Bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu đơn lẻ về một số khía cạnh trong quá trình phát triển chính sách đổi mới như nghiên cứu về trung tâm xuất sắc, công viên khoa học/công nghệ, doanh n
Trang 1BO KHOA HOC VA CONG NGHE
VIỆN CHIẾN LUOC VA CHINH SACH KHOA HOC VA CONG NGHE
BAO CAO TONG HOP
ĐỀ TÀI CƠ SỞ:
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI (INNOVATION POLICY) —
KINH NGHIỆM QUỐCTẾ VÀ GỢI SUY CHO VIỆTNAM
Chủ nhiệm đề tài: HOÀNG VĂN TUYỂN
Trang 2MUC LUC
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Đỗi mới và chính sách déi mới
1.1.1 Đổi mới (innovation)
1.1.2 Chính sách đổi mới (innovation policy)
1.2 TẦm quan trọng của chính sách đỗi mới
1.3 Quá trình phát triển chính sách đỗi mới
1.3.1 Quá trình hoạch định chính sách đổi mới
1.3.2, Môi trường cho đổi mới
1.3.3 Truyền bá tri thức trong nền kinh tế
1.3.4 Nguồn nhân lực cho đổi mới va tinh thần đổi m
CHƯƠNG II KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
2.1 Kinh nghiệm từ các quốc gia châu Âu
2.1.1 Hoạch định chính sách đổi mới
2.1.2 Khuôn khổ luật pháp có lợi cho đổi mới
2.1.3 Truyền bá tri thức trong nên kinh tế và các thể chế hỗ trợ
2.1.4 Phát triển nguồn nhân lực và văn hoá đổi mới
2.1.5 Nhận xét
2.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc
2.2.1 Mục tiêu chính sách đổi mới
2.2.2 Hoạch định chính sách đổi mới và khuôn khổ luật pháp
2.2.3 Truyền bá trí thức trong nền kinh tế và môi trường thế chế hỗ trợ
2.2.4 Phát triển nguồn nhân lực và tinh thần kinh thương
2.2.5 Nhận xét
2.3 Kinh nghiệm Trung Quốc
2.3.2 Hoạch định chính sách đổi mới và khuôn khổ luật pháp
2.3.3 Truyền bá trí thức trong nền kinh tế và môi trường thể chế hỗ trợ
2.3.4 Phát triển nguồn nhân lực và tỉnh thần kinh thương
2.3.5 Nhận xét
2.4 Nhận xét chung qua nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài
CHƯƠNG 3 TÌNH HÌNH VIỆT NAM DƯỚI KHUÔN KHỎ CHÍNH SÁCH ĐỎI MỚI, BÀI
Trang 3
MO BAU
Chính sách đổi mới (innovation policy) là nhân tố quan trọng được mong đợi mở ra sự tăng trưởng mạnh mẽ Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thức rõ tầm quan trọng của đối mới với vai trò quyết định năng lực cạnh tranh của nên kinh tế (EC, 2002) Chính sách đổi mới có thể giúp cho các đoanh nghiệp đưa ra các sản phẩm, quá trình và dịch vụ
đổi mới và chính phủ đóng vai trò như người tạo lập một khuôn khổ pháp lý thích hợp cho quá trình này Theo nhiều nghiên cứu của các học giả thì chính sách đổi mới đã vượt ra
khỏi phạm vi của chính sách nghiên cứu và phát triển (NC&PT), việc phát triển chính sách đổi mới phù hợp không phải là van dé don giản và phải xem xét dưới nhiều khía cạnh khác
nhau Gần đây, ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vẫn để đổi mới, đổi
mới công nghệ và hệ thống đổi mới quốc gia Bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu đơn
lẻ về một số khía cạnh trong quá trình phát triển chính sách đổi mới như nghiên cứu về trung tâm xuất sắc, công viên khoa học/công nghệ, doanh nghiệp KH&CN, chùm đối mới, quản lý đổi mới, v.v Tuy nhiên, một bức tranh tổng thể về các khía cạnh khác nhau trong
quá trình phát triển chính sách đổi mới hoặc chưa được xem xét và phân tích một cách sâu
sắc hoặc còn mờ nhạt trong các tài liệu trên Xét theo giác độ đó, vẫn đề nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau trong quá trình phát triển chính sách đổi mới là cần thiết
Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm nước ngoài và tình hình thực tế ở Việt nam, để tài nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hình thành và
phát triển chính sách đổi mới (innovation policy) phủ hợp ở Việt Nam
Giới hạn nghiên Cứu:
Với yêu cầu và mức độ của đề tài cấp co SỞ, đề tài này tập trung chủ yếu vào xác định đặc
trưng cơ bản của đổi mới và chính sách đổi mới, tầm quan trọng của chính sách đổi mới,
xem xét các khía cạnh khác nhau trong quá trình phát triển chính sách đổi mới của một số quốc gia điển hình Xem xét tình hình Việt Nam (theo khung của OECD) chỉ mang tính thăm đò, minh chứng cho các giả thuyết nghiên cứu
Trang 4Các câu hỏi sau đây sẽ được làm rõ trong quá trình nghiên cứu:
Đổi mới và chính sách đổi mới là gì? Vai trò của chính sách đổi mới như thế nào? Sự phát
triển của chính sách đổi mới xem xét đưới các khía cạnh nào? Kinh nghiệm của một số
nước gợi suy gì trong việc phát triển chính sách đổi mới ở Việt Nam?
Phương pháp nghiên cứu: Đề đạt được mục tiêu mong muốn và giải quyết những câu hỏi
nghiên cứu đã đặt ra, đề tài sử đụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- _ Tổng quan các nghiên cứu đã có cũng như thực tế của một số nước;
- _ Nghiên cứu thực chứng Việt nam, phỏng vấn và hội thảo bàn tròn;
- _ Phân tích, tổng hợp
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận Chương này trình bày các cách hiểu khác nhau về đổi mới và
chính sách đổi mới của các nghiên cứu trên thế giới, Việt nam cũng như tầm quan trọng của
chính sách đổi mới Đồng thời chương này đi sâu vào phân tích những khía cạnh khác nhau
trong quá trình phát triển chính sách đổi mới
Chương 2 Kinh nghiệm quốc tế Chương này phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia châu Âu, Hàn Quốc và Trung Quốc trong quá trình phát triển chính sách đỗi mới
Chương 3 Tình hình Việt Nam dưới khuôn khổ chính sách đổi mới — bài học và khuyến
nghị Trong chương này, các khía cạnh khác nhau trong quá trình phát triển chính sách đổi
mới của Việt Nam sẽ được xem xét dựa trên khung của OECD và từ đó rút ra những bai
học và khuyến nghị trong việc hoàn thiện chính sách đổi mới ở Việt Nam
Tập thể tác giả: Chủ nhiệm đề tài, Ths Nguyễn Thị Minh Nga, Ths Phạm Quang Trí, CN
Nguyễn Thị Lan Anh và một số đồng nghiệp trong Ban chính sách khoa học-NISTPAS
Trang 5CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Đỗi mới và chính sách đỗổi mới
1.1.1 Déi mdi (innovation)
Đổi mới có tầm quan trong dang gia tăng và thay đổi như một nguồn lực của lợi thế cạnh
tranh với tầm ảnh hưởng rộng lớn đến chính sách Tuy nhiên, việc đưa ra một định nghĩa thông nhất không phải là đơn giản và đã có nhiều tranh luận về van dé nay
Thuật ngữ đổi mới đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX khi nhà kinh tế học
Schumpeter (1911) đã phân biệt giữa việc hình thành một ý tưởng cho sản phẩm hoặc qui
trình (phát minh/sáng chế) và việc ứng dụng ý tưởng đó đến quá trình kinh tế (đổi mới) Hộp 1 Phân biệt giữa phát minh, đổi mới và truyền bá
Phat minh/sdng ché: Sự nhận thức và hiểu rõ một thiết kế cho một sản phẩm hay qui trình hoặc một sự cải tiến một sản phẩm hay qui trình
Đổi mới: Việc áp dụng phát minh đến hoạt động kinh tế hoặc nói cách khác sự hữu dụng về mặt
kinh tế của một phát minh
Truyền bá: Việc phê biến rỗng rãi một phat minh trong nền kinh tế, việc phổ biến qui trình đổi
mới có ý nghĩa kinh tế Sự truyền bá liên tục có thể dẫn đến sự thay đổi để rồi lại hình thành một
phat minh mới
Đến năm 1939 Schumpeter mở rộng khái niệm đổi mới như là tập hợp các chức năng mới
trong sản xuất, bao gồm cả tạo ra hàng hoá mới, hình thái tổ chức mới (như sáp nhập), mở
ra những thị trường mới, sự kết hợp các nhân tố theo một cách mới hoặc tiến hành một sự
kết hợp mới Lundvall (1992), Elam a 992) cũng có những quan điểm tương tự
Nelson và Rosenberg (1993), Carlsson và Stankiewicz (1995) xác định đổi mới theo một khái niệm rộng bao gồm các qui trình mà các doanh nghiệp làm chủ và đưa vào thiết kế những sản phẩm và qui trình chế tạo mới đối với các doanh nghiệp, bất luận mới ở quy mô
quốc tế hoặc quốc gia Ở đây khái niệm đổi mới không chỉ là việc giới thiệu một công nghệ
lần đầu tiên mà còn là sự truyền bá các công nghệ đó
Edquist (1997) đưa ra khái niệm đổi mới như là việc đưa ra nền kinh tế trị thức mới hoặc sự
kết hợp mới của những tri thức đang có Điều này có nghĩa là đổi mới được xem xét chủ
yếu như là kết quả của qui trình học hỏi có tương tác Mặc dầu trong nền kinh tế sự tương
Trang 6tác những phản tri thức khác nhau được thực hiện theo các cách mới để tạo ra tri thức mới, hoặc đôi khi là các qui trình, sản phẩm mới Những tương tác như vậy không chỉ diễn ra
trong mối liên quan đến NC&PT mà còn liên quan đến những hoạt động kinh tế thường
nhật như việc mua bán, sản xuất và marketing Sự tương tác xuất hiện trong các doanh
nghiệp (giữa các cá nhân hoặc phòng ban khác nhau), giữa các doanh nghiệp với người tiêu
dùng, giữa các doanh nghiệp khác nhau hoặc giữa doanh nghiệp với các tổ chức khác thậm chí cả cơ quan công quyên
