1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa

123 465 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hy vọng với những kết quả nghiên cứu này, các lĩnh vực nhân giống hạt nhân mở, hỗn hợp cỏ cao đạm, thức ăn thô dạng viên và mô hình chăn nuôi bò sữa áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuậ

Trang 2

Phần báo cáo chính

A Lời mở đầu

Phương pháp nhân giống bò sữa hạt nhân mở đã được áp dụng từ lâu trên nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Vương quốc Anh, Australia, Bungary, India, vv đã thu được những thành công lớn: năng suất cao, chất lượng tốt và hiệu quả kinh tế lớn Bản chất của nhân giống bằng phương pháp hạt nhân mở là những bò sữa ở bất kì tầng nào của tháp giống, thậm chí bên ngoài của tháp giống, có giá trị giống cao hơn so với đàn hạt nhân

đều được chọn vào tầng hạt nhân làm giống Phương pháp nhân giống hạt nhân mở làm tăng tiến bộ di truyền nhanh hơn, tạo nên sự tiến bộ trong toàn bộ hệ thống giống Tiến bộ

di truyền càng cao ở đàn hạt nhân, năng suất của những cá thể các tầng khác của tháp giống càng lớn Phương pháp nhân giống hạt nhân mở bò sữa thực chất chưa được áp dụng ở nước ta

Sử dụng cân đối thức ăn thô xanh trong khẩu phần của bò sữa đã được tiến hành nghiên cứu từ lâu và đã thu được những kết quả đáng kể trên thế giới Các kết quả nghiên cứu về thức ăn của bò sữa cho thấy cỏ có tỷ lệ hoà thảo - đậu thích hợp có thể đảm bảo đủ nhu cầu duy trì và sản xuất được 10 lít sữa/ngày không cần thêm thức ăn tinh Việc chế biến thức ăn bằng công nghệ ép viên - một giải pháp kinh tế - kỹ thuật cho bò sữa đạt kết quả tốt

Ngoài ra, xây dựng mô hình chăn nuôi bò sữa áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật tiên tiến cho mỗi vùng sinh thái cũng là một giải pháp khoa học thu được thành công lớn trong ngành chăn nuôi bò sữa

Người chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam cũng đã biết đến các lĩnh vực tháp giống hạt nhân mở, hỗn hợp cỏ cao đạm, thức ăn viên và mô hình chăn nuôi bò sữa, song chưa nhiều Bộ môn Di truyền Giống Viện Chăn nuôi, với những cán bộ nghiên cứu đã được

đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực Di truyền Giống từ các nước Nga, Cu Ba, Tiệp Khắc, ấn

Độ, Australia, Mỹ, đồng thời được sự giúp đỡ của nhiều chuyên gia và trực tiếp của các nhà khoa học đầu ngành trong nước về lĩnh vực này Với thành quả bước đầu thu được,

năm 2003 Bộ môn được Nhà nước tin cậy và giao cho đề tài “Nghiên cứu ứng dụng các

giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa” Sau ba năm tích cực nghiên cứu,

Trang 3

nhóm tác giả đề tài đã thu được những kết quả nhất định và đạt được các mục tiêu đề tài

đặt ra Thay mặt bộ môn và các cán bộ nghiên cứu khoa học và tất cả các thành viên tham

gia đề tài, tôi xin báo cáo những thành quả của công trình nghiên cứu tới Bộ khoa học và

Công nghệ và các bạn đồng nghiệp Hy vọng với những kết quả nghiên cứu này, các lĩnh

vực nhân giống hạt nhân mở, hỗn hợp cỏ cao đạm, thức ăn thô dạng viên và mô hình chăn

nuôi bò sữa áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật tiên tiến ngày càng hoàn thiện hơn và

thực sự đóng góp cho công tác giống bò sữa trong hiện tại và tương lai của nước nhà, góp

phần đưa ngành chăn nuôi bò sữa ngày một thành công to lớn hơn

Chủ nhiệm đề tài

TS Nguyễn Văn Đức

Trang 4

1 Trích lược thuyết minh đề tài (Mục 1-9, 12, 14-17, 23)

1 Tên đề tài:

"Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên

tiến phát triển chăn nuôi bò sữa"

Chức vụ: Trưởng Bộ Môn Di Truyền Giống Vật Nuôi

Học hàm/học vị: Tiến sỹ Di Truyền Giống Động Vật

Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên chính

Điện thoại: (CQ): 04 8385292 (NR): 04 8353514 DĐ: 0912 785 185

Fax: 04 8389775

E-mail: ditruyen@hn.vnn.vn

Địa chỉ cơ quan: Xã Thụy Phương - Huyện Từ Liêm - Thành phố Hà Nội

Địa chỉ nhà riêng: Phòng 103 - C5 - Nam Thành Công - Quận Đống Đa - Hà Nội

Trang 5

9 Mục tiêu của đề tài:

9.1 Tạo được quy trình nhân giống bò sữa theo phương pháp đàn hạt nhân mở

9.2 Tạo được quy trình kỹ thuật tiên tiến trồng và chế biến thức ăn xanh

9.3 Xác định được một số mô hình áp dụng tổng hợp các giải pháp giống, thức ăn, thú y

và quản lý nhằm góp phần thúc đẩy chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa có hiệu quả

12 Nội dung nghiên cứu

12.1 Nghiên cứu quy trình nhân giống bò sữa theo phương pháp đàn hạt nhân mở

12.1.1 Thẩm định thực tế kết quả bình tuyển đàn bò sữa cái HF thuần và HF lai của

Dự án để thiết lập đàn bò sữa hạt nhân và đàn cấp 1

Dựa vào kết quả bình tuyển, phân tích đánh giá đàn bò sữa của “Dự án phát triển giống bò sữa quốc gia”, tiến hành thẩm định thực tế để thiết lập đàn bò sữa hạt nhân và cấp 1 cho cả hai nhóm HF thuần và HF lai thuộc 3 nguồn nguyên liệu là: đàn bò sữa HF thuần nhập ngọai và HF lai được tạo ra từ trước tới nay hiện đang được nuôi ở nước ta;

đàn bò sữa HF mới nhập từ Mỹ và Australia; đàn bò sữa sinh ra từ 300 phôi bò sữa cao sản nhập ngoại và từ 60.000 liều tinh bò sữa cao sản nhập ngoại

12.1.2 Chọn bò cái cao sản để xây dựng đàn hạt nhân và đàn cấp 1

- Chọn vào đàn hạt nhân: Chọn 400 bò cái HF thuần với tiêu chuẩn chọn dự kiến:

năng suất sữa 4.800 kg/chu kì và mỡ sữa 3,5%; Chọn 1.600 bò cái HF lai với tiêu chuẩn

chọn dự kiến: năng suất sữa 4.000 kg/chu kì và mỡ sữa 3,7%

- Chọn vào đàn cấp 1: Chọn 1.600 bò cái HF thuần với tiêu chuẩn dự kiến: năng

suất sữa 4.300 kg/chu kì và mỡ sữa 3,5% Chọn 6.400 bò cái HF lai với tiêu chuẩn dự kiến: năng suất sữa 3.600 kg/chu kì và mỡ sữa 3,7%

- Tiếp tục bình tuyển, thẩm định đàn bò sữa HF mới nhập từ Mỹ và Australia và sinh ra tại Việt Nam chưa được Dự án phát triển giống bò sữa bình tuyển để bổ sung cho

đủ số lượng 2.000 bò sữa đàn hạt nhân và 8.000 bò sữa đàn cấp 1

- Xây dựng 2 mô hình thử nghiệm theo phương pháp đàn hạt nhân mở (Trong mỗi

mô hình gồm có bò HF thuần và HF lai): Xây dựng mô hình đàn bò sữa hạt nhân mở cho

Trang 6

vùng sinh thái miền Bắc, chọn trung tâm Mộc Châu, từ đó mở rộng mạng lưới ra các tỉnh phía Bắc Đồng thời, xây dựng mô hình đàn bò sữa hạt nhân mở vùng sinh thái miền Nam, chọn trung tâm tại Lâm Đồng-Tp Hồ Chí Minh-Đồng Nai và triển khai mạng lưới rộng ra các tỉnh phía Nam

- Theo dõi khả năng sinh trưởng, sinh sản, sản lượng sữa, mỡ sữa, protein, của

đàn bê sinh ra từ các nguồn: 300 phôi và 60.000 liều tinh cao sản nhập ngoại, đàn bò HF

thuần nhập ngoại và đàn bò sữa HF lai cao sản của Việt Nam để tiếp tục bổ sung và thay

thế đàn hạt nhân nhằm từng bước nâng cao chất lượng đàn bò sữa hạt nhân và cấp 1

12.1.3 Chọn lọc bò đực giống HF thuần tốt nhất cho đàn hạt nhân

Theo dõi, kiểm tra đàn bò đực HF thuần để chọn 5 bò đực giống HF thuần tốt nhất cho đàn hạt nhân Nguồn bò đực HF thuần để chọn giống là đàn bò đực giống HF hiện có,

12 bò đực HF mới nhập từ Mỹ, Australia và đàn bê đực sinh ra từ 300 phôi bò sữa và từ 60.000 liều tinh nhập ngoại có năng suất sữa trên 12.000kg/chu kì

12.2 Nghiên cứu tạo quy trình kỹ thuật tiên tiến trồng và chế biến thức ăn xanh

12.2.1 Nghiên cứu tạo nguồn thức ăn xanh năng suất chất lượng cao cho bò sữa bằng trồng hỗn hợp cỏ cao đạm nhập từ Australia

Trồng thử nghiệm 5 ha hỗn hợp cỏ cao đạm nhập từ Australia gồm các giống để:

- Nghiên cứu kỹ thuật trồng, năng suất, hiệu quả sử dụng hỗn hợp cỏ cao đạm làm nguồn thức ăn cho đàn bò sữa và sự ảnh hưởng của chúng đến đất và môi trường

- Xác định thành phần dinh dưỡng của hỗn hợp cỏ cao đạm để so sánh với các loại

cỏ thông dụng khác trong nguồn thức ăn thô cho đàn bò sữa

- Kết luận về năng suất và chất lượng hỗn hợp cỏ cao đạm và xây dựng quy trình trồng hỗn hợp cỏ cao đạm nhập ngoại từ Australia để triển khai ra sản xuất

12.2.2 ứng dụng công nghệ tiên tiến chế biến dự trữ thức ăn thô dạng viên

- Tạo thức ăn viên cho bò sữa bằng công nghệ phù hợp: sản xuất 200 tấn thức ăn viên

- Xác định các thành phần dinh dưỡng của thức ăn thô viên sử dụng cho đàn bò sữa

- So sánh hiệu quả sử dụng thức ăn thô viên cho đàn bò sữa: thí nghiệm sử dụng thức

ăn thô viên cho bò cái vắt sữa

Trang 7

12.3 Nghiên cứu mô hình áp dụng đồng bộ các giải pháp tiên tiến nhằm góp phần thúc

đẩy chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa có hiệu quả

- Xây dựng mô hình chăn nuôi bò sữa kết hợp đồng bộ các biện pháp: Xây dựng mối quan hệ giữa mô hình hạt nhân mở và mô hình áp dụng đồng bộ các biện pháp tổng hợp:

• Cung cấp giống bò sữa tốt từ mô hình hạt nhân mở cho mô hình phát triển vùng chăn nuôi bò sữa áp dụng đồng bộ các biện pháp tổng hợp và ngược lại

• Chuyển giao các TBKT từ mô hình vùng chăn nuôi bò sữa áp dụng đồng bộ các biện pháp tổng hợp cho mô hình hạt nhân mở và ngược lại

- Phân tích, xử lý, chọn và phân cấp giống bò sữa hiện có để thiết lập danh sách đàn bò sữa cho 2 mô hình phát triển vùng chăn nuôi bò sữa ở miền Bắc và miền Nam

- Tạo bộ số liệu: cân sữa và phân tích chất lượng sữa: mỡ sữa, protein, và thu thập số liệu đàn bò sữa tại các mô hình vùng chăn nuôi bò sữa theo chương trình DHI

