1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông

233 453 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 233
Dung lượng 8,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ khoa học và công nghệ Hợp tác theo nghị định thư việt nam - đức viện địa chất và địa vật lý biển --- Báo cáo tổng kết đề tài Tiến hoá đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trì

Trang 1

Bộ khoa học và công nghệ

Hợp tác theo nghị định thư việt nam - đức

viện địa chất và địa vật lý biển

-

Báo cáo tổng kết đề tài

Tiến hoá đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong Holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ Mekong và Nha Trang, đông nam - Việt Nam

Chủ nhiệm: TS Nguyễn Tiến Hải Cơ quan chủ trì: Viện Địa chất và Địa vật lý biển

6315

07/3/2007

Báo cáo được xây dựng trên cơ sở kết quả thực hiện Đề tài hợp tác

theo Nghị định thư Việt Nam - Đức

Hà Nội – 2006

Trang 2

TËp thÓ t¸c gi¶

Chñ nhiÖm : TS NguyÔn TiÕn H¶i

Nh÷ng ng−êi thùc hiÖn:

1) ViÖn §Þa chÊt vµ §Þa vËt lý biÓn:

TS NguyÔn TiÕn H¶i, TS Phïng V¨n Ph¸ch, KS NguyÔn Huy Phóc, CN NguyÔn Trung Thµnh, TS Ng« V¨n Qu¶ng, PGS.TS NguyÔn Ngäc, ThS D−¬ng Quèc H−ng, CN Lª §×nh Nam, CN TrÇn Xu©n Lîi, KS Ph¹m TuÊn Huy, KS NguyÔn H÷u Tõ, TS Lª Ngäc Anh, ThS PhÝ Tr−êng Thµnh, KSC NguyÔn Tø DÇn, ThS Vò Thu Anh, KS §µo Träng HiÓn, KS NguyÔn H÷u C−êng, KS Ph¹m Quèc HiÖp, KS Chu ThÞ Hin, CN §µo ThÞ TriÓn, KS §ç ThÞ S¬n, KS NguyÔn §øc Thµnh, KS Ph¹m ViÖt Nga, CN Ph¹m ThÞ T−¬i, CN TrÇn Anh TuÊn,

KS NguyÔn Giang H−¬ng, KS Lª Thanh Hµ, KS TrÇn V¨n Kh¸

2) Tr−êng §¹i häc Khoa häc Tù nhiªn (§¹i häc Quèc gia Hµ Néi):

GS.TS TrÇn Nghi, NCS §µm Quang Minh, ThS §inh Xu©n Thµnh, ThS NguyÔn Thanh Lan, NCS Ph¹m NguyÔn Hµ Vò, CN NguyÔn Hoµng S¬n

3) Tr−êng §¹i häc Má - §Þa chÊt:

GS.TSKH §Æng V¨n B¸t, KS NguyÔn Quang H−ng, ThS Ph¹m Hoµng Long, KS Ng« Kim Chi

4) Héi §Þa chÊt ViÖt Nam:

TSKH NguyÔn BiÓu

5) ViÖn H¶i d−¬ng häc Nha Trang:

KS Ph¹m B¸ Trung, KTV Lª V¨n Thµnh

6) Tr−êng §¹i häc Kiel (CAU), CHLB §øc:

GS.TS Karl Stattegger, TS Schwarzer Klaus, TS Schimanski Alexander, KTV Steen Eric, KTV Beese Helmut, NCS Michelli Maximiliano, NCS Kubicki Adam, TS Szucinski Witold, TS.Jagodzinski Robert

7) Tr−êng §¹i häc Khoa häc vµ C«ng nghÖ Malaysia (KUSTEM):

Azizi Bin Ali, Subarjo Bin Merehojono

Trang 3

Nh÷ng ch÷ viÕt t¾t vµ ký hiÖu trong b¸o c¸o

KVNC : Khu vùc nghiªn cøu

VT - BT: Vòng Tµu – B×nh ThuËn

NT- VT : Nha Trang – Vòng Tµu

NT - NT: Nha Trang – Ninh ThuËn

VG : Vietnam – Germany (ViÖt - §øc)

VG – L-03 (VG – L/03): ChuyÕn kh¶o s¸t ven biÓn th¸ng 11/2003

VG – L-05 (VG – L/05): ChuyÕn kh¶o s¸t ven biÓn th¸ng 5/ 2005

VG – 05: ChuyÕn kh¶o s¸t trªn biÓn th¸ng 5/2004 (tµu Nghiªn cøu biÓn, ViÖt Nam)

VG – 09: ChuyÕn kh¶o s¸t trªn biÓn th¸ng 4/2005 (tµu Nghiªn cøu biÓn, ViÖt Nam)

VG – 09b: ChuyÕn kh¶o s¸t trªn vÞnh Nha Trang th¸ng 5 n¨m 2005 (tµu Nghiªn cøu biÓn 95,

ViÖt Nam)

SO – 115: ChuyÕn kh¶o s¸t trªn BiÓn §«ng n¨m 1997 (tµu Sonne, §øc)

SO – 140: ChuyÕn kh¶o s¸t trªn BiÓn §«ng n¨m 1999 (tµu Sonne, §øc)

Trang 4

Mục lục

Trang

Mở đầu……… 3

Phần 1: Tổng quan về đề tài, điều kiện tự nhiên, tình hình nghiên cứu khu vực và phương pháp nghiên cứu ……… 8

Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài……… 8

1.1 Vấn đề nghiên cứu của đề tài……… 8

1.2 Những thông tin chung về pha I đề tài……… 9

1.3 Nội dung, nhiệm vụ và những hoạt động chính của đề tài……… 12

Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực và kế cận……… 22

2.1 Đặc điểm khí tượng- thuỷ văn biển……… 22

2.2 Đặc điểm hệ thống sông, ngòi……… 26

2.3 Đặc điểm địa hình - địa mạo khu vực……… 30

2.4 Đặc điểm địa chất……… 35

Chương 3: Tình hình nghiên cứu địa chất khu vực biển Nam Trung Bộ và kế cận……… 42

3.1 Tình hình nghiên cứu địa chất khu vực biển và kế cận……… 42

3.2 Một số nghiên cứu về dao động mực nước biển trong Đệ tứ ở vùng biển Nam Trung bộ và lân cận……… 48

3.3 Những tồn tại chính trong nghiên cứu địa chất Đệ tứ ở khu vực biển ven bờ Nam Trung Bộ và kế cận……… 50

Chương 4: Tài liệu và phương pháp nghiên cứu……… 51

4.1 Cơ sở lý thuyết và tài liệu……… 51

4.2 Hệ phương pháp nghiên cứu……… 58

Phần 2: Nội dung và kết quả nghiên cứu ……… 64

Chương 5: Trầm tích Holocen vùng biển Nam Trung Bộ và quy luật phân bố 64 5.1 Trầm tích Holocen vùng biển Nam Trung Bộ đới ven bờ (0 – 150m nước)……….……… 64

5.2 Địa tầng Holocen vùng biển ven bờ Nam Trung bộ……… 82

5.3 Nguồn gốc vật liệu trầm tích Holocen vùng biển Nam Trung Bộ……

Chương 6: Dao động mực nước biển trong Holocen ở vùng biển Nam Trung bộ………

91 100 6.1 Vài nét chung về dao động mực nước biển trong kỷ Đệ tứ………… 100

Trang 5

6.2 Dao động mực nước biển trong Holocen ở biển Nam Trung bộ

và kế cận……… 102

Chương 7: Tiến hoá đới ven biển và sự phân tỏa vật liệu phù sa ở vùng biển Nam Trung bộ trong Holocen……… 118

7.1 Tiến hoá đới ven biển Nam Trung bộ trong Holocen……… 118

7.2 Phân tỏa vật liệu phù sa ở vùng biển Nam Trung bộ……… 140

7.3 Tốc độ lắng đọng trầm tích Holocen ở vùng biển Nam Trung bộ…… 143

7.4 Các trung tâm tích tụ, lắng đọng trầm tích Holocen ở vùng biển Nam Trung bộ……… 147

Kết luận……… 151

Một số nhận định, khuyến nghị và đề nghị……… 158

Tài liệu tham khảo……… 160

Phụ bản……… 167

Danh mục bảng, hình, ảnh……… 231

Trang 6

Mở đầu

Trên bề mặt Trái đất, miền duyên hải là nơi diễn ra đặc trưng nhất quá trình tương tác giữa các yếu tố, môi trường tự nhiên: lục địa (thạch quyển), đại dương (thủy quyển) và khí hậu – thời tiết (khí quyển) Quá trình tương tác của các yếu tố tự nhiên

ở đây đã tạo ra một khu vực có những đặc điểm riêng với tính ổn định không cao trong sự phát triển, tiến hóa của nó Đây cũng là khu vực tập trung nhiều dân cư và nhiều hoạt động kinh tế – xã hội của con người

Nghiên cứu đặc điểm và quá trình tiến hóa của đới ven biển nói riêng (miền duyên hải nói chung) có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Về khoa học, nó làm sáng

tỏ đặc điểm, bản chất và quá trình thành tạo, diễn tiến của các quá trình, hiện tượng tự nhiên ở đây; giúp nắm bắt quy luật phát triển của chúng, đánh giá được vai trò của từng yếu tố trong mối quan hệ tương tác ở đây, Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu là những cơ sở khoa học tin cậy giúp cho con người xây dựng cũng như thực hiện chiến lược lâu dài về quy hoạch, quản lý, sử dụng và khai thác lãnh thổ hợp lý, hiệu quả vừa

đảm bảo phục vụ cho lợi ích của con người vừa bảo vệ và phát triển bền vững môi trường tự nhiên

Miền duyên hải Nam Trung Bộ (trong đó có đới ven biển) là một trong những nơi

có vị trí quan trọng hàng đầu và thuận lợi nhiều mặt đối với Việt Nam và cả khu vực

Đông nam á Nơi đã và đang diễn ra nhiều hoạt động phát triển kinh tế – xã hội – an ninh quốc phòng của nước ta Để có được những cơ sở khoa học cho công tác quản lý, quy họach và sử dụng, khai thác hợp lý khu vực, nhất thiết phải có được những thông tin về tự nhiên ở đây Hiện nay, những thông tin, tài liệu ban đầu về môi trường tự nhiên khu vực đã được thu thập, đầu tư nghiên cứu nhiều; tuy nhiên, những hiểu biết của con người về địa chất biển nói chung, địa chất Đệ tứ nói riêng ở vùng biển ven bờ (nhất là từ 30m nước trở ra) khu vực còn nhiều hạn chế, thiếu cụ thể định lượng do thiếu cơ sở tài liệu, thiếu thiết bị, phương tiện khảo sát và nghiên cứu…

Về mặt tự nhiên, ven biển Nam Trung Bộ là khu vực điển hình nhất ở Việt Nam

về bức tranh tương tác của ba môi trường tự nhiên: lục địa (thạch quyển), Biển Đông (thủy quyển) và khí hậu- thời tiết (khí quyển)

Trang 7

Do vị trí như vậy, ven biển và biển ven bờ Nam Trung Bộ đã và đang là nơi thu hút được sự quan tâm của nước ta và nhiều nước trên thế giới, nhất là giới khoa học trong nước và nước ngoài Tuy nhiên, do khó khăn về cơ sở vật chất, thiết bị, kinh phí…., nên công tác nghiên cứu biển của Việt Nam nói chung (địa chất biển nói riêng) còn nhiều hạn chế

Đối với thế giới, từ nhiều năm nay, các nhà khoa học của nhiều nước (nhất là các nhà khoa học CHLB Đức) trong chương trình nghiên cứu tương tác của dao động mực nước biển và ảnh hưởng của hoạt động các dòng biển đối với lục địa và biến động khí hậu…đã và đang quan tâm nhiều đến Biển Đông và các phần lục địa kế cận Trong các hoạt động khoa học của Đức (do các trường Đại học Kiel, Hamburg, Bremen…thực hiện) ở Biển Đông từ năm 1997 đến 1999, phía Việt Nam đã có sự hợp tác bước đầu với việc tham gia của các nhà khoa học Việt Nam thuộc Viện Khoa học

và Công nghệ Việt Nam trên các chuyến khảo sát, nghiên cứu trên biển của tàu khoa học Sonne