Bên cạnh đó, ông cũng phân biệt các loại đổi mới khác nhau: đổi mới qui trình (công nghệ
và tổ chức) và đổi mới sản phẩm (hàng hoá và địch vụ) (Hình 1)
Hình 1 Phân loại đôi mới (theo Edquist, 1997:7)
Ngược lại với cách tiếp cận tuyến tính trong đó quá trình đổi mới phát triển qua những giai đoạn theo trật tự tiệm tiến (từ nghiên cứu cơ bản/nghiên cứu nền tảng đến nghiên cứu ứng
dụng, triển khai thực nghiệm và đưa sản phẩm/dịch vụ ra thị trường, ), một số học giả đã
vận dụng cách tiếp cận mới: cách tiếp cận hệ thống Cách tiếp cận hệ thông nhấn mạnh tầm
quan trọng của những hợp phần khác nhau và sự tương tác giữa các hợp phần này trong
toàn bộ hệ thống mà qui trình đổi mới phát triển Ở đây, thuật ngữ “đổi mới” không được
đánh đồng với thuật ngữ “nghiên cứu” hoặc “tiễn trình công nghệ” Đổi mới vượt ra ngoài
phạm vi NC&PT và bao gồm một tập hợp các hoạt động Do đó đổi mới có thể được định
nghĩa như sau: đổi mới là sự làm mới và mở rộng phạm ví sản phẩm, dịch vụ và thị trường;
sự hình thành những phương pháp sản xuất mới, cung cấp và phân bổ; đưa ra những thay
đổi trong quản lý, tổ chức công việc, những điều kiện làm việc và kỹ năng của người lao động (EC, 2002a: 9)
Trang 7Một định nghĩa kh4c: Déi moi la mét qui trình mà đoanh nghiệp làm chủ và thực hiện công
việc thiết kế, sản xuất hàng hoá và dịch vụ mà là mới đối với doanh nghiệp đó, bất luận
chúng có mới hay không đổi với các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước (EC, 2002a:9) Trong nghiên cửu của Nguyễn Mạnh Quân (2006), sau khi phân tích một số đặc điểm của đổi mới (tính tổng thể, tính định hướng thị trường, tính đa đạng, tính không tuần tự, tính hệ
thống, khả năng tự tiến hoá và tự tổ chức và doanh nghiệp là chủ thể của hoạt động đổi
mới) tác giả đã nhấn mạnh đổi mới là hoạt động tìm kiếm và theo đuổi lợi nhuận của các doanh nghiệp và doanh nhân trên thị trường thông qua quá trình tạo ra những sản phẩm và
dịch vụ mới được thị trường chấp nhận Đó là một tổng thế bao gồm nhiều loại hoạt động
xã hội rất phức tạp, có liên quan chặt chẽ với nhau như nghiên cứu, triển khai công nghệ,
thiết kế chế tạo, tiếp thị và thương mại hoá, giáo dục, đào tạo được tiến hành bởi hàng loạt
tổ chức, tác nhân liên quan như viện NC&PT, doanh nghiệp, trường ĐH, cơ quan quản lý
nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp,v.v Hệ thống các tác nhân và quan hệ diễn ra trong hoạt
động đổi mới có cấu trúc phức tạp, diễn tiến không tuần tự nhưng có khả năng tự tổ chức,
tự liên kết, tự tiễn hoá đòi hỏi những môi trường và thiết chế quản lý thích hợp, những
không gian liên kết đủ rộng để có thể diễn ra (Nguyễn Mạnh Quân, 2006: 19)
Tóm lại, mặc dù có những cách định nghĩa khác nhau, khái niệm về đổi mới bao gồm việc
đưa ra được sản phẩm/qui trình mới mang lại lợi ích trên thị trường Với cách hiểu như vậy
thì định nghĩa của OECD (2005) có thể xem là khá đầy đủ (NISTPASS, 2005): Đổi mới sản
phẩm và qui trình công nghệ bao gồm các sản phẩm và qui trình mới về công nghệ được thực hiện và cải tiễn công nghệ đáng kế trong sản phẩm và qui trình Một đổi mới sản phẩm
và qui trình công nghệ được thực hiện nếu nó đưa được ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong qui trình sản-xuất (đổi mới qui trình) Đổi mới sản phẩm va qui
trình công nghệ bao gềm một loại các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và
thương mại Doanh nghiệp thực hiện đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ là đơn vị đã thực hiện các sản phẩm hoặc qui trình mới về công nghệ hoặc cải tiến đáng kể về công
nghệ trong khoảng thời gian nhất định được xét Để đổi mới thành công (đưa sản phẩm mới
ra thị trường hoặc qui trình mới được áp dụng trong sản xuất), doanh nghiệp cần thực hiện nhiều hoạt động khác nhau tuỷ thuộc vào bản chất của đổi mới đó Tuỳ thuộc tính chất các hoạt động này được phân thành:
Trang 8Tiếp nhận công nghệ và bí quyết tách rời đưới dạng sáng chế, giấy phép, bí quyết được
công bố, thương hiệu, thiết kế, khuôn mẫu, địch vụ máy tính và các dịch vụ KH&CN
khác liên quan đến việc thực hiện đôi mới;
Tiếp nhận công nghệ gắn kèm dưới đạng máy móc, thiết bị với tính năng cải tiến (kể cả phần mềm nằm trong đó) liên quan đến việc thực hiện đổi mới
Các khâu chuẩn bị sản xuất
Trang bị máy móc và xây dựng công nghiệp: các thay đôi trong thủ tục, phương pháp
và tiêu chuẩn về sản xuất và kiểm soát chất lượng và các phần mềm cần thiết để tạo ra
sản phẩm mới hoặc cải tiễn về công nghệ, hoặc để sử dụng qui trình mới hoặc cải tiến
về công nghệ;
Thiết kế công nghiệp: các sơ dé va bản vẽ nhằm xác định các thủ tục, tính năng kỹ thuật
và đặc điểm vận hành cần thiết cho việc sản xuất các sản phẩm mới về công nghệ và
thực hiện các qui trình mới;
Tiếp nhận các tư liệu sản xuất khác: tiếp nhận nhà xưởng, máy móc, công cụ, thiết bị
tuy không có cải tiến về tính năng công nghệ nhưng cần thiết cho việc thực hiện các sản phẩm hoặc qui trình mới hoặc cải tiễn về công nghệ;
Khởi động sản xuất: điều chỉnh sản phẩm hoặc qui trình, đào tạo lại nhân viên về kỹ
thuật mới hoặc cách sử dụng máy móc mới và bất kỳ sản xuất thử nào chưa được tính
vào NC&PT
Tiếp thị các sản phẩm mới hoặc các sản phẩm được cải tiễn: các hoạt động liên quan đến việc chuẩn bị tung ra một sản phẩm mới hoặc cải tiến về công nghệ như nghiên
cứu sơ bộ thị trường, thử nghiệm thị trường, quảng cáo giới thiệu sản phẩm song
không bao gồm việc xây đựng các mạng lưới phân phối để tiếp thị đổi mới.
Trang 91.1.2 Chính sách đổi méi (innovation policy)
Cho đến nay đã có nhiễu tài liệu và đặc biệt lả các tải liệu của Uỷ ban châu Âu vả một số
học giả phương Tây nghiên cứu về đổi mới đưa ra những cách nhìn nhận khác nhau về chính sách đổi mới
Stoneman (1987) coi chính sách đổi mới là những chính sách liên quan đến sự can thiệp
của chính phủ trong nên kinh tế với mục đích tác động đến quá trình đổi mới công nghệ
Mowery (1992) thì định nghĩa chính sách đổi mới là những chính sách ảnh hưởng đến những quyết định của doanh nghiệp để phát triển, thương mại hoá và thực hiện các công nghệ mới
Xuất phát từ hai định nghĩa trên Haukness và Wicken (1999) đưa ra cách xác định chính
sách đổi mới theo nghĩa rộng hơn, vượt ra khỏi phạm vỉ của những chính sách đổi mới đã công bố (tức là chính sách tác động mạnh mẽ trực tiếp lên việc thực hiện đổi mới) bao gồm chính sách công nghiệp, chính sách tài chính, chính sách thương mại, các biện pháp điều chỉnh và luật pháp, và nhiều vùng chính sách khác Theo các tác giả này thì chính sách đổi mới bao gồm cả những chính sách công bố và chính sách ngầm định (liên quan đến thâm
quyền của bộ về đổi mới và các bộ không có chương trình hành động đổi mới riêng) Nói
như vậy có nghĩa là chính sách ngầm định sẽ tạo ra một môi trường và những điều kiện cần
thiết của chính sách đổi mới công bố (Hauknes and Wicken, 1999)
Trong một nghiên cứu về chính sách đổi mới và cách tiếp cận hệ thống đổi, Edquist (2001)
cho rằng chính sách đổi mới là sự can thiệp của nhà nước dẫn đến sự thay đổi kỹ thuật và
các hình thức đổi mới khác, bao gồm: chính sách NC&PT, chính sách công nghệ, chính
sách cơ sở hạ tầng, chính sách vùng và chính sách giáo dục Điều này có nghĩa là chính sách đổi mới vượt ra khỏi phạm vi của chính sách KH&CN (ảnh hưởng đến đổi mới từ bên
cung) và như vậy chính sách đổi mới bao gồm cả hoạt động ảnh hưởng đến đổi mới từ bên cầu (Edquist, 2001:18)
Nghiên cứu về chính sách đổi mới trong nên kinh tế tri thức (Cowan and van de Paal, 2000)
các tác giả đã đưa ra cách xác định chính sách đổi mới như một tập hợp các hoạt động
chính sách nhằm gia tăng số lượng và hiệu quả của các hoạt động đổi mới Các hoạt động đổi mới ở đây để cập đến sự sáng tạo, sự thích nghỉ và chấp nhận các sản phẩm, qui trình hoặc dịch vụ mới hoặc được cải tiến Ở phạm vi doanh nghiệp hay tổ chức thì các hoạt
động này diễn ra nhằm giới thiệu các sản phâm, qui trình hoặc dịch vụ mới hoặc được cải
Trang 10tiến nhằm tăng năng suất, lợi nhuận hoặc thị phan, với mục tiêu cuối cùng là tăng tính cạnh
tranh của tổ chức mình trong khoảng thời gian dài
Trong nghiên cứu của Uỷ ban châu Âu về Đổi mới thì cho rằng chính sách đổi mới không
đơn thuần chỉ tập trung vào NC&PT mà đúng hơn chính sách này tập trung vào các biện
pháp tốt nhất để thúc đẩy một môi trường có lợi cho đổi mới, đó là một môi trường tạo điều
kiện để uyên bá trì thức và công nghệ trong hệ thông Môi trường thể chế thuận lợi bao