- Xây dựng quy trình phòng, trị một số bệnh thường gặp ở bò sữa nuôi tại Việt Nam

- Chế biến dự trữ thức ăn thô cho bò sữa trong mùa khô ở miền Nam và mùa đông ở miền Nam trong hộ gia đình bằng ép viên

- Nghiên cứu xác định kiểu gen có khả năng kháng hoặc mẫn cảm với bệnh viêm vú

bò sữa cao sản nhập ngoại tại một số vùng sinh thái khác nhau

- Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ chuồng 1 và 2 dãy đến năng suất sữa tại 2 mô hình chăn nuôi bò sữa và xác định các giải pháp làm giảm sự ảnh hưởng đó

Thờigian BĐ-KT

Cơ quan thực hiện

Hà Nội

Hà Tây

Tp HCML.Đồng

Chọn được những bò sữa cho đàn hạt nhân và đàn cấp 1 đúng tiêu chuẩn dự kiến

3/2003

đến 10/2003

ĐHNL Thủ ĐứcViện Chăn NuôiHội Chăn Nuôi Tổng Cty CNVN

Trang 8

2 Chọn bò cái vào hạt nhân, cấp 1

- Thẩm định đàn hạt nhân và cấp

1 dựa vào kết quả của Dự án

- Tiếp tục giám định chọn lọc bò

cái HF và HF lai để có đủ số

lượng cho đàn hạt nhân và cấp 1

- Tạo lập số liệu: cân bò, theo

dõi sinh sản, cân sữa, phân tích

sữa; thu thập số liệu, tiếp tục

chọn bò cái HF và HF lai để thế

đàn, từng bước nâng cao chất

lượng đàn bò sữa hạt nhân, cấp 1

M ChâuT.Quang

Hà Nội

Hà Tây

Tp HCML.Đồng

Đ.Nai

400HF, 1600

HF lai hạtnhân 1600HF, 6400

HF lai cấp 1

Đủ số liệu để từng bước nâng cao chất lượng

đàn bò sữa hạt nhân và cấp 1 (kgsữa/ck):

HF:4800,4300Lai:4000,3600

6/2003

- 8/2005

Viện Chăn Nuôi Hội Chăn Nuôi Viện KHKTNNMiền Nam Tổng CtyCN VN Cơ sở liên quan

3 Chọn bò đực giống HF thuần vào

đàn hạt nhân thông qua giá trị

giống

Moncada(Hà Tây)

5 bò đực giống

HF hạt nhân tốt

6/2003

- 8/2005

Viện Chăn NuôiTổng CtyCNVN

4 Nghiên cứu trồng thử nghiệm hỗn

Viện Chăn NuôiVKHKTNNMN

5 Nghiên cứu công nghệ chế biến

thức ăn thô dạng viên và thí

nghiệm thức ăn thô dạng viên cho

bò cái vắt sữa

Tp HCMT.Quang

Hà Tây

200 tấn thức ăn thô viên và thí nghiệm sử dụng

2/2003

- 8/2005

Hội Chăn Nuôi Viện Chăn NuôiViệnKHKTNNMN

6 Nghiên cứu xây dựng mô hình

phát triển vùng chăn nuôi bò sữa

đạt hiệu quả cao sử dụng tổng

hợp các giải pháp: giống, thức

ăn, thú y, quản lý, tiểu khí hậu

chuồng nuôi

M ChâuT.Quang

4/2003

- 8/2005

Hội Chăn Nuôi Viện Chăn nuôiVKHKTNNMNViện Thú Y Tổng CtyCNVNCơ sở liên quan

7 - Xử lý, phân tích, đánh giá kết

quả của đề tài

- Báo cáo tổng kết, nghiệm thu

Hà Nội Kết quả chính

xác Báo cáo KH tốt

9/2005

- 12/2005

Các đề tài nhánhViện Chăn Nuôi

Trang 9

15 Dạng kết quả của đề tài

Mẫu (model, maket) Quy trình công nghệ ⌧ Sơ đồ

Sản phẩm ⌧ Phương pháp ⌧ Bảng số liệu ⌧

Vật liệu Tiêu chuẩn Báo cáo phân tích ⌧

Thiết bị, máy móc Quy phạm Đề án, quy hoạch triển khai

Giống gia súc ⌧ Khác (bài báo, đào tạo CBKH ⌧

16 Yêu cầu khoa học đối với sản phẩm tạo ra (dạng kết quả II + III)

1 Quy trình công nghệ 3 quy trình: nhân giống bằng đàn hạt nhân mở, trồng hỗn hợp

cỏ cao đạm, chế biến thức ăn thô dạng viên cho bò sữa

2 Phương pháp Bình tuyển giám định ngoại hình thể chất bò sữa thích hợp

3 Bảng số liệu Đầy đủ, chính xác, logic và khách quan

4 Báo cáo phân tích Đánh giá kết quả trồng hỗn hợp cỏ cao đạm, công nghệ chế

biến thức ăn thô dạng viên có chất lượng cao cho bò sữa 5a Báo cáo khoa học Các bài báo được đăng trên tạp chí nước ngoài và trong nước

5b Tham gia đào tạo Tiến sỹ: 1 người, Thạc sỹ: 1 người

17 Yêu cầu kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng đối với sản phẩm tạo ra (dạng kết quả I)

Mức chất lượng Mẫu tương tự

Dự kiến số sản phẩm

1 Mô hình phát triển chăn nuôi bò sữa Bắc:

2 Mô hình vùng chăn nuôi bò sữa miền

3 Thử nghiệm trồng hỗn hợp cỏ cao đạm tại

4800l/ck4000l/ck7000l/ck4300l/ck3600l/ck

400 1.600

5 1.6006.400

Trang 10

* Quy trình Công nghệ được xây dựng gồm 11 quy trình sau:

- Quy trình nhân giống bằng đàn hạt nhân mở trong chăn nuôi bò sữa

- Quy trình sử dụng chương trình cải thiện đàn bò sữa DHI

- Quy trình sử dụng ưu thế lai thành phần về khối lượng phục vụ công tác giống

- Quy trình trồng hỗn hợp cỏ cao đạm

- Quy trình phòng và trị bệnh viêm vú bò sữa

- Quy trình công nghệ chế biến thức ăn thô viên cho bò sữa

- Quy trình tạo lập bộ số liệu của bò sữa phục vụ công tác chọn lọc giống

- Quy trình xác định giá trị giống về sản lượng sữa

- Quy trình giám định ngoại hình thể chất bò sữa

- Quy trình theo dõi và ghi chép số liệu để xây dựng hệ thống quản lý giống bò sữa

- Quy trình xác định kiểu gen kháng hoặc mẫn cảm với bệnh viêm vú của bò

HF nuôi ở Việt Nam

* Xây dựng được 1 phương pháp:

- Phương pháp bình tuyển giám định ngoại hình thể chất bò sữa

23 Kinh phí thực hiện đề tài phân theo các khoản chi (Triệu đồng)

TT Nguồn kinh phí Tổng số Thuê khoán

chuyên môn

Nguyên vật liệu, năng lượng

Thiết

bị, máy móc

Xây dựng, sửa chữa nhỏ

Chi khác

Trên cơ sở kết quả thu được, dựa vào hướng dẫn của Bộ khoa học và Công nghệ,

chúng tôi viết báo cáo tổng kết theo các phần: 1) Lời mở đầu: nêu một cách ngắn gọn

phạm vi và mục đích của đề tài; 2) Nội dung chính của báo cáo gồm: phần đặt vấn đề, cơ

sở khoa học và tổng quan tình hình nghiên cứu, vật liệu và phương pháp nghiên cứu, kết

quả nghiên cứu và thảo luận; 3) Kết luận và kiến nghị; 4) Lời cảm ơn; 5) Tài liệu tham

khảo

Trang 11

2 kết quả tổng quát của đề tài

tính

Kế hoạch

Thực hiện

So với kế hoạch

1 Tập huấn PP giám định và DHI Người 80 105 Vượt 31,25%

2 Chuyên đề và Quy trình KHCN Quy trình 10 11 Vượt 10%

10.0002.000 8.000

10.750 2.708 8.042

4.800 4.000 4.300 3.600

5.672 5.174 4.808 3.750

200

300

130-200 130-405

Đạt (Chăm sóc tốt) Vượt (Chăm sóc tốt)

9 Phân tích cỏ cao đạm và Tă viên Mẫu 80 88 Vượt 10%

10 Sản xuất thức ăn thô dạng viên Tấn 200 225 Vượt 12,5 %

11 Phân tích chất lượng sữa Mẫu 10.800 11.800 Vượt 9,26%

13 Bài báo đăng trên các tạp chí Bài - 10

14 Tài liệu kỹ thuật chăn nuôi bò sữa Quyển 1 1 Đạt 100%

18 Đào tạo cán bộ khoa học: TS, ThS Người 2 3 Vượt 50%

Trang 12

B Nội dung chính của báo cáo

1 Đặt vấn đề

Đối với bò sữa, do sinh sản đơn thai và đời sản xuất dài, chọn đàn hạt nhân mất nhiều thời gian, cho nên sử dụng phương pháp hạt nhân mở là tốt nhất (Hình 1): những bò sữa ở bất kì tầng nào của tháp giống có giá trị giống cao hơn đàn hạt nhân đều được chọn vào tầng hạt nhân để làm giống Phương pháp nhân giống hạt nhân mở làm tăng tiến bộ di truyền nhanh hơn, tạo nên sự tiến bộ nhanh trong toàn bộ hệ thống giống Tiến bộ di truyền càng cao ở đàn hạt nhân, năng suất của mọi cá thể các tầng khác của tháp giống càng lớn Vì vậy, để có năng suất cao trong sản xuất, phải chọn đàn hạt nhân tốt

Phương pháp nhân giống hạt nhân mở bò sữa chưa được áp dụng ở nước ta Những

bò sữa tốt chưa được chọn vào đàn hạt nhân để có chế độ nuôi dưỡng, quản lý đúng đắn

để từ đó tạo nhân đàn bò sữa đạt chất lượng cao Vì vậy, giai đoạn 2003-2005, đề tài phải chọn được những bò sữa tốt nhất cho đàn hạt nhân để từ đó tạo và nhân nhanh đàn bò sữa

có năng suất và chất lượng cao Đặc biệt, sau khi kết thúc đề tài (2005), phải tiếp tục chọn lọc nâng cao năng suất, chất lượng đàn bò sữa hạt nhân và từ đàn hạt nhân đó, đề nghị cục chăn nuôi xây dựng chương trình quản lý giống chặt chẽ, chăm sóc nuôi dưỡng tốt để phát

triển nhanh đàn bò sữa Việt Nam có năng suất phù hợp và chất lượng tốt

ở các nước nhiệt đới, nghiên cứu chế biến sử dụng thức ăn thô trong khẩu phần của

bò sữa đã được tiến hành từ lâu và đã thu được những kết quả đáng kể Các kết quả nghiên cứu cho thấy bò sữa khi sử dụng cỏ chất lượng tốt, tỷ lệ hoà thảo - đậu thích hợp có thể

đảm bảo đủ nhu cầu duy trì và sản xuất 10 lít sữa/ngày không cần thức ăn tinh Các nghiên cứu cho thấy thức ăn xanh có chất lượng tốt phải là hỗn hợp hoà thảo-đậu thích hợp: 70-30 hoặc 75-25% Hỗn hợp cỏ cao đạm hoà thảo-đậu là cây thức ăn xanh thích hợp cho bò sữa và chế biến thức ăn như ép viên - một giải pháp kinh tế-kỹ thuật cho bò sữa đạt kết quả tốt cần được nghiên cứu áp dụng cho ngành chăn nuôi bò sữa nước ta

Xây dựng mô hình áp dụng đồng bộ các yếu tố liên quan đến khả năng sản xuất, qua đó tìm ra mô hình thích hợp làm mẫu để từ đó đúc rút kinh nghiệm mở rộng ra sản xuất nhằm thu được kết quả tốt mà ít lãng phí tiền của và sức lao động của con người Vì vậy, để giúp cho sự phát triển bền vững và có hiệu quả của ngành chăn nuôi bò sữa, xây