Kế thừa sự hợp tác khoa học trên, đồng thời tranh thủ các phương tiện, thiết bị, phương pháp mới, hiện đại và một phần kinh phí của nước ngoài, đề án hợp tác khoa

học theo Nghị định thư “Tương tác giữa lục địa - đại dương – khí quyển ở đới bờ biển nam Việt Nam” (Land – ocean – atmospheric interactions in the coastal zone of

Southern Vietnam) giữa Việt Nam và CHLB Đức ra đời Trong đề án này có đề tài

“Tiến hoá đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong Holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ Mekong và Nha Trang, đông nam Việt Nam” (gọi tắt là “Tiến hóa đới ven biển”) Đề tài này được

thực hiện trong 06 năm (từ tháng 1/2003 đến tháng 12/2008) với phạm vi thực hiện là thềm lục địa từ Nha Trang đến Cà Mau, trong đó pha I triển khai từ năm 2003 đến

năm 2005 trên thềm lục địa Nam Trung Bộ, từ Nha Trang đến Vũng Tàu (hình 1)

Đề tài “Tiến hóa đới ven biển” được thực hiện với sự chủ trì của Viện Địa chất

và Địa vật lý biển (trước là Phân viện Hải dương học tại Hà Nội) thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Địa chất, Trường Đại học Kiel (CHLB Đức) Nội dung chính của đề tài là làm sáng tỏ sự tiến hóa của đới ven biển và dao động mực nước biển trong Holocen cũng như sự phân tỏa của vật liệu lục nguyên ở vùng biển Nam Trung Bộ

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện pha I, đề tài đã gặp phải không ít khó khăn, trong đó việc hoãn chuyến khảo sát I hỗn hợp Việt - Đức trên biển bằng tàu

Trang 8

Nghiên cứu biển (Việt Nam) vào tháng 4/2003 và thay đổi chủ nhiệm đề tài (tháng 8/2003) là những khó khăn rất lớn – làm ảnh hưởng không ít đến tiến độ và tính hiệu quả của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài vừa là công trình minh giải nhiều quá trình, hiện tượng tự nhiên diễn ra ở khu vực nghiên cứu vừa là cơ sở khoa học tin cậy phục vụ cho quy hoạch, quản lý, sử dụng và khai thác lãnh thổ hợp lý, hiệu quả; đồng thời là nguồn tài liệu quý phục vụ cho nhiều nghiên cứu khác

Ngoài ra, thông qua thực hiện đề tài, góp phần tăng cường tiềm lực nghiên cứu khoa học cho Việt Nam bởi sự bổ sung một số trang, thiết bị nghiên cứu mới, hiện đại (trong đó, có thiết bị lần đầu tiên có ở Việt Nam) bằng viện trợ không hoàn lại của

Đức cho Việt Nam; đồng thời nâng cao năng lực, kiến thức, kinh nghiệm tổ chức, phương pháp, tư duy nghiên cứu,… cho các nhà khoa học Việt Nam, giúp cho họ có thể đảm đương, tổ chức thực hiện hiệu quả những nghiên cứu về địa chất biển nói riêng (khoa học biển nói chung) và tiếp cận với khoa học biển thế giới

Để thực hiện những các mục tiêu trên, đề tài đã tổ chức thu thập, xử lý các tài liệu hiện có, tiến hành nhiều chuyến khảo sát hỗn hợp Việt - Đức trên bờ và trên biển (kết quả: đã thu thập được rất nhiều tài liệu quý về địa chất bề mặt đáy biển (tài liệu địa chấn nông phân giải cao, mẫu đất đá, tài liệu địa hình - địa mạo,….)

Công tác khảo sát thực địa, nghiên cứu trên bờ và trên biển do TS Nguyễn Tiến Hải và GS.TS Karl Stattegger đồng tổ chức và trực tiếp thực hiện với sự tham gia của các nhà khoa học và kỹ thuật viên trong và ngoài nước thuộc Viện Địa chất và Địa vật

lý biển, Viện Hải dương học Nha Trang (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc

gia Hà Nội), Viện Địa chất (Trường Đại học Kiel, CHLB Đức), Trường Đại học Khoa

học và Công nghệ (Malaysia)…

Công tác nghiên cứu, phân tích tài liệu và mẫu vật được thực hiện tại các phòng thí nghiệm - phân tích của Viện Địa chất và Địa vật lý biển, Viện Hóa học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Viện Địa chất (Trường Đại học Kiel,

Trang 9

CHLB Đức), Phòng phân tích (Trường Đại học Leibniz, CHLB Đức), Trung tâm Sinh thái Biển nhiệt đới (Trường Đại học Bremen, CHLB Đức) …

Báo cáo tổng kết và hoàn thiện các sản phẩm do Viện Địa chất và Địa vật lý thực hiện dưới sự chủ trì của TS Nguyễn Tiến Hải

Báo cáo khoa học tổng kết được hoàn thành tại phòng Trầm tích biển (Viện Địa chất và Địa vật lý biển) dày 166 trang gồm 7 chương (thuộc 2 phần): 1 Giới thiệu chung về đề tài, 2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực và kế cận, 3 Tình hình nghiên cứu địa chất khu vực biển Nam Trung Bộ và kế cận, 4 Tài liệu và phương pháp nghiên cứu, 5 Trầm tích Holocen vùng biển Nam Trung Bộ và quy luật phân bố,

6 Dao động mực nước biển trong Holocen ở vùng biển Nam Trung Bộ, 7 Tiến hóa

đới ven biển và sự phân tỏa vật liệu phù sa ở vùng biển Nam Trung Bộ trong Holocen, kết luận, khuyến nghị, đề nghị và tài liệu tham khảo Kèm theo báo cáo là phụ bản 67 trang Minh họa cho các nội dung của báo cáo là 16 bảng, 40 hình và 40 ảnh

Trong quá trình thực hiện đề tài, tập thể tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả, kịp thời của lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các Ban chức năng (Tài chính – Kế hoạch, Hợp tác quốc tế), Vụ Hợp tác Quốc tế và Vụ Quản lý Khoa học Xã hội và Tự nhiên (Bộ Khoa học và Công nghệ), lãnh đạo và các phòng chức năng thuộc Viện Địa chất và Địa vật lý biển, lãnh đạo và phòng Hành chính tổng hợp Viện Hải dương học Nha Trang, Trường Đại học Kiel (CHLB Đức), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, nhiều cơ quan,

đồng nghiệp khác ở trong và ngoài nước

Nhân dịp này, tập thể tác giả chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ trong thời gian tới

Trang 10

C«n §¶o T.P Hå ChÝ Minh

Trang 11

Phần 1 tổng quan về đề tài, điều kiện tự nhiên, tình hình nghiên cứu khu vực và phương pháp nghiên cứu

Chương 1:

Giới thiệu chung về đề tài

1.1 Vấn đề nghiên cứu của đề tài

Những nghiên cứu từ trước đến nay ở khu vực ven biển và biển ven bờ (chủ yếu đới nước 0-30m) Nam Trung Bộ đã cung cấp nhiều thông tin cơ bản, tổng quát

về điều kiện tự nhiên của khu vực Có thể nói, những kết quả này là nguồn tài liệu quí, có giá trị và là nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo cũng như là cơ sở ban

đầu phục vụ cho quản lý, khai thác và sử dụng khu vực này

Tuy nhiên, phần rộng lớn của thềm lục địa (nhất là từ 30m nước trở ra) và mối tương tác giữa biển, lục địa, khí quyển ở đây mới chỉ được điều tra, nghiên cứu sơ

bộ hoặc ít được chú ý Trong mối tương tác của tự nhiên ở đây, vai trò của dao

động mực nước biển và sự phân tỏa của vật liệu phù sa sông trong khu vực là những yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển - tiến hóa của đới ven biển Những vấn đề này, hiện nay gần như còn đang bỏ ngỏ

Trong kỷ Đệ tứ, cùng với thềm Sunda (thềm lục địa lớn có diện tích là 1,8 triệu km2, ở vị trí quan trọng của thế giới), thềm Mekong là khu vực chịu ảnh hưởng rõ nét của các đợt biển tiến, biển thoái toàn cầu Đã nhiều lần, thềm này trở thành lục địa trong các thời gian mực nước biển thoái thấp nhất Khi đó, nó trở thành một miền bằng ven biển rộng lớn - tam giác châu Mekong cổ Với vị trí và

đặc điểm như vậy, khu vực này được nhiều nước, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm

Những vấn đề khoa học và thực tế nêu trên là những đòi hỏi bức thiết cần được

đặt ra và hoàn toàn có thể giải quyết được trên cơ sở kế thừa kết quả của những công trình nghiên cứu trước đây kết hợp các phương pháp nghiên cứu mới với sự

hỗ trợ của các trang, thiết bị tân tiến hiện nay Hiện nay, việc giải quyết các vấn đề của môi trường tự nhiên ở khu vực trên phông chung môi trường tự nhiên toàn cầu

có sự hợp tác giữa các nước và giữa các nhà khoa học trong nước và nước ngoài đã

và đang là xu thế tất yếu

Trang 12

Trong sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng trong tương lai, ven biển

Nam Trung Bộ nói riêng (ven biển Việt Nam nói chung) sẽ bị tác động như thế nào

?, ảnh hưởng của vật liệu phù sa từ hệ thống sông trên lục địa đến các thềm biển ở

đây ?, Sự biến động của môi trường đáy biển do tác động của quá trình tích tụ trầm tích và tác động của nguồn vật liệu phù sa từ các sông trên lục địa đổ ra ?…

Giải quyết các câu hỏi trên, cho phép làm sáng tỏ bức tranh tổng quát về lịch sử hình thành và phát triển của thềm lục địa đông nam Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Mekong nói riêng Từ đó, đưa ra những cơ sở khoa học để đánh giá tiềm năng của thềm lục địa Đông Nam Việt Nam cũng như dự báo xu thế phát triển, tiến hóa đới ven biển Đông Nam Việt Nam nói chung, đồng bằng sông Mekong nói riêng - tạo cơ sở để quản lý tổng hợp đới ven biển, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lâu dài, bền vững

Để trả lời hàng loạt các vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, đề tài

khoa học “Tiến hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong Holocen ở thềm lục địa đông nam và nam Việt Nam" được hình thành và triển khai thực hiện, trong đó pha I thực hiện từ Nha

1.2 Những thông tin chung về pha I đề tài

1.2.1 Thời gian thực hiện : 3 năm (tháng 01/2003 – 12/2005)

1.2.2 Chương trình, đề án : Hợp tác theo Nghị định thư Việt Nam – CHLB Đức

“Tương tác Lục địa - Đại dương – Khí quyển ở đới bờ biển nam Việt Nam” (Land-Ocean-Atmospheric interactions in the coastal zone of Southern

Trang 13

+ Việt Nam: Viện Địa chất và Địa vật lý biển (IMGG, trước là Phân viện Hải

dương học tại Hà Nội), Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) + CHLB Đức: Viện Địa chất (IG) thuộc Trường Đại học Kiel (CAU)

1.2.6 Chủ nhiệm đề tài: (đồng chủ nhiệm)

+ Việt Nam: * TS Nguyễn Tiến Hải (8/2003 – 12/2005)

* TS Nguyễn Văn Bách (01/2003 - 7/2003)

+ CHLB Đức: GS.TS Karl Stattegger

1.2.7 Mục tiêu của đề tài:

- Mục tiêu khoa học:

+ Khôi phục lịch sử tiến hóa đới ven biển Nha Trang – Vũng Tàu

+ Làm sáng tỏ quá trình dao động mực nước biển trong Holocen ở khu vực + Xác định quá trình phân tỏa vật liệu lục nguyên (phù sa) ở thềm lục địa từ Nha Trang đến Vũng Tàu

- Mục tiêu hợp tác quốc tế:

+ Nâng cao năng lực và tiềm lực nghiên cứu khoa học, cách tiếp cận và giải quyết các vấn đề về khoa học biển nói chung, địa chất biển nói riêng

+ Tiếp cận và cập nhật các phương pháp nghiên cứu hiện đại, tranh thủ thiết bị nghiên cứu hiện đại của thế giới