gồm “nhu câu” cho đổi mới: môi trường kinh tế vĩ mô, cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả, liên kết khoa học-công nghệ tốt, tiếp cận đến nguồn vốn mạo hiểm và quản lý chuyên môn
cho cho việc hình thành doanh nghiệp, điều kiện hình thành mạng lưới, cơ cấu hỗ trợ và
nén tang giáo dục (EC, 2002a)
Tóm lại, từ những định nghĩa trên đây chính sách đổi mới có thể hiểu là những can thiệp
của nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và môi trường thúc day cho su thay đổi kinh tế có lợi
nhất, khuyến khích sự phát triển nguôn nhân lực, nảy sinh những ý tưởng mới và hiện thực
hoá những ý tưởng mới này thành các sản phẩm, qui trình và địch vụ
Cũng cần phải nhắn mạnh rằng “chính sách đổi mới” không phải là một chính sách mới,
độc lập như chính sách NC&PT, chính sách giáo dục, chính sách thương mại, chính sách
đầu tư và tài chính, mà đúng hơn nó là “một tập hợp thành hệ thống” các chính sách, và
làm thế nào để tập hợp các chính sách thành phần thành chính sách đổi mới là vấn đề cần
được nghiên cứu và xem xét
1.2 Tầm quan trọng của chính sách đỗi mới
Những mình chứng kinh té co ban cho chính sách đỗi mới:
Ngày nay khi xem xét chính sách đổi mới các nhà hoạch định chính sách thường để cập đến
hai minh chứng kinh tế cơ bản là /hất bại thị trường và thất bại hệ thong (Metcalfe, 2000);
Thất bại thị tường: Từ những nghiên cứu về đổi mới và chính sách đổi mới, một số
nguyên nhân mà thị trường thất bại trong việc sản xuất và sử dụng tri thức đó là: (¡) tính
không chắc chắn và rủi ro trong các hoạt động NC&PT; () sự thất bại trong thực hiện đổi
mới và tri thức mới một cách hiệu quả; (ii) những sai lệch thông tin trong nền kinh té; (iv)
sự thất bại trong việc hiện thực hoá giá trị của tri thức đối với tăng trưởng kinh tế; (v) sự
đánh giá không đúng mức về hàng hoá công nghệ trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp
Trang 11Hai nguyên nhân đầu có thê thấy rõ qua hành vi của các doanh nghiệp đối với NC&PT
Thứ nhất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) với nguồn lực hạn chế hoặc là không mặn
mà hoặc là đầu tư ít hơn vào NC&PT so với các doanh nghiệp lớn Thứ hai, nhận thức của
các doanh nghiệp vẻ tính chất hàng hoá công của tri thức Các doanh nghiệp cho rằng tri
thức là một hàng hoá công mà có thé “lan toa” dén moi doanh nghiệp và do vậy họ không
cần đầu tư và dẫn đến mức đầu tư vào NC&PT và đổi mới dưới “ngưỡng” cần thiết
Nguyên nhân thứ ba đó là sự khác nhau lớn về thông tin giữa người phát minh (inventor) và
nha dau tu (investor) Điều này là dễ hiểu bởi vì những giao dịch thị trường hiệu quả phụ
thuộc vào quyền sở hữu của tài sản giao dịch Nguyên nhân thứ tư là tính không chắc chắn
về lợi ích, sự công bế trì thức mới của các doanh nghiệp Khi các doanh nghiệp cạnh tranh
về các công nghệ mới thì chiến lược của họ thông thường sẽ ngăn cản sự phổ biến tri thức
mà đem đến cho họ một lợi thế so với các đoanh nghiệp khác Nguyên nhân cuối cùng liên quan đến triển vọng của xã hội và đến lợi ích xuất phát từ những hàng hoá và dịch vụ nhất
định mà những lợi ích này không được thừa nhận để chúng có thể hoặc là phát triển hoặc là
báo hiéu cho thi truong (Gustafsson et al., 2006:3)
Để giải quyết vấn để thất bại trong thị trường, chính phủ các nước có thể đưa ra nhiều biệp
pháp chính sách, cơ chế khuyến khích khác nhau cho việc sản xuất và sử dụng tri thức, tăng
cường lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội như: hình thành hệ thống sở hữu trí tuệ thích hợp
để công nhận những người sản xuất trí thức về những chi phí cho việc khám phá và cùng thời gian là phổ biến tri thức cũng như tăng cường kho tàng tri thức của nhân loại; hỗ trợ
đầu tư vào NC&PT thông qua các công cụ tài chính hoặc hỗ trợ trực tiếp, hình thành các loại “tổ chức NC&PT đặc biệt? để tăng cường khả năng tiếp cận đến tri thức mới cho các doanh nghiệp; hỗ trợ các trường đại học và các viện NC&PT khám phá tri thức khoa học mới
Thất bại hệ thống: đổi mới không phải là một quá trình tuyến tính từ khoa học đến thị
trường mà là một hệ thống phức tạp bao gồm rất nhiều các nhân tố khác nhau Hệ thống đổi mới là một tập hợp các tổ chức tương tác với nhau với các chức năng sản xuất, thong tin va
lưu trữ tất cả các nhân tố trỉ thức đặc biệt đòi hỏi trong quá trình đổi mới (Nelson, 1993;
Freeman, 1987; Edquist, 1997; Carlsson, 1995; Lundvall, 1992) Boi vi hé thống được hình
thành từ những nhân tố và đo có tương tác giữa các nhân tố nên sự thất bại hệ thống sẽ xuất hiện Một sự thất bại hệ thống phát sinh bất kỳ lúc nào khi việc tiếp cận đến trí thức cần
thiết bị ngăn cản hoặc là do tổ chức sản xuất ra tri thức hay tiếp cận đến tri thức đó bị thất
19
Trang 12bại hoặc là những liên kết thông tin ý tưởng giữa các tổ chức tương ứng thất lạc hay hoạt
động không hiệu quả (Gustafsson, ef zi., 2006:7) Như vậy chính sách đổi mới trở thành
van dé trong việc thiết kế thể chế, trong việc xây dựng năng lực xã hội thích hợp để hiện
thực hoá tiềm năng cho phát triển Các doanh nghiệp rõ ràng là nhân tố then chốt (trực tiếp
hay gián tiếp) thông qua vai trò của họ như những người sử dụng công nghệ và cung cấp
công nghệ trong quá trình đổi mới, bên cạnh đó các trường đại học, các viện NC&PT, các
phòng thí nghiệm, các tỗ chức xã hội và các công ty tư vấn Thực sự trong bất kỳ nền kinh
tế dựa trên trí thức nào cũng tổn tại một mạng lưới các tổ chức đóng góp cho quá trình đôi mới
Từ những mình chứng kinh tế trên đây cho thấy việc hình thành một chính sách đỗi mới toàn diện, điều hành và thực hiện một cách hiệu quá sẽ:
e_ Tăng cường khả năng truyền bá trí thức và công nghệ;
© _ Đảm bảo tiến trình chuyển tri thức và công nghệ thành những lợi ích kinh tế và xã
hội lớn nhất;
« - Tăng cường năng lực đổi mới, duy trì một nền tảng trì thức mạnh mẽ;
« _ Khuyến khích đầu tư vào đổi mới, tối ưu hoá chỉ tiêu khu vực công cho NC&PT;
« - Giảm thiểu những rào cản trong việc hình thành và phát triển doanh nghiệp dựa trên
công nghệ mới, doanh nghiệp đổi mới
1.3 Quá trình phát triển chính sách đỗi mới
Khi phân tích quá trình phát triển chính sách đổi mới của mỗi quốc gia, các khía cạnh sau đây cần được nhìn nhận xem xét:
1.3.1 Quá trình hoạch định chính sách đổi mới
Như trên đã chỉ ra, chính sách đổi mới không chỉ tập trung vào NC&PT mà đúng hơn là tập
trung vào vấn đề làm thế nào đề thúc đây môi trường có lợi cho đổi mới, đó là môi trường tạo điều kiện cho /ruyễn bá tri thức trong hệ thống Chính sách nên chú ý vào những điều
kiện khung, bao gồm “nhu cần” cho đổi mới: môi trường kinh tế vĩ mô định hướng tăng
trưởng và ổn định, cạnh tranh hiệu quả, liên kết khoa học-công nghiệp mạnh mẽ, tiếp cận
với nguồn vốn mạo hiểm, dnKH&CN, cũng như những điều kiện hình thành mạng lưới
11
Trang 13quan hệ, hệ thông trợ giúp và cơ sở hạ tầng giáo dục (chẳng hạn cung cấp những nhà khoa
học) Tất cả những điều này gói gọn trong một môi trường thê chế thuận lợi (EC, 2002:10)
Một vấn đề quan trọng khác đó là việc điều phối chính sách đổi mới Việc điều phối này có thể diễn ra ở các cấp độ khác nhau: quốc gia, địa phương và một số tổ chức chịu trách nhiệm về vấn để này Đây chính là cách thức mà các thành phần khác nhau của hệ thống
đổi mới thảo luận Điều quan trọng là làm thế nào để “ghép nỗi” các chính sách khác nhau
ảnh hưởng đến đỗi mới trong một đề xuất chính sách chung
Một khía cạnh khác của quá trình điều phối này là việc xác định rõ trách nhiệm ở mức độ
bộ quản lý Một số quốc gia thành lập các cơ quan riêng, một số quốc gia thay đổi lại cơ
cầu bộ nhằm vào việc điều phối chính sách đổi mới
Bên cạnh sự điều phối ở cấp bộ, cơ chế tư vấn lả một khía cạnh quan trọng khác của quá
trình điều phối Chức năng của nó là tăng cường sự nhận thức, giới thiệu những quan điểm
mới trong hệ thống Công cụ dự báo có thé giúp cho việc giành được mục tiêu này cũng
như có thê đóng góp cho việc thúc đây một tầm nhìn toàn điện làm nền tảng chung cho quá trình điều phối Bên cạnh đó cũng có những công cụ khác phát triển những để xuất nghiên
cứu, tổ chức hội tháo bản tròn, hội nghị, hội thảo chuyên đề, v.v
Chiều hướng vùng trong thực hiện đổi mới cùng cần được xem xét trong quá trình điều
phối Điều này đòi hỏi những cải tiến để tránh cơ chế tập trung hành chính và cục bộ địa
phương Có 3 vấn đề cần xem xét về chính sách đổi mới ở cấp độ vùng: xây dựng những thủ tục phù hợp dé giải quyết những vấn để như điều phối chính sách nghiên cứu vùng; đưa
ra sự xác định rõ ràng về năng lực của các vùng khác nhau và xây dựng liên minh giữa các