Trang 13

dựng mô hình áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật tiên tiến đã được đề tài đưa vào nghiên cứu cho bò HF thuần và lai trên 2 vùng sinh thái miền Bắc và miền Nam

2 Cơ sở khoa học và tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

a Lĩnh vực nhân giống bò sữa theo phương pháp đàn hạt nhân mở

Phương pháp nhân giống hạt nhân mở đối với ngành bò sữa đã được triển khai ở nhiều quốc gia trên thế giới, nơi có nền chăn nuôi tiên tiến, đã thu được những thành công lớn James

(1977)[72] đã trình bày “Hệ thống giống hạt nhân mở” với những ưu điểm nổi bật đối với bò sữa

Peeva và cộng sự (1990)[89] giới thiệu một mô hình nhân giống hạt nhân mở của trâu sữa ở Bungari với đàn giống 1.200 trâu cái, đàn hạt nhân có 200 con, nhưng chỉ sử dụng 20 trâu cái và

3 trâu đực có giá trị giống về sinh sản và sản xuất tốt nhất tạo phôi và 180 trâu cái nhận phôi

Đàn hạt

nhân

Đực và cái

Đực và cái

Đực và cái

Đực

và cái

1a Hạt nhân đóng

Không cho phép sự xâm nhập nguồn gen

tốt từ bất cứ đàn nào vào đàn hạt nhân,

chủ yếu áp dụng cho lợn và gia cầm

Những cá thể tốt nhất

Trang 14

Các nhà nghiên cứu ấn Độ đã triển khai dự án nhân giống hạt nhân mở đối với bò lai hướng sữa (Sahiwal x HF) tại Gujarat từ năm 1994 và đực giống được đánh giá thông qua năng suất sữa chị em gái đã kết luận phương pháp nhân giống bò sữa hạt nhân mở có nhiều lợi thế, bò đực và bò cái được đánh giá chính xác và nhanh chóng, dựa vào nguồn thông tin chị em nên tiến bộ di truyền tăng nhanh hơn so với nhiều phương pháp khác

Các nghiên cứu đều kết luận, phương pháp nhân giống bò sữa hạt nhân mở cho kết quả tốt nhất, nhưng cần lưu ý trước khi cho bò cao sản từ ngoài vào đàn hạt nhân, phải tuyệt đối an toàn bệnh tật vì nếu không sạch bệnh, tác hại lan truyền bệnh từ đàn hạt nhân xuống các tầng dưới trong tháp giống và lan rộng ra sản xuất rất nhanh

b Lĩnh vực trồng và chế biến thức ăn cho bò sữa

Trong lĩnh vực tạo nguồn thức ăn cho bò sữa, một tập đoàn giống phong phú đã và

đang được phát triển trong sản xuất ở Đông Nam á Nhiều giống cỏ có năng suất vật chất khô cao là nguồn thức ăn xanh thô có giá trị cho gia súc như Panicum, Pangola ở Pakistan (Akram, 1997)[53] Các giống cỏ họ đậu như Leucaena, Flemingia đã giúp cho nông hộ

có thức ăn xanh giàu protein phân bổ theo mùa Tăng trọng của bò cao hơn 42% khi kết hợp nuôi dưỡng cỏ voi với cỏ Stylo theo tỷ lệ 50:50 (Nitis, 1981)[87]

c Lĩnh vực xây dựng mô hình chăn nuôi bò sữa áp dụng đồng bộ các giải pháp

Phương pháp đánh giá hiệu quả của mô hình như DANIDA, OXFARM quan tâm

đến sự tham gia của cộng đồng trong việc xác định các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả kinh tế của mô hình Sau khi tiến hành điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng, lựa chọn các giải pháp tiên tiến áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của từng thành phần khi tham gia mô hình nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa bền vững và có hiệu quả cao

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

a Lĩnh vực nhân giống bò sữa theo phương pháp đàn hạt nhân mở

Trong ngành chăn nuôi bò sữa, nhân giống hạt nhân mở chưa được áp dụng ở ta Tuy vậy, một số công trình đã mang bóng dáng của nó, rõ nhất là từ 1960 đến 2000, Viện

Chăn Nuôi cùng các cơ quan hữu quan tổ chức công trình "Nghiên cứu tạo bò lai hướng

sữa Việt Nam" đã thu được những kết quả đáng kể: đưa năng suất sữa bò lai hướng sữa

Trang 15

HF từ 1.435-1.751kg/chu kì (1982) lên 2.700kg/chu kì (1995) và 3.400kg/chu kì (2001)

Công trình đã được Nhà nước tặng giải thưởng Khoa học công nghệ vào năm 2000

Nghiên cứu chọn tạo bò đực giống lai HF theo kiểu hạt nhân mở để ổn định nhóm bò sữa 3/4HF và 7/8HF đã sử dụng thụ tinh nhân tạo và cấy truyền phôi Hiện nay, bò đực HF và lai HF tốt đang được kiểm tra đánh giá chọn dựa vào năng suất sữa của chị em gái để đưa vào

đàn hạt nhân làm giống Nghiên cứu hệ thống giống bò sữa đã chọn được dòng Ceiling là dòng tốt nhất nhập từ Cuba (Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức, 1991)[42] Kết quả

đó đã góp phần định hướng công tác giống bò lai hướng sữa ở nước ta

Dự án phát triển giống bò sữa (2001-2005) đã điều tra, đánh giá, bình tuyển 12.000

con, nhập 80.000 cặp số hiệu, lập sổ cá thể theo dõi từ trung ương đến cơ sở nên việc thu

thập số liệu đầy đủ hơn dẫn đến đánh giá chọn lọc chính xác hơn Dự án đã nhập 99 bò cái, 7 bò đực HF từ Mỹ và đã phối hợp với các tỉnh nhập gần 3.000 bò cái HF, 5 bò đực giống HF từ Australia và 60.000 liều tinh cao sản Với nguồn gen cao sản này, đề tài có

điều kiện chọn lọc để đàn bò sữa Việt Nam trong vòng 5 năm tới sẽ đạt năng suất cao và hiệu quả lớn Phương pháp chọn giống hiệu quả nhất là chọn những cá thể có giá trị giống cao bổ sung vào đàn hạt nhân nhằm làm tăng nhanh tiến bộ di truyền

b Lĩnh vực trồng và chế biến thức ăn cho bò sữa

Từ năm 1960, nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu về các giống cỏ trồng nhập nội thông qua các chương trình đã nhập 105 giống đậu và 80 giống hoà thảo (Nguyễn Ngọc Hà và cs, 1985[25]; Lê Hoà Bình và cs, 1984[1]) Song, hạn chế lớn nhất là chất lượng cỏ thấp do thiếu họ đậu trong thảm cỏ và chế biến dự trữ thức ăn thô cho mùa khan hiếm thức ăn xanh chưa được nghiên cứu nhiều Hiện nay, hỗn hợp cỏ cao đạm nhập nội

từ Australia là một nguồn cây thức ăn thô xanh cho bò sữa tốt và chế biến thức ăn thô dạng viên để dự trữ cho mùa đông ở miền Bắc và mùa khô ở miền Nam khi cỏ xanh không đủ thì hầu như chưa có ai quan tâm nghiên cứu Vì vậy, đó là một trong những nội dung mới cần đưa vào nghiên cứu

c Lĩnh vực xây dựng mô hình chăn nuôi bò sữa áp dụng đồng bộ các giải pháp

Một số nghiên cứu về mô hình chăn nuôi bò sữa ở nước ta đã kết luận chăn nuôi bò sữa có lãi và qui mô lớn lãi cao hơn nhỏ lẻ Tuy nhiên, chỉ mới tổng kết những kết quả

Trang 16

thực hiện, chưa phân tích được các yếu tố tác động và chưa lựa chọn được các giải pháp thích hợp đến năng suất để nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi bò sữa ở các

điều kiện sinh thái khác nhau Vì vậy, cần xây dựng mô hình vùng chăn nuôi bò sữa sử dụng đồng bộ các giải pháp: giống, thức ăn, thú y và quản lý để đạt hiệu quả kinh tế cao

Để góp phần thúc đẩy chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa, ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật tiên tiến: nhân giống hạt nhân mở, trồng và chế biến cây thức ăn xanh và xây dựng các mô hình chăn nuôi áp dụng tổng hợp 4 yếu tố giống, thức ăn, thú y và quản lý cần được ưu tiên nghiên cứu

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu quy trình nhân giống theo phương pháp đàn hạt nhân mở

a Đối tượng nghiên cứu

+ Các nguồn nguyên liệu bò sữa chính được tập trung nghiên cứu chọn lọc là:

• Đàn bò sữa HF thuần nhập nội trước năm 2000 và tạo ra ở nước ta,

• Đàn bò sữa HF nhập ngoại sau năm 2000 từ Mỹ và Australia,

• Đàn bò sữa sinh ra từ 300 phôi nhập ngoại và 60.000 liều tinh cao sản nhập ngoại

+ Số lượng bò sữa cụ thể dùng để chọn vào đàn hạt nhân và cấp 1:

• Từ 2.000 bò cái Holstein Friesian (HF) nhập từ CuBa (1972) đang nuôi tại Mộc Châu và Lâm Đồng; trên 3.000 bò cái HF nhập từ Mỹ và Australia (2001-2002), nuôi nhiều cơ sở và từ 12 bò đực HF nhập nội, nuôi tại Moncada

• Từ hơn 17.000 bò HF lai: F1, F2, F3 đang nuôi tại các tỉnh, tập trung vào 2 vùng: Miền Nam (Tp Hồ Chí Minh và Đồng Nai) và miền Bắc (Hà Tây-Hà Nội)

• Từ 300 phôi bò cao sản nhập ngoại tạo ra từ công nghệ phôi (KC04.11) và 60.000 liều tinh cao sản nhập ngoại của Dự án phát triển giống bò sữa

+Địa điểm: Mộc Châu, Tuyên Quang, Hà Nội, Hà Tây, Lâm Đồng, Tp HCM, Đồng Nai

b Phương pháp nghiên cứu

- Tập huấn phương pháp giám định ngoại hình thể chất bò sữa: mở lớp tập huấn về

lý luận, kiến thức và thực hành cho các kỹ thuật viên của các cơ sở tham gia đề tài

- Thẩm định kết quả bình tuyển đánh giá từng cá thể bò cái của Dự án phát triển

Trang 17

giống để chọn đàn bò sữa vào đàn hạt nhân và cấp 1:

- Giám định thực tế từng cá thể đã được Dự án giống bò sữa kết luận theo phương pháp giám định ngoại hình của Canada để thiết lập chính thức đàn hạt nhân và cấp 1

- Phân tích chất lượng sữa: protein, mỡ bằng máy LactoStar và MT-700, MT-1000

- Giá trị giống được tính theo chương trình SAS (1999) và BLUP (1998)

- Căn cứ kết quả giám định ngoại hình, giá trị giống về năng suất, tỷ lệ mỡ sữa, của từng cá thể từ cao xuống thấp để thay thế đàn nâng cao chất lượng đàn hạt nhân và cấp 1

- Xây dựng 2 mô hình hạt nhân mở tại miền Bắc và miền Nam, nơi có nhiều bò sữa

+ Đánh giá chọn bò đực HF thuần cho đàn hạt nhân: Chỉ tiêu: tăng trọng từ 6 đến 24

tháng tuổi, chất lượng tinh dịch, sản lượng sữa và tỷ lệ mỡ sữa của chị em gái

3.2 Nghiên cứu tạo quy trình kỹ thuật tiên tiến trồng và chế biến thức ăn xanh

a Đối tượng: Hỗn hợp cỏ cao đạm nhập từ Australia và công nghệ chế biến thức ăn viên

Địa điểm: Tại 2 mô hình vùng chăn nuôi bò sữa áp dụng đồng bộ các biện pháp

b Phương pháp nghiên cứu

- Đối với phần hỗn hợp cỏ cao đạm: Bố trí thí nghiệm phân lô so sánh năng suất,

chất lượng cỏ cao đạm nhập ngoại

- Đối với lĩnh vực chế biến và sử dụng thức ăn thô dạng viên

Phương pháp tạo thức ăn thô dạng viên

Thức ăn thô dạng viên được sản xuất theo công nghệ và trên dây truyền thiết bị của Trung Quốc Phương pháp sản xuất thức ăn thô theo công nghệ này được tóm tắt như sau : Thức ăn thô (rơm, cỏ) sau khi được nghiền nhỏ và làm ẩm (trộn với nước ấm 40oC)