+ Đào tạo các nhà khoa học trẻ nghiên cứu về địa chất biển của Việt Nam + Xây dựng mối quan hệ, hợp tác lâu dài với các nhà khoa học Đức; nâng cao

vị thế khoa học biển (khoa học địa chất biển nói riêng) trên trường quốc tế

Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học tin cậy cho công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng và khai thác lãnh thổ hợp lý, hiệu quả, phát triển bền vững

và bảo vệ môi trường khu vực; góp phần định hướng chính sách phát triển khoa học biển Việt Nam nói chung (khoa học địa chất biển nói riêng)

1.2.8 Sản phẩm chính của đề tài:

- Tài liệu:

+ Chuyên đề Nghiên cứu đặc điểm trầm tích và quy luật phân bố các thành

tạo Holocen

+ Chuyên đề Địa tầng Holocen

+ Chuyên đề Tướng trầm tích các thành tạo Holocen và quy luật phân bố

Trang 14

phan thiÕt

vòng tµu

50

50

20 00

100 -50

-50

50

10

100

25 00

25 00

15 00

20 00

100

50

50

50

50

50

50

50

20

200

10

200

-50

10

50

10 00

100

-100

15 00

500 -500

-1500 -1500

10 00

BN1 BN2 BN3 BN4

BN5 BN6 BN7 BN8

BN10 BN9

BN16 BN17 BN18

AN15 AN14 AN11

AN12

AN10 AN9

AN7

AN6 AN5 AN4 AN3 AN2

Trang 15

+ Báo cáo Tổng kết đề tài

- Sản phẩm:

+ Sơ đồ phân bố các Trầm tích Holocen (1/500.000), + Sơ đồ Tướng – cổ địa lý thời kỳ Holocen (1/500.000), + Sơ đồ Phân bố các trung tâm tích tụ trầm tích Holocen (1/500.000), + Đồ thị dao động mực nước biển trong Holocen,

- Phía Đức: ~198.622,0EUR (một trăm chín mươi tám ngàn, sáu trăm hai mươi hai EUR), trong đó có kinh phí thiết bị để lại cho Việt Nam và kinh phí đào tạo cán bộ

khoa học trẻ Việt Nam

1.3 Nội dung, nhiệm vụ và những hoạt động chính của đề tài 1.3.1 Thu thập tài liệu:

Đề tài đã tiến hành thu thập và xử lý những tài liệu có trước đây liên quan đến khu

vực nghiên cứu, gồm: tài liệu địa chất, tài liệu địa hình - địa mạo, tài liệu kiến tạo, tài liệu khí tượng, tài liệu thủy văn - hải văn, tài liệu về vật liệu phù sa của các sông

trong khu vực; tài liệu ảnh viễm thám; địa vật lý, thổ nhưỡng, …và các mẫu trầm tích

(đã có trước đây) tầng mặt đáy biển của các chuyến khảo sát do tàu Sonne (Đức) thực hiện ở vùng biển Vũng Tàu - Đà Nẵng và kế cận Các cột mẫu có chiều dài từ 30 đến

600cm phân bố chủ yếu trong đới 30 – 200m nước (hình 1.1 và 1.2)

1.3.2 Điều tra, khảo sát thực địa:

* Khảo sát, thực địa trên lục địa:

Trang 16

Đường bờ hiện nay

Hình 3.1: Sơ đồ tuyến, trạm khảo sát trên vùng biển Đà Nẵng- Nha Trang

31

34 33 32

28

25 26

100

1500

1000

37 36 35

45 46

47

48 49

24 40 41

50 51 39

Quảng Ngãi

55 54108

Trang 17

i) Năm 2003: Thực hiện 01 chuyến khảo sát hỗn hợp Việt - Đức (VG – L/2003) về

địa chất - địa mạo ven biển từ Vũng Tàu đến Nha Trang (hình 1.3 và phụ bản: bảng 1.1) trong thời gian 23 ngày (tháng 11/2003) với 1700km tuyến khảo sát Kết quả,

thu thập 42 mẫu địa chất và nhiều tài liệu khác về địa hình - địa mạo ven biển, các dấu hiệu bờ cổ, bản ảnh chụp…

ii) Năm 2005: Thực hiện 01 chuyến khảo sát hỗn hợp Việt - Đức (VG –

L/2005) về địa chất - trắc địa ven biển từ Nha Trang đến Bình Thuận (hình 1.4) trong

thời gian 09 ngày (tháng 5/2005) Kết quả, thu thập 11 mẫu địa chất, các số liệu trắc

đạc địa hình và nhiều số liệu khác

Trong chuyến khảo sát này, cũng tiến hành khảo sát – lấy mẫu dọc theo sông Cái (Phan Rang) với mục tiêu đối sánh, liên hệ nguồn gốc vật liệu trầm tích Thu thập 08 mẫu

* Khảo sát, thực địa trên biển: Thực hiện 03 chuyến khảo sát

i) Năm 2004: Thực hiện 01 chuyến khảo sát hỗn hợp Việt - Đức (VG – 05) về

địa chất - địa vật lý trên vùng biển ven bờ Vũng Tàu - Nha Trang trong thời gian 35 ngày (tháng 5 - 6/.2004) Kết quả, đo đạc và thu thập số liệu địa vật GC (chiều dài cột mẫu 50 – 278cm) ~1950km (17 tuyến cắt ngang và song song với đường bờ) và lấy mẫu trầm tích đáy biển ở 69 trạm gồm 09 mẫu hộp GBC (chiều dài cột mẫu 25 – 50cm), 08 mẫu trọng lực GC (chiều dài cột mẫu 50 – 278cm), 13 mẫu piston PC

(chiều dài cột mẫu 60 – 153cm) và 39 mẫu cuốc GS (hình 1.5a và b, phụ bản: hình 1.7, 1.8, ảnh 4.14a và b, bảng 1.2)

Thực hiện chuyến khảo sát VG-05 có 19 nhà khoa học và kỹ thuật viên (trong

đó, người nước ngoài là 11) Phía Việt Nam đã tiếp nhận 02 container thiết bị khoa học (tổng khối lượng ~17tấn) thuộc hàng tạm nhập tái xuất được đưa từ Đức sang ii) Năm 2005: Thực hiện 02 chuyến khảo sát hỗn hợp Việt - Đức

Chuyến 1 (VG – 09) khảo sát địa chất - địa vật lý trên vùng biển ven bờ Vũng Tàu - Nha Trang trong thời gian 15 ngày (tháng 4/2005; theo kế hoạch là 25 ngày, nhưng do tàu Nghiên cứu biển của Việt Nam gặp sự cố trên đường di chuyển từ Hải Phòng vào Nha Trang bị chậm): đo đạc và thu thập số liệu địa vật lý GC (chiều dài

cột mẫu 50 – 278cm) ~900km theo 19 tuyến (hình 1.6a và b); Chuyến 2 (VG – 09b)

khảo sát – thả bẫy trầm tích trên vịnh Nha Trang theo 03 tuyến mạng tại 15 trạm

(phụ bản: hình 1.9) trong thời gian 03 ngày (tháng 5/2005) Tổng số mẫu thu thập

Trang 18

trong 02 chuyến khảo sát nêu trên là 50 mẫu cuốc GS (phụ bản: hình 1.7a và b, 1.8

và bảng 1.3, 1.4)

Thực hiện chuyến khảo sát VG-09 có 15 nhà khoa học và kỹ thuật viên (trong

đó, người nước ngoài là 09) Phía Việt Nam đã tiếp nhận 01 container thiết bị khoa học (tổng khối lượng ~ 9tấn) thuộc hàng tạm nhập tái xuất được đưa từ Đức sang Ngoài ra, trong tháng 11 năm 2004, một số nhà khoa học Việt Nam tham gia đề tài đã tiến hành khảo sát – tham quan - đối sánh cùng các nhà khoa học Đức tại vùng biển Baltic (trên biển) và dải ven biển (trên lục địa) bắc nước Đức Trong các chuyến khảo sát này, đã tìm hiểu tính năng và hoạt động của một số thiết bị khảo sát địa chất - địa vật lý biển, nghiên cứu, tìm hiểu cơ chế, sự tiến hóa của dải ven biển nước

Đức và biện pháp bảo vệ bờ biển ở đây

1.3.3 Phân tích mẫu địa chất, tài liệu địa vật lý và ảnh viễn thám:

(nội dung do phía Việt Nam thực hiện)

- Tổng số mẫu địa chất phân tích là 1191 (năm 2003: 468 mẫu, năm 2004: 336 mẫu và năm 2005: 387 mẫu) theo các chỉ tiêu:

+ Phân tích thành phần thạch học - khoáng vật theo cấp hạt vụn: 280 mẫu Phân tích này được thực hiện bởi các tập thể khoa học của TSKH Nguyễn Biểu, TS Nguyễn Tiến Hải và GS.TS Trần Nghi

+ Phân tích thành phần khoáng vật: 450 mẫu (khoáng vật vụn: 85 mẫu, Rơnghen: 191 mẫu, nhiệt visai: 174 mẫu) Phân tích này được thực hiện bởi các tập thể khoa học của TSKH Nguyễn Biểu, TS Nguyễn Tiến Hải, TS Ngô Văn Quảng

và Trung tâm Triển khai Công nghệ khoáng chất (Trường Đại học Mỏ - Địa chất) + Phân tích thành phần hóa học: 406 mẫu (silicat: 153 mẫu, quang phổ: 110 mẫu và carbonat: 72 mẫu) Phân tích này được thực hiện bởi các tập thể khoa học: Trung tâm Triển khai Công nghệ khoáng chất (Trường Đại học Mỏ - Địa chất), Viện Hóa học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và TS Ngô Văn Quảng

+ Phân tích vi cổ sinh: phân tích Foraminifera và môi trường trầm tích 55 mẫu

do tập thể khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc thực hiện; phân tích di tích sinh vật khác 200 mẫu do tập thể khoa học của TSKH Nguyễn Biểu và TS Nguyễn Tiến Hải thực hiện

Trang 20

11°30'

108°35' 11°8'

108°35' 108°40' 11°48'

ninh thuË n

L¢M

§åNG

NT12 NT11

BT06

BT01 BT05 BT04BT03

BT02 BT08

Trang 21

Các mẫu phân tích trên được bố trí theo tuyến và theo mặt cắt cột mẫu do yêu cầu của nội dung nghiên cứu Nhiều mẫu được phân tích có liên hệ, đối sánh với mẫu phân tích do phía Đức thực hiện

Những kết quả phân tích do phía Đức thực hiện (tuổi tuyệt đối, tốc độ lắng đọng trầm tích, nguyên tố chính….) được phía Đức chuyển cho Việt Nam theo tiến độ chung của đề tài

- Xử lý và phân tích tài liệu địa chấn nông phân giải cao được thực hiện bởi các tập thể khoa học: TS Phùng Văn Phách, ThS Dương Quốc Hưng và TSKH Nguyễn Biểu Tài liệu được xử lý bao gồm: xử lý – chuyển đổi - phân tích khái quát chung toàn bộ tài liệu đo được; xử lý – phân tích – lập mặt cắt địa chấn, địa tầng các tuyến đo đặc trưng, điển hình (trên 20 tuyến)

- Xử lý, kết nối ảnh và phân tích viễn thám do tập thể khoa học của KSC Nguyễn

Tứ Dần thực hiện

1.3.4 Thành lập các sơ đồ, biểu bảng:

Các sơ đồ, biểu bảng chính: sơ đồ Trầm tích Holocen bề mặt khu vực nghiên

cứu (1/500.000), sơ đồ Tướng – cổ địa lý Holocen (1/500.000), sơ đồ Các trung tâm tích tụ trầm tích Holocen (1/500.000), các Mặt cắt địa chất - địa vật lý đặc trưng, Bảng tốc độ tích tụ trầm tích Holocen, sơ đồ Dao động mực nước biển trong Holocen

Để phục vụ cho các nội dung và sản phẩm chính của đề tài, tập thể tác giả đã xây dựng một số sơ đồ, biểu bảng phụ gồm: ảnh viễn thám khu vực nghiên cứu (lắp ghép, nối ảnh), Địa hình - địa mạo dải ven biển Nha Trang–Vũng Tàu (1/500.000),