vùng, địa phương; phát triển sự hợp tác giữa môi trường trung ương và vùng theo phương
thức thúc đây điều phối chính sách đổi mới
Đánh giá là một công cụ quan trọng trong việc cải tiến liên tục chính sách đổi mới và điều
phối chính sách Việc này không nên làm một lần mà phải được tiến hành thường xuyên để
có những điều chỉnh thích hợp
1.3.2 Môi trường cho đổi mới
© - Đơn giản hoá các thủ tục hành chính
Đơn giản hoá các thủ tục hảnh chính là vấn đề mẫu chốt của nhiều quốc gia, chính vì vậy các quốc gia tìm mọi cách để khắc phục khiếm khuyết này, làm thể nào cái thiện chất lượng
12
Trang 14những quy định luật pháp, loại bỏ những gánh nặng không cần thiết mà cản trở sự phát
triển của doanh nghiệp nói chung và SMEs nói riêng Một số kinh nghiệm chỉ ra rằng, việc
sử dụng thích hợp những địch vụ hỗ trợ có thể cải thiện đáng kể tính cạnh tranh của doanh
nghiệp Những biện pháp thường được sử dụng trong một số nước là dịch vụ thông tin chuyên nghiệp, dịch vụ thông tin pháp luật, dịch vụ đảo tạo, dịch vụ thị trường chứng khoán, vốn vay, bao lãnh vến vay,
e Sở hữu trí tuệ (SHTT)
SHTT và sử dụng sáng chế là một vấn dé quan trọng trong quá trình hoạch định chính sách,
đặc biệt là các nước phương Tây Sáng chế có thê khuyến khích đổi mới theo 2 cách: thứ
nhất, đưa đến khả năng khai thác một công nghệ mới và thứ hai phổ biến đến công chúng
những thông tin chỉ tiết liên quan đến những phát minh Việc công bố này nhằm mục đích thông báo công nghệ - thành quả sáng tạo cụ thể đã có chủ, và việc công khai này giúp cho những người khác tránh được những nghiên cứu trùng lặp, tìm kiếm các hướng giải quyết tốt hơn, đồng thời cung cấp cho các nhà nghiên cứu về các hướng phát triển mới của công nghệ, những ý đồ sáng tạo mới làm cơ sở cho việc nảy sinh các sáng chế mới, công nghệ mới Cứ như vậy, mỗi quyển công nghệ được xác lập thì tri thức công nghệ của xã hội được
đổi mới thêm, xã hội không phải mất công sức, thời gian chỉ phí cho việc tìm kiếm công
nghệ đã được tìm ra, giảm các chỉ phí do nghiên cứu trùng lặp, xây dựng các hướng nghiên
cứu mới từ các giải pháp kỹ thuật đã được công bồ
Trong nền kinh tế định hướng đổi mới, việc đổi mới công nghệ để cạnh tranh và tăng lợi
nhuận càng trở nên gay gắt đòi hỏi một hệ thống bảo hộ SHTT hữu hiệu và chặt chẽ để
ngăn chặn sự cạnh tranh hỗn loạn, không trung thực, đồng thời kích thích năng lực công
* _ Các biện pháp tài chính cho đổi mới
Các nhà hoạch định và phân tích chính sách đều thừa nhận rằng những khó khăn vé tài
chính cho đổi mới là rất phổ biến, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực ƠNC, dnKH&CN Khoảng 2 thập niên gần đây chính phủ nhiều nước đã tìm kiếm các biện pháp
chính sách khác nhau để bổ sung nguồn tài chính phục vụ đổi mới từ khu vực tư nhân, chẳng hạn như vốn đầu tư mạo hiểm (ĐTMH), nhà bảo trợ kinh doanh (business angel) và
một số hình thức khác Vai trò của ĐTMH thể hiện ở:
13
Trang 15(i) Vai trò cung cấp nguồn tài chính: Những công nghệ mới tiềm năng thường là kết quả
của quá trình nghiên cứu Để biến những công nghệ mới tiềm năng đó mang lại giá trị kinh
tế thì công nghệ tiềm năng đó cần phải qua giai đoạn thử nghiệm kỹ thuật (xem mức độ thành công của công nghệ mới) và thử nghiệm kinh tế (xem sản phẩm và/hoặc dịch vụ đó
có được thị trường chấp nhận hay không và mức độ chấp nhận đến đâu) Giai đoạn thử
nghiệm này chứa đựng nhiều rủi ro và chính sự không chắc chắn của việc ứng dụng công
nghệ mới đã làm cho những người có ý tưởng công nghệ mới khó tiếp cận đến nguồn tài chính truyền thống (ngân hàng) để hiện thực hoá ý tưởng của mình Trong bối cảnh đó
ĐTMH có thể xem là giải pháp thay thế hữu hiệu Nguồn vốn này đặc biệt hữu hiệu cho các doanh nghiệp đổi mới, daKH&CN nhất là những giai đoạn đầu trong vòng đời phát triển doanh nghiệp
(1) Vai trò hỗ trợ kinh doanh: Ngoài việc cung cấp vốn, ĐTMH còn hỗ trợ cho các ý tưởng
công nghệ đó đi vào cuộc sống thông qua việc tư vẫn về quản lý, thị trường, nhờ vào kinh nghiệm kinh doanh của các nhà quản lý ĐTMH Nguyên nhân là do những người có ý
tưởng sáng tạo thường là những nhà khoa học, nghiên cứu viên nên họ ít có kinh nghiệm về
quản lý và thị trường và những vấn đề liên quan khác trong kinh doanh
Một số công cụ tài chính khác như khuyến khích thuế, tín dụng, hỗ trợ tài chính trực tiếp
(thông qua các chương trình) cũng được sử dụng trong nhiều quốc gia châu Âu để thúc đây việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp đổi mới, dnKH&CN
1.3.3 Truyền bá tri thức trong nền kinh tế
se Hợp tác giữa khoa học và công nghiệp
Đổi mới thành công tuỳ thuộc vào việc tạo ra các ý tưởng và tri thức mới Các ý tưởng và trí thức mới lại tuỳ thuộc vào sự tồn tại của nền tảng khoa học đa dạng và vững chắc với các cơ sở nghiên cứu hiện đại Tuy nhiên, quan điểm liên kết giữa người sản xuất tri thức
và công nghệ với người sử dụng (người chuyển tri thức và công nghệ này thành các sản
phẩm, qui trình và địch vụ đổi mới) theo một qui trình tuyến tính không còn phù hợp Việc
tạo ra trí thức, sự chuyên giao và hấp thu dang thay đổi từ một quá trình tuyến tính đến một
qua trình “xoáy ốc”, phi tuyến và được biết đến trong cách tiếp cận hệ thống (nơi mà
chuyển giao tri thức diễn ra không ngừng và hai chiều) Kịch bản này làm gia tăng vai trò của khu vực doanh nghiệp: vừa là người sử dụng công nghệ vừa là người trung gian chuyển
Trang 16
nhu cầu thị trường thành các vẫn để nghiên cứu Những rào cản hợp tác giữa khu vực hàn
lâm và công nghiệp đang nhỏ dần
(i) Các biện pháp chính sách trực tiếp nhằm khuyến khích hợp tác giữa trường ĐH/viện
NC&PT và doanh nghiệp hoặc thúc đẩy việc sử dụng các kết quả nghiên cứu,
khuyến khích sinh viên, NCV và nhà khoa học làm việc cùng nhau hoặc khuyến
khích sự lưu chuyên nhân lực giữa các tổ chức hoặc các ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp từ trường ĐH/viện NC&PT, khuyến khích sự đối thoại giữa người sản xuất và sử dụng công nghệ (các diễn đàn
liên ngành và ngành, câu lạc bộ công nghệ, )
(ii) Các biện pháp chính sách gián tiếp như hình thành và phát triển công viên khoa học,
thung lũng công nghệ, cực công nghệ, trung tâm xuất sắc, v.v cũng là những biện pháp thích hợp của việc liên kết chặt chẽ giữa khu vực hản lâm và công nghiệp
s« _ Cùng tiến hành nghiên cứu (khu vực hàn lâm và khu vực công nghiệp)
Trường ĐH/viện NC&PT và doanh nghiệp cùng nhau hợp tác nghiên cứu một dự án/một vấn đề cùng một lúc sẽ giải quyết được nhiều mục đích Thứ nhất, việc tham gia tích cực vào dự án trong một lĩnh vực nhất định, doanh nghiệp sẽ giành được tri thức cần có để có
thể hiểu và đồng hoá được những khám phá từ người khác, từ đó họ sẽ đưa ra xã hội những
sán phẩm/ địch vụ với giá trị gia tăng Thứ hai, trường ĐH/viện NC&PT thu nhận được những kiến thức và kinh nghiệm thực tế, biết cách giải quyết những vấn đề mà thực tế đặt
ra, Thêm nữa nhà nước giảm bớt phần ngân sách cần đầu tư cho vấn đề mà thực tế xã hội
đang đặt ra
© - Lưu chuyến cán bộ (NCV, nhà khoa học và kỹ sư)
Lưu chuyển cán bộ khoa học là biện pháp chính sách đặc biệt quan trọng Biện pháp chính
sách này nhằm vào chuyển giao tri thức thông qua dòng lưu chuyển đội ngũ cán bộ Sự lưu chuyến cán bộ là một trong những biện pháp quan trọng để thúc day sự học hỏi giữa các tổ chức cũng như truyền bá trí thức và công nghệ giữa khu vực khoa học và khu vực công
nghiệp trong một quốc gia thậm chí truyền bá tri thức từ các quốc gia phát triển đến các
quốc gia đang phát triển
« - Hình thành và phát triển diKH&CN
15
Trang 17DnKH&CN cĩ vai trị quan trọng như một kênh thúc đây chuyển giao cơng nghệ, tạo việc
làm, tăng trưởng và đổi mới (Tuyên, 2005: 13) DnKH&CN cũng thường đi kèm với sản
xuất giá trị gia tăng cao và thành cơng trên thị trường thế giới Thêm nữa các hoạt động
nghiên cứu khoa học và phát triển cơng nghệ do các doanh nghiệp này thực hiện cũng tạo
ra hiệu ứng lan toả đem lại lợi ích cho các ngành cơng nghiệp khác mà tiếp đĩ dẫn đến sản
phẩm và qui trình mới hơn, tăng năng suất và tăng trưởng đoanh nghiệp (EC, 2003: 5) Các
biện pháp chính sách thúc đẩy việc hình thành và phát triển dniKH&CN là rất cần thiết và
quan trọng trong nên kinh tế tri thức Các biện pháp này trước hết khuyến khích sự tạo ra các ý tưởng từ nghiên cứu, phát triển các dự án kinh doanh, chuyển ý tưởng thành các kế
hoạch kinh doanh cụ thể, sau đĩ tạo những điều kiện thuận lợi hay hỗ trợ cho sự phát triển
(đặc biệt là giai đoạn khởi nghiệp và giai đoạn phát triển sớm trong vịng đời phát triển của