được trộn với chất sinh hóa (của Trung Quốc) và ủ kín trong 24 giờ Sau khi ủ, thức ăn thô

đã lên men được trộn đều với một số nguyên liệu khác như bột ngô, bột sắn, khô dầu lạc hoặc khô dầu đậu tương, premix khoáng, ure, muối để tạo thành một hỗn hợp thô-tinh, sau đó được ép thành viên với đường kính từ 6-8 mm

Phương pháp đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn thô dạng viên

- Thành phần hóa học được xác định theo các phương pháp phân tích Vật chất khô: TCVN- 4326-86; Protein thô (Nx6,25)- TCVN 4328-86; Xơ thô: TCVN 4329-86; Khoáng tổng số: TCVN 4326-86; ADF, NDF xác định theo phương pháp Van Soet-1992

Trang 18

- Tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ, giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn thô viên được xác định theo phương pháp gián tiếp thông qua năng suất sinh khí (gas production) trong

24 giờ Lượng khí sinh ra (in-vitro) được xác định theo phương pháp của Menke và Steingas (1988), theo đó:

* Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (dO) được tính theo công thức: d0 = 33,71 + 0,7464 Gb

* Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (dO) của thức ăn thô viên: d0 = 37,59 + 0,7571 Gb

* Giá trị năng lượng trao đổi (ME) của rơm và cỏ voi được tính theo công thức:

ME = 1,36 + 0,139 Gb + 0,0074 XP + 0,00178 XL

Giá trị năng lượng trao đổi (ME) ME = 2,2 + 0,136 Gb + 0,057 XP

- Tỷ lệ phân giải vật chất khô trong dạ cỏ được xác định bằng việc đặt mẫu thức ăn trong túi nylon ủ trong dạ cỏ của 4 bò mổ lỗ dò: 4, 8, 16, 24, 48, 72, 96 giờ theo phương pháp của Orskov và Mc Donald (1981)

Phương pháp bố trí thí nghiệm nuôi dưỡng

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thay thế một phần thức ăn tinh bằng thức

ăn thô viên trong khẩu phần đến năng suất sữa và chất lượng sữa của bò sữa

Thí nghiệm được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, trên 20

bò cái lai vắt sữa, khối lượng bình quân 430 kg; chu kỳ sữa lứa 3-4, tháng vắt sữa 3-4, năng suất sữa bình quân lúc thí nghiệm 11-13 kg/ngày và được chia làm 2 thí nghiệm, mỗi thí nghiệm 10 con chia làm 2 lô (thí nghiệm và đối chứng), mỗi lô 5 con Thí nghiệm

I, bò ở lô đối chứng được ăn khẩu phần cơ sở: Cỏ voi (ăn tự do, khoảng 35-40 kg/c/ng), thức ăn tinh hỗn hợp (0,5 kg/kg sữa; thức ăn ủ chua (cỏ voi và cây ngô ủ chua): 2 kg/c/ngày; bã bia : 5 kg/c/ngày; ở lô thí nghiệm, bò được ăn khẩu phần tương tự như lô

đối chứng, nhưng 60% thức ăn tinh (tính theo giá trị dinh dưỡng) được thay thế bằng thức

ăn thô dạng viên (VT1) ở thí nghiệm II, cách bố trí thí nghiệm cũng tương tự như thí nghiệm I, nhưng 80% thức ăn tinh được thay thế bằng thức ăn thô dạng viên (BV1)

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thức ăn thô dạng viên trong khẩu

phần đến năng suất và chất lượng sữa của bò sữa

Thí nghiệm được tiến hành tại trại bò sữa Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (thuộc Trung tâm NC&CGTBKT chăn nuôi thành phố Hồ Chí Minh), trên 12 bò cái HF

đang vắt sữa và được chia làm 2 lô (6 con/lô), đồng đều về tuổi (từ 50-55 tháng), trọng

Trang 19

lượng cơ thể (512 kg), chu kỳ sữa III, tháng vắt sữa 1-3, năng suất sữa lúc bắt đầu thí nghiệm: 19,87 kg Bò ở 2 lô được ăn khẩu phần cơ sở như nhau, nhưng ở lô thí nghiệm, các nguyên liệu tinh + thô (12% khối lượng khẩu phần) được chế biến dưới dạng viên ở lô đối chứng các nguyên liệu thức ăn tinh + thô được cho ăn ở dạng nguyên thuỷ

Trong tháng vắt sữa đầu tiên, mỗi ngày mỗi bò sữa ở cả hai lô được ăn bổ sung 0,5

kg bột cá (55% protein thô) và 0,5 kg dầu cọ ở dạng bọc Đối với những bò sữa có sản lượng sữa trên 20 kg/ngày, cứ mỗi kg sữa từ kg thứ 21 trở lên được bổ sung thêm vào khẩu phần ăn hàng ngày 0,3 kg cám hỗn hợp (16% protein thô; 2400 Kcal ME/kg)

Các chỉ tiêu theo dõi

Sữa được cân hàng ngày (2 lần/ngày: 6h và 16h) để tính toán sản lượng sữa

Thức ăn ăn vào và thừa được cân hàng ngày để tính toán mức tiêu tốn và chi phí thức ăn cho mỗi kg sữa sản xuất

Mẫu sữa mỗi tháng được lấy 2 lần/ngày để phân tích theo dõi sự biến động của một

số chỉ tiêu: Vật chất khô, mỡ sữa và protein sữa trên máy MILKANA của Israel

Cân khối lượng của bò lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm

Xác định thành phần, giá trị dinh dưỡng theo phương pháp In Vitro của DeBova (1988) và so sánh hiệu quả sử dụng thức ăn viên theo phương pháp thí nghiệm cân bằng

3.3 Nghiên cứu 2 mô hình áp dụng đồng bộ các giải pháp tiên tiến nhằm góp phần thúc đẩy chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa

a Đối tượng nghiên cứu

- Xây dựng 2 mô hình nuôi bò sữa áp dụng đồng bộ giống, thức ăn, thú y, quản lý

- Địa điểm: 2 vùng sinh thái miền Bắc và miền Nam

b Phương pháp nghiên cứu: áp dụng đồng bộ các giải pháp giống, thức ăn, thú y, quản lý

- Cân sữa bằng cân đồng hồ hoặc cân treo và thu thập số liệu đã có của cơ sở

- Phân tích chất lượng sữa: mỡ, protein, bằng máy LactoStar, MT700, MT1000 và thu thập số liệu sẵn có của cơ sở

- Xác định kiểu gen kháng với bệnh viêm vú bò sữa theo phương pháp PCR-RFLP

- So sánh nhiệt độ và ẩm độ ảnh hưởng đến SLS ở kiểu chuồng 1 dãy và 2 dãy bằng phương pháp trực quan

Trang 20

3.4 Tính mới, tính sáng tạo và độc đáo của đề tài

Lần đầu tiên, chương trình nhân giống theo phương pháp hạt nhân mở đối với giống bò HF và HF lai được sử dụng ở nước ta Để giúp cho chương trình nhân giống bằng hạt nhân mở, nghiên cứu sử dụng chương trình DHI và giám định ngoại hình bò sữa theo Canada đã được thực hiện Đề tài đã chọn ra những bò sữa tốt cho đàn hạt nhân để từ

đó sử dụng nguồn gen quý này cho tạo chọn nhân rộng đàn có chất lượng tốt

Thử nghiệm hỗn hợp cỏ cao đạm nhập nội ở 2 vùng sinh thái miền Bắc Nam nhằm giúp cho việc cân đối tỷ lệ đậu-thảo trong thức ăn xanh cho bò sữa

Chế biến thức ăn thô dạng viên phục vụ cho chăn nuôi bò sữa là một sáng tạo độc

đáo, đặc biệt cho mùa thiếu thức ăn xanh như mùa Đông ở miền Bắc và khô ở miền Nam

Thử nghiệm các mô hình chăn nuôi bò sữa của giống HF thuần và lai với quy mô khác nhau, quản lý, thú y và bổ sung cây keo dậu vào thức ăn viên và thức ăn thô dạng viên trên vùng sinh thái miền Bắc và Nam

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Nghiên cứu quy trình nhân giống theo phương pháp đàn hạt nhân mở

Ngành chăn nuôi bò sữa của nước ta trong giai đoạn qua phát triển nhanh Để ngành chăn nuôi bò sữa phát triển nhanh chóng, bền vững và có hiệu quả kinh tế cao, công tác giống là một trong những yếu tố quan trọng nhất Một trong những giải pháp mang tính quyết định thành công của công tác giống là xây dựng hệ thống giống với mô hình hình tháp giống thích hợp Trong giai đoạn 2003-2005, Đề tài Độc lập cấp Nhà nước

ĐTĐL2003/13, trong lĩnh vực giống, đã tập trung nghiên cứu nhiều nội dung nhằm hoàn thiện mục tiêu chọn được đàn hạt nhân theo phương pháp mở và bước đầu thu được những

kết quả tốt trong việc chọn bò hạt nhân và cấp 1 để xây dựng tháp giống bò sữa

4.1.1 Thẩm định đàn bò sữa HF thuần và lai để thiết lập đàn hạt nhân và cấp 1

4.1.1.1 Tập huấn thành công hai phương pháp

Đề tài đã tổ chức tập huấn thành công phương pháp bình tuyển giám định ngoại hình và sử dụng chương trình cải thiện đàn bò sữa - DHI 54 cán bộ kỹ thuật chăn nuôi bò sữa đã được tập huấn về phương pháp giám định ngoại hình Sau khi tập huấn, hầu hết tập huấn viên nắm vững lý thuyết, có thể tổ chức thực hành bình tuyển, giám định trên đàn bò

Trang 21

của cơ sở mình Các cơ sở đã tổ chức giám định ngoại hình đàn bò của họ: cân và đo 25 chiều theo quy định được 1.409 con HF và HF lai để đánh giá chất lượng đàn bò

Đồng thời, 51 cán bộ kỹ thuật ở các cơ sở chăn nuôi bò sữa, nơi có hệ thống theo dõi tốt các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, ghi chép đầy đủ các số liệu đã được tập huấn về sử dụng phương pháp DHI Sau khi tập huấn, các thành viên đã nắm vững ý nghĩa, cách sử dụng và đã tiến hành cân đo thực tế giống bò HF thuần và lai Đặc biệt, hiểu rõ sử dụng DHI sẽ mang lại kết quả cao hơn: chất lượng được cải thiện, năng suất được nâng lên cao hơn so với trước khi thực hiện phương pháp này Để nâng cao chất lượng đối với ngành chăn nuôi bò sữa, phương pháp DHI cần phải được thực hiện Song, do kinh phí hạn chế nên phần mềm chương trình DHI chưa mua được nên chưa thực hành được

Hình 2 Hướng dẫn sử dụng chương trình giám định ngoại hình bò sữa

Các bài giảng của chương trình tập huấn được xây dựng nghiêm túc, nội dung đúng yêu cầu, hàm lượng khoa học cao: vừa chuyên sâu, vừa hiện đại, vừa khoa học của những khiến thức khoa học mới, nên học viên phấn khởi, say mê học, nắm vững lý thuyết và thực hành Sau tập huấn, đề tài đã thực hành trên các đàn hạt nhân và cấp 1 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hà Tây, Bắc Ninh, Mộc Châu và Tuyên Quang

4.1.1.2 Đã xây dựng được quy trình sử dụng chương trình cải thiện đàn bò sữa

Chương trình cải thiện đàn bò sữa (DHI) đã được thực hiện ở một số nước cho thấy chất lượng đàn bò được cải tiến và năng suất sữa được nâng cao, tạo ra được đàn bò sữa

đồng đều về ngoại hình, năng suất và chất lượng sữa cao thế nhưng, chưa được áp dụng ở nước ta Những năm gần đây, ngành chăn nuôi bò sữa của ta phát triển nhanh chóng, đến

Trang 22

việc tiếp tục chọn lọc nâng cao chất lượng là một giải pháp mang lại hiệu quả kinh tế cao lại chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy, nghiên cứu áp dụng chương trình DHI là cấp thiết trong việc phát triển ngành chăn nuôi bò sữa bền vững và có hiệu quả kinh tế cao

Quy trình được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học, kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu ở Mỹ, Canada, Đài Loan Quy trình được trình bày hệ thống, dễ hiểu, có sức thuyết phục đã đánh giá điểm mạnh, yếu của từng cá thể để từ đó xây dựng chương trình phối thích hợp nhằm cải thiện các yếu điểm và nâng cao chất lượng đàn bò

Hình 3 Hướng dẫn sử dụng chương trình DHI

Muốn phát triển ngành chăn nuôi bò sữa, chất lượng đàn bò là quan trọng nhất Để

đàn bò có chất lượng tốt, năng suất sữa cao, việc thực hiện chương trình DHI là cần thiết Căn cứ vào các điều kiện hiện có, nước ta có thể thực hiện được vì:

- Số lượng đàn bò sữa lớn: trên 107.609 con, nuôi rộng khắp các vùng sinh thái

- Đàn bò sữa đã được đeo số tai, ghi chép đầy đủ thông tin về sản lượng sữa, mỡ sữa, sinh sản: tuổi và tỷ lệ phối giống, đực giống, … cho từng cá thể

- Có đủ các loại sổ sách cần thiết để theo dõi ghi chép bò sữa ở các hộ chăn nuôi

- Có các phần mềm quản lý giống bò sữa thích hợp được áp dụng trên hầu hết các cơ

Trang 23

4.1.1.3 Xây dựng phương pháp bình tuyển giám định ngoại hình thể chất bò sữa thích hợp

Phương pháp bình tuyển giám định ngoại hình là cần thiết để tạo số liệu thô cho DHI Việc nhận biết mối quan hệ giữa hình dạng và chức năng giúp cho chọn lọc cá thể tốt để thực hiện một chức năng chuyên biệt của nó Ngoại hình bò sữa có liên quan chặt chẽ đến sức sản xuất sữa, đặc biệt liên quan rất chặt chẽ tới năng suất sữa trọn đời của bò sữa Các tính trạng ngoại hình của bò sữa được di truyền lại cho đời sau và hầu hết chúng

có giá trị về kinh tế cao nên chúng được đưa vào xây dựng các chỉ số chọn lọc giống Vì vậy, phương pháp bình tuyển giám định ngoại hình là rất cấp thiết trong sự phát triển bền vững và có hiệu quả kinh tế cao vì đó là những dự liệu cơ bản cho chương trình DHI

Phương pháp bình tuyển giám định ngoại hình thể chất bò sữa được trình bày chi tiết những cơ sở khoa học, kinh nghiệm và hệ thống phương pháp đánh giá của các quốc gia Mỹ, Canada, Đài Loan Nhóm tác giả khẳng định bình tuyển theo phương pháp của Canada là hoàn chỉnh: có hệ thống, dễ hiểu, dễ làm và hiệu quả lớn Phương pháp bình tuyển giám định ngoại hình là nền tảng để sử dụng chương trình DHI nhằm góp phần cơ bản trong việc cải tiến chất lượng và năng suất đàn bò sữa

Việc áp dụng phương pháp bình tuyển giám định ngoại hình ở Việt Nam là một đòi

hỏi cấp bách, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả ngành chăn nuôi bò sữa của nước

ta Để thực hiện được chương trình giám định, những điều cần được tiến hành:

- Thành lập Ban giám định ngoại hình thể chất bò sữa dựa vào các nhà khoa học có kiến thức di truyền giống và kinh nghiệm về bò sữa

- Xây dựng tiêu chuẩn bình tuyển giám định các tính trạng ngoại hình bò sữa cho từng cấp, từng nhóm giống và cứ 5 năm cần được hiệu chỉnh cho phù hợp

- Nhà nước cần hỗ trợ cho chương trình bình tuyển trong thời gian 10-15 năm đầu

- Nhà nước cần hỗ trợ xây dựng Dự án mô hình mẫu tháp giống hạt nhân mở bò HF

4.1.2 Kết quả về chọn bò cái cao sản để xây dựng đàn hạt nhân và đàn cấp 1

4.1.2.1 Chọn được đàn bò sữa hạt nhân và cấp 1 chất lượng tốt

Đề tài đã bình tuyển, giám định ngoại hình, thu thập số liệu và đánh giá đàn bò sữa Kết quả đã chọn được 10.750 bò cái HF và HF lai vào đàn hạt nhân và cấp 1 Như vậy, so với chỉ tiêu kế hoạch, đề tài đã làm vượt 7,5%

Trang 24

Sản lượng sữa (SLS) của đàn bò hạt nhân và cấp 1 được đề tài chọn lọc cao hơn so vơí kế hoạch, vượt từ 4% đến 29%, chứng tỏ đề tài đã tập trung sức lực, trí tuệ, kinh phí cho việc khai thác bình tuyển đánh giá và chọn được được hầu hết các cá thể tốt nhất trong cả nước vào đàn hạt nhân và cấp 1 Bảng 1 trình bày kế hoạch và thực tế thu được của đề tài.

Bảng 1 Năng suất sữa (kg/ck) của đàn hạt nhân và cấp 1

4.500 3.800 5.000 4.000 3.400

6.000 5.000 12.000 5.000 4.000

5.672 5.174 10.000 4.808 3.750

Vượt 18,16%Vượt 29,35%

Vượt 11,82%Vượt 4,16%

Hình 4 Bò sữa HF hạt nhân ở Ba Vì và Mộc Châu

Phương pháp bình tuyển giám định ngoại hình và chương trình DHI sẽ giúp cho việc xây dựng sơ đồ phối giống thích hợp nhằm cải thiện những nhược điểm của mỗi cá thể để đời con của chúng tốt hơn: ngoại hình thể chất, năng suất, chất lượng đàn bò sữa nước ta sẽ được cải thiện

Bò HF hạt nhân tại Ba Vì: 5.600kg/ck Bò HF hạt nhân tại Mộc Châu: 6.600kg/ck

Trang 25

Để thực hiện công tác giống bò sữa tốt, mỗi cá thể ở đàn hạt nhân và cấp 1 được chọn ra, hàng năm phải tiếp tục theo dõi, bổ sung năng suất sữa và tỷ lệ mỡ sữa để tiếp tục

đánh giá chọn lọc nâng cao chất lượng giống Chương trình quản lý, chọn tạo của hệ thống giống bò sữa Việt Nam có căn cứ khoa học, có thể thu được kết quả tốt từ những kết quả mang tính khởi xướng ban đầu này

4.1.2.2 Xác định giá trị giống của một số tính trạng kinh tế cơ bản của bò sữa

Để chương trình bò sữa phát triển có hiệu quả, cần nghiên cứu các đặc điểm di truyền và giá trị giống của chúng Lâm Đồng là một trong những cơ sở tốt nuôi bò HF thuần ở nước ta được đề tài đã thử nghiệm ước lượng giá trị giống về SLS và TLMS lứa

đầu nhằm tìm được những cá thể có giá trị giống phù hợp làm giống

Nghiên cứu bản chất của tính trạng SLS và TLMS trên đàn bò HF nuôi tại Lâm

Đồng cho thấy giá trị giống trung bình về SLS là 8,64kg và TLMS là 0 Như vậy, đàn bò

HF này có tiềm năng truyền lại cho đời sau về SLS cao hơn so với TLMS Hay nói cách khác, đối với tính trạng TLMS, hầu như không làm thay đổi cho đời sau

Để có đàn bò sữa chất lượng giống tốt, về mặt di truyền, cần chọn những cá thể có giá trị giống cao làm giống Giá trị giống về SLS ở nghiên cứu này cho thấy cao nhất là 507,78kg ở bò số 504 Như vậy, để tăng SLS cho đời sau, cá thể này phải được chọn làm giống Đặc biệt, trong kỹ thuật hiện đại về cấy truyền phôi, cá thể này cần được chọn làm

bò cho phôi để khai thác tối đa tiềm năng về SLS Giá trị giống cao nhất về TLMS là 0,31% ở bò số 5127, cá thể này cần được chọn làm giống để tăng TLMS cho đời sau

4.1.2.3 Xác định thành phần di truyền cộng gộp và ưu thế lai của tính trạng khối lượng sơ sinh của bò lai hướng sữa Việt Nam

Kết quả nghiên cứu về các thành phần cơ bản đóng góp vào mỗi tính trạng của tổ hợp lai là di truyền cộng gộp trực tiếp, của bố, của mẹ và các thành phần ưu thế lai trực tiếp, bố lai, mẹ lai (Bảng 2) đã khẳng định, ngoài các thành phần di truyền cộng gộp và ưu thế lai nêu trên, những thành phần ưu thế lai của ông, bà nội lai, ông, bà ngoại lai, … là không cần quan tâm trong ngành chăn nuôi vì quá nhỏ

Trang 26

Bảng 2 Giá trị di truyền cộng gộp, ưu thế lai thành phần và giá trị giống dự đoán về tính trạng khối lượng sơ sinh của bò lai hướng sữa giữa 2 giống HF và LS

Ghi chú:

- Ad HF và Ad LS là giá trị di truền cộng gộp trực tiếp của các giống HF và LS;

- Ab HF và Ab LS là giá trị hiệu ứng cộng gộp của giống bố HF và LS;

- Am HF và Am LS là giá trị hiệu ứng cộng gộp của giống mẹ HF và LS;

- Dd là ưu thế lai trực tiếp, Db là ưu thế lai của bố lai và Dm là ưu thế lai của mẹ lai

Từ giống bò sữa cao sản HF nhập nội, ta đã tạo ra các tổ hợp lai có 1/2, 1/4 và 1/8 gen bò vàng Việt Nam đã được lai cải tiến với giống bò Sind (gọi chung là Lai Sind: LS) Khối lượng của bò lai hướng sữa đã được cải thiện, năng suất sữa tăng lên, chất lượng sữa tốt và chúng được người chăn nuôi chấp nhận Để bò lai hướng sữa ổn định, từng bước chọn lọc, nâng cao năng suất và chất lượng, tạo thành một giống bò sữa thích hợp với điều kiện nóng, ẩm ở nước ta, việc xác định khối lượng là quan trọng Để đàn bò có khối lượng lớn, khối lượng sơ sinh (Pss) của bò lai là yếu tố quan trọng vì bê sơ sinh lớn thì sinh trưởng phát triển nhanh, bò to khoẻ thì năng suất mới có thể cao

Trong nghiên cứu về Pss của bò lai hướng sữa, xác định thành phần di truyền và ưu thế lai trong các tổ hợp lai nhằm xác định thành phần quan trọng để chọn tạo giống bò sữa thu được kết quả tốt nhất Hơn nữa, thực tế ở nước ta, vấn đề sử dụng ưu thế lai thành phần phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nhất là trong chăn nuôi, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Trước tình hình đó, đề tài đã nghiên cứu và thu được một số kết quả

Giá trị di truyền cộng gộp trực tiếp của mỗi tính trạng là bản chất di truyền của mỗi giống đóng góp trực tiếp cho mỗi cá thể Giá trị di truyền cộng gộp trực tiếp của tính trạng Pss của bò lai hướng sữa Việt Nam là 22kg đối với giống LS và 33kg đối với HF

Trang 27

Giá trị di truyền cộng gộp của bố về Pss là -0,5kg đối với giống LS và 0,5kg đối với HF Như vậy, mỗi cá thể của tổ hợp lai nếu bố là LS thì Pss sẽ bị giảm đi 0,5kg và bố là HF sẽ tăng 0,5kg Điều này phản ảnh đúng với thực tế: LS là giống bò có tầm vóc cơ thể nhỏ và

HF là giống bò to lớn Giá trị di truyền cộng gộp của mẹ về Pss biểu thị xu hướng của bố,

đó là -1,0kg đối với LS và 1,0kg đối với HF Như vậy, gen tác động vào tính trạng Pss của

bò lai hướng sữa của giống HF cao hơn hẳn so với gen giống LS

Ưu thế lai trực tiếp (Dd) là giá trị ưu thế lai được tạo trực tiếp bởi chính các cá thể lai Mỗi cá thể lai được thừa hưởng một tỷ lệ nhất định của giá trị Dd Giá trị Dd về Pss ở

đề tài này là 4,0kg Giá trị ưu thế lai thành phần của bố lai (Db) là giá trị ưu thế lai được tạo ra của bố lai và ở đề tài này là 1,3kg Kết quả này cho thấy, trong công tác giống chăn nuôi, do ta chưa sử dụng đực giống lai nên giá trị Db chưa được khai thác, dẫn đến làm giảm năng suất, giảm hiệu quả kinh tế ngành chăn nuôi Như vậy, bất cứ tổ hợp lai nào khi sử dụng 2 giống LS và HF nếu bố là tổ hợp lai đều được hưởng một tỷ lệ 5,45% về Pss Giá trị ưu thế lai thành phần của mẹ lai (Dm) là giá trị ưu thế lai được tạo ra của mẹ lai và ở đề tài này là 1,1kg (4,0%) Như vậy, bất cứ tổ hợp lai nào khi sử dụng 2 giống LS

và HF nếu mẹ là tổ hợp lai được hưởng tỷ lệ 4,0% về Pss

Ưu thế lai tổng cộng bằng tổng các ưu thế lai thành phần và trong nghiên cứu này

là tổng của Dd (4,0kg), Db (1,3kg) và Dm (1,1kg), chiếm 23,3%, nói lên rằng tất cả các cá thể của F1 đều tăng 4,0kg so với trung bình bố mẹ vì chúng được hưởng 100% Dd Trong khi đó, tổ hợp lai phản hồi với HF của HFxLS, do chỉ có 50% ưu thế lai của Dd, nên ưu thế lai tổng cộng chỉ đạt 9,45% vì chỉ có 5,45% từ Dd và 4,0% của Dm

Tổ hợp lai 2 giống tạo bởi 3/4 tự giao có 25% Dd (1 kg) và 50% Db (0,65kg) và 50% Dm (0,55kg) Như vậy, các tổ hợp lai tạo bởi phương pháp tự giao có 2,2kg (8,0%)

về Pss cao hơn so với trung bình bố mẹ Ưu thế lai giữa 2 giống HF và LS cao có thể do

khoảng cách di truyền giữa chúng lớn vì có gốc tích xa nhau giống LS thuộc Boss Indicus

và HF thuộc Boss Taurus

Từ các giá trị thành phần di truyền cộng gộp và ưu thế lai thu được làm cơ sở xác

định giá trị giống dự đoán cho bất kỳ tổ hợp lai nào giữa 2 giống LS và HF Giá trị giống

dự đoán về Pss của LS, HF và các tổ hợp lai giữa chúng nuôi ở ta là 22,0kg (LS), 34,5kg (HF), 30,5kg (F ), 32,2 (F ), 33,7kg (3/4HF) và 34,2kg (7/8HF) Kết quả này đạt 94,5-

Trang 28

99,0% so với giá trị thực tế Như vậy, phương pháp xác định giá trị giống dựa vào thành phần di truyền cộng gộp và ưu thế lai là chuẩn xác và có thể áp dụng cho sản xuất

Như vậy, để nâng cao Pss của bò lai hướng sữa, cần khai thác và sử dụng tối đa các thành phần di truyền cộng gộp và ưu thế lai trực tiếp, bố lai và mẹ lai Ưu thế lai trực tiếp

đóng vai trò quan trọng nhất vào Pss (14,54%), trong lúc đó ưu thế lai của bố lai và mẹ lai chỉ có 5,45% và 4,0%

4.1.2.4 Kết quả ứng dụng ưu thế lai thành phần phục vụ công tác giống

Để biết được nên sử dụng giống nào hay tổ hợp lai nào làm bố, làm mẹ sẽ mang lại năng suất cao nhất đòi hỏi phải xác định được các thành phần cơ bản đóng góp vào các tổ hợp lai Ngoài thành phần di truyền cộng gộp, các thành phần ưu thế lai: trực tiếp, bố lai

và mẹ lai cũng đóng góp quan trọng cho việc tạo nên năng suất của các tổ hợp lai

Tổ hợp lai F1 hoặc tổ hợp lai 3 giống đời thứ nhất được hưởng trọn vẹn 100% ưu thế lai trực tiếp, trong khi đó, ở các tổ hợp lai khác như cá thể lai ở phép lai phản hồi lần thứ nhất hoặc F2, chỉ được thừa hưởng 50% của ưu thế lai trực tiếp Tương tự, bố lai hoặc

mẹ lai F1 đóng góp 100% ưu thế lai của cá thể lai đó cho tổ hợp lai mà do chính nó tạo ra

Ưu thế lai tổng cộng của bất kì tổ hợp lai nào cũng bằng tổng các ưu thế lai thành phần Công thức tính như sau:

ƯTLTổng cộng = ∑ƯTLThành phần = ƯTLTrực tiếp + ƯTLBố lai + ƯTLMẹ lai + …

Sử dụng các thành phần cơ bản đóng góp cho cá thể lai để dự đoán giá trị giống các tổ hợp lai khác nhau chưa khảo nghiệm dưới mô hình ưu thế lai là một trong những phương pháp dự đoán giá trị giống chính xác Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị giống

dự đoán của các tổ hợp lai đạt 93-99% so với giá trị thực tiễn Như vậy, có thể sử dụng các giá trị di truyền cộng gộp và ưu thế lai thành phần để dự đoán giá trị giống của bất cứ

tổ hợp lai nào khi ta muốn tạo

Như vậy, để có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi, trước hết phải chọn lọc gia súc thuần thật tốt để từ đó tạo ra sản phẩm lai có ưu thế lai cao nhất Đối với các tính trạng sinh sản và sản xuất có hệ số di truyền thấp, cần khai thác ưu thế lai vì chọn lọc không có hiệu quả cao Gia súc nuôi thịt nên sử dụng các tổ hợp lai,

Trang 29

đặc biệt là lai từ 3 giống trở lên Cần lưu ý rằng, không những sử dụng gia súc cái lai mà phải sử dụng cả đực lai trong hệ thống lai tạo giống để khai thác tối đa ưu thế lai của chúng nhằm mang lại năng suất vật nuôi và hiệu quả kinh tế cao

4.1.2.5 Khả năng sản xuất sữa của bò lai hướng sữa Việt Nam

Bò sữa Việt Nam chủ yếu là HF lai, chiếm 87% Những năm qua, với kỷ thuật chăn nuôi và công tác giống ngày một tốt hơn, SLS của bò lai hướng sữa đã nâng lên rõ rệt Để góp phần đánh giá chính xác SLS, đề tài đã khảo sát khả năng sản xuất sữa của bò

lai hướng sữa Việt Nam nhằm mục tiêu xác định SLS theo từng chu kỳ, tháng sữa, đơn vị

thể trọng ở 2 vùng Bắc Bộ và Nam Bộ làm cơ sở chọn lọc đàn hạt nhân chất lượng tốt góp phần xây dựng hệ thống bò lai hướng sữa thích hợp với điều kiện sinh thái, từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế ngành chăn nuôi bò sữa của nước ta

Phân tích 7.872 con bò lai hướng sữa của 2 vùng sinh thái, gồm 5.311 con 75%HF, 1.448 con 50%HF, 731 con 87,5%HF, 284 con 62,5%HF và 98 con >87,5%HF; vùng miền Nam có 5.765 con (73,23%) cao hơn so với vùng miền Bắc, chỉ 2.107 con, cho thấy:

- Tuổi đẻ đầu của bò lai hướng sữa là 899,3 ngày

- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của bò lai hướng sữa tương đối tốt: lứa 1-2 là 419,6 ngày; lứa 2-3 là 370,8 ngày; lứa 3-4 và 7-8 là 500 ngày Kết quả ở nghiên cứu này thấp hơn

so với 529-537 ngày trên đàn bò lai hướng sữa 3/4 và 5/8HF nuôi tại Ba Vì (Nguyễn Kim Ninh và cộng sự, 1994)[34]

- SLS theo chu kì cao nhất ở nhóm 62,5%HF (4.265kg/ck), tiếp theo là nhóm 75%HF (4.220kg/ck) và thấp nhất là nhóm 50%HF (3.790kg/ck) SLS ở vùng sinh thái Nam bộ (4.338kg/ck) cao hơn rõ rệt so với Bắc bộ (3.925kg/ck)

- SLS theo lứa có sự khác nhau rõ rệt Lứa 1 là 3.829kg, tăng lên ở lứa 2 (4.078kg),

đạt đỉnh cao nhất ở lứa 3 (4.225kg) và giảm dần từ lứa 4 (4.121kg), lứa 5 (4.132kg), lứa 6 (4.016kg), lứa 7 (4.002kg), song không khác nhau rõ rệt và thấp nhất ở lứa 8 (3.614kg)

- NSS ngày của tháng sữa thứ nhất là 13,95kg/ngày, tăng lên đến đỉnh ở tháng thứ

3 (15,55kg/ngày), sau đó giảm dần ở các tháng sữa tiếp theo và thấp nhất ở tháng thứ 9-10 (7,03kg/ngày) Kết quả ở nghiên cứu này phù hợp quy luật chung của bò sữa là NSS cao nhất ở tháng sữa thứ 3

Trang 30

Hiện nay, xu hướng đánh giá chất lượng bò sữa dựa trên NSS/100kg thể trọng vì đó mới thực sự là thước đo hiệu quả kinh tế Kết quả nghiên cứu này trên cả 2 vùng là 1013kg Khi so sánh giữa hai vùng cho thấy NSS/100kg thể trọng ở Nam Bộ (1049kg) cao hơn so với Bắc Bộ (975,2kg), chứng tỏ bò lai hướng sữa Việt Nam có chất lượng tốt

4.1.2.6 Đánh giá đặc điểm di truyền và tương quan của một số tính trạng kinh tế

Giống bò nội tuy chịu đựng kham khổ, chống chịu bệnh tốt, song tầm vóc nhỏ, năng suất sữa thấp, dẫn đến nuôi chúng không có hiệu quả kinh tế cao Để giải quyết những khiếm khuyết đó, nhập giống bò sữa HF cao sản để cải tạo bò nội là một giải pháp Song, do khí hậu nóng ẩm, kỹ thuật và điều kiện nuôi dưỡng chưa tốt nên bò nhập nội chưa mang lại kết quả cao

Lai tạo bò nội đã cải tiến với HF được nghiên cứu trong nhiều năm qua, mang lại những thành công nhất định Một số tổ hợp lai giữa chúng như F1, F23/4HF, F37/8HF có năng suất sữa thích hợp, chất lượng sữa tốt nên người chăn nuôi đã chấp thuận vì mang lại

hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, công trình khoa học “Tạo bò lai hướng sữa Việt Nam” đã

được tặng Giải thưởng KHCN Nhà nước (2000) Để bò lai hướng sữa phát triển tốt, xác

định mối tương quan giữa các tính trạng khối lượng, tuổi đẻ đầu; sản lượng và chất lượng

sữa để xác định phương thức chọn lọc hữu hiệu nhất là một trong những mục tiêu đề tài

Số liệu của 1.764 bê cái và 3.278 bò sữa đã vắt sữa lứa đầu của các cơ sở có bò lai hướng sữa F1, F23/4 và F37/8HF, sinh từ 1995 đến 2005, có phả hệ, khoẻ mạnh tại Ba Vì,

Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Tây, Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai được

sử dụng cho nghiên cứu này cho thấy:

- Hệ số di truyền về Pss, P12, P24 và P đẻ lứa đầu của bò lai hướng sữa là 0,34±0,13; 0,33±0,11; 0,31±0,10; 0,31±0,14, chứng tỏ chọn lọc sẽ mang lại hiệu quả vì mức độ biến

động lớn của hệ số di truyền và độ lệch chuẩn Hệ số di truyền về SLS và TLMS của bò lai hướng sữa là 0,30±0,10 và 0,33±0,12

