1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai

27 1,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 499,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ Y Tế Viện Dinh Dưỡng Báo cáo đề tài TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA BỆNH NHÂN NHẬP VIỆN KHOA TIÊU HÓA VÀ NỘI TIẾT TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI Chủ nhiệm đề tài ThS... BÁO CÁO ĐỀ TÀI Tên đề tà

Trang 1

Bộ Y Tế Viện Dinh Dưỡng

Báo cáo đề tài TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA BỆNH NHÂN NHẬP

VIỆN KHOA TIÊU HÓA VÀ NỘI TIẾT

TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Chủ nhiệm đề tài

ThS Bs Phạm Thu Hương

6238

15/12/2006

Trang 2

BÁO CÁO ĐỀ TÀI Tên đề tài:

Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện Bạch mai

Cấp quản lý: Cấp cơ sở (Cấp Viện)

Chủ nhiệm đề tài: ThS Bs Phạm Thu Hương - Bs Ts Nghiêm Nguyệt Thu

Cơ quan chủ trì: Viện dinh dưỡng

Kinh phí thực hiện đề tài: 20 triệu

Thời gian thực hiện: 7/2005-3/2006

Danh sách những người tham gia đề tài

Họ tên Học hàm, học vị

chuyên môn

Cơ quan Chức danh tham

gia đề tài Phạm Thu Hương Thạc sĩ – Bác sĩ Viện dinh dưỡng Chủ nhiệm đề tàiNghiêm Nguyệt Thu Tiến sĩ – Bác sĩ Viện dinh dưỡng Chủ nhiệm đề tàiTrần Châu Quyên Bác sĩ Viện dinh dưỡng Thành viên Nguyễn Bích Ngọc Bác sĩ Viện dinh dưỡng Thành viên Thái Thị Thu Cúc Bác sĩ Viện dinh dưỡng Thành viên Nguyễn Thị Phương Thảo Bác sĩ BV Bạch mai Thành viên Nguyễn Thị Thanh Mai Y tá BV Bạch mai Thành viên Nguyễn Thị Thu Hiền Y tá BV Bạch mai Thành viên Nguyễn Thị Lâm Tiến sĩ – Bác sĩ Viện dinh dưỡng Thành viên

Cơ quan phối hợp:

Khoa Dinh dưỡng – Bệnh viện Bạch mai

Khoa Tiêu hóa - Bệnh viện Bạch mai

Khoa nội tiết - Bệnh viện Bạch mai

Lời cảm ơn

Trang 3

I Đặt vấn đề

Hiện nay, mặc dù có nhiều tiến bộ về các kiến thức y học nhưng vấn đề dinh dưỡng trong lâm sàng vẫn chưa được quan tâm Không chỉ suy dinh dưỡng phổ biến, mà béo phì và các bệnh liên quan với béo phì cũng tăng nhanh, và không được chú ý trên các bệnh nhân điều trị nội trú

Ở Việt nam, suy dinh dưỡng và béo phì phổ biến trong cộng đồng và có nhiều nghiên cứu

về vấn đề này (1-2) Tuy nhiên, đến nay, có rất ít nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân điều trị nội trú, và chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện chưa được các bác sĩ Việt nam chú trọng

Mục tiêu của nghiên cứu này đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nằm viện để đưa ra các khuyến nghị về hỗ trợ dinh dưỡng

Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Suy dinh dưỡng (SDD) đang là hiện tượng phổ biến của bệnh nhân nằm viện, và được mô

tả trong nhiều nghiên cứu (3) Tại các nước phát triển, khi suy dinh dưỡng cộng đồng không còn là vấn đề cần quan tâm thì SDD trong bệnh viện vẫn chiếm tỉ lệ cao (4) Tại Argentina tỉ lệ SDD của bệnh nhân nằm viện là 47%, tại Brazil là 56.5% (5-6) Suy dinh dưỡng gặp ở tất cả các nhóm bệnh như bệnh phổi mạn tính, bệnh tim mạch, đột quị, suy thận mãn (7-9) Suy dinh dưỡng tăng cao ở người cao tuổi, một nghiên cứu đã chỉ ra tỉ lệ SDD ở bệnh nhân trên 74 tuổi gấp đôi lứa tuổi 65-74 (7) Suy dinh dưỡng liên quan đến tăng tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ chết tại bệnh viện Suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ các biến chứng như nhiễm khuẩn, viêm phổi, chậm liền sẹo sau phẫu thuật, suy hô hấp (10) Do vậy, SDD làm tăng thời gian nằm viện, chi phí y tế (11) Năm 1992, The King’s Fund ước tính dinh dưỡng hỗ trợ cho bệnh nhân SDD sẽ tiết kiệm cho dịch vụ sức khỏe quốc gia