Địa chất ven biển (1/200.000), Phân bố các thành tạo trầm tích và tướng trầm tích Holocen (1/500.000) trong vùng biển 0 - 30m nước…

1.3.5 Thực hiện các chuyên đề:

Để thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của đề tài, tập thể tác giả đã thực hiện

17 chuyên đề, đề mục nghiên cứu:

TT Nội dung chuyên đề, đề mục Chủ trì

1 Tổng quan điều kiện địa chất và tình hình

nghiên cứu địa chất đới ven biển Nha Trang - Vũng Tàu

GS TS Trần Nghi

2 Xây dựng Bản đồ địa chất số (1/250.000) KSC Nguyễn Tứ Dần

Trang 22

vùng ven biển Ninh Thuận – Vũng Tàu

3 Tổng quan điều kiện địa hình - địa mạo, tân

kiến tạo, kiến tạo hiện đại và tình hình nghiên

cứu chúng ở duyên hải Nha Trang - Vũng Tàu

KS Nguyễn Hữu Cường

6 Hình thái cấu trúc địa mạo đới ven biển Nha

Trang – Vũng Tàu

GS.TSKH Đặng Văn Bát

7 Bản đồ địa mạo đới biển ven bờ Nam Trung Bộ CN Trần Xuân Lợi

8 Thay đổi địa hình đới ven biển Nha Trang –

Vũng Tàu trong Holocen

TS Nguyễn Tiến Hải

11 Tướng trầm tích Holocen vùng biển ven bờ

Nam Trung Bộ

TS Nguyễn Tiến Hải GS.TS K Stattegger

12 Nguồn gốc, sự phân tỏa và tích tụ vật liệu phù

sa ở vùng biển Nam Trung Bộ

KS Nguyễn Huy Phúc

13 Đặc điểm sông suối, hải văn vùng biển Vũng

Tàu – Nha Trang và vai trò của chúng trong di

chuyển vật liệu trầm tích

KS Đào Trọng Hiển

CN Nguyễn Trung Thành

14 Đường bờ biển cổ Vũng Tàu – Nha Trang và sự

dịch chuyển, tiến hóa của nó trong Holocen

TS Nguyễn Tiến Hải

15 Đặc điểm tiến hóa đới ven biển Vũng Tàu –

Nha Trang trong Holocen

TSKH Nguyễn Biểu

TS Nguyễn Tiến Hải

16 Địa tầng và tốc độ lắng đọng trầm tích Holocen

ở vùng biển ven bờ Nam Trung Bộ

TS Nguyễn Tiến Hải

TS A Schimanski

17 Dao động mực nước biển trong Holocen ở

vùng biển Nha Trang – Vũng Tàu

NCS M Michelli

TS Nguyễn Tiến Hải

Trang 23

1.3.6 Công bố, đăng tải một số công trình, bài báo trên ấn phẩm khoa học và

hội thảo khoa học :

Đã đăng tải, công bố 07 công trình trên các ấn phẩm khoa học, hội nghị khoa học trong và ngoài nước:

* Dao động mực nước biển cuối Pleistocen – đầu Holocen ở vùng biển Nam

Trung Bộ “Địa chất”, loạt A, số 284/2004, tr 32 – 36, Cục Địa chất và Khoáng sản

Việt Nam

* Hợp tác nghiên cứu Địa chất Biển Đông Việt Nam – CHLB Đức ở Phân viện

Hải dương học tại Hà Nội “Địa Cầu”, số 6/2004, tr 11-12, Hội Địa Vật lý Việt Nam

* Tiến hóa đới ven biển Nam Trung Bộ trong Đệ tứ và vai trò của các mũi nhô

Hội thảo khoa học, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, quyển II, tr 31-35 Năm 2004

* Về nguồn gốc vật liệu vụn trong trầm tích bề mặt đáy biển ven bờ Nam Trung

Bộ “Địa chất”, loạt A, số 290/2005, tr 17-22, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt

* Seismic Stragraphy and Late Pleistocen – Early Holocene evolution of the

Paleo - Mekong Delta: Insights from high resolution reflection seismics (International Conference on Deltas (Mekong Venue) Geological Modeling and Management, January 10 – 16, 2005, Ho Chi Minh City, Vietnam)

1.3.7 Tăng cường tiềm lực thiết bị khoa học:

Thông qua hợp tác nghiên cứu, đối tác Đức đã viện trợ không hoàn lại cho phía

Việt Nam các trang, thiết bị nghiên cứu khoa học tiên tiến, hiện đại sau (tổng giá trị ~

42.500,0 EUR):

* Thiết bị Lấy mẫu hộp (Giant Box Core, lần đầu tiên có ở Việt Nam, phụ bản:

ảnh 4.3)

* Thiết bị Đo hồi âm – trầm tích (Sediment – Echosouder, phụ bản: ảnh 4.7)

* Hệ Định vị và dẫn đường trên biển kèm phần mềm sử dụng (GIS, phụ bản:

ảnh 4.8)

Trang 24

1 3.8 Hội thảo khoa học:

Đề tài đã tiến hành nhiều hội thảo, trao đổi khoa học: các hội thảo triển khai thực hiện đề án (đầu các năm 2003, 2004 và 2005), các hội thảo đánh giá kết quả hoạt động của đề tài trong mỗi năm (cuối năm 2003 và 2004), hội thảo khoa học chuyên đề tình hình nghiên cứu và triển khai đề tài năm 2003 tại Hà Nội (tháng 3/2003), hội thảo khoa học chuyên đề trầm tích - kiến tạo - nguồn gốc vật liệu trầm tích tại Viện Địa chất (Trường Đại học Kiel, Đức, tháng 11/2004) Đặc biệt, đề án đã tham gia hoạt động Hội thảo khoa học Việt - Đức về những nội dung và kết quả hợp tác khoa học Việt - Đức tại Trung tâm Sinh thái Biển nhiệt đới (ZMT, Bremen, CHLB Đức, tháng 10/2005)

1 3 9 Hoạt động đào tạo: (đối với cán bộ khoa học Việt Nam)

- Đào tạo, học tập phương pháp nghiên cứu mới về địa chất và địa vật lý biển:

02 nghiên cứu viên trẻ Việt Nam đã được học tập tại Trường Đại học Kiel, CHLB

Đức trong thời gian trên 02 tháng (kinh phí do phía Đức tài trợ)

- Đào tạo trên đại học: trên cơ sở tham gia thực hiện và sử dụng tài liệu của đề tài, 01 NCS chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sỹ năm 2006 tại Trường Đại học Greiswal (Đức), 01 nghiên cứu viên đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ tại Trường Đại học Kiel (Đức), 01 nghiên cứu viên đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất (Việt Nam) và 02 nghiên cứu viên đang chuẩn bị luận văn thạc sỹ (sẽ bảo vệ trong năm 2006) tại Trường Đại học Kiel (Đức) và Trường Đại học Mỏ -

Địa chất (Việt Nam)

Trang 25

Chương 2:

đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực và kế cận

2.1 Đặc điểm khí tượng – thủy văn biển

- Chế độ gió:

Vùng biển ngoài khơi và ven bờ khu vực nghiên cứu chịu sự chi phối của hai hệ

thống khí áp: áp cao Xibia tràn xuống vào mùa đông từ tháng X đến tháng III (năm sau), trong đó cường độ mạnh nhất vào tháng XII và tháng I (năm sau) với xu thế khí

áp giảm dần xuống phía nam) và áp thấp ấn - Miến tràn vào trong mùa hè từ tháng V

đến tháng IX (cường độ mạnh nhất vào các tháng VI và VII với xu thế khí áp giảm dần từ nam lên bắc)

Tương ứng với hai hệ thống khí áp là hai chế độ gió mùa thổi luân phiên nhau: gió mùa Đông bắc vào mùa đông và gió mùa Tây nam vào mùa hè Điều đặc biệt là hướng gió thịnh hành của hai hệ thống gió mùa Đông bắc và gió Tây nam lại trùng với phương trục chính của Biển Đông (phương đông bắc – tây nam) Tuy nhiên, đối với các vùng ở ven biển nước ta, hướng gió còn thay đổi theo ảnh hưởng của địa hình từng vùng ở khu vực nghiên cứu, do là nơi có khí hậu chuyển tiếp giữa 2 miền khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình và khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh (từ vĩ

độ 180 trở lên phía bắc), đồng thời chịu ảnh hưởng khá lớn của dãy Trường Sơn (dãy núi này như một vật cản đối với gió mùa Tây nam) đã làm cho mùa mưa bị lệch đi so với toàn quốc và mùa hạ lại có thời tiết khô nóng hơn

Thời gian gió mùa Đông bắc thổi từ cuối tháng IX hoặc đầu tháng X cho đến cuối tháng III hoặc giữa tháng IV (năm sau) Trong thời kỳ gió mùa Đông bắc, biển thường bị động mạnh, nhất là khi gió được tăng cường

Gió mùa Tây nam xuất hiện đều ở vùng biển phía nam bắt đầu từ tháng V đến tháng IIX (có khi đến cuối tháng IX) Riêng vùng ven biền Miền Trung, gió mùa Tây nam thổi không đều do những nhiễu động của khí quyển như giông bão; còn gió Nam thường xuất hiện vào cuối tháng IV và tháng V Nhìn chung, xu thế hoạt động của gió Tây nam là tăng dần về phía nam, chẳng hạn, ở Đà Nẵng, tốc độ gió Tây nam lớn nhất

có thể đạt đến 6-7m/s, trong khi ở vùng biển Bình Định - Khánh Hoà, tốc độ gió đạt tới 8-12m/s

Trong mùa Đông, bắt đầu từ khoảng tháng XI hướng gió thịnh hành ngoài khơi

là hướng Đông bắc với tốc độ trung bình 6-8m/s Đi dần vào bờ ngoài hướng đông

Trang 26

bắc, trong khu vực còn xuất hiện cả gió bắc và gió đông nam (tốc độ trung bình 6m/s) ở vùng biển ven bờ Nha Trang - Cà Ná, gió mùa Đông bắc chủ yếu từ tháng

4-XI đến tháng IV (năm sau) và diễn biến khá phức tạp do địa hình bờ biển

Chế độ bão: trong khoảng 40 năm trở lại đây (từ 1960), bão và áp thấp nhiệt đới

đổ vào Việt Nam: 1980-1989 tăng lên 72 lần Bão và áp thấp tác động lớn đến động lực biển, đồng thời trực tiếp tác động vào bờ biển

- Chế độ sóng biển:

Nhìn chung, chế độ sóng trong khu vực nghiên cứu có sự khác nhau ở phía bắc và phía nam cả về hướng và độ cao Chế độ sóng phụ thuộc chính vào chế độ gió, độ cao sóng đặc biệt lớn khi có giông, bão xảy ra

+ ở vùng biển ven bờ từ Nha Trang đến Vũng Tàu:

Do là một vùng biển có nhiều đoạn bờ khúc khuỷu với địa hình nhiều đồi núi cao, bán đảo, đảo và vũng, vịnh, nên chế độ sóng ở đây rất khác nhau theo vị trí không gian và theo thời gian (tháng, mùa)

Về mùa đông, ở ngoài khơi hướng sóng thịnh hành là sóng đông bắc với tần suất

65 - 90%, độ cao trung bình của sóng ∼ 2m (độ cao cực đại khi có bão ∼8,5m); còn ở ven bờ sóng thường nhỏ hơn, độ cao trung bình của sóng ~1,2-1,5m Về mùa gió Tây nam, hướng sóng thịnh hành là tây nam với tần suất cao và tăng dần về phía nam (60 -70%), độ cao sóng ∼1-1,5m (cực đại ~4m), hướng sóng tây bắc trong vùng có tần suất

∼ 10-15%

Trong mùa hè, hướng sóng thịnh hành là sóng tây nam, độ cao của sóng trung bình 0,75-1,25m (cao nhất 2,5-3,5m, khi có gió bão, độ cao sóng tăng lên rất nhiều) + ở vùng biển Vũng Tàu - Cà Mau:

Mùa hè, hướng sóng thịnh hành là đông nam với tần suất cao (trên 70%), các hướng sóng còn lại chiếm khoảng 10-15% ở ven bờ, hướng sóng thường vuông góc với bờ biển Thời gian lặng gió trong mùa chiếm 9% Mùa gió tây nam: hướng sóng thịnh hành là tây nam với tần suất cao dần về phía nam (từ 60-70%), độ cao sóng ∼1-1,5m (cực đại tới 4m), sóng tây nam và tây bắc có tần suất ∼ 10-15%

Trang 28

Ngược lại, trong thời kỳ gió mùa đông, nước từ biển Basi chảy vào biển Hoa

Đông rồi chảy vào biển Đông, tạo thành dòng chảy theo hướng đông Phía đông biển

Đông có một bộ phận dòng chảy đi từ biển Sulu vào biển Đông theo hướng tây bắc,

đến giữa biển Đông dòng chảy chuyển sang hướng tây, đến bờ biển Việt Nam thì nhập vào dòng chính (dòng chảy này có hướng song song với đường bờ biển Việt Nam) Về mùa đông, khi dòng chảy trôi phát triển, ở phía nam Biển Đông được tích nước, do vậy, mặt nước biển dâng cao; trong khi đó, ở phía bắc biển Đông mất nước - mực nước hạ thấp Kết quả, trong Biển Đông xuất hiện dòng nước bù trừ chảy theo hướng đông bắc và tạo thành hoàn lưu ngược chiều kim đồng hồ

Vào tháng IX, có sự giảm dòng chảy rõ rệt, dòng chảy có hướng giữa bắc và

đông bắc ở ngoài khơi bán đảo Malaysia và hướng đông nam ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam ở phía nam, tại vĩ tuyến 100N, hình thành một xoáy lớn có chiều của xoáy nghịch Một vùng xoáy nữa có chiều xoáy thuận hình thành ở ngoài khơi bờ biển Miền Trung Việt Nam Dòng chảy có hướng nam chảy dọc theo ven biển Việt Nam, tốc độ lớn trên 10cm/s

Tháng XI và XII, tồn tại một hoàn lưu có hướng của xoáy thuận trên toàn bộ biển Đông ở phía đông kinh tuyến 1120E, dòng chảy có hướng chung là bắc với tốc

độ 0,4-0,8cm/s ở phía tây kinh tuyến 1120E, dòng chảy có hướng giữa nam và tây nam Dòng chảy theo dọc ven biển Miền Trung tương đối lớn

nam-Dòng chảy ở tầng giữa hầu như có hướng ngược lại với dòng chảy tầng mặt, nhưng có tốc độ nhỏ hơn

Trang 29

Dòng chảy ở tầng sát đáy có tốc độ rất nhỏ (gần như bằng 0), điều đó chứng tỏ dòng chảy gió chỉ phát triển tới độ sâu h = 1/2H) (H là độ sâu biển)

ở vùng thềm lục địa Việt Nam, do đặc điểm của địa hình đường bờ và thềm lục địa, vì vậy đã tạo nên xu thế nắn hướng dòng chảy theo hướng chủ đạo của đường

bờ và đường đẳng sâu Đặc điểm này thể hiện rõ nét nhất ở thềm lục địa phía nam – tại tầng độ sâu 5m nước, hướng dòng chảy ven bờ gần trùng với hướng đường bờ

Điều đặc biệt ở đây là theo độ sâu, hướng dòng chảy nhanh chóng xoay chiều ngược lại với chiều kim đồng hồ và hướng dòng vào bờ Tại những nơi ven bờ, điều này xảy

ra trong toàn bộ lớp nước từ mặt đến đáy, trong khi ở xa bờ điều này xảy ra ở lớp dưới cách mặt biển chừng 15-20m trở xuống Như vậy, hiệu ứng của dòng chảy gió trên thềm lục địa là mạnh và càng vào gần bờ, ảnh hưởng của nó càng tăng

- Chế độ thuỷ triều:

Chế độ thuỷ triều trong vùng biển nghiên cứu cơ bản là chế độ nhật triều không

đều, càng về phía nam tính chất nhật triều yếu dần Tại vùng biển Quy Nhơn - Nha Trang, hàng tháng số ngày nhật triều chiếm khoảng 18 - 22ngày; vào các kỳ nước kém, thường chỉ có thêm một con nước nhỏ hàng ngày Về độ lớn, thuỷ triều trong khu vực đạt độ cao trung bình 1,5-2m (cao nhất trong kỳ nước cường ∼3-4m) Biên độ triều lớn nhất ở vùng biển Vũng Tàu và có xu hướng giảm dần về phía mũi Cà Mau

- Hệ thống sông trong khu vực:

+ Sông Thu Bồn:

Hệ thống sông Thu Bồn do dòng chính Thu Bồn và sông Cái hợp thành Dòng chính Thu Bồn bắt nguồn từ sườn phía đông dãy Ngọc Linh (Công Tum), chảy theo

hướng tây nam - đông bắc qua các huyện Trà My, Tiên Phước và đồng bằng Quảng

Nam ở hạ lưu, sông Thu Bồn có nhiều phân lưu - tạo thành mạng lưới sông, ngòi khá dầy đặc trước khi đổ ra biển

Trang 30

+ Sông Trà Khúc:

Sông Trà Khúc là sông lớn nhất ở Quảng Ngãi, nó bắt nguồn từ dãy Trường Sơn thuộc địa phận tỉnh Công Tum, chảy theo hướng tây nam - đông bắc đến Tịnh Tiang thì chuyển sang hướng tây bắc - đông nam, qua thị xã Quảng Ngãi rồi đổ ra biển tại

Cổ Luỹ Sông Trà Khúc dài ~135km với diện tích lưu vực sông ~3240km2 (phần lớn lưu vực nằm trong tỉnh Quảng Ngãi) Lượng vật liệu phù sa hàng năm do sông cung cấp khoảng 0,434 triệu tấn

+ Sông Kôn:

Bắt nguồn từ ở vùng núi cao ở tây bắc tỉnh Bình Định, sông Kôn chảy theo hướng tây bắc- đông nam đến thị trấn Tây Sơn thì chuyểnấng hướng tây-đông Từ hạ lưu Nhơn Phúc, sông Kôn phân lưu thành một số nhánh trước khi đổ vào vịnh Quy Nhơn Chiều dài của sông Kôn khoảng 171km, diện tích lưu vực sông ~ 2980km2, lượng vật liệu phù sa hàng năm do sông cung cấp ~ 0,0212triệu tấn

+ Sông Kỳ Lộ:

Sông Kỳ Lộ dài 105km nằm ở phía bắc tỉnh Phú Yên, sông bắt nguồn từ vùng núi cao trên 1000m thuộc tỉnh Gia Lai, chảy theo hướng tây bắc-đông nam và đổ vào vịnh Xuân Đài (Phú Yên) Diện tích lưu vực sông ~1920km2

+ Sông Ba:

Hệ thống sông Ba gồm dòng chính và các dòng nhánh: Ia Yun, Krông Hơ Năng, Hinh Dòng chính (sông Ba) dài 388km bắt nguồn từ vùng núi Ngọc Rô cao 1549m (đông bắc Gia Lai), chảy theo hướng đông bắc – tây nam đến gần Củng Sơn, chuyển sang hướng tây- đông rồi đổ ra biển tại Tuy Hoà Diện tích lưu vực sông ~13.900km2 Lượng vật liệu phù sa hàng năm do sông cung cấp ~ 2,179 triệu tấn

Trang 31

+ Hệ thống sông Đồng Nai:

Hệ thống sông Đồng Nai do dòng chính Đồng Nai và các nhánh sông Lầng, sông

Bé, sông Sài Gòn và Vàm Cỏ hợp thành Diện tích lưu vực hệ thống sông Đồng Nai phần trong lãnh thổ Việt Nam là ~37.400km2 (chiếm 84,8% lưu vực sông) bao trùm toàn bộ diện tích các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, Long An, thành phố Hồ Chí Minh và một phần diện tích Đắc Lắc và Bình Thuận

Dòng chính sông Đồng Nai bắt nguồn từ dãy Lâm Viên, Bi Đúp (cao nguyên Lang Biang) và chảy qua cao nguyên Đà Lạt, nhiều đoạn bị chặn lại tạo thành các hồ như: Xuân Hương, Mê Linh, Than Thở Đến rìa cao nguyên Nam Trung Bộ, dòng sông có nhiều thác ghềnh như: Ang kroet, Đa ta la, Prem

ở hạ lưu (từ Tân Uyên đến cửa sông dài ~150km), lòng sông mở rộng và có thêm sông Sài Gòn chảy vào tại Hớn Quảng Từ đây, sông đổ ra biển qua nhánh Lòng Tào, Soài Rạp và nhiều nhánh khác Trước khi đổ ra biển tại cửa Soài Rạp, sông Đồng Nai còn tiếp nhận sông Vàm Cỏ (Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây)

+ Sông Mekong:

Sông Mekong là một trong những dòng sông lớn nhất thế giới, nó bắt nguồn từ Trung Quốc và chảy qua một loạt nước ở Đông Nam á Sông Mekong có lưu lượng nước ~470km3/năm và chuyển tải lượng vật liệu phù sa trung bình hàng năm trên dưới

100 triệu tấn (theo Nguyễn Viết Phổ, 1986: từ 70 đến 100 triệu tấn; Nguyễn Văn Cư, 1994: ~ 94 triệu tấn; Ta T.K.O et al, 2002: ~160 triệu tấn) Phần lớn vật liệu phù sa sông Mekong được lắng đọng ở châu thổ Mekong, còn phần nhỏ (khoảng 1/10 tổng lượng vật liệu phù sa của sông) vật liệu phù sa được đưa ra và lắng đọng ở thềm lục

địa (Ta T.K.O et al, 2002)

Do chế mực nước thuỷ triều ở khu vực cửa sông cao và ít thay đổi, vì vậy, các dòng chảy ở gần cửa sông thường phát triển và đổi dòng tạo thành cửa sông dạng phễu chứa nhiều cồn cát ngầm cũng như những mũi đất

- Chế độ dòng chảy và độ đục:

+ Các dòng sông phía bắc (sông Thu Bồn,… sông Ba):

Các dòng sông này có dòng chảy phụ thuộc vào chế độ mưa Mô đun dòng chảy

năm ở khu vực ven biển Ninh Thuận-Bình Thuận khoảng 5-10l/s.km2 (thuộc loại nhỏ nhất ở Việt Nam) Tuy nhiên, ở thượng nguồn, các sông lại có mô đun dòng chảy cao

(trên 80l/s.km2)

Trang 32

Tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm của các sông Nam Trung Bộ khoảng 64,7km3 (~7,6% tổng lượng dòng chảy sông ngòi của Việt Nam), trong đó hệ thống sông Thu Bồn có nguồn nước dồi dào nhất (~20,1km3, chiếm ~31% tổng lượng dòng chảy cả vùng), tiếp đến là hệ thống sông Ba (~9,5km3, chiếm ~14,7%)…

Về mùa lũ, dòng chảy không đều và thường ngắn (từ tháng VI đến tháng XI) với

lượng dòng chảy chiếm ~60-75% dòng chảy toàn năm (riêng ở các sông cực Nam Trung Bộ lên tới 80-85%) Tháng XI là tháng có lượng dòng chảy lớn nhất với.mô

đun dòng chảy có thể đạt tới 4-5m3/s.km2

Về mùa cạn (từ tháng XI đến tháng V ở cực Nam Trung Bộ và từ tháng I đến tháng VIII, IX ở trung Trung bộ), lượng dòng chảy trung bình chiếm ~15-40% lượng dòng chảy năm Trong mùa cạn, vào tháng V và tháng VI thường có lũ tiểu mãn, tuy không lớn nhưng có năm lại có trận lũ lớn nhất trong năm Tháng có lượng dòng chảy nhỏ nhất thường là tháng IV đối với các sông bắc Quảng Nam và các sông cực nam Trung bộ, vào tháng VIII ở các sông khác

Về độ đục của các sông: Các dòng chảy trong khu vực có hàm lượng vật liệu phù

sa tương đối nhỏ so với các sông ở Bắc Bộ (dao động 100-250g/m3) Độ đục cát bùn cũng biến đổi theo mùa, độ đục trung bình trong mùa lũ dao động 100-400g/m3 và trong mùa cạn là dưới 50g/m3