- Hệ số tương quan di truyền giữa Pss với P12 và P24 chặt chẽ (0,54-0,60) và âm với tuổi để đầu, chứng tỏ chọn bò Pss cao sẽ nâng cao khối lượng trong thời kì sinh trưởng và

đẻ sớm hơn bò có khối lượng nhỏ Pss không ảnh hưởng đến SLS (rg=0,22-0,27) và TLMS (rg=0,05 0,10) Vì vậy, có thể khẳng định bò đẻ sớm có hiệu quả kinh tế cao hơn bò đẻ

Trang 31

muộn vì SLS đời hữu ích cao SLS biểu thị mối tương quan rất cao, chặt chẽ, âm với TLMS (rg=-0,93), chứng tỏ chọn lọc theo phương pháp độc lập đạt hiệu quả cao

Bảng 3 Hệ số di truyền (in đậm), tương quan di truyền giữa khối lượng, tuổi đẻ đầu,

sản lượng sữa (SLS) và tỷ lệ mỡ sữa bò lai hướng sữa Việt Nam

4.1.2.7 Xếp cấp và đánh giá khả năng cho sữa của bò HF nuôi ở Mộc Châu

Giống bò sữa HF Cu Ba, nhập vào nước ta (1972), nuôi ở Mộc Châu, trải qua một giai đoạn dài đến nay đã ổn định, phát triển và có tiến bộ nhiều về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật Tổng đàn hiện nay là 3.200 con, trong đó, bò cái sinh sản là 2.375 con (74,2%) Pss, P6, P12 là 34,3; 134,8 và 274,1kg Tuổi phối giống và đẻ lứa đầu là 27,9 và 18,3 tháng với P tương ứng là 337,3 và 423kg

Về sinh sản, tỷ lệ phối giống có chửa đạt 60%; tỷ lệ đẻ trên 80%; khoảng cách giữa

2 lứa đẻ là 14,06 tháng; tỷ lệ nuôi sống đến 12 tháng và đến phối giống là 93,6 và 90,8%

SLS chu kỳ 305 ngày trung bình là 5.186kg (2004-2005) và TLMS là 3,36%

Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu phân cấp, xác định chất lượng giống bò HF Cu Ba nuôi ở Mộc Châu để xây dựng hệ thống giống Vì vậy, Đề tài Độc lập cấp Nhà nước giai đoạn 2003-2005 đã nghiên cứu vấn đề đó Trong tổng số 2.375 con bò cái sinh sản, đề tài xếp cấp được 1.125 cái, chiếm 47,37% Kết quả bước đầu thu được:

- Tiêu chuẩn xếp cấp ngành tạm thời cho thấy tỷ lệ bò đạt cấp kỷ lục và đặc cấp quá cao (>72%) là không hợp lý Căn cứ vào sự phân cấp dựa vào SLS bò HF của Anh, Mỹ, Pháp, Canada (6000-8000 kg/chu kỳ) đề tài xây dựng tiêu chuẩn mới để so sánh được trình bày cụ thể tại Bảng 4:

Trang 32

Bảng 4 Tiêu chuẩn tạm thời của Việt Nam và tiêu chuẩn mới xây dựng của đề tài Tiêu chuẩn tạm thời của Việt Nam Tiêu chuẩn mới xây dựng của đề tài

Kỷ lục Cao hơn 5.500 kg/chu kì Kỷ lục Cao hơn 6.000 kg/chu kì

Kết quả xếp cấp của 804 bò HF trong đề tài ở Mộc Châu cho thấy tiêu chuẩn mới của đề tài hợp lý hơn áp dụng xếp cấp 1.125 bò cái vắt sữa ở Mộc Châu theo tiêu chuẩn mới cho thấy đàn hạt nhân có 599 con (đặc cấp kỷ lục: 19,91%; đặc cấp: 33,33%), chứng

tỏ bò HF nuôi ở Mộc Châu đã thích nghi, ổn định và khi được phối giống với đực giống cao sản với tiềm năng sữa 12.000-14.000 kg/chu kỳ, chất lượng giống được nâng lên rõ rệt và SLS cao So với chỉ tiêu xếp cấp bò HF, đề tài vượt 23,95%

Bò cái đạt cấp kỷ lục có khối lượng cao (518,86kg), SLS/100kg thể trọng cũng cao nhất (1.300kg), giảm dần và thấp nhất ở bò cấp 2 và ngoại cấp Đây là một kết luận quan trọng cho ngành chăn nuôi bò sữa: những bò cái HF ở vùng Mộc Châu được nuôi dưỡng chăm sóc tốt, đã sinh trưởng phát triển tốt, đạt khối lượng cao và sản lượng sữa lớn

Bảng 5 Khả năng sản xuất sữa của bò HF nuôi ở Mộc Châu

Thông số ĐC kỷ lục Đặc cấp Cấp 1 Cấp 2 Ngoại cấp Toàn đàn

Khối lượng bò (kg) 518,56 489,03 469,02 443,77 423,25 483,57 SLS/chu kỳ (kg) 6.814,47 5.431,14 4.588,11 3.810,83 3.075,16 5.162,65

SLS/100kgP (kg) 1.314,12 1.110,59 978,23 858,74 726,56 1.067,61

Phân tích 1.125 bò cái HF nuôi tại Mộc Châu cho thấy SLS/100kg thể trọng là 1.067kg và TLMS là 3,36% Đối với SLS/100kg thể trọng vượt trên 1.000kg là bò sữa đạt chất lượng tốt Sở dĩ, SLS/100kg đạt trên 1.000 kg sữa vì tỷ lệ bò cấp 2 và ngoại cấp thấp (6,5%), chứng tỏ công tác chọn giống hàng năm được chú ý và làm tốt SLS đạt 5.163kg/ck, có nghĩa khi xếp cấp đạt đặc cấp 5.001-6.000kg/ck, nói lên chất lượng giống

Trang 33

bò HF nuôi ở Mộc Châu, nơi có điều kiện khí hậu thời tiết thích hợp (nhiệt độ bình quân

là 210C, độ ẩm là 75-80%) đã đi vào thế ổn định đạt năng suất cao

Tiêu chuẩn xếp cấp theo tiêu chuẩn mới của đề tài: bò cái đạt cấp kỷ lục có 224 con (19,91%), đặc cấp (5.000-6.000kg/ck) có 375 con (33,33%) và cấp 1 (4.001-5.000kg/ck) có 453 con (40,27%) Như vậy, tỷ lệ bò HF hạt nhân và cấp 1 nuôi tại Mộc Châu chiếm 93,51%, chứng tỏ giống bò sữa HF nuôi ở vùng này đã thích nghi, ổn định, khi được phối giống với đực giống cao sản (tiềm năng sữa 12.000-14.000kg sữa/chu kỳ), chất lượng giống được nâng lên rõ rệt và cho năng suất cao

Cao nguyên Mộc Châu là vùng địa lý sinh thái lý tưởng cho bò sữa cao sản HF, có

đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề trải qua gần 35 năm xây dựng, hiện có

518 hộ giàu kinh nghiệm gắn bó với nghề chăn nuôi bò sữa đã xây dựng được đàn bò sữa

có sản lượng sữa cao gắn với kinh tế hộ trong thời gian vừa qua Như vậy, giống bò sữa

HF nuôi tại Mộc Châu đã hội tụ đủ điều kiện để xây dựng hệ thống giống hạt nhân mở ở cao nguyên Mộc Châu cho giống bò sữa thuần ôn đới cao sản HF ở Việt Nam

4.1.2.8 Khả năng sinh trưởng, sinh sản, sản xuấtcủa bò tạo ra từ phôi và tinh nhập nội

Đề tài đã nghiên cứu đàn bê sinh ra từ phôi đông lạnh nhập nội (62 con) và tinh nhập nội (280 con), rút ra kết luận Pss là 30,68 kg và 28,62kg P bê cái 6 tháng tuổi là 186,12kg và 177,79kg Theo tiêu chuẩn đánh giá sinh trưởng của bò HF là 155-230kg lúc

6 tháng P12 tháng là 308,61 và 276,80kg, tương ứng ở đàn bò Mỹ ở Ba Vì là 272kg

Tuổi phối giống lần đầu ở bò HF sinh ra từ phôi là 17,0 tháng và tinh nhập nội là 16,93 tháng với khối lượng tương ứng là 342,4kg và 294,6 kg

Tuổi và khối lượng bò HF sinh ra từ phôi nhập nội lúc đẻ lứa đầu là 27,8 và 433,9

kg và bò sinh ra từ tinh nhập nội là 27,6 tháng và 383,03kg

Thời gian cho sữa của bò HF sinh ra từ phôi và từ tinh là 325,21 và 322,51 ngày Khoảng cách giữa hai lứa đẻ của đàn bò HF sinh ra từ phôi và từ tinh nhập nội là 445,26 ngày và 432,2 ngày Khoảng cách giữa hai lứa đẻ của đàn bò sinh ra từ phôi và từ tinh nhập nội thấp hơn so với đàn HF nhập nội từ Mỹ, nuôi ở Ba Vì là 18,5 tháng (555 ngày) và nuôi ở Mộc Châu là 16,6 tháng (498 ngày)

Trang 34

Sản lượng sữa 305 ngày lứa đầu của đàn bò HF sinh ra từ phôi và tinh nhập nội ở lứa sữa đầu là 4.636kg và 3.874kg Sản lượng sữa 305 ngày của đàn bò HF sinh ra từ phôi

và tinh nhập nội cao hơn so với đàn bò HF nhập từ Mỹ nuôi ở Ba Vì (4.273kg)

Tỷ lệ mỡ sữa ở đàn bò HF sinh ra từ phôi và từ tinh là 3,64 và 3,66%

Tỷ lệ đạm sữa tương ứng là 3,45; 3,49 và 3,24%

Tỷ lệ đường lactoze trong sữa ở đàn bò HF sinh ra từ phôi và từ tinh là 4,9 và 5,1%

Tỷ lệ vật chất khô (VCK) của sữa tương ứng là 8,84 và 9,03%

Rõ ràng, đàn bò sinh ra từ tinh và phôi cao sản nhập nội bước đầu là tốt, cần tiếp tục theo dõi để chọn vào đàn hạt nhân

4.1.2.9 Kết quả chọn bò HF thuần và lai vào hạt nhân và cấp 1

Đàn bò sữa của nước ta trong giai đoạn 2000-2005 tăng nhanh về số lượng, chất lượng cũng được cải thiện dẫn đến năng suất và hiệu quả kinh tế tăng lên rõ rệt Để chất lượng đàn bò sữa được nâng cao hơn, việc xây dựng tháp giống bằng hạt nhân mở để quản

lý và chọn lọc là vô cùng quan trọng Muốn xây dựng được tháp giống bò sữa tốt, chọn bò chất lượng tốt vào đàn hạt nhân là bước quyết định Vì vậy, đề tài đã xây dựng mục tiêu chọn đàn bò sữa vào hạt nhân và cấp 1 nhằm hoàn thiện tháp giống để quản lý, chọn lọc

và nhân thuần nâng cao chất lượng bò sữa và hiệu quả kinh tế

a Bò HF thuần

Giai đoạn 2003-2005, trong tổng số 16.309 bò cái HF thuần nuôi trong phạm vi của cả nước, Đề tài độc lập cấp Nhà nước (ĐTĐL2003/13) đã bình tuyển, giám định ngoại hình, thu thập số liệu để đánh giá và kết quả chọn được 2.708 con có chất lượng tốt

về ngoại hình và năng suất sữa cao vào đàn hạt nhân và cấp 1 Chất lượng đàn bò HF được bình tuyển, chọn vào đàn hạt nhân và cấp 1 tương đối tốt về hình dáng, màu sắc, năng suất sữa, chất lượng sữa và khối lượng cơ thể

Bảng 6 Đàn bò cái HF được bình tuyển, giám định vào hạt nhân và cấp 1

Trang 35

Tuổi đẻ lứa đầu của bò HF được chọn vào hạt nhân và cấp 1 tren cả nước ta là

29,89 tháng; khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 14,31 và 13,93 tháng, tương ứng với các lứa

đẻ 1-2 và 2-3 Khối lượng trung bình của đàn bò HF hạt nhân và cấp 1 nuôi tại Việt Nam

là 477, 531 và 573kg, tương ứng với các lứa đẻ thứ nhất, hai và ba Sự sai khác của các giá

trị trung bình giữa HF thuần và lai của đàn hạt nhân và cấp 1 về các tính trạng tuổi đẻ lứa

đầu, khoảng cách giữa hai lứa đẻ và khối lượng ở các lứa là rõ rệt (P<0,01)

Bảng 7 Tuổi đẻ đầu, khối lượng và khoảng cách lứa đẻ của bò HF hạt nhân và cấp 1

con/mẫu

Trung bình SE

Thấp nhất

Cao nhất

Khoảng cách giữa lứa đẻ 1-2 (tháng) 1.003 14,31 0,115 9,17 37,4

Khoảng cách giữa lứa đẻ 2-3 (tháng) 701 13,93 0,11 9,47 30,20

Sản lượng sữa của đàn bò HF được chọn vào đàn hạt nhân và cấp 1 trên cả nước

của 3 lứa sữa đầu là 5.061, 5.310 và 5.664kg/chu kỳ, lứa 3 cao nhất, tiếp đến là lứa 2 và

thấp nhất ở lứa 1, chứng tỏ giống HF nuôi ở ta thể hiện đúng bản chất sinh học về khả

năng tiết sữa của chúng Mức độ chênh lệch nhau về sai số chuẩn của sản lượng sữa ở các

lứa sữa thấp, chứng tỏ năng suất sữa của đàn bò HF nuôi tại Việt Nam tương đối ổn định

Đối với tỷ lệ mỡ và tỷ lệ protein sữa của bò HF được chọn vào đàn hạt nhân và cấp 1

nuôi ở nước ta tương đối ổn định và đạt chất lượng tốt ở các đàn và các lứa sữa khác nhau,

biến động từ 3,45 đến 3,47% đối với mỡ sữa và 3,10 đến 3,16% đối với Protein sữa Kết quả

này tuy thấp hơn so với bò HF lai, nhưng tương đương với bò HF nuôi ở các nước trên thế

giới

Phân tích theo các chỉ tiêu về tuổi đẻ lứa đầu, khối lượng cơ thể của mỗi lứa đẻ,

khoảng cách giữa 2 lứa đẻ, sản lượng sữa, tỷ lệ mỡ sữa và tỷ lệ protein sữa của đàn bò HF

theo sự cấp hạt nhân và cấp 1 cho thấy cả 2 đàn hạt nhân và cấp 1 tương đối tốt về hầu hết

các chỉ tiêu

Trang 36

B¶ng 8 C¸c chØ tiªu sinh s¶n, khèi l−îng, s¶n l−îng vµ chÊt l−îng s÷a

Trang 37

Phân tích sâu về sản lượng và chất lượng của HF hạt nhân và cấp 1 cho thấy chất lượng đàn bò sữa là thích hợp

Bảng 9 Sản lượng sữa và chất lượng sữa của đàn bò HF hạt nhân và cấp 1

Cao nhất

b Bò Holstein Friesian lai

Trong 3 năm, 2003-2005, đề tài đã bình tuyển, giám định, đánh giá chọn được 8.042 bò lai hướng sữa có tỷ lệ nguồn gen HF từ 50 đến 87,5% và trên 87,5% trong cả nước vào đàn hạt nhân và cấp 1 Trong số đó, nhóm bò F1 có 1.163 con, nhóm F23/4HF có

số lượng cao nhất: 5.879 con, F37/8HF có 807 con và trên F37/8HF chỉ có 78 con Do số lượng bò lai nhóm trên F37/8HF quá ít, chúng không được đề cập đến trong báo cáo này

Tuổi đẻ lứa đầu đối với bò sữa là chỉ tiêu quan trọng Tuổi đẻ lứa đầu bò HF lai

được chọn vào đàn hạt nhân và cấp 1 của nước ta tương đối tốt: nhóm F23/4HF có tuổi đẻ lần đầu nhỏ nhất, chỉ có 26,78 tháng và cao nhất ở nhóm F3 , đólà 27,56 tháng

Trang 38

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ đối với bò sữa cũng là chỉ tiêu quan trọng vì khoảng

cách càng dài thì năng suất sữa/ngày trung bình càng thấp và hiệu quả kinh tế càng kém

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ của bò HF lai hạt nhân và cấp 1 tốt: F23/4HF, chỉ biến động

trong phạm vi 14,05-15,92 tháng, thấp hơn so với các nhóm F1 và F37/8HF (Bảng 10)

Bảng 10: Tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa các lứa đẻ (tháng) của bò HF lai

Chỉ tiêu Nhóm Số con Trung bình SE Thấp nhất Cao nhất

Trang 39

Khối lượng trung bình (kg) qua các lứa đẻ của các nhóm bò HF lai đàn hạt nhân và

cấp 1 biến động từ 363,74; 368,15; 382,44kg ở lứa 1, tăng lên 374,02; 397,02; 401,18kg ở

lứa 2, tăng lên 381,80; 416,41; 417,31kg và đạt mức độ tương đối ổn định ở lứa đẻ thứ 4,

đó là 402,25; 437,50; 440,23kg đối với F1, F23/4HF; F37/8HF Khối lượng ở lứa đẻ 4, F1

thấp nhất (402,25 kg); tăng lên ở F23/4HF (437,50kg) và F37/8HF, đó là 440,23kg Sự sai

khác giữa 2 nhóm bò lai F23/4HF và F37/8HF không rõ rệt

Bảng 11: Khối lượng về 8 lứa đẻ đầu của các nhóm bò lai HF hạt nhân và cấp 1

Trang 40

Sản lượng sữa trung bình 3 nhóm bò lai F1, F23/4HF và F37/8HF hạt nhân và cấp 1

là 4.371; 5.131 và 4.619kg/chu kỳ, tính theo đơn vị khối lượng 100kg thể trọng cho thấy

nhóm F23/4HF đạt cao nhất, đó là 1.233kg/100kg thể trọng, tiếp đó là nhóm F1 đạt

1.145kg/100kg thể trọng và thấp nhất ở nhóm F37/8HF, chỉ đạt 1.107kg/100kg thể trọng

Kết quả này cho thấy, trong điều kiện chăn nuôi hiện tại và môi trường sinh thái nhiệt đới

nóng ẩm của nước ta, nhóm bò lai F23/4HF cho hiệu quả cao nhất

Sản lượng sữa của các lứa sữa đàn bò HF lai hạt nhân và cấp 1 trên cả nước tăng

dần từ lứa đầu và cao nhất ở lứa 3-4 và sau đó giảm dần cho đến lứa sữa thứ 8-9 Đối với

đàn HF lai hạt nhân, từ lứa sữa 1 là 5.149kg/chu kỳ, tăng lên ở lứa 2 và 3, đó là 5.318 và

5.319kg/chu kỳ, sau đó, giảm dần từ lứa 4 (5,234kg/chu kỳ), tiếp theo lứa 5, 6 và 7, đó là

4.873; 4.740 và 4.695kg/chu kỳ và giảm xuống thấp nhất ở lứa 8, đó là 4.340kg/chu kỳ

Tương tự, ở đàn cấp 1, sản lượng sữa/chu kỳ tương ứng là 3.730; 3.712; 3.793; 3.786;

3.841; 3.787; 3.703 và 3.384kg/chu kỳ Kết quả này chứng tỏ, SLS của bò lai hướng sữa

HF của ta phù hợp với điều kiện môi trường chăn nuôi bò sữa nhiệt đới nước ta trong giai

đoạn hiện nay

Sản lượng sữa của các nhóm bò HF lai có tỷ lệ nguồn gen HF khác nhau cũng khác

nhau: bò F23/4HF đạt cao nhất và thấp nhất ở nhóm F1 Kết quả này chứng tỏ, SLS của bò

lai hướng sữa F23/4HF của ta phù hợp với điều kiện môi trường chăn nuôi bò sữa nhiệt đới

trong giai đoạn này

Bảng 12: Sản lượng sữa (kg/ck) của các nhóm bò lai HF hạt nhân và cấp 1

Một đều rất quan tâm đối với ngành chăn nuôi bò sữa là cuộc xác định được đời

hữu ích của nó Đối với bò lai HF hướng sữa Việt Nam, đời hữu ích thường kéo dài và

mức độ ổn định của các lứa sữa khá cao, sự chênh lệch giữa các lứa sữa không lớn Đây là

một đặc điểm và chính là một lợi thế của bò lai hướng sữa Việt Nam Chi tiết về 8 lứa sữa

đầu của hai đàn bò lai hướng sữa Việt Nam được chọn vào hạt nhân và cấp 1 được trình

bày tại Bảng 13

Ngày đăng: 26/01/2016, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3. H−ớng dẫn sử dụng ch−ơng trình DHI - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Hình 3. H−ớng dẫn sử dụng ch−ơng trình DHI (Trang 22)
Bảng 1. Năng suất sữa (kg/ck) của đàn hạt nhân và cấp 1 - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 1. Năng suất sữa (kg/ck) của đàn hạt nhân và cấp 1 (Trang 24)
Bảng 8. Các chỉ tiêu sinh sản, khối l−ợng, sản l−ợng và chất l−ợng sữa - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 8. Các chỉ tiêu sinh sản, khối l−ợng, sản l−ợng và chất l−ợng sữa (Trang 36)
Bảng 9. Sản l−ợng sữa và chất l−ợng sữa của đàn bò HF hạt nhân và cấp 1 - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 9. Sản l−ợng sữa và chất l−ợng sữa của đàn bò HF hạt nhân và cấp 1 (Trang 37)
Bảng 10: Tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa các lứa đẻ (tháng) của bò HF lai - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 10 Tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa các lứa đẻ (tháng) của bò HF lai (Trang 38)
Bảng 11: Khối l−ợng về 8 lứa đẻ đầu của các nhóm bò lai HF hạt nhân và cấp 1 - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 11 Khối l−ợng về 8 lứa đẻ đầu của các nhóm bò lai HF hạt nhân và cấp 1 (Trang 39)
Bảng 13: Sản lượng sữa (kg/ck) của các lứa đẻ theo phân cấp của bò lai HF ở nước ta - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 13 Sản lượng sữa (kg/ck) của các lứa đẻ theo phân cấp của bò lai HF ở nước ta (Trang 41)
Hình 5. Hổn hợp cỏ cao đạm - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Hình 5. Hổn hợp cỏ cao đạm (Trang 54)
Hình 6: Hội đồng nghiệm thu Quy trình trồng hỗn hợp cỏ cao đạm - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Hình 6 Hội đồng nghiệm thu Quy trình trồng hỗn hợp cỏ cao đạm (Trang 56)
Bảng 19: Tỷ lệ phân giải vật chất khô sau 48 giờ ủ trong dạ cỏ và sản l−ợng khí sinh - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 19 Tỷ lệ phân giải vật chất khô sau 48 giờ ủ trong dạ cỏ và sản l−ợng khí sinh (Trang 59)
Bảng 20: Tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ và năng l−ợng trao đổi của một số thức ăn thô - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 20 Tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ và năng l−ợng trao đổi của một số thức ăn thô (Trang 61)
Bảng 23: Tần số alen BoLA-DRB3 của bò HF nuôi ở Việt Nam - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Bảng 23 Tần số alen BoLA-DRB3 của bò HF nuôi ở Việt Nam (Trang 73)
Hình 14: Diễn biến nhiệt độ, ẩm độ khu vực Đồng Nai và Hà Nội theo các tháng - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Hình 14 Diễn biến nhiệt độ, ẩm độ khu vực Đồng Nai và Hà Nội theo các tháng (Trang 75)
Hình 15: Diễn biến nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi hộ gia đình và khu vực Đồng Nai - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Hình 15 Diễn biến nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi hộ gia đình và khu vực Đồng Nai (Trang 76)
Hình 1. Phương pháp nhân giống hạt nhân mở và đóng - Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa
Hình 1. Phương pháp nhân giống hạt nhân mở và đóng (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w