226 triệu bảng Anh (11)

Mặc dù không có phương pháp chuẩn để đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân

Trang 4

được Destky, trường đại học Toronto (Canada) xây dựng và đến nay được sử dụng rộng rãi trên thế giới SGA là một kĩ thuật lâm sàng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và suy dinh dưỡng dựa vào đặc điểm về tiền sử (thay đổi cân nặng, khẩu phần ăn, triệu chứng dạ dày ruột kéo dài trên 2 tuần, thay đổi chức năng, các bệnh mắc phải và ảnh hưởng của các stress chuyển hóa), và khám lâm sàng (mất lớp mỡ dưới da, phù, cổ trướng) Bệnh nhân được đánh giá phân theo 3 loại: dinh dưỡng tốt, nghi ngờ suy dinh dưỡng, và suy dinh dưỡng nặng Phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (Minimal Nutrition Assessment

- MNA) áp dụng cho bệnh nhân trên 65 tuổi, tương tự như phương pháp SGA tính điểm để xác định bệnh nhân nguy cơ suy dinh dưỡng (2)

Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt nam, chăm sóc dinh dưỡng trong bệnh viện đã không được thực hiện trong vòng

10 năm trở lại đây Vì vậy cho đến nay có rất ít nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần của bệnh nhân nằm viện

III Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Từ tháng 11/2005 đến tháng 1/2006, các bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa tiêu hóa và khoa nội tiết của bệnh viện Bạch mai được lựa chọn vào nghiên cứu Tiêu chuẩn lựa chọn

là các bệnh nhân điều trị nội trú tại 2 khoa tiêu hóa và nội tiết, trên 18 tuổi, mới nhập viện trong vòng 3 ngày, không bị gù vẹo cột sống, có thể đứng và đồng ý tham gia nghiên cứu

Cỡ mẫu cho đánh giá tình trạng dinh dưỡng tính theo công thức:

Trong đó: n=số bệnh nhân cần điều tra; Zα=2; p: tỉ lệ suy dinh dưỡng ước đoán 30%, e:0.05 (14), số bệnh nhân cần điều tra là 336, thực tế điều tra được 308 người Đề cương nghiên cứu được hội đồng khoa học Viện dinh dưỡng thông qua

2 Đánh giá nhân trắc

Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân được đánh giá sau khi nhập viện trong vòng 72 giờ Các bệnh nhân được đo chiều cao bằng thước đo chiều cao đứng theo phương pháp của WHO (15) Cân nặng được đo bằng cân Tanita (công ty Tanita, Nhật bản) Chỉ số BMI (kg/m2) được tính bằng cân nặng chia bình phương chiều cao Bề dày lớp mỡ dưới da được đo bằng thước đo lớp mỡ dưới da Caliper (công ty Meikosha, Tokyo, Nhật bản),

n α

Trang 5

Bạch mai được huấn luyện thống nhất kỹ thuật đánh giá nhân trắc thực hiện nghiên cứu này

3 Đánh giá khẩu phần ăn:

Khẩu phần ăn của bệnh nhân được các bác sĩ tại khoa dinh dưỡng đánh giá bằng phương pháp hỏi ghi khẩu phần trong 24 giờ qua

4 Đánh giá suy dinh dưỡng:

Các bệnh nhân được đánh giá suy dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc, suy dinh dưỡng nếu BMI <18.5 kg/m2 (19), thừa cân khi BMI ≥23 hoặc BMI≥25 (20) Phương pháp đánh giá toàn thể (SGA: subjective global assessment) nếu bệnh nhân dưới 65 tuổi (12), hoặc phương pháp đánh giá tối thiểu (MNA mini nutrition assessment) (13) nếu bệnh nhân trên 65 tuổi cũng được dùng để đánh giá Phương pháp SGA là một kĩ thuật lâm sàng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và suy dinh dưỡng dựa vào cách tính điểm theo các tiêu chí thay đổi cân nặng (đánh giá từ 0-2 điểm), thay đổi khẩu phần ăn (đánh giá từ 0-2 điểm), có các triệu chứng dạ dày ruột kéo dài trên 2 tuần (đánh giá từ 0-2 điểm), thay đổi chức năng vận động (đánh giá từ 0-2 điểm), các bệnh mắc phải và ảnh hưởng của các stress chuyển hóa (đánh giá từ 0-2 điểm), và khám lâm sàng (mất lớp mỡ dưới da, phù,

cổ trướng) (đánh giá từ 0-2 điểm) Bệnh nhân được đánh giá phân theo 3 loại: dinh dưỡng tốt (khi 9-12 điểm), nhóm nghi ngờ suy dinh dưỡng (khi 4-8 điểm), và suy dinh dưỡng nặng (khi 0-3 điểm) (Mẫu phiếu kèm theo trong phần phụ lục)

Phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (Minimal Nutrition Assessment - MNA) dùng

để xác định nguy cơ suy dinh dưỡng trên bệnh nhân trên 65 tuổi (11) Phương pháp này dựa vào cách tính điểm theo các tiêu chí sau: giảm khẩu phần do giảm cảm giác ngon miệng, và hoặc các vấn đề về tiêu hóa trong vòng 3 tháng (từ 0-2 điểm), giảm cân trong 3 tháng (0-3 điểm), vận động khó khăn (0-2), chấn thương về tâm lý hay bệnh cấp tính trong vòng 3 tháng (0, 2), vấn đề tâm thần kinh (0-2), BMI (0-3) Khi trên 12 điểm: kết luận bình thường, nếu dưới 12 điểm, có nguy cơ suy dinh dưỡng, cần đánh giá tiếp theo một số chỉ tiêu để xác định có suy dinh dưỡng hay không (Mẫu phiếu kèm theo ở phần phụ lục)

5 Xử lý và phân tích số liệu:

Giá trị khẩu phần ăn của bệnh nhân được tính toán dựa vào bảng thành phần hóa học thức

ăn Việt nam (17) và phần mềm Eiyokun (18) Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 13.0 (SAS, Hoa kỳ) So sánh các giá trị trung bình dựa vào kiểm định ANOVA

Trang 6

Khoa nội tiết (155)

Đái tháo đường

(Đái tháo đường có biến chứng)*

87% (135) 63%* (85)

Bệnh khác (Cushing, to viễn cực…) 4% (6)

*Phần trăm số bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng trong tổng số các bệnh nhân mắc

bệnh đái tháo đường

Chẩn đoán lâm sàng của các bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết được mô tả

trong bảng 1 Khoa tiêu hóa, bệnh xuất huyết tiêu hóa và xơ gan chiếm tỉ lệ cao nhất, trong

khi ở khoa nội tiết chủ yếu là bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường

Trang 7

Bảng 2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu

Khoa nội tiết Khoa tiêu hóa Giá trị P

*P<0.05; ¶ P<0.01; § P<0.001; NS: không có ý nghĩa thống kê

Đối tượng nghiên cứu bao gồm 308 bệnh nhân nhập viện với tuổi trung bình tương ứng là

53 và 48 tuổi (bảng 2) và tuổi biến đổi từ 18-85 tuổi, và 19-77 tuổi tương ứng ở khoa nội

tiết và khoa tiêu hóa BMI của bệnh nhân nữ của khoa tiêu hóa thấp hơn các bệnh nhân nữ

của khoa nội tiết Chu vi vòng cánh tay và bề dày mỡ lớp da của bệnh nhân khoa tiêu hóa

cũng thấp hơn các bệnh nhân khoa nội tiết (bảng 2)

Trang 8

Bảng 3 Tỉ lệ suy dinh dưỡng theo các phương pháp đánh giá

Chung Khoa tiêu hóa Khoa nội tiết

Phương pháp nhân trắc học (chung các lứa tuổi)

BMI<18.5 24,2% (74) 27,8% (42) 20,6% (32)

BMI ≥ 23 20,3% (63) 14,6% (22) 25,8% (41)

BMI ≥ 25 6,9% (22) 3,3% (5) 10,3% (17)

Tuổi <65 Phương pháp nhân trắc học

BMI<18.5 20,4% (11) 38,9% (7) 11,1% (4)

BMI ≥ 23 33,3% (18) 22,2% (4) 38,9% (14)

BMI ≥ 25 11,1% (6) 11,1% (2) 11,1% (4)

Phương pháp MNA

Suy dinh dưỡng 48,1% (25) 81,3% (13) 33,3% (12)