Độ khoáng hoá trung bình năm của nước sông thường nhỏ hơn 100mg/l, phần lớn dưới 50mg/l

+ Hệ thống sông Đồng Nai:

Dòng chảy năm phân bố không đều với mô đun dòng chảy khoảng 10-15l/s.km2 ở sông Vàm Cỏ, hạ lưu sông Sài Gòn, sông Bé và sông Đồng Nai, tăng lên trên 50l/s.km2 ở vùng trung lưu sông Đồng Nai (Bảo Lộc - Đa My) Tổng lượng dòng chảy năm trung bình năm của hệ thống sông này khoảng 36,3km3 (~ 4,3% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước)

Về mùa lũ (từ tháng VII đến tháng XI), lượng dòng chảy cao chiếm khoảng 85% tổng lượng dòng chảy năm Các tháng có lượng dòng chảy lớn nhất là các tháng VIII, IX và X), tổng lượng dòng chảy của sông trong các tháng này chiếm ~45-65% tổng lượng dòng chảy năm của sông

Về mùa cạn (kéo dài tới 7 hoặc 8 tháng), lượng dòng chảy trong mùa này chỉ chiếm khoảng 15-35% tổng lượng dòng chảy năm

Trang 33

Các tháng II và IV là 3 tháng liên tục có lượng dòng chảy nhỏ nhất Lượng dòng chẩy của 3 tháng này chiếm khoảng 3-5% tổng lượng dòng chảy năm, riêng thượng nguồn sông Đồng Nai (nhánh sông Đa Nhim) lên tới 9% Tháng III là tháng có lượng dòng chảy trung bình tháng nhỏ nhất Lượng dòng chảy của tháng này chỉ chiếm 1-2% tổng lượng dòng chảy năm

ở vùng hạ lưu các sông Đồng Nai, Sài Gòn và Vàm Cỏ, chế độ nước sông còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều Trong mùa cạn, triều thâm nhập sâu vào trong sông làm cho nước sông bị biến đổi ít nhiều Do thủy triều dâng, nước sông có sự gia tăng

độ mặn: ranh giới độ mặn 10/00 cách cửa sông tới 117km ở sông Đồng Nai, 123km trên sông Sài Gòn và 140km trên sông Vàm Cỏ Đông

Về độ đục, theo một số nhận định hiện nay: vật liệu phù sa lơ lửng trung bình năm vào khoảng dưới 50mg/l (thuộc loại thấp ở việt Nam) Độ đục này cũng biến đổi theo mùa: mùa lũ, độ đục lớn và mùa cạn, độ đục nhỏ

Nước của sông Đồng Nai có độ khoáng hóa thấp (dưới 50mg/l) Hàm lượng các ion Ca++, Mg++ đều nhỏ, chiếm dưới 30% tổng lượng các cation

2.3 Đặc điểm địa hình - địa mạo khu vực

2.3.1 Khái quát chung địa hình lục địa:

Khu vực ven biển Nam Trung Bộ là phần rìa của đới cấu trúc Đà Lạt; do vậy, địa hình - địa mạo bề mặt hiện nay ở đây về cơ bản là phản ánh hình thái - kiến trúc kiểu kiến trúc khối tảng - vòm và kiến trúc vòm - khối tảng của móng trước Đệ tứ Hình thái địa hình này gồm các khối nâng dạng vòm (tạo ra mạng lưới dòng chảy dạng toả tia) Trên bề mặt, những nơi địa hình cao chịu tác động mạnh của các quá trình phong hóa, bóc mòn; còn những nơi địa hình trũng, thấp – thường được tích tụ bởi vật liệu

được đưa từ nơi cao đến

Theo Vũ Văn Vĩnh [50], phần lục địa khu vực nghiên cứu có kiến trúc hình thái bậc III, tương ứng với diện tích lưu vực thung lũng cấp 3 và 4, có thể là một hoặc vài dãy núi, một bồn trũng hoặc một dải trũng, một đồng bằng hoặc một dải các đồng bằng

Trong khu vực, kiến trúc hình thái thể hiện ở các đồng bằng nhỏ hẹp hoặc bồn trũng xen giữa các dãy núi nhỏ chạy nhô ra biển Các đồng bằng và vùng trũng trong khu vực thuộc vùng hạ Neogen- Đệ tứ (trong đó, khu vực Phan Thiết và Hàm Tân là vùng nâng yếu)

Trang 34

Đồng bằng đồi – núi đảo khối tảng sông Dinh có phương kéo dài tây bắc- đông nam (gặp cao nguyên Xuân Lộc về phía bắc) Đây là địa hình được thành tạo do nâng yếu từ Miocen giữa - trên (phần rìa của phức nếp lồi Đà Lạt) Trên bề mặt đồng bằng này, phát triển rộng rãi bề mặt san bằng tuổi Pliocen cao 100 - 150m

- Cao nguyên vòm - khối tảng được thành tạo do hạ lún yếu và nâng tương đối Xuân Lộc (thuộc phần tây nam đới Đà Lạt (tây, tây bắc đồng bằng Phan Thiết- Hàm Tân) Do lún hạ và nâng yếu tân kiến tạo, nên địa hình chủ yếu bị chia cắt và rửa trôi mạnh - tạo nên nhiều thung lũng trẻ có độ dốc cao (tuổi Pleistocen muộn-Holocen), về phía đồng bằng

- Đồng bằng thềm và núi đảo khối tảng Phan Thiết được thành tạo do hạ lún phân dị khối tảng phức tạp từ cuối Miocen giữa trên khối cấu trúc Đà Lạt

Đồng bằng này gồm hai dải đồng bằng Vạn Giã - Phan Rang và Phan Thiết- Hàm Tân Đây là đồng bằng bóc mòn (do các quá trình pediment phát triển mạnh) khá rộng lớn có độ cao 50-200m (khu vực Phan Thiết là khối tảng lớn nâng yếu từ Pleistocen đến nay) Trong các đồng bằng này, những nơi lún hạ tạo điều kiện tích tụ các trầm tích sông, sông-biển và biển ở Mỹ Tường, Mũi Né, Hàm Tân… (chiều dày trầm tích dao

động 10- 45m)

2.3.2 Địa hình đới ven biển:

Vùng lục địa ven biển Khánh Hoà - Phan Thiết nằm ở vị trí trung gian khá đặc trưng giữa phía tây là khối cao nguyên, còn phía nam và đông nam là biển Địa hình này thể hiện với các núi thấp (độ cao ~ 1000m) bị phong hóa, bóc mòn mạnh mẽ Đó là các núi thường được tạo nên bởi các đá magma, chúng có sườn khá dốc với đường chia nước phức tạp Ngoài ra, trong khu vực, còn có các đồng bằng nhỏ, hẹp giữa núi và trước núi

Địa hình đồi thể hiện rõ nét dưới dạng đồi thoải (độ cao dưới 500m) với bề mặt

địa hình mềm mại, được tạo thành chủ yếu bởi đá trầm tích lục nguyên, trầm tích núi lửa và đá xâm nhập (đôi chỗ là các đá phun trào basalt) Địa hình đồi phân bố chủ yếu

ở phía bắc Nha Trang, phía nam Tánh Linh, Hàm Thuận Nam và phía tây đồng bằng Phan Rang Do chịu tác động mạnh mẽ của quá trình bóc mòn, rửa trôi trên sườn, nên

bề mặt sườn đồi thường bị xâm thực, cắt xẻ tạo nên nhiều khe, rãnh, hẻm, suối

Địa hình đồng bằng trong khu vực là các đồng bằng tích tụ ven biển có diện tích không lớn - đó là các đồng bằng Nha Trang, Phan Rang, Tuy Phong, Phan Rí, Phan Thiết và Hàm Tân Các đồng bằng này được ngăn cách với nhau bởi các dãy núi kéo

Trang 35

dài ra sát biển Theo độ cao địa hình, các đồng bằng này được chia thành hai loại đồng bằng: đồng bằng cao (độ cao 20-60m) phân bố thành dải hẹp giáp với dải đồi phía trong và ven biển là đồng bằng thấp (độ cao dưới 20m) Đồng bằng thấp chiếm diện tích lớn hơn, nhưng bị chia cắt mạnh bởi các hệ thống sông, suối và cửa sông Mật độ chia cắt của sông, suối trung bình trên đồng bằng dao động 0,5-1km/km2 Giá trị này

đạt tới 1,5-2km/km2 ở các vùng cửa sông lớn như: sông Kinh Dinh, sông Luỹ, sông Cái, …

Ngoài cùng của phần lục địa, phổ biến là các dạng địa hình tích tụ biển và gió Các dạng địa hình này chiếm diện tích rộng lớn – tạo nên một cảnh quan đặc trưng cho khu vực, bao gồm: các thành tạo cát biển màu đỏ (phân bố ở độ cao trên 100m), trên bề mặt còn bị xâm thực - rửa trôi và bị tái trầm tích do gió; kế tiếp là các thành tạo cát biển – gió màu xám trắng (phân bố tới độ cao 50-150m); ngoài cùng là các cồn cát tiền tiêu di

động có màu trắng, vàng (độ cao 10-20m) Trong khu vực đồng bằng và địa hình cát, còn có mặt rải rác các khối núi sót với độ cao từ 100-200m đến 700-800m

Theo không gian, địa hình bờ biển phía bắc và phía nam khu vực nghiên cứu có sự khác biệt ở phía bắc, bờ biển từ Nha Trang đến La Gi dài khoảng 300km chủ yếu gồm các đoạn bờ mài mòn đá gốc và bờ bồi tụ trầm tích xen kẽ với nhiều vũng vịnh, và nhiều bãi biển đẹp như Nha Trang, Cam Ranh, Ninh Chữ, Chùa Hang… ở phía nam (đoạn bờ Cà Ná - Vũng Tàu), bờ biển chủ yếu là kiểu đường bờ đồng bằng có xen các núi sót ven biển Đường bờ này phát triển trên các thành tạo bở rời (chủ yếu là cát biển) xen kẽ các núi đá gốc nhô ra sát biển

Đáng chú ý trong địa hình đường bờ ở khu vực nghiên cứu là sự có mặt của các mũi nhô (Sủng Chu, La Gan, Mũi Né… ) Các mũi này thường là điểm đánh dấu cho

sự đổi hướng của bờ biển ngày càng lệch về phía tây nam hoặc tây – tây nam

2.3.3 Địa hình đường bờ biển và đáy biển ven bờ:

- Vùng đồng bằng đầm lầy Mangro ven biển: Kiểu địa hình này phát triển ở đoạn

bờ Đại Lãnh – Cà Ná Đây là đơn vị địa hình đặc trưng cho vùng biển ven bờ Nam Trung Bộ và nằm sát bên trong các vũng vịnh nửa kín

Trang 36

- Bờ biển mài mòn trên đá bền vững do sóng:

Kiểu bờ này quan sát được ở tất cả các khối đá gốc trước Đệ tứ lộ ra ở bờ biển và các đảo bao gồm các đá trầm tích lục nguyên và đá magma xâm nhập Dạng địa hình

đặc trưng cho nó là các vách mài mòn (clif) và bench như đã đề cập ở phần bãi biển Tuy nhiên, các dạng địa hình này chỉ thể hiện rõ trên các đá trầm tích (nhiều nhất ở Khánh Hoà); còn trên các đá magma xâm nhập (granit) rất khó phân biệt giữa bench

và clif Tốc độ mài mòn trên kiểu bờ này không đáng kể

- Bờ biển mài mòn - hoà tan:

Kiểu bờ này chỉ phát triển một đoạn ngắn ở khu vực Hòn Đỏ (Ninh Thuận) phát triển trên đá cát kết san hô tuổi Neogen Nét đặc biệt của kiểu bờ này là các ngấn nước biển được hình thành do sự kết hợp cả mài mòn do tác động của sóng lẫn hoà tan

do nước biển

- Bờ biển mài mòn - xói lở trên lớp phủ basalt do sóng:

Dọc bờ biển một số khu vực có lớp phủ basalt lộ ra ngay sát biển và chịu tác

động của sóng như ở Phú Yên, các thành tạo mài mòn này đã tạo ra phong cảnh rất

đẹp - đó là “Gềnh Đá Dĩa” rất hấp dẫn đối với khác du lịch Đôi nơi, dưới chân clif

cũng có một lớp tích tụ cát mỏng Ngoài mài mòn do tác động của sóng, sự giật lùi của bờ ở đây còn có sự tham gia bởi sự trượt lở và đổ lở do sụp mái Quá trình này vẫn

đang tiếp diễn, nhưng tốc độ giật lùi của bờ không lớn

- Đồng bằng tích tụ đáy đầm, phá hiện đại:

Đồng bằng tích tụ đáy đầm, phá phát triển trong các đầm Ô Loan ở Phú

Yên, Thuỷ Triều ở Khánh Hoà và Đầm Nại ở Ninh Thuận Các đầm, phá này được

thông với biển bởi một hoặc vài cửa

- Địa hình trong đới sóng vỗ bờ (0-5m nước):

a Bãi biển mài mòn - tích tụ do tác động của sóng

+ Bench phát triển trên đá magma xâm nhập (chủ yếu là granit) Loại bench rất

phổ biến , được phát triển trên các phức hệ đá xâm nhập khác nhau như phức hệ Đèo Cả (khu vực Đèo Cả), phức hệ Cà Ná, Định Quán (khu vực từ Nha Trang trở vào) Trên các thành tạo này, bề mặt bench nhìn chung không bằng phẳng, mà hơi có dạng

đường cong mềm mại do tác động mài mòn của sóng

+ Bench phát triển trên đá magma phun trào (chủ yếu là phun trào basalt)

ở Tuy An, bề mặt bench là những khối đá hình đa giác được hình thành trong

Trang 37

quá trình nguội lạnh của phun trào Dân địa phương gọi khu vực này là “Gềnh Đá Dĩa”

+ Bench phát triển trên đá trầm tích gắn kết phân bố rải rác dọc bờ biển Ninh

Hoà (Khánh Hoà) v.v Tùy thuộc vào hướng cắm cũng như sự xen kẽ của các lớp trầm tích có độ bền vững khác nhau, mà đặc điểm hình thái của chúng cũng khác nhau Tại những nơi, các lớp đá nghiêng ra phía biển thì sẽ tạo ra những bench dạng luống do các lớp mềm bị phá huỷ nên sâu hơn (tạo thành rãnh), còn các lớp bền vững hơn lại nhô cao hơn (tạo thành luống)

b Bãi biển xói lở - tích tụ do tác động của sóng chiếm ưu thế

Sự xói lở các đoạn bờ cấu tạo bởi trầm tích bở rời (chủ yếu là cát, nên có khi gọi

là xói lở bờ cát) hiện nay là hiện tượng rất phổ biến dọc bờ biển nước ta Hoạt động này có thể xảy ra cả trên các đoạn bờ biển mở Ninh Thuận, Bình Thuận…

- Địa hình trong đới sóng phá huỷ và biến dạng (5-20m nước):

a Đồng bằng tích tụ đáy vũng vịnh hiện đại:

Khác với đầm phá, vũng vịnh cũng là một vùng nước tự nhiên lõm sâu vào đất liền có liên hệ khá rộng rãi với biển khơi Vũng vịnh tập trung nhiều nhất là ở Khánh Hoà: Văn Phong-Bến Gỏi, Cây Bàn, Bình Cang, Nha Trang, Cam Ranh

Nhìn chung, cũng như đối với đầm phá hiện đại, tác động của sóng đến địa hình

đáy vịnh không lớn, trong khi đó vai trò của thuỷ triều lại tăng lên, nhưng cũng không

đáng kể do biên độ thuỷ triều không lớn và địa hình đáy biển ven bờ lại rất dốc Một

đặc điểm đặc trưng khác về động lực của các vịnh là gần như không có các sông lớn

đổ vào Chẳng hạn, vịnh Văn Phong - Bến Gỏi khá sâu và rộng, nhưng không có con sông nào đáng kể đổ vào Vịnh có sông đổ vào, đáng kể là đầm Nha Phu - vịnh Ninh Hoà có sông Cái (Ninh Hoà) đổ vào (diện tích lưu vực là 852km2) hay vịnh Nha Trang

có sông Cái (Nha Trang) đổ vào (diện tích lưu vực khoảng 1.900 km2) Nét đặc trưng

động lực thứ 3 ở vũng vịnh là sự phát triển khá rộng rãi các rạn san hô Chính nhờ các rạn san hô bao quanh này, nên bờ và bãi ở đây ít bị xói lở Tại các khu vực không có rạn san hô, hiện tượng xói lở xảy ra khá mạnh Đáy vịnh ở phần sâu hơn thường khá bằng phẳng, đôi khi có dạng lòng chảo với lớp trầm tích trên mặt chủ yếu là bùn-sét Tốc độ tích tụ trầm tích trong các vịnh, nhìn chung, không cao do nguồn vật liệu trầm tích cung cấp cho chúng không đáng kể

b Đồng bằng tích tụ-xói lở lượn sóng do tác động của sóng:

Trang 38

Đây cũng là kiểu địa hình được hình thành và phát triển trong đới sóng phá huỷ và biến dạng phân bố rộng rãi dọc bờ biển

- Địa hình trong đới sóng lan truyền (trên 20-30m nước):

a Đồng bằng tích tụ hiện đại do tác động của dòng chảy:

Đây là kiểu đồng bằng rất phổ biến trong dải đáy biển ven bờ, về mặt hình thái, đây là loại đồng bằng khá bằng phẳng và có độ nghiêng không lớn Trầm tích cấu tạo nên bề mặt địa hình này chủ yếu là bùn - sét hiện đại Cả địa hình và trầm tích

đều có tính đồng nhất cao trên phạm vi rộng Điều đó phản ánh điều kiện thành tạo nó khá giống nhau Đó chính là dòng chảy gần đáy

b Đồng bằng tích tụ - xâm thực bằng phẳng do tác động của dòng chảy gần đáy chiếm ưu thế:

Kiểu địa hình này phát triển trên các trầm tích Pleistocen thượng, phần trên (Q13-2) Bằng chứng là trầm tích đáy tầng mặt ở khu vực này chủ yếu là cát lẫn sạn, trong thành phần sạn phát hiện nhiều kết vón kiểu laterit Còn các mẫu lấy bằng ống phóng trọng lực lại gặp sét loang lổ kiểu “Mộc Hóa” Do đó, một số người gọi đây là

địa hình tàn dư Thực chất, đây không phải là địa hình tàn dư,.mà là kiểu địa hình hiện

đại có nguồn gốc biển thực sự Những đặc trưng này cho thấy sự khác nhau về thành phần “đá gốc” giữa 2 khu vực có cùng kiểu địa hình như nhau Hiện nay quá trình tích tụ-xâm thực do dòng chảy gần đáy vẫn đang tiếp diễn, địa hình đáy tiếp tục bị san phẳng giống như vừa mô tả ở trên Kiểu đồng bằng này được phân bố trong khoảng

độ sâu từ 25-28 và trên 30m

2.4 Đặc điểm địa chất

2.4.1 Địa tầng:

ở đới ven biển khu vực nghiên cứu, theo các tài liệu hiện có, địa tầng trước Đệ

tứ gồm các thành tạo thuộc các hệ tầng: Avương (∈2- O1av), La Ngà (J2ln), Đèo Bảo Lộc (J3đbl), Nha Trang (Knt), thành tạo Pliocen, Mavieck (N2mv) và Đại Nga (βN2đn); địa tầng Đệ tứ gồm các thành tạo Tam Đảo B (Q13-2tđb), Hậu Giang (Q21-2),

Gò Công Đông (Q23) và trầm tích Holocen muộn

Hệ tầng A vương phân bố ở bắc Chu Lai, gồm các đá phiến sericit-thạch anh,

phiến thạch anh hai mica, phiến silic…

Hệ tầng La Ngà phân bố tập trung ở dải ven bờ và đáy biển vịnh Văn Phong

(huyện Vạn Ninh và huyện Ninh Hoà) Hệ tầng gồm sét kết màu đen phân lớp mỏng

Trang 39

xen bột kết màu xám phân dải, cát kết, bột kết xen kẽ phân nhịp

Hệ tầng Đèo Bảo Lộc Phân bố hẹp (~ 1km2) ở trung tâm Côn Đảo, khu vực dốc Trâu Té Thành phần của hệ tầng gồm andesit pryroxen màu đen, cấu tạo dòng chảy dày ~ 100m

Hệ tầng Nha Trang gồm andesit, tuf andesit, dăm kết tuf, phần trên là dacit,

ryodacit, ryolit Chúng phân bố ở ven bờ, từ huyện Trung Phước (Bình Định) đến Diên Khánh (Khánh Hoà)

Các thành tạo Pliocen phân bố ở trên lục địa (được xếp vào hệ tầng Bà Miêu

N22bm) và ở đáy biển (chiều dày từ vài chục đến vài trăm mét ở phía ngoài khơi) Các

thành tạo này có thành phần chủ yếu là sạn cát lẫn cuội màu xám chứa ít bột, sét gắn kết yếu

Hệ tầng Mavieck có mặt cắt là sạn kết, cát kết chứa vôi, chiều dày 4-10m phân bố

tạo thành một dải hẹp ở khu vực Dinh Hải, Sơn Hải, phía bắc Mũi Dinh, Phan Rang, Tháp Chàm (nhiều nơi chúng phủ trực tiếp lên đá gốc granit của phức hệ Đèo Cả)

Hệ tầng Đại Nga gồm các tập bazan màu xám, xám đen (phần trên bị phong hoá

có màu xám nâu, nâu đen) cấu tạo khối đặc xít hoặc lỗ rỗng, basalt olivin angit plagiocla, basalt olivin angit, basalt olivin Hệ tầng phân bố thành hai khu vực chủ yếu

ở Mũi Ba Làng An, đáy biển từ cửa Sa Kỳ đến đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) và ở phía bắc thị xã Tuy Hoà, vịnh Xuân Đài và Tuy An

Hệ tầng Tam Đảo B:

Có thể đối sánh hệ tầng này với hệ tầng Long Mỹ (Q13) trong đồng bằng Trầm tích hệ tầng phổ biến toàn vùng nghiên cứu, ngoài lục nguyên còn có các rạn san hô

tạo nên các cồn nổi ở độ sâu 25-130m, các khối basalt và trầm tích phun trào đi kèm

Tại đới ven bờ mặt cắt gồm trầm tích sông biển (amQ13-2), Trầm tích hệ tầng này lộ ra

trên bề mặt ở đới ngoài thềm lục địa Nam Việt Nam có nguồn gốc lục nguyên và gồm

ba loại chính: trầm tích cát hạt lớn - trung, cát nhỏ, cát bùn và bùn cát Trên các tuyến rìa thềm có nêm lấn biển và hệ tầng có hai tập biển tiến và biển lùi chứa phong phú hóa thạch biển nông ở phía Đông còn gặp các khối, lớp basalt xen kẽ trầm tích

Hệ tầng Hậu Giang:

Mặt cắt theo lõi khoan bãi triều GK2000 - 1 gồm trầm tích biển tiến: trầm tích sông (aQ21-2), trầm tích biển đầm lầy (mbQ21-2 ) Tập trầm tích biển lùi phát triển ở đồng bằng, còn ở đới ven bờ ít phổ biến và bao gồm cát nhỏ, bùn, sét lộ trên đáy biển, có các kiểu:

Trang 40

Phức hệ Đại Lộc gồm granit biotit sẫm màu, granit hai mica phân bố lộ thành

đảo (Hòn Khô thuộc quần đảo Cù Lao Chàm và dưới đáy biển quanh đảo này)

Phức hệ Vân Canh phân bố tập trung ở dải ven biển, đáy biển vùng Sông Cầu,

Tuy An và đèo Ma Nhe (Phú Yên) Thành phần của phức hệ: granodiorit biotit, granomonzonit, granosienit, granit biotit

Phức hệ Hải Vân có thành phần gồm: granit biotit sẫm màu, granit sáng màu

aplit, pegmatit Chúng phân bố ở khu vực Sơn Trà và xung quanh Cù Lao Chàm, dưới

đáy biển ở độ sâu 0-20m

Phức hệ Định Quán phân bố tập trung ở hai khu vực biển ven bờ Ninh Hoà

(đảo Chà Là) và nam vịnh Cam Ranh Thành phần của phức hệ: granodiorit biotit- horblend, tonalit biolit- horblend

Phức hệ Đèo Cả có thành phần: granodiorit biotit, grano-sierit, granit biotit

phân bố rải rác dọc ven biển và đáy biển từ Cà Ná đến Vũng Tàu, ở đáy biển từ Phò Trì đến Vũng Tàu (chúng bị phủ bởi trầm tích Đệ tứ)

Phức hệ Cà Ná phân bố ở đáy biển Ninh Hoà, ven biển nam Nha Trang, vịnh

Cam Ranh và ven biển mũi Đá Vách Thành phần phức hệ: granit biotit, granit hai mica, granit alaskit

Phức hệ Bà Nà phân bố thành một diện nhỏ, hẹp ở khu vực biển ven bờ mũi

Nam Tràm (vịnh Dung Quất) Thành phần phức hệ: granit biotit, granit hai mica

2.4.3 Đặc điểm cấu trúc - kiến tạo:

Ngày đăng: 26/01/2016, 12:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đức An, 1999. Bàn về quá trình tạo màu của cát đỏ Phan Thiết. Địa chất, loạt A, số 250, tr. 36-40, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất
2. Nguyễn Biểu, 1985. Địa chất và khoáng sản ven biển Việt Nam. Báo cáo thuyết minh bản đồ tỷ lệ 1:1 000 000. Đề tài cấp Nhà nước 48-06-06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất và khoáng sản ven biển Việt Nam
3. Nguyễn Biểu, 2005. Đặc điểm địa chất Pliocen - Đệ tứ vùng biển thềm lục địa Đông Nam Việt Nam (thuyết minh Bản đồ Địa chất Pliocen - Đệ tứ 1: 250 000). Trong đề tài Nhà nước KC. 09. 09 (chủ nhiệm: Mai Thanh Tân). Lưu trữ Viện KH&CN VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm địa chất Pliocen - Đệ tứ vùng biển thềm lục địa Đông Nam Việt Nam
4. Nguyễn Biểu và nnk, 1999. Triển vọng sa khoáng biển ven bờ Nam Trung Bộ. Tuyển tập Báo cáo khoa học Hội nghị khoa học công nghệ biển toàn quốc lần thứ IV, tập II, tr. 775 – 779, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng sa khoáng biển ven bờ Nam Trung Bộ
Nhà XB: Nxb Thống kê
5. Nguyễn Biểu và nnk, 1996 và 2000. Địa chất khoáng sản biển nông ven bờ (0-30m nước) miền Trung Việt Nam (Vũng Tàu - Nga Sơn) và Báo cáo kết quả điều tra địa chất - khoáng sản biển nông ven bờ Cà Ná - Kê Gà, Vũng Tàu - Phò Trì. Lưu trữTT§CKS BiÓn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất khoáng sản biển nông ven bờ (0-30m n−ớc) miền Trung Việt Nam (Vũng Tàu - Nga Sơn)" và "Báo cáo kết quả điều tra địa chất - khoáng sản biển nông ven bờ Cà Ná - Kê Gà, Vũng Tàu - Phò Trì
6. Nguyễn Biểu và n.n.k (2000). Nghiên cứu lập sơ đồ thành tạo trầm tích Pliocen - Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam (0- 200m nước) tỷ lệ 1/1.000.000. Trong Báo cáo tổng kết đề tài cấp Nhà nước KHCN 06 – 11. Lưu trữ Viện KH &CN Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lập sơ đồ thành tạo trầm tích Pliocen - "Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam (0- 200m n−ớc) tỷ lệ 1/1.000.000
Tác giả: Nguyễn Biểu và n.n.k
Năm: 2000
7. Nguyễn Biểu và nnk, 2001. Địa chất biển nông ven bờ (0 - 30m n−ớc) Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài, 172 trang, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển, CụcĐịa chất và Khoáng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất biển nông ven bờ (0 - 30m n−ớc) Việt Nam
8. Nguyễn Biểu và nnk, 2003. Các thành tạo Đệ Tứ vùng thềm lục địa Đông Nam Việt Nam và ý nghĩa nghiên cứu địa chất công trình. Tuyển tập báo cáo HNKH Công trình và Địa chất biển, 23-26/7/2003, tr. 16-30,.Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thành tạo Đệ Tứ vùng thềm lục địa Đông Nam Việt Nam và ý nghĩa nghiên cứu địa chất công trình
9. Lê Văn Cự, 1989. Liên hệ các trầm tích Pliocen - Đệ Tứ ở thềm lục địa Đông Nam Việt Nam với các thành tạo ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.Dầu khí, số 1, tr.1-10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dầu khí
10. Nguyễn Địch Dỹ và nnk, 1995. Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan. Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học KT. 01- 07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan
11. Trịnh Thế Hiếu, 2003. Trầm tích Đệ Tứ thềm lục địa Nam Việt Nam. Tuyển tập báo cáo HNKH Công trình và Địa chất biển, 23-26/7/2003, tr. 265-276, Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm tích Đệ Tứ thềm lục địa Nam Việt Nam
12. Bùi Hồng Long, 1997. Một số kết quả khảo sát đặc điểm động lực trên bãi triều vùng Phan Rí Cửa và mối liên quan của chúng tới địa hình bờ và đáy. Các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý biển, tập III, tr. 258-270, Nxb KH&KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý biển
Nhà XB: Nxb KH&KT
13. Bùi Hồng Long và nnk, 1999. Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS cho khu vực vịnh Văn Phong phục vụ quản lý tài nguyên và môi tr−ờng ven biển. Tuyển tập Báo cáo khoa học Hội nghị khoa học công nghệ biển toàn quốc lần thứ IV, tr. 142-144, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Báo cáo khoa học Hội nghị khoa học công nghệ biển toàn quốc lần thứ IV
Nhà XB: Nxb Thống kê
14. Trần Nghi, 1992. Đặc điểm trầm tích và thạch động lực vùng biển nông ven bờ (0-30m nước) Đại Lãnh - Vũng Tàu. Lưu trữ Trung tâm ĐC&KS biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm trầm tích và thạch động lực vùng biển nông ven bờ (0-30m nước) Đại Lãnh - Vũng Tàu
15. Trần Nghi, 1996. Tiến hoá thành hệ cát ven biển miền Trung trong mối t−ng tác với sự dao động mực nước biển. Các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý biển, tập II, tr. 130-138, Nxb KH&KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý biển
Nhà XB: Nxb KH&KT
16. Trần Nghi, 2000. Đặc điểm trầm tích tầng mặt và thạch động lực vùng biển nông ven bờ (0-30m n−ớc) Trà Vinh - Vũng Tàu, tỷ lệ 1/500.000 và Vũng Tàu-Phò Trì, Cà Ná-Kê Gà, Dung Quất-Hội An, tỷ lệ 1/200.000, Trung tâm ĐC&KS biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm trầm tích tầng mặt và thạch động lực vùng biển nông ven bờ (0-30m n−ớc) Trà Vinh - Vũng Tàu, tỷ lệ 1/500.000 và Vũng Tàu-Phò Trì, Cà Ná-Kê Gà, Dung Quất-Hội An, tỷ lệ 1/200.000
17. Trần Nghi, 2005. Đặc điểm tướng đá, cổ địa lý vùng biển thềm lục địa Đông Nam Việt Nam (Thuyết minh Bản đồ tướng đá, cổ địa lý Pliocen - Đệ tứ vùng biển, tỷ lệ 1: 250.000). Trong đề tài Nhà nước KC.09. 09 (Mai Thanh Tân), Lưu trữ Viện KH&CN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm t−ớng đá, cổ địa lý vùng biển thềm lục địa Đông Nam Việt Nam
18. Trần Nghi, Nguyễn Biểu, 1995. Những suy nghĩ về mối quan hệ giữa địa chất Đệ tứ phần đất liền và thềm lục địa Việt Nam. Các công trình nghiên cứu Địa chất vàĐịa Vật lý biển, tập III, tr. 91-94, Nxb KH&KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứu Địa chất và "Địa Vật lý biển
Nhà XB: Nxb KH&KT
19. Trần Nghi và nnk, 1996. Quy luật phân bố sa khoáng biển trong trầm tích Đệ Tứ ở Việt Nam. Địa chất, lọat A, số 237, tr.18-24, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất
20. Trần Nghi và nnk, 2000. Thành lập bản đồ tướng đá cổ địa lý thềm lục địa Việt Nam trong Pliocen - Đệ Tứ. Lưu trữ khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành lập bản đồ t−ớng đá cổ địa lý thềm lục địa Việt Nam trong Pliocen - Đệ Tứ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Hình 1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu (Trang 10)
Hình 1.4:   Sơ đồ vị trí các điểm khảo sát VG-L-05 - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Hình 1.4 Sơ đồ vị trí các điểm khảo sát VG-L-05 (Trang 20)
Hình 4.1: Biểu đồ phân loại trầm tích của Sơở Địa chất Hoàng Gia Anh - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Hình 4.1 Biểu đồ phân loại trầm tích của Sơở Địa chất Hoàng Gia Anh (Trang 62)
Bảng 5.1: Hàm l−ợng các oxit nguyên tố trong mẫu trầm tích (%) - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 5.1 Hàm l−ợng các oxit nguyên tố trong mẫu trầm tích (%) (Trang 73)
Bảng 6.1: Mực nước biển và tốc độ biển tiến, thoái từ cuối Pleistocen đến nay - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 6.1 Mực nước biển và tốc độ biển tiến, thoái từ cuối Pleistocen đến nay (Trang 117)
Bảng 1.1: Các tuyến khảo sát - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 1.1 Các tuyến khảo sát (Trang 170)
Bảng 1.2: Danh sách mẫu chuyến khảo sát địa chất - địa vật lý biển - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 1.2 Danh sách mẫu chuyến khảo sát địa chất - địa vật lý biển (Trang 171)
Bảng 1.3: Danh sách mẫu thu thập ở biển Nam Trung Bộ - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 1.3 Danh sách mẫu thu thập ở biển Nam Trung Bộ (Trang 173)
Bảng 1.4: Danh sách mẫu trầm tích VG – 9b và các hoạt động liên quan (5/2005) - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 1.4 Danh sách mẫu trầm tích VG – 9b và các hoạt động liên quan (5/2005) (Trang 174)
Bảng 4.1: Kết quả phân tích cấp hạt một số mẫu - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 4.1 Kết quả phân tích cấp hạt một số mẫu (Trang 175)
Bảng 4.2 :  Kết quả phân tích thành phần vật chất trầm tích theo cấp hạt ở một số mẫu - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 4.2 Kết quả phân tích thành phần vật chất trầm tích theo cấp hạt ở một số mẫu (Trang 176)
Bảng 1: Kết quả phân tích thành phần vật chất trầm tích theo cấp hạt ở một số mẫu - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 1 Kết quả phân tích thành phần vật chất trầm tích theo cấp hạt ở một số mẫu (Trang 183)
Bảng 4.4: Kết quả phân tích hóa một số mẫu trầm tích  Chỉ tiêu và kết quả phân tích: (tính ra %, riêng TiO 2  tÝnh ra 10 -3 %) - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 4.4 Kết quả phân tích hóa một số mẫu trầm tích Chỉ tiêu và kết quả phân tích: (tính ra %, riêng TiO 2 tÝnh ra 10 -3 %) (Trang 186)
Bảng 4.5: Két quả phân tích 5 thành phần vật liệu vụn trong một số mẫu phân tích - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 4.5 Két quả phân tích 5 thành phần vật liệu vụn trong một số mẫu phân tích (Trang 187)
Bảng 4.7: Kết quả phân tích cổ sinh một số mẫu - Tiêu hóa đới ven biển, dao động mực nước biển và quá trình tích tụ vật liệu lục nguyên (phù sa) trong holocen ở thềm lục địa vùng biển giữa châu thổ mekong và nha trang, đông
Bảng 4.7 Kết quả phân tích cổ sinh một số mẫu (Trang 189)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w