đặt ra đối với loại thỏa ước này

2.3.3 Thỏa ước cấp vùng, địa phương

Đây là loại thỏa ước được ký kết giữa đại diện tập thể lao động của vùng với đạidiện người sử dụng lao động của vùng đó Loại Thỏa ước này thường được thực hiện ởnhững nước có nền kinh tế thị trường tương đối ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanhthường được tổ chức thanh các cụm kinh thế hoặc khu chế xuất, khu công nghiệp thỏaước lao động tập thể vùng được ký kết sẽ thống nhất được chế độ lao động của cácdoanh nghiệp trong vùng nên sẽ hạn chế được các xung đột và tranh chấp loa động trongphạm vi rộng (cả vùng) Hơn nữa, nếu có đình công xảy ra cũng sẽ tránh được tình trạng

Trang 14

phản ứng đình công theo dây chuyền Thực tiễn đình công của người lao động tại cáckhu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam trong thời gian qua cho chúng ta thấy rõ điềunày Tuy nhiên, vì loại thỏa ước này được ký kết ở phạm vi rộng, liên quan đến quyềnlợi của nhiều lao động, nhiều doanh nghiệp, nên việc đàm phán thương lượng thỏa ướcthường phức tạp hơn, khó thành công hơn Ở Việt Nam loại thỏa ước này chưa đượcpháp luật quy định

2.4 Ý Nghĩa của thỏa ước lao động tập thể

2.4.1 thỏa ước lao động tập thể góp phần tạo dựng quan hệ lao động hài hòa về

quyền và lợi ích giữa người sử dụng lao động và tập thể người lao động.

Cùng với thỏa ước hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể là cơ sở chủ yếuđể hình thành nên quan hệ lao động mang tính tập thể Thỏa ước lao động tập thể là sựhợp tác, cộng đồng trách nhiệm giữa hai bên: tập thể lao động và người sử dụng lao động.Về mặt xã hội thì thỏa ước lao động tập thể có ý nghĩa rất quan trọng, nó thể hiện sự hợptác giữa hai giới: chủ - thợ mà bình thường lợi ích giữa hai giới đối lập nhau Sẽ khôngthể nói đến quan hệ chủ thợ và chỉ là sự lệ thuộc, nhưng khi người lao động kết thành tậpthể mà đại diện là công đoàn thì tương quan mối quan hệ này sẽ trở nên bình đẳng Sựhợp tác, cộng đồng trách nhiệm được thực hiện trong việc các quyền và nghĩa vụ phátsinh trên cơ sở pháp luật lao động và cụ thể trong thỏa ước Quy trình thương lượng xâydựng thỏa ước lao động tập thể sẽ giúp tạo lập cơ chế đối thoại giữa người sử dụng laođộng với người lao động thông qua tổ chức công đoàn Hai bên sẽ có cơ hội trao đổi bànbạc với nhau tránh những hiểu lầm đáng tiếc

Việc tạo điều kiện cho người lao động tham gia vào quá trình thương lượng là thểhiện sự tôn trọng của người sử dụng lao động đói với người lao động điều này tác độngtích cực tới tinh thần của người lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động và gắn

bó người lao động với doanh nghiệp Thỏa ước lao động tập thể góp phần vào mục tiêuquan trọng của phát triển kinh tế xã hội, một mặt góp phần củng cố không khí hòa bìnhtrong quan hệ lao động có lợi ích và nỗ lực phát triển mặt khác thúc đẩy và giải quyếtnhững quyền lợi xung đột, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội

Trang 15

Khi thỏa ước được thông qua nó sẽ có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với ngườisử dụng lao động và với mỗi cá nhân người lao động cũng như tập thể người lao động tạidoanh nghiệp đó Đây là những điều kiện cần thiết để đảm bảo doanh nghiệp hoat động

ổn định

2.4.2 thỏa ước lao động tập thể tạo ra sự gắn bó đoàn kết giữa các cá nhân người lao động, các nhóm người lao động và tập thể người lao động với nhau, qua đó hạn chế được xung đột và cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực lao động và trên thị trường lao động.

Thỏa ước lao động tập thể giúp loại trừ sự cạnh tranh không lành mạnh giữa nhữngngười lao động ở cùng một bộ phận doanh nghiệp, một doanh nghiệp, thậm chí mộtngành, một vùng Đối vơi người sử dụng lao động thỏa ước lao động tập thể là nguồn quyphạm thích hợp, tại chỗ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc quản lý điều hành sản xuất kịpthời tạo điều kiện cho lao động trong doanh nghiệp được gắn bó hài hòa, ổn định Việc kýkết thỏa ước lao động cũng góp phần kiềm chế xu hướng lạm quyền của người sử dụnglao động đối với người lao động… Đặc biệt việc ký kết thỏa ước nâng cao ý thức tráchnhiệm của người lao động kế hoạch hợp đồng sản xuất kinh doanh được ổn định Về phíangười lao động việc ký kết thỏa ước lao động sẽ tạo điều kiện cho họ bình đẳng trong mốiquan hệ lao động với người sử dụng lao động

2.4.3 Thỏa ước lao động tập thể là một trong những biên pháp hữu hiệu để hạn chế xung đột tranh chấp lao động nhưng đồng thời nó cũng là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp lao động.

Đối với người lao động trong doanh nghiệp thỏa ước lao động tập thể tạo điều kiệncho họ được bình đẳng, giúp họ có vị thế tương xứng với người lao động, có tiếng nóimạnh hơn trong việc thỏa thuận với người sử dụng lao động, điều này sẽ hạn chế xung độtvà tranh chấp trong quan hệ lao động Mặt khác thỏa ước lao động có mối liên hệ trực tiếpvới đình công và công đoàn Trong mối liên hệ này thỏa ước có vai trò như là một bảnhòa ước giữa hai bên nhằm duy trì một không khí hòa bình công nghiệp, trong thời gianthỏa ước lao động tập thể có hiệu lực Như vậy khi có tranh chấp lao động cá nhân hay tập

Trang 16

thể xảy ra thì thỏa ước lao động luôn là cơ sở pháp lý để cơ quan, tổ chức có thẩm quyềncăn cứ vào đó để xem xét giải quyết tranh chấp.

2.4.4 Thỏa ước lao động tập thể là nguồn quy phạm bổ sung cho các quy định của luật lao động tại đơn vị đồng thời góp phần phát triển pháp luật lao động

Thỏa ước lao động tập thể là nguồn quy phạm bổ sung cho các quy định của luậtlao động Vì nó hướng đến những quy định cụ thể để giải quyết những vấn đề phát sinhtrong thực tiễn mà luật lao động chỉ quy định và điều chỉ mang tính bao chùm phổ quátnhất Thỏa ước lao động tập thể không chỉ bổ sung cho pháp luật lao động mà còn gópphần điều chỉnh cụ thể chính xác đối với mọi quan hệ lao động trong doanh nghiệp

Chương II: Quy trình thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Thương lượng tập thể là một trong những hình thức biểu hiện của quan hệ lao động, làcông cụ để xác định điều kiện lao động và sử dụng lao động tại doanh nghiệp, tạo điềukiện cho quan hệ lao động phát triển hài hòa, lành mạnh, bền vững, làm cân bằng lợi íchcủa hai bên; đồng thời góp phần phòng ngừa, hạn chế và giải quyết các tranh chấp laođộng phát sinh trong quan hệ lao động Với tư cách là một bộ phận của hệ thống pháp luậtvề quan hệ lao động, pháp luật về thương lượng tập thể quy định về nguyên tắc, quy trìnhmà các bên trong quan hệ lao động sẽ đàm phán, thảo luận với nhau để xác lập các quyền,nghĩa vụ và lợi ích cụ thể của mình theo chiều hướng cao hơn mức tối thiểu được quyđịnh bởi pháp luật về tiêu chuẩn lao động Do vậy, các quy định của pháp luật về quytrình thương lượng tập thể luôn là nội dung có vai trò hết sức quan trọng của pháp luật vềthương lượng tập thể Các quy định về quy trình thương lượng cần phải bảo đảm cho quátrình thương lượng được diễn ra một cách hiệu quả và thực chất trên thực tế Trong phạm

vi bài viết này, tác giả tập trung vào việc phân tích thực trạng các quy định của pháp luậtvà một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quy trình thương lượng tập thể trongquan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay

Trang 17

1 Quy định của pháp luật về quy trình thương lượng ký kết thỏa ước

lao động tập thể.

Thương lượng tập thể là việc tập thể lao động thảo luận, đàm phán với người sử dụnglao động xoay quanh việc cải thiện điều kiện lao động và nguyên tắc xử lý quan hệ laođộng Việc đàm phán, thảo luận này được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định.Theo quy định của pháp luật hiện hành, quy trình thượng lượng nhằm ký kết thỏa ước laođộng tập thể ở Việt Nam được tiến hành qua các bước sau:

Bước 1: Đề xuất yêu cầu và nội dung cần thương lượng.

Thương lượng được hiểu là các bên có quan hệ có lợi ích chung và cũng có lợi íchriêng khác nhau, ngồi lại cùng nhau thảo luận nhằm tìm kiếm một thỏa thuận chung vềmột vấn đề cụ thể Thương lượng tập thể là thương lượng giữa hai bên chủ thể của quanhệ lao động nhằm tìm kiếm một thỏa thuận chung về các vấn đề liên quan đến quyền vàlợi ích của các bên trong quan hệ xã hội Do vậy, Trong quá trình thực hiện các quyền vànghĩa vụ trong quan hệ lao động, nếu tập thể lao động thấy cần phải ký kết thỏa ước laođộng tập thể để nhằm đảm bảo hơn quyền lợi của mình hoặc người sử dụng lao động thấycần phải ký kết thoả ước để hạn chế các tranh chấp lao động và đình công xảy ra Khi cácbên chủ thể thấy có những vấn đề hai bên cần phải thỏa thuận một cách rõ ràng và phảighi nhận thành văn bản, để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của mình, thực hiện tốt hơn kếhoạch lao động sản xuất chung của đơn vị thì một trong hai bên đưa ra lời đề nghị việc kýkết thoả ước lao động tập thể

Theo quy định của pháp luât việt nam hiện hành (khoản 1 điều 68 bộ lao động laođộng 2012): Mỗi bên đều có quyền yêu cầu thương lượng tập thể, bên nhận được yêu cầukhông được từ chối việc thương lượng

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng, cácbên thoả thuận thời gian bắt đầu phiên họp thương lượng thời gian bắt đầu phiên họp

Trang 18

thương lượng mặc dù do hai bên thỏa thuận lựa chọn, nhưng kể cả trường hợp nếu có đềnghị hoãn của một bên thì thời điểm bắt đầu thương lượng cũng không được quá 30 ngàykể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng.

Trường hợp một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượngtrong thời hạn quy định thì bên kia có quyền tiến hành các thủ tục yêu cầu giải quyết tranhchấp lao động theo quy định của pháp luật

Như vậy, theo quy định của pháp luật, khi một bên đưa ra yêu cầu, bắt buộc phíabên kia phải chấp nhận yêu cầu và ngồi vào đàm phán thương lượng, còn việc thươnglượng có thành hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các bên

Quy định này nhằm mục đích buộc bên nhận được yêu cầu phải có thiện chí vớibên đưa ra yêu cầu Pháp luật cũng đã quy định người sử dụng lao động phải có tinh thầnhợp tác với Công đoàn cơ sở trong việc bàn bạc những vấn đề về quan hệ lao động, quyềnlợi người lao động mà trong đó bao hàm cả thỏa ước lao động tập thể Cụ thể, theo quyđịnh của pháp luật, người sử dụng lao động có quyền cử đại diện để thương lượng, ký kếtthỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp hoặc thỏa ước lao động tập thể ngành; cótrách nhiệm cộng tác với Công đoàn bàn bạc các vấn đề về quan hệ lao động, cải thiện đờisống vật chất và tinh thần của người lao động Bên cạnh đó, pháp luật cũng yêu cầu ngườisử dụng lao động phải chịu trách nhiệm vật chất cụ thể cho việc thương lượng, xây dựngthoả ước để đảm bảo cho tinh thần cộng tác trong thương lượng, cụ thể:

- Mọi chi phí cho việc thương lượng, ký kết, sửa đổi, bổ sung, gửi và công bố thoả ướclao động tập thể do người sử dụng lao động chi trả

- Các đại diện tập thể lao động là người lao động do doanh nghiệp trả lương, thì vẫn đượctrả lương trong thời gian tham gia thương lượng, ký kết thoả ước tập thể

Quyền đề nghị thương lượng tập thể và trách nhiệm chấp nhận thương lượng đốivới hai bên là bình đẳng ngang nhau, nhưng thực tế cho thấy, việc đề xuất thường là sựchủ động từ phía Công đoàn Qua kết quả khảo sát một số doanh nghiệp đã ký kết thỏaước lao động tập thể cho thấy, việc chấp thuận thương lượng và thương lượng trên tinhthần hợp tác nói chung là tốt Thực tế cho thấy, có hai loại doanh nghiệp rất tôn trọng vàtuân thủ quy định này, đó là:

Trang 19

- Các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước (doanh nghiệp nhà nước);

- Những doanh nghiệp phát triển tốt, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao

Cùng điều kiện như nhau thì các doanh nghiệp nhà nước thực hiện tốt hơn vì chúngthuộc sở hữu nhà nước, nên về cơ bản lợi ích giữa chủ sử dụng lao động và người laođộng là thống nhất, không có sự đối kháng về lợi ích giữa người sử dụng lao động vàngười lao động

Bước 2: Chuẩn bị thương lượng

Hoàn thành bước một – yêu cầu thương lượng và kết thúc về việc hai bên thỏathuận vá ấn định về thời gian bắt đầu phiên thương lượng thì các bên chủ thể bắt tay vàobước chuẩn bị thương lượng với các hoạt động cụ thể sau:

Trước khi bắt đầu phiên họp thương lượng tập thể ít nhất 10 ngày, người sử dụnglao động phải cung cấp thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, khi tập thểlao động yêu cầu trừ những bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ của người sử dụng laođộng

Đại diện thương lượng của bên tập thể lao động lấy ý kiến của người lao động vớingười sử dụng lao động và các đề xuất của người sử dụng lao động (lấy ý kiến trực tiếpcủa tập thể lao động hoặc gián tiếp thông qua hội nghị đại biểu) Nội dung thương lượngđể ký kết thỏa ước lao động tập thể liên quan đến quyền và lợi ich của người lao động nênvề mặt nguyên tắc mỗi người lao động đều phải được thể hiện ý kiến của mình

Trên cơ sở ý kiến của người lao động, đại diện tập thể lao động nên tổng hợp vàxác định những nội dung dự kiến cần thương lượng với người sử dụng lao động, những ýkiến cơ bản của người lao động về những đề xuất của người sử dụng lao động đối với tậpthể lao động, sắp xếp chúng một cách mạch lạc, rõ ràng theo thứ tự ưu tiên và tầm quantrọng Từ đó, Đại diện tập thể lao động sẽ thành lập tổ thương lượng về phía tập thể laođộng và phân công công việc cụ thể cho từng thành viên trong tổ

Chậm nhất 05 ngày làm việc trước khi bắt đầu phiên họp thương lượng tập thể, bênđề xuất yêu cầu thương lượng tập thể phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết vềnhững nội dung dự kiến tiến hành thương lượng tập thể

Ngày đăng: 26/01/2016, 12:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w