Tỉ lệ suy dinh dưỡng (BMI<18,5) chung là 24,2% và thấp hơn ở bệnh nhân khoa nội tiết (20,6%) so với khoa tiêu hóa (27,8%) (bảng 3) Tỉ lệ thừa cân (BMI≥23) chung của nhóm nghiên cứu là 20,3%, trong đó 25,8% ở bệnh nhân khoa nội tiết và 14,6% ở khoa tiêu hóa (bảng 3) Khi thừa cân tính theo BMI≥25, thì tỉ lệ thừa cân là của cả nhóm nghiên cứu chung là 6,9%, và là 10,3% và 3,3% trên bệnh nhân khoa nội tiết và khoa tiêu hóa

Tỉ lệ suy dinh dưỡng theo phương pháp SGA, và MNA cao hơn so với đánh giá bằng phương pháp nhân trắc BMI<18,5 Tỉ lệ suy dinh dưỡng theo phương pháp SGA ở khoa nội tiết là 13%, trong khi ở khoa tiêu hóa là 58%, và theo phương pháp MNA là 33,3% và 81,3% tương ứng ở khoa nội tiết và khoa tiêu hóa (bảng 3)

Trang 9

Bảng 4 Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo phương pháp SGA (<65 tuổi) với các mức BMI

Tỉ lệ suy dinh dưỡng đánh giá bằng phương pháp SGA trong các đối tượng bình thường theo phương pháp đánh giá nhân trắc (18,5≤BMI<23) là 10,9% và 55,3% ở khoa nội tiết

và khoa tiêu hóa (bảng 4) Ngược lại, BMI<18,5, theo phương pháp SGA có 80% và 30,6% bệnh nhân được chẩn đoán là bình thường tương ứng ở khoa nội tiết và ở khoa tiêu hóa

Bảng 5 Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo phương pháp MNA (>65 tuổi) với các mức BMI

Bình thường (%) Suy dinh dưỡng (%)

Khoa nội tiết

Bình thường (%) Suy dinh dưỡng (%)

Khoa nội tiết

Trang 10

Bảng 6 Tình trạng dinh dưỡng theo các mức SGA của bệnh nhân (<65 tuổi)

*P<0.05; ¶ P<0.01; § P<0.001; NS: không có ý nghĩa thống kê

Ở khoa nội tiết, bệnh nhân suy dinh dưỡng theo đánh giá SGA có BMI, chu vi vòng cánh

tay, vòng cơ cánh tay thấp hơn ở các bệnh nhân suy dinh dưỡng, nhưng sự khác biệt

không có ý nghĩa thống kê (Bảng 6) Bề dày lớp mỡ dưới da của nữ thấp hơn của nam

(Bảng 6) Trong khi ở khoa tiêu hóa, không có sự khác biệt nhiều về tình trạng dinh dưỡng

của 2 nhóm

Trang 11

Bảng 7 Tình trạng dinh dưỡng của các bệnh nhân BMI<18.5

Khoa nội tiết Khoa tiêu hóa P

*P<0.05; § P<0.001; NS: không có ý nghĩa thống kê

Trên các đối tượng suy dinh dưỡng trường diễn (BMI<18,5), các bệnh nhân của khoa tiêu

hóa có bề dày lớp mỡ dưới da thấp hơn đáng kể so với bệnh nhân của khoa nội tiết

(5,2mm với 13,3mm) ở nữ và 8,6mm với 14,5mm ở nữ (bảng 7)

Trang 12

Bảng 8 Đặc điểm khẩu phần của bệnh nhân

Khoa nội tiết Khoa tiêu hóa Giá trị P

58,8 ± 9,3 65,4 ±

12,4

69,1 ± 12,0

NS NS

*P<0.05; ¶ P<0.01; § P<0.001; NS: không có ý nghĩa thống kê

Năng lượng tổng số là khoảng 1600kcal và 1000kcal tương ứng trên các bệnh nhân khoa

nội tiết và khoa tiêu hóa (bảng 8) Lượng protein, lipit, gluxit khẩu phần của các bệnh

Trang 13

Bảng 9 Đặc điểm khẩu phần ăn của khoa tiêu hóa theo các loại bệnh khác nhau

Năng lượng khẩu phần của các bệnh nhân nhập viện ở khoa tiêu hóa đối với bệnh xuất

huyết tiêu hóa và bệnh viêm tụy cấp tương ứng là 669kcal và 508kcal Tuy nhiên, do đặc

điểm của bệnh này và ở các giai đoạn mới nhập viện bệnh nhân được truyền dịch và chỉ có

thể ăn được ít, nên khẩu phần thấp Năng lượng khẩu phần của bệnh xơ gan, bệnh gan

khác và các bệnh tiêu hóa khác là khoảng 1100kcal (Bảng 9)