dnKH&CN) Những nghiên cứu ở châu Âu đã chỉ ra 3 rào cản lớn nhất để hình thành và phát triển dnKH&CN đĩ là thiếu văn hố kinh thương, thiếu đào tạo những kỹ năng kinh
thương và thiếu vốn mạo hiểm
« Chính sách thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI) và chuyển giao cơng nghệ
nước ngồi
Thương mại là một kênh quan trọng đối với việc truyền bá tri thức thơng qua những cơng
việc liên quan đến hàng hố nước ngồi Thêm nữa việc nhập khẩu một loại hàng hố tiên
tiễn về mặt cơng nghệ cĩ thể bắt đầu cho sự học hỏi và cho phép các nhà sản xuất trong
nước chế tạo một sản phẩm tương tự với chỉ phí thấp hơn Như vậy cĩ thể nĩi rằng cĩ một
sự liên kết chặt chẽ giữa truyền bá tri thức và nhập khẩu (kế cả trực tiếp và gián tiếp thơng
qua nước thứ ba) (Theisens và Kersting, 2004: 373)
FDI thường liên quan đến chuyễn giao trị thức (ân/ngầm) từ một quốc gia đến một quốc gia khác và như vậy cĩ thể nĩi FDI là một kênh quan trọng tiềm năng đối với việc truyền bá trí thức quốc tẾ,
Ngồi những đĩng gĩp của FDI cho nguồn vốn đầu tư trong nước, đối với nguồn thu ngân
sách và các cân đối vĩ mơ cũng như tạo việc làm (CIEM, 2005: 11) Những bằng chứng về
tầm quan trọng của FDI như một kênh chuyên giao trí thức và lan tộả cơng nghệ quốc tế đã
được nhiều học giả trên thế giới chứng minh FDI bên ngồi (từ các cơng ty đa quốc gia) xem như kênh cung cấp nên tảng cơng nghệ nước ngồi và ngược lại FDI bên trong đĩng gĩp vào sự lan toả cơng nghệ, nâng cao năng lực quản lý và trình độ của người lao động từ
16
Trang 18đó làm tăng năng lực sản xuất cũng như tăng năng lực xuất khẩu của các công ty trong nước
Đối với các nước phát triển có trình độ công nghệ cao thì doanh nghiệp FDI hoạt động với
mục tiêu nắm bắt công nghệ mới của nước nhận thay vì chuyển giao hay phổ biến công
nghệ Mặc dù vậy hoạt động của các doanh nghiệp FDI vẫn tạo ra áp lực cạnh tranh cho các
doanh nghiệp trong nước, làm giảm chỉ phí biên của doanh nghiệp trong nước và kết quả là nguồn lực trong nước được phân bỗ hiệu quả hơn (CIEM, 2005: 31)
e - Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ
Vườn ươm đoanh nghiệp tập trung vảo các doanh nghiệp mới với những hoạt động dựa trên công: nghệ mới hoặc công nghệ tiên tiến Vườn ươm đã trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia,
có vai trò như công cụ chính sách phát triển trong nhiều nước phương Tây từ cuối những
năm 1970 Một số nước như Anh, Pháp, Đức và Ý đã coi vườn ươm doanh nghiệp công
nghệ như một phương tiện tạo việc làm thông qua hình thành các doanh nghiệp đổi mới và thương mại hoá các kết quả nghiên cứu Nói chung, vườn ươm doanh nghiệp công nghệ có thé coi như một phương tiện (1) tăng trưởng và phát triển kinh tế: các vườn ươm đóng vai trò như nơi “thử nghiệm” tạo điều kiện cho việc chuyển hoá các kết quả nghiên cứu thành các sản phẩm và địch vụ thương mại, cung cấp môi trường đào tạo những người có tỉnh than kinh thương ban đầu, đẳng thời vườn ươm còn có vai trò tăng cường sự truyền bá các
kỹ năng kỹ thuật cho thị trường lao động địa phương Bên cạnh đó vườn vom còn có thể
giúp tăng cường việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn hiện có thông qua mạng lưới liên kết với
các thể chế đầu tư; (ii) các vườn ươm trong trường ĐH/viện NC&PT còn có vai trò thúc đây quá trình thương mại kết quả nghiên cứu thông qua việc hình thành các dnKH&CN từ vườn ươm này, phổ biển các bí quyết kỹ thuật từ trường ĐH/viện NC&PT đến SMEs (ii)
tạo việc làm mdi; (iv) thu hut đầu tư và khuyến khích văn hóa kinh thương
e Cực/khu công nghệ
Cực công nghệ (technopolis) là một tụ điểm phát triển về công nghệ và trước hết là CNC
Nó có vai trò khuyến khích sự hình thành và phát triển doanh nghiệp dựa trên tri thức, dựa
trên KH&CN và các tổ chức khác có trụ sở ở đó, đồng thời cực công nghệ còn hỗ trợ mạnh
mẽ cho CGCN và tăng cường kỹ năng kinh đoanh và quản lý công nghệ Như vậy có thể
nói cực cộng nghệ là một khái niệm rộng, bao hàm tất cá các khái niệm như công viên
nghiên cứu, trung tâm đổi mới là một tổ hợp chủ yếu định hướng công nghệ, dựa trên tài
17
Trang 19sản công nghệ Về quan điểm cấu trúc thì trong cực công nghệ có sự hiện diện của trường
ĐH và hoặc viện NC&PT Vai trò của cực công nghệ như sau:
Tạo cơ hội viéc lam
Tác nhân đối với CGCN Vai trò này của cực công nghệ dựa trên lý thuyết là việc
đưa các nhà nghiên cứu và nhà kinh doanh đến vị trí gần nhau hơn sẽ tăng cường CGCN và các cơ hội phát triển Nhưng CGCN từ nhà nghiên cứu đến nhà kinh
doanh không đơn giản chỉ là sự trao đổi thông tin về công nghệ mới mà là kết quả của sự liên lạc chặt chẽ và liên tục giữa 2 bên Những thông tin phản hồi từ kinh doanh đóng một vai trò cần thiết trước, trong và sau hoạt động CGCN và những thông tin phản hồi này có thể không bị thất lạc trong trường hợp khoảng cách địa lý gần nhau và những cần trở thể chế cản trở sự trao đổi thông tin và những tương tác
trực tiếp hiệu quả Bên cạnh đó những nhân tố khác cũng đóng vai trò quan trọng
cần được xem xét trong quá trình CGCN từ trường đại học đến SMEs, đó là sự thiểu
nhận thức về những đòi hỏi từ khu vực kinh đoanh đối với các nghiên cứu viên và
nhà khoa học, sự không thoả mãn hợp tác giữa nghiên cứu viên với doanh nghiệp
Mặt khác, CGCN từ trường đại học đến các doanh nghiệp có thể xuất hiện thậm chí
không có sự tương tác trực tiếp giữa nhà nghiên cứu và nhà kinh doanh thông qua
các thể chế trung gian là tư vấn, môi giới công nghệ
Cực công nghệ như mội trung tâm đổi mới Cực công nghệ có vai trò trong việc khuyến khích đổi mới thông qua sự tương tác và trao đổi qua lại làm giàu thêm ý
tưởng của nhà khoa học và nhà kinh doanh
e Trung tâm đổi mới
Trung tâm đổi mới là sự khởi xướng cho việc xây dựng năng lực dựa trên các kế hoạch ươm tạo Mục tiêu của trung tâm là giúp cho các đoanh nghiệp CNC mới tổn tại qua các
giai đoạn đầu (khởi nghiệp, tăng trưởng sớm) trong vòng đời phát triển doanh nghiệp Các thành viên của trung tâm đổi mới tiếp cận đến phương tiện nghiên cứu, phát triển và thiết bị
18
Trang 20từ các trung tâm nghiên cứu, trường đại học Các doanh nghiệp được xem như thành viên
của trung tâm đổi mới phải tập trung vào CNC
ø _ Công viên khoa học/nghiên cứu và thành phố khoa học
Một công viên trong đó các hoạt động NC&PT là các hoạt động chỉ phối, các hoạt động này hợp tác chặt chẽ với các phòng thí nghiệm, trường ĐH và hoặc viện NC&PT trong
cùng một vị trí hoặc những vị trí gần đó thì gọi là công viên khoa học/nghiên cứu Khi mà
công viên mở rộng qua một vùng địa lý rộng thì được gọi là thành phố khoa học
se Trung tâm xuất sắc
Trung tâm xuất sắc là những thể chế nhằm vào việc trình diễn những tiến bộ khoa học trong
các lĩnh vực như giáo dục đào tạo, NC&PT kế cả những mối quan hệ mạnh mẽ giữa khu
vực hàn lâm và khu vực công nghiệp Tại đây tri thức, nghiên cứu ứng dụng và trợ giúp kỹ
thuật được sử dụng để tăng cường và thúc day các doanh nghiệp định hướng tăng trưởng va
công nghệ
Ví dụ điển hình đó là chương trình các trung tâm xuất sắc của Utah được xây dựng để thúc
đây thương mại hoá các sản phẩm là các công nghệ tiên tiến nhất xuất phát từ các trường
ĐHWwiện NC&PT, Điều nảy được thực hiện thông qua các biện pháp như tài trợ cho nghiên
cứu ở các trường ĐH, cấp li-xăng cho các công nghệ đã có sáng chế, thành lập các doanh
nghiệp KH&CN, phát triển sản phẩm mới và xây dựng đội ngũ cán bộ có kỹ năng Đến nay chương trình đã thành lập được 77 trung tâm và hằng trăm các doanh nghiệp CNC và trở
thành quốc gia đi đầu trong việc thương mại hoá công nghệ đối với phát triển kinh tế ở tầm
quốc gia
Một ví dụ khác của mô hình trung tâm xuất sắc là Viện công nghệ An độ Chức năng của
viện nảy là cung cấp các nhà khoa học, công nghệ có năng lực cao tham gia vào nghiên cứu, thiết kế và phát triển trong một số lĩnh vực công nghệ Viện này đã đạt được những kết quả nhất định trong việc đào tạo kỹ sư, giáo sư trong các lĩnh vực như không gian, năng lượng nguyên tử, viễn thông và NC&PT quốc phòng với mức độ cạnh tranh quốc tế
e Phát triển chùm và mạng lưới quan hệ
Ở những nước phát triển cũng như đang phát triển, SMEs ngày càng được chú ý nhiều hơn Điều này là đo vai trò tiềm năng tăng trưởng và tạo việc làm mà SMEs đem lại
19
Trang 21Tuy vậy, có một điều mà SMEs nhất là SMEs ở những nước đang phát triển gặp phải đó là
quy mô nhỏ, thiếu vốn và không có khả năng tăng vị trí của mình trong chuỗi giá trị bậc
thang công nghệ Những yếu tố hạn chế phát triển SMEs bao gồm:
- Nguyên liệu và phụ kiện: do thiếu nhà cung cấp trong nước, hoặc không có khả năng
nhập khẩu từ nước ngoài;
- Tải chính: đo sự phân biệt đối xử của ngân hàng hoặc do chỉ phí tốn kém vì ngân hàng
phải làm việc với nhiều SMEs;
- - Công nghệ: hoặc do công nghệ phải nhập, hoặc do chi phí đầu tư ban đầu quá cao đối
với doanh nghiệp;
- _ Thị trường sản phẩm: hoặc do thiếu mỗi quan hệ với các nhà thương gia trên thị trường,
hoặc không có khả năng tiếp thị một cách có hiệu quả cũng như khả năng quảng cáo
cho sản phẩm;
- Quan tri: do tiéng nói chính trị hạn chế và khả năng đàm phán yếu của SMEs
Đối với SMEs hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, những rào cản này rất khó vượt qua Tuy vậy, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy vấn đề không phải ở quy mô
vừa và nhỏ của các doanh nghiệp này mà do “vị trí đơn độc” của nó Đây chính là chỗ để
chùm và mạng lưới quan hệ có thé phát huy tác dụng
Chùm là một nhóm các doanh nghiệp được tập trung theo ngành và theo không gian
Ngược lại một mạng lưới quan hệ là tập hợp các doanh nghiệp không nhất thiết phải ở cùng
một nơi nhưng họ hợp tác chặt chẽ với nhau Cả 2 hình thức tạo nhóm này đều có thể giúp
SMEs có được lợi thế cạnh tranh
Một số kinh nghiệm nỗi tiếng về phát triển chùm công nghiệp ở Italy trong giai đoạn 1960-
1970 đã chỉ ra sự tăng trưởng mạnh (vùng Đông Bắc và miền Trung Italy), những nơi này vốn trước kia không được biết tới như là vùng có năng lực công nghiệp mạnh Ở một số khu vực các nhóm doanh nghiệp tạo chùm với nhau cố gắng thâm nhập vào những thị
trường xuất khẩu cạnh tranh về sản phẩm da giầy, dệt may và chế biến thực phẩm Những
ngành công nghiệp cung cấp máy móc thiết bị cho những ngành nói trên cũng tạo được
những sự phát triển nhất định Hơn nữa những doanh nghiệp này đã mở rộng sản xuất và
xuất khẩu vào thời điểm mà các đoanh nghiệp lớn ở những nước châu Âu khác đang suy
20
Trang 22thoái Các nghiên cứu ở Italy kết luận rằng thành công đặc biệt trong quá trình công nghiệp
hoá này là do sự hình thành chùm và mạng lưới quan hệ của vùng
Những ví dụ thành công của phát triển chùm không chỉ ở châu Âu và các nước phát triển
khác Nhiều trưởng hợp cũng đã xuất hiện ở châu Á và châu Mỹ la tỉnh, mặc di không nỗi
tiếng như trường hợp của Italy Chẳng hạn ngành luyện kim và dệt tập trung ở Ludhiana, công nghiệp kim cương ở Surt (Án Độ) Một số chùm ở Pêru, Indonesia, Mehico, Brazil và
một số nước khác cũng chỉ ra những ví dụ điển hình
« - Tăng cường năng lực hấp thụ tri thức và công nghệ của SMEs
Tăng cường khả năng cho các doanh nghiệp, đặc biệt là SMEs hấp thu tri thức và công
nghệ là một khía cạnh của hợp tác nghiên cứu, mặc đù vấn đề này không nhất thiết tuỳ
thuộc vào những quan hệ mạnh mẽ đang điễn ra giữa khu vực hàn lâm và khu vực công nghiệp
Tăng cường nhận thức và sử dụng các kỹ thuật quản lý đổi mới (IMT)
IMT có vai trò thúc đẩy liên kết giữa công nghệ và chiến lược kinh đoanh và thúc đây các doanh nghiệp chấp nhận những quan điểm nhìn trước Bên cạnh đó vai trò của chứng nhận 1SO, HACCP, QS, v.v cũng rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong việc quản lý chất lượng
1.3.4, Nguồn nhân lực cho đỗi mới và tỉnh thần đỗi mới
Tăng cường nguồn nhân lực cho đổi mới nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng là đặc
biệt quan trọng trong việc thiết kế và thực hiện chính sách đổi mới Các biện pháp chính
sách này có thê thực hiện thông qua: ` -
* Cai tién hệ thống dao tao, tăng cường các chương trình dao tạo, chương trình phát triển
nguồn nhân lực phục vụ đổi mới;
« - Phát triển tỉnh thần kinh thương (entrepreneurship) và người có tỉnh thần kinh thương (entrepreneur)
Không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà cả các nhà nghiên cứu cũng đang quan tâm đến vẫn đề này Tinh thần kinh thương được xem như một động cơ thúc đây sự năng động
và đổi mới nền kinh tế dẫn đến tăng trưởng kinh tế (Báo cáo của Bộ kinh tế Hà lan, 2002:
9)
21
Trang 23Người có tinh thần kinh thương được xem như người sáng tạo ra sự không ổn định và sự
phá huỷ có tính đổi mới và là những người sáng lập ra các doanh nghiệp mới hoặc là người
đổi mới Nói một cách khác người có tinh thần kinh thương là cá nhân đưa ra những ý
tưởng mới và thực hiện những ý tưởng này nhưng không đảm bảo sự chắc chắn về kết quả
đạt được Điều này có nghĩa là người có tỉnh thần kinh thương là người sáng tạo ra sản
phẩm mới, các phương pháp sản xuất mới, các kế hoạch tổ chức mới và sự kết hợp mới
giữa thị trường và sản phẩm
Tỉnh thần kinh thương là khả năng và sự sẵn sàng của các cá nhân dé:
- Hiểu được và tạo ra những cơ hội kinh tế mới (sản phẩm mới, phương pháp sản xuất
mới, kế hoạch tổ chức mới và sự kết hợp mới giữa thị trường và sản phẩm);
- Giới thiệu những ý tưởng của họ ra thị trường, dám đương đầu với mạo hiểm, với mọi
trở ngại khác, ra những quyết định về bé tri, phương thức sử dụng nguồn lực cũng như
thể chế;
- _ Cạnh tranh để chiếm lĩnh thị phan
Nghiên cứu của Bộ kinh tế Hà lan năm 2002 đã chỉ ra sự đóng góp của tỉnh thần kinh
thương đối với sự năng động và đổi mới nền kinh tế thông qua các hình thức doanh nghiệp
đổi mới khác nhau: doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ (những doanh nghiệp tiễn hành
các hoạt động NC&PT và người có tình thần kinh thương được đào tạo có chất lượng về công nghệ cao), spin-off và doanh nghiệp tăng trưởng nhanh (doanh nghiệp này chi cho NC&PT không nhiều nhưng chúng tổ chức quá trình đổi mới hiệu quả hơn dẫn đến những sản phẩm đổi mới thành công hơn
Tóm lại, khi phân tích quá trình phát triển chính sách đổi mới các khía cạnh sau cẦn được
xem xét: Quá trình hoạch định chính sách đổi mới; Môi trường cho đổi mới; Sự truyền bá
trí thức trong nền kinh tế; Nguồn nhân lực cho đổi mới và tỉnh thần đổi mới Chương II
dưới đây sẽ phân tích quá trình phái triển chính sách đổi mới của một số quốc gia châu Âu,
Hàn Quốc và Trung Quốc xem như những kinh nghiệm bỗ ích trong quá trình phát triển
chính sách đổi mới ở Việt Nam
22
Trang 24CHƯƠNG II KINH NGHIỆM QUOC TE 2.1 Kinh nghiệm từ các quốc gia châu Âu
2.1.1 Hoạch định chính sách đối mới
Về nhận thức, ngày nay hầu hết các nước phát triển của châu Âu và thậm chí một số nước
Đông Âu đều nhận thức cao về đổi mới và ưu tiên cho đổi mới, thậm chí đổi mới được xem
như một chương trình nghị sự chính sách của chính phủ
Xét theo khía cạnh hành chính, việc hoạch định và thực hiện chính sách đổi mới của các
quốc gia châu Âu cũng theo những cách tiếp cận khác nhau và có thể chia thành 3 cách tiếp
cận sau (EC, 2004:30,31):
- Tiép cận chức năng, hiện dai: xem xét đổi mới như một yếu tố cấu thành của chính sách
công và như vậy việc điều phối chính sách do một cơ quan cấp bộ chịu trách nhiệm Điển hình cho cách tiếp cận này là các nước Bắc Âu (Thuy Điển, Đan Mạch, Phần Lan)
và Ai-rơ-len;
- Tiếp cận truyền thống: xem xét đổi mới như là giai đoạn cuối cùng của quá trình
NC&PT và do đó bộ kinh tế/công nghiệp sẽ chịu trách nhiệm về chính sách đổi mới Điển hình cho cách tiếp cận này là Hà Lan, CHLB Đức, Italy và Tây Ban Nha
- _ Một số trường hợp riêng không thuộc 2 cách tiếp cận trên Điển hình là Anh, Pháp, Hy Lap, Bi, Thuy Sỹ và một số quốc gia nhỏ khác
Ở đây, cũng cần phải nhắn mạnh rằng chỉ riêng cơ cấu tổ chức “cứng” không tạo nên sự khác biệt giữa các quốc gia mà đúng hơn là quá trình hoạch định chính sách (theo cách tiếp
cận hệ thống với sự tham gia đầy đủ của các nhân tổ cấu thành ở các giai đoạn khác nhau) cũng như nội dung chính sách ban hành, điều phối và thực hiện chính sách
Một điểm đáng quan tâm trong quá trình điều phối là việc phân định trách nhiệm quản lý tương đương cấp bộ Một số quốc gia thành lập các đơn vị riêng, một số quốc gia thay đổi
lại cơ cầu bộ nhằm vào việc điều phối chính sách đổi mới Nhóm nước thứ nhất không có
sự phân tách giữa cơ quan xây dựng khung chính sách và cơ quan tổ chức thực hiện các biện pháp chính sách; nhóm nước thử hai thì Bộ kinh tê/công nghiệp chịu trách nhiệm trong
việc thiết kế chính sách và một cơ quan của chính phủ tổ chức thực hiện; nhóm nước thứ ba
23
Trang 25với cấu trúc liên bang thì chính sách đổi mới là kết quả của sự phối hợp qua lại giữa cơ quan chịu trách nhiệm của liên bang và bang (Áo, Thuy Sỹ)
2.1.2 Khuôn khổ luật pháp có lợi cho đỗi mới
e© - Đơn giản hoá các thủ tục hành chính
Hầu hết các quốc gia châu Âu đều đưa ra các biện pháp đơn giản hoá các thủ tục hành
chính tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế xã hội, nhanh chóng thương mại hoá
các kết quả nghiên cứu nói chung và hình thành dnKH&CN nói riêng Vùng Flanders,
Wallonia (Bi) dwa ra bién phap chính sách “đơn giản hoá các quy định và thủ tục hành chính liên quan đến khách hàng” Biện pháp này đưa ra đã giảm 25% các quy định, thủ tục,
và cỗ gắng hình thành chính sách “một cửa” cho việc hình thành dnKH&CN
+ Sở hữu trí tuệ (SHTT)
Với sự nỗi lên và phát triển rất nhanh của các công nghệ mới thì cơ chế SHTT đặc biệt là
sáng chế đang trở thành vấn đề cơ bản tạo điều kiện cho các doanh nghiệp duy trì đổi mới
và cạnh tranh hiệu quả trên thị trường khi mả trí thức đang là vấn đề cốt lõi của lợi thế cạnh
tranh Chính vì vậy SHTT là một trong những vấn đề quan tâm của các nhà hoạch định chính sách đổi mới ở châu Âu: (ï) khuyến khích SMEs áp dụng và khai thác SHTT; (ii) thay
đổi quyền sở hữu SHTT trong các viện NC&PT công một số vấn đề đặc biệt như SHTT
trong phần mềm máy tính và công nghệ sinh học
Khuyến khích SMEs sử dụng SHTT được khẳng định là ưu tiên hàng đầu trong các nước
thành viên Hầu hết các biện pháp chính sách nhằm tăng cường nhận thức về SHTT của
SMEs và thúc đẩy cơ sở hạ tầng SHTT Tăng cường nhận thức với nhiều cánh tiếp cận khác nhau để giảm thiểu những can tro cho SMEs 4p đụng các biện pháp SHTT như cung cấp cơ
sở đữ liệu điện tử, trợ giúp tài chính và một loạt các trợ giúp khác
Thay đổi quyển sở hữu SHTT trong các viện NC&PT công cũng là một vấn đề được tranh
luận ở một số nước châu Âu Một số nước hay vùng đã đưa ra các biện pháp chính sách về
vấn để này Điển hình là vùng Wallonia (Bj) thì các trường ĐH và viện NC&PT được giữ
quyền về SHTT từ các chương trình NC&PT do chính quyền vùng tài trợ Tại Đức thì các
NCV trong các viện NC&PT công giữ 2/3 khoản lợi nhuận thu được từ SHTT
24
Trang 26s _ Tài chính cho đổi mới
Vấn đề này được các quốc gia châu Âu thê hiện trong các biện pháp chính sách của họ dưới
nhiều hình thức: chương trình tài trợ trực tiếp, hỗ trợ, v.v để thúc đẩy việc hình thành và phát triển dnKH&CN, thậm chí các giai đoạn khác nhau trong vòng đời phát triển doanh nghiệp Ngoài ra còn có sự kết hợp giữa hỗ trợ tài chính trực tiếp và khuyến khích thuế,
Nhìn chung, phải thừa nhận là trong các quốc gia châu Âu, các biện pháp tài chính được
xem như một công cụ không chỉ thúc đây chuyên biệt vào NC&PT mà còn thúc day theo diện rộng hơn tức là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đổi mới Đã có đến hàng
trăm các biện pháp chính sách được đưa ra dưới dạng chương trình tài trợ trực tiếp, hỗ trợ,
v.v được ban hành trong các quốc gia châu Âu, đặc biệt là các biện pháp nhằm vào hình
thành và phát triển dnKH&CN (có thể xem chỉ tiết trong ĐTCS số 2/2005)
2.1.3 Truyền bá tri thức trong nền kinh tế và các thể chế hỗ trợ
5 - Hợp tác hàn lâm và công nghiệp
Các biện pháp trực tiếp là hỗ trợ cho các chương trình cùng đào tạo tiến sĩ, hỗ trợ các công
ty thuê cán bộ khoa học, hợp tác nghiên cứu, nghiên cứu hợp đồng và tư vẫn công nghệ từ
các tô chức nghiên cứu công, lưu chuyên cán bộ, hợp tác trong đào tạo đại học, đào tạo nâng cao trình độ, sử dụng SHTT trong các trường ĐH/viện NC&PT, hình thành các
dnKH&CN từ các nghiên cứu viên đang làm việc trong khu vực hàn lâm, mối quan hệ không chính thức hay mạng lưới cán bộ
Các biện pháp gián tiếp là hình thành và phát triển các tổ chức hỗ trợ trung gian (vườn
ươm, công viên khoa học, )
« Cùng hợp tác nghiên cứu đưán `” `
Các chương trình cùng hợp tác nghiên cứu giữa khu vực hàn lâm và khu vực công nghiệp
đã được nhiều nước châu Âu đưa ra Điển hình lả chương trình “Các dự án cho nghiên cứu phối hợp và nghiên cứu công nghiệp” nhằm vào tài trợ cho các sáng kiến nghiên cứu tiền
cạnh tranh với độ rủi ro kỹ thuật cao Dự án phải do các đoanh nghiệp để xuất và phải hợp
tác cùng với các trường ĐH/viện NC&PT hoặc trung tâm công nghệ Chương trinh FIRST
(Bỉ) khuyến khích liên kết nghiên cứu giữa các trường ĐH vùng Wallonia và các doanh
nghiệp trong vùng
25
Trang 27« Lưu chuyển cán bộ khoa học
Lưu chuyển cán bộ nhằm vào chuyến giao tri thức giữa các khu vực đại học, viện NC&PT
và công nghiệp Chương trình POSTI (Bồ Đào Nha) khuyến khích thạc sĩ và tiến sĩ đến làm
việc tại các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ hay hoạt động không hiệu quả
« _ Hình thành và phát triển dnKH&CN
Các biện pháp chính sách nhằm vào các dnKH&CN bao gồm nhóm các biện pháp trực tiếp, nhóm các biện pháp gián tiếp và nhóm các biện pháp tạo thuận lợi (EC, 2001a, Tuyên
2005)
(4) — Các biện pháp trực tiếp ở đây chủ yếu là các biện pháp về tải chính như:
- Tài trợ cho các doanh nghiệp, viện NC&PT công tiến hành NC&PT và các hoạt động đổi mới khác, tài trợ này có thể là toàn phần hay từng phân Công cụ này chủ yếu tài trợ cho NC&PT tiền cạnh tranh, kể cả những hoạt động gắn với thị trường;
- Đần tư cổ phần trực tiếp (cơ quan nhà nước trực tiếp đầu tư cổ phan vào các doanh nghiệp nhưng không tham gia vào quản lý doanh nghiệp);
- Vốn vay cho các nhà đầu tư (các điều kiện ưu đãi hơn vay ngân hàng);
- Một số trợ giúp tài chính khác
đi) — Các biện pháp gián tiếp là bảo lãnh vay hay bảo lãnh cỗ phần cho các nhà đầu tư;
khuyến khích thuế để thúc đầy NC&PT và đổi mới trong các doanh nghiệp; hay hỗ
trợ lãi suất từ các ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp vay;
(ii) Các biện pháp tạo thuận lợi ở đây nhằm vào các nhà đầu tư, môi trường tài chính và
các biện pháp nhằm liên kết giữa nhà kinh thương và nhà đầu tư
Ngoài ra còn có một số biện pháp nhằm thúc đẩy văn hoá kinh thương và tỉnh thần kinh
thương (tăng cường nhận thức công chúng về đổi mới đặc biệt là trong khu vực hàn lâm,
đơn giản hoá thủ tục hành chính, khuyến khích thuế, v.v ), phát triển năng lực quân lý đổi
mới trong các doanh nghiệp Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi ở đây kế cả các khuyến khích dưới dạng các chương trình và thành lập các tổ chức trung gian hễ trợ (dịch vụ tư
vân, môi giới, ươm tạo và các tô chức địch vụ khác)
26
Trang 28s Vườn ươm/công viên
Hình thức tổ chức kiểu này là rất phổ biến ở các quốc gia châu Âu với những tên gọi khác
nhau (công viên khoa học, công viên công nghệ, trung tâm đổi mới, cực công nghệ, )
Chúng không chỉ hỗ trợ cho các dniKH&CN mà còn hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi
nghiệp nói chung (hỗ trợ hành chính, kỹ thuật, lập kế hoạch kinh doanh, kế hoạch tải chính, ) Các quốc gia như Pháp, Anh, Thuy Điển và Đan Mạch đã xem hình thức tổ chức
này như là trung tâm của chiến lược hỗ trợ spin-off
« _ Tăng cường năng lực hấp thu cba SMEs
Điển hình là chương trình Teehno-Kontakte (Cộng hoà Áo) khuyến khích sự thích nghỉ và khai thác bí quyết công nghệ bằng việc chuẩn bị trị thức cho các cuộc gặp gỡ CGCN giữa các doanh nghiệp tiên tiễn về công nghệ và các doanh nghiệp kém hơn Chương trình TUEF (Thuy Điển) khuyến khích thương mại hoá công nghệ giữa các nhà cung cấp công nghệ của viện NC&PT công và SMEs Chương trình này khuyến khích nhu cầu của SMEs thông qua việc hỗ trợ nghiên cứu khả thị, hình thành nhóm hay mạng lưới các doanh nghiệp và các dự
án hợp tác Trong 10 năm đã có khoảng hơn 15.000 SMEs hình thành quan hệ với các viện NC&PT công
e Chính sách vùng
Những cách tiếp cận vùng để phổ biến chính sách đổi mới ngày càng được chú ý hơn ở các
quốc gia châu Âu Nhiều biện pháp chính sách vùng đã được ban hành ở một số nước như
Áo, Bi, Đan Mạch, Anh, Phần Lan và CHLB Đức
e _ Chính sách phát triển chủm và mạng liên kết
Các quốc gia châu Âu đang có xu hướng chuyển từ hỗ trợ các dự án riêng lẻ và hợp tác
song phương sang khuyến khích hình thành tổ hợp và thúc thầy sự hợp tác mềm dẻo hơn giữa các ngành và trong một ngành Trong báo cáo “chùm vùng ở châu Âu” năm 2002 chỉ
ra rằng “chính sách chùm khuyến khích sự liên kết trong môi trường kinh doanh địa
phương thông qua đối thoại giữa khu vực hàn lâm và công nghiệp, xác định những nhu cầu
cần nghiên cứu hợp tác” Chính sách chùm là một công cụ rat quan trọng của chính sách
đổi mới và được hầu hết các quốc gia châu Âu sử dụng, điển hình là Bi, Đan Mạch, Phần
Lân, Hà Lan, Thuy Điễn, CHLB Đức và Tây Ban Nha
27
Trang 29¢ Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
Đây là cấu trúc “hỗ trợ mềm” về quản lý và tổ chức cho SMEs, chúng cung cấp thông tin, môi giới trung gian, đào tạo và các dịch vụ khác cho doanh nghiệp ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển doanh nghiệp