Trang 14

Bảng 10 Đặc điểm khẩu phần ăn của bệnh nhân đái tháo đường

Phần trăm năng lượng từ protein (%) 18,1 ± 3,9 17,6 ± 4,4

Phần trăm năng lượng từ lipit(%) 22,4 ± 8,9 23,8 ± 7,5

Phần trăm năng lượng từ gluxit (%) 59,9 ± 10,2 59,0 ± 8,8

Khẩu phần ăn của bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường có năng lượng khẩu phần tương

ứng là 1548kcal và 1590kcal đối với nam và nữ (Bảng 10) Phần trăm năng lượng khẩu

phần từ protein, lipit, gluxit tương ứng là 18%, 23% và 59%

Trang 15

Bảng 11 Tình trạng khẩu phần của bệnh nhân theo các mức SGA (<65 tuổi)

Năng lượng khẩu phần (kcal) 1648 ± 417 1675 ± 487 1641 ± 703 1419 ± 580 NS NS

Protein khẩu phần (g) 78,3 ± 25,8 73,4 ± 32,7 69,2 ± 32,7 63,3 ± 27,2 NS NS

Lipit khẩu phần (g) 41,6 ± 20,2 46,6 ± 20,8 42,2 ± 33,8 41,8 ± 24,4 NS NS

Gluxit khẩu phần (g) 241,5 ± 60,4 241,9 ± 66,4 246,8 ± 95,2 197,8 ± 77,2 NS NS

Năng lượng khẩu phần (kcal) 1146 ± 698 1221 ± 667 1008 ± 665 617 ± 364 NS 0.07

Protein khẩu phần (g) 47,2 ± 29,9 49,7 ± 27,8 42,6 ± 31,7 23,6 ± 16,3 NS NS

Lipit khẩu phần (g) 21,6 ± 15,5 25,4 ± 17,0 20,6 ± 14,9 8,0 ± 7,4 NS NS

Gluxit khẩu phần (g) 191,4 ± 120,7 198,0 ± 113,0 164,5 ± 113,3 112,5 ± 62,7 NS NS

*P<0.05; § P<0.001; NS: không có ý nghĩa thống kê

Năng lượng khẩu phần của nhóm bình thường và suy dinh dưỡng không khác nhau trên

các bệnh nhân khoa nội tiết (bảng 11) Ở các bệnh nhân khoa tiêu hóa, năng lượng khẩu

phần thấp hơn đáng kể ở các bệnh nhân suy dinh dưỡng theo đánh giá SGA (bảng 11)

Trang 16

Bảng 12 Tình trạng khẩu phần ăn của bệnh nhân BMI<18.5

Khoa nội tiết Khoa tiêu hóa P

*P<0.05; § P<0.001; NS: không có ý nghĩa thống kê

Năng lượng khẩu phần ăn của các bệnh nhân khoa tiêu hóa cũng thấp hơn so với của khoa

nội tiết (bảng 12)

Trang 17

IV Bàn luận

Nghiên cứu này chỉ ra suy dinh dưỡng tồn tại trong các bệnh nhân nhập viện điều trị tại bệnh viện Bạch mai khi đánh giá bằng các phương pháp nhân trắc học và phương pháp SGA, MNA Phương pháp nhân trắc học xác định bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng bất thường (thiếu năng lượng trường diễn và thừa cân) nhưng phương pháp SGA/MNA cho phép phát hiện các bệnh nhân có nguy cơ suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng ngay đối với các bệnh nhân có BMI nằm trong giới hạn bình thường Ngoài ra, tình trạng thừa cân cũng rất phổ biến ở bệnh nhân nằm viện, đặc biệt là trên bệnh nhân đái tháo đường thể không phụ thuộc insulin

Tỉ lệ suy dinh dưỡng chung (BMI<18.5) là 24.2%, tương tự như tỉ lệ suy dinh dưỡng trên cộng đồng, tỉ lệ thừa cân (BMI≥23) cao hơn cộng đồng (20% so với 9%) (21) Thừa cân, béo phì là yếu tố nguy cơ quan trọng của đái tháo đường týp 2 (22) Nhưng trong nghiên cứu này, ở khoa nội tiết, nơi chủ yếu là bệnh nhân đái tháo đường nằm điều trị (87%) tỉ lệ suy dinh dưỡng vẫn tồn tại là 20.6%, và tỉ lệ thừa cân là 25.8% Một nghiên cứu khác về bệnh nhân đái tháo đường ở Bệnh viện Trung ương Huế cũng chỉ ra bệnh nhân đái tháo đường có BMI trung bình hoặc thấp (23) Trong khi một số nghiên cứu khác ở thành phố

Hồ Chí Minh thấy bệnh nhân đái tháo đường ở Việt nam có BMI là 22.6 (24) và có mối liên quan giữa thừa cân béo phì và tăng tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường (25) Đây có thể là đặc điểm của bệnh nhân đái tháo đường ở Việt nam, vẫn có các trường hợp bệnh nhân đái tháo đường được phát hiện và điều trị muộn bên cạnh tình trạng thừa cân của bệnh nhân đái tháo đường Ngoài ra, bệnh nhân đái tháo đường trong nghiên cứu này có bề dày lớp

mỡ dưới da hơi cao, điều này phù hợp với một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng bệnh nhân đái tháo đường ở Việt nam mặc dù có chỉ số BMI không cao, nhưng tỉ số vòng bụng vòng mông và tỉ lệ phần trăm khối mỡ của cơ thể cao hơn các nhóm dân tộc khác (11, 26) Bệnh nhân xơ gan, có tỉ lệ suy dinh dưỡng cao, do đặc điểm của bệnh này ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng (27-28)

Theo phương pháp đánh giá SGA, tỉ lệ suy dinh dưỡng của bệnh nhân khoa nội tiết thấp hơn so với Tây Ban Nha (29), (13% so với 46%) trong khi tỉ lệ suy dinh dưỡng của khoa tiêu hóa cao hơn tỉ lệ ở Tây Ban Nha (58% so với 46%), và cũng tương tự như ở tỉ lệ ở Argentina, và Brazil (3-4) Dùng phương pháp SGA cho phép phát hiện bệnh nhân nguy

cơ suy dinh dưỡng trên bệnh nhân có BMI bình thường Ở Việt nam, tỉ lệ suy dinh dưỡng thiếu năng lượng trường diễn phổ biến (21), phương pháp SGA/MNA là hữu ích để phát

Ngày đăng: 26/01/2016, 12:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Chẩn đoán lâm sàng của đối tượng nghiên cứu - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 1. Chẩn đoán lâm sàng của đối tượng nghiên cứu (Trang 6)
Bảng 2. Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 2. Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu (Trang 7)
Bảng 3. Tỉ lệ suy dinh dưỡng theo các phương pháp đánh giá - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 3. Tỉ lệ suy dinh dưỡng theo các phương pháp đánh giá (Trang 8)
Bảng 4. Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo phương pháp SGA (&lt;65 tuổi) với các mức BMI - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 4. Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo phương pháp SGA (&lt;65 tuổi) với các mức BMI (Trang 9)
Bảng 5. Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo phương pháp MNA (&gt;65 tuổi) với các mức BMI - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 5. Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo phương pháp MNA (&gt;65 tuổi) với các mức BMI (Trang 9)
Bảng 6. Tình trạng dinh dưỡng theo các mức SGA của bệnh nhân (&lt;65 tuổi) - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 6. Tình trạng dinh dưỡng theo các mức SGA của bệnh nhân (&lt;65 tuổi) (Trang 10)
Bảng 7. Tình trạng dinh dưỡng của các bệnh nhân BMI&lt;18.5 - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 7. Tình trạng dinh dưỡng của các bệnh nhân BMI&lt;18.5 (Trang 11)
Bảng 8. Đặc điểm khẩu phần của bệnh nhân - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 8. Đặc điểm khẩu phần của bệnh nhân (Trang 12)
Bảng 9. Đặc điểm khẩu phần ăn của khoa tiêu hóa theo các loại bệnh khác nhau - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 9. Đặc điểm khẩu phần ăn của khoa tiêu hóa theo các loại bệnh khác nhau (Trang 13)
Bảng 10. Đặc điểm khẩu phần ăn của bệnh nhân đái tháo đường - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 10. Đặc điểm khẩu phần ăn của bệnh nhân đái tháo đường (Trang 14)
Bảng 11. Tình trạng khẩu phần của bệnh nhân theo các mức SGA (&lt;65 tuổi) - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 11. Tình trạng khẩu phần của bệnh nhân theo các mức SGA (&lt;65 tuổi) (Trang 15)
Bảng 12. Tình trạng khẩu phần ăn của bệnh nhân BMI&lt;18.5 - Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện bạch mai
Bảng 12. Tình trạng khẩu phần ăn của bệnh nhân BMI&lt;18.5 (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w