øe - Quản trị doanh nghiệp
Phát triển năng lực quản lý đổi mới trong các doanh nghiệp, áp dụng các hệ thống quản lý
chất lượng như ISO, HACCP, QS, v.v
2.1.4 Phát triển nguồn nhân lực và văn hoá đổi mới
Khia cạnh văn hoá đổi mới là vấn đề đang được nhắn mạnh ở châu Âu và do vậy những hoạt động chính sách tập trung vào các khía cạnh này như các tổ chức phi lợi nhuận và
“quỹ đối mới” được thành lập ở Tây Ban Nha và Bi, “diễn đàn xã hội thông tin” đã được thành lập ở Haly để điều phối các hoạt động nhận thức về đổi mới trên toàn quốc
Một mình hoạ điển hình về phát triển văn hoá đổi mới trong lĩnh vực chính sách đổi mới đó
là Luật đổi mới của Pháp ban hành năm 1999 với những quy định khuyến khích tỉnh thần
kinh thương của các NCV, nhà khoa học và kỹ sư, những người được xem như công chức
nhà nước trước đây Luật cho phép các trường ĐH/viện NC&PT tiếp tục trả lương cho các nghiên cứu viên trẻ thành lập công ty trong giai đoạn khởi nghiệp và đưa ra những bảo lãnh rủi ro nhất định Ở CHLB Đức bên cạnh việc cung cáp những hỗ trợ trực tiếp, chương trình
EXIST nhằm vào cải thiện văn hoá cho việc hình thành các doanh nghiệp spin-off từ các
trường ĐH :
2.1.5 Nhận xét
Nhìn chung các quốc gia châu Âu đã đầu tư rất mạnh vào nghiên cứu và hiện thực hoá
chính sách đổi mới với mong muốn đạt đến sự phát triển kinh tế nhanh và mạnh Điều này
được thẻ hiện một cách có hệ thống từ việc xác định mục tiêu, hoạch định và điều phối đến việc thực thi và đánh giá chính sách đổi mới Việc hoạch định và điều phối chính sách đổi
mới thể hiện ở việc phân định rõ trách nhiệm quản lý tương đương cấp bộ hoặc là Bộ khoa
học, công nghệ và đổi mới (các nước Bắc Âu, Ai-rơ-len) hoặc là Bộ kinh tế/công nghiệp
(Hà Lan, CHLB Đức, Italy và Tây Ban Nha) hoặc là một cơ quan độc lập chịu trách nhiệm
điều hoà phối hợp giữa các bộ liên quan Hệ thống các biện pháp chính sách toàn điện và đồng bộ từ khuôn khổ luật pháp có lợi cho đổi mới (đơn giản hoá các thủ tục hành chính,
28
Trang 30
SHTT, tài chính cho đỗi mới) đến các biện pháp chính sách tăng cường khả năng truyền bá tri thức/công nghệ (hình thành các công viên/vườn ươm/trung tâm xuất sắc, cùng hợp tác
nghiên cứu dự án giữa khu vực hàn lâm và công nghiệp, hình thành và phát triển
dnKH&CN, lưu chuyển cán bộ, tăng cường NC&PT tại các doanh nghiệp, tăng cường năng
lực hấp thụ công nghệ của SMEs, phát triển chùm và mạng lưới liên kết, v.v ), phat trién
nguồn nhân lực và văn hoá đổi mới Các biện pháp chính sách của các quốc gia châu Âu có
thể minh hoạ bằng hình vẽ tỉ lệ phần tram (%) của từng nhóm biện pháp trong tổng sỐ các
đão tạo —— đổi mới
Lưu chuyển Đồi mới & quản thụ công nghệ
RSE lý d/nghiệp của SMEs
Hình 2 Nhóm các biện pháp chính sách của các quốc gia châu Âu
Các chỉ số về thực hiện đổi mới của các quốc gia châu Âu, đặc biệt là các quốc gia Tây Âu
là rất tốt Diễu này thể hiện thông qua chỉ số về tỉ lệ xuất khẩu ƠNC so với tổng xuất khẩu,
chỉ số công nghệ và chỉ số đổi mới (xem bảng 3 cuối chương 2)
29
Trang 312.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc
Mô hình hệ thống đổi mới quốc gia thế hệ thứ ba! của Hàn Quốc nhân mạnh vào “sự gắn
kết” của chính sách khoa học, công nghệ và các vùng chính sách khác như chính sách công
nghiệp, chính sách thương mại và công nghệ, v.v trên các mặt như mục tiêu, phương tiện, sự hoà hợp, thời gian và không gian Đây chính là những bộ phận hợp thành quan
trọng của chính sách đổi mới Hàn Quốc với mục tiêu và quá trình thực hiện có thể xem xét
dưới đây
2.2.1 Mục tiêu chính sách đổi mới
Nhiều năm qua Hàn Quốc đã thông qua nhiều biện pháp chính sách để tạo điều kiện thuận
lợi cho học hỏi công nghệ trong công nghiệp và như vậy tăng cường tính cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế Chính phủ Hàn Quốc không chỉ khuyến khích “bên cầu” tiếp cận công
nghệ thông qua các biện pháp chính sách công nghiệp mà còn khuyến khích “bên cung”
năng lực công nghệ thông qua các chính sách KH&CN
Chính phủ Hàn Quốc vẫn tiếp tục duy trì các các chương hỗ trợ đang có nhưng cũng sẽ tăng cường hơn nữa các biện pháp trong các trường hợp (OECD, 2004b:13):
- _ Mở rộng sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính cho SMEs và các doanh nghiệp khởi nghiệp
bằng cách: công nhận tải sản trí thức/công nghệ như là tài sản thế chấp dé vay ngân
hàng: hỗ trợ việc làm cho đội ngũ cán bộ NC&PT cũng như các dịch vụ khác;
-_ Thúc đây hợp tác giữa GRI, trường đại học và công nghiệp như: hợp tác NC&PT, chia
sẻ năng lực nghiên cứu, tăng cường hiệu quả các chương trình khuyến khích để thúc đây NC&PT công nghiệp, tăng cường bảo hộ SHTT
2.2.2 Hoạch định chính sách đổi mới và khuôn khô luật pháp
Hoạch định chính sách đổi mới
Hội đồng KH&CN quốc gia, Hội đồng về KH&CN của Tổng thống là những cơ quan tư
vấn cho Tổng thống trong các quyết định về KH&CN và đổi mới (EC, 2005)
' Các chính sách, các hoạt động khoa học, công nghệ và đỗi mới ở Hàn quốc trong những năm 1960 va 1970 đặc trưng bởi mô hình tuyến tính thế hệ thứ nhất Vào những năm 1980 nhiều Viện nghiên cứu chính phủ (GRI) được thành lập Cùng thời gian đó tổ hợp giữa các doanh nghiệp tư nhân, GRI, trường ĐH và chính phủ hình thành Những năm 1980 và 1990 đặc trưng bởi mô hình hệ thống đổi mới quốc gia thế hệ thứ hai
30
Trang 32Trung tâm chính sách đổi mới (CIP) thuộc STEPI có nhiệm vụ hỗ trợ cho việc hoạch định
và nghiên cứu chính sách đổi mới của Chính phú với vai trò đưa ra tầm nhìn và mục tiêu đài hạn của KH&CN, biện pháp chính sách cho đổi mới công nghiệp, phân tích cấu trúc NC&PT quốc gia, thiết lập các ưu tiên dau tu NC&PT, dao tao va sử dụng nhân lực
KH&CN cũng như dự báo cung và cầu nguồn nhân lực KH&CN
Bộ thương mại, công nghiệp và năng lượng chịu trách nhiệm về các hoạt động đổi mới và
dự án đôi mới
Khuôn khổ luật pháp
Mấy thập kỷ qua, Hàn Quốc đã ban hành và sửa đổi hàng loạt các văn bản liên quan đến
SHTT nhằm theo kịp sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội Các văn bản luật chính
liên quan đến vấn để này như Luật bản quyền, Luật bảo vệ chương trình máy tính, Luật nhãn hiệu hàng hoá, v.v Ngoài ra, Hàn Quốc còn tham gia tích cực trong hợp tác quốc tế
về bảo hộ SHTT
Liên quan đến lĩnh vực KH&CN và đổi mới, một loạt các văn bản đã được ban hành như
Bộ luật khung về KH&CN (2001 thay thế Bộ luật thúc đây phát triển KH&CN năm 1967),
Bộ luật đặc biệt về đổi mới công nghệ (1997), Luật khuyến khích CGCN (2000, sửa đổi 2001), Luật khuyến khích công nghệ kỹ thuật (1992 và sửa đổi), Luật sáng chế,v.v
2.2.3 Truyền bá tri thức trong nền kinh tế và môi trường thể chế hỗ trợ
e - Tăng cường NCK&PT khu vực công nghiệp
Để hỗ trợ cho NC&PT trong khu vực công nghiệp, chính phủ Hàn Quốc đã sử dụng nhiều
biện pháp chính sách khuyến khích khác nhau Trong những năm 1960 và 1970 các công cụ
chủ yêu là khuyến khích thuế và ưu tiên tài trợ cho các hoạt động NC&PT công nghiệp
Những cơ chế này không được khu vực công nghiệp ủng hộ do thiếu nhu cầu rõ ràng để
đầu tư vào NC&PT, khá dễ dàng trong việc tiếp nhận và đồng hoá các công nghệ nước
ngoài đang hiện hữu từ nhiều nguồn Đầu những năm 1980 vốn vay ưu đãi trở thành
phương tiện quan trọng nhất để cấp tiền cho các hoạt động NC&PT tư nhân Tài chính dưới
hình thức vến vay ước tính khoảng 64% tổng chỉ tiêu vào NC&PT quốc gia năm 1987 Một
số công cụ khuyến khích thuế nhằm thúc đây đầu tư NC&PT công nghiệp như: giảm thuế
khi nhập các thiết bị phục vụ NC&PT, những chỉ tiêu vào NC&PT và phát triển nguồn
nhân lực được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế, miễn thuế tài sản cỗ định về những tài sản
31
Trang 33liên quan đến NC&PT, Quỹ dự trữ phát triển công nghệ (một doanh nghiệp có thể để lại 3%
doanh thu hoặc (thậm chí 4% nếu là CNC) trong bất kỳ năm nào để tiến hành NC&PT
trong 3 năm tiếp theo) (Eriksson, 2005:23)
Ngoài ra, chính phủ Hàn Quốc còn đưa ra một số chương trình gián tiếp cho các hoạt động NCK&PT công nghiệp như Chương trình sản phẩm Hàn trình độ quốc tế (cuối những năm
1980) Chương trình thương mại hoá công nghệ mới (1993) đưa ra những hoạt động tài chính ưu đãi liên quan đến NC&PT và thương mại hoá các công nghệ mới của địa phương
(Eriksson, 2005:24)
Theo Luật Thúc đây phát triển công nghệ công nghiệp và một số luật khác, các đoanh nghiệp tư nhân sẽ được giảm thuế trong vòng 3 năm nếu doanh nghiệp trích khoản tiền thành lập quỹ cho phát triển công nghệ, thông tin kỹ thuật, nguồn nhân lực và thiết bị phục
vụ NC&PT Thêm nữa các doanh nghiệp sẽ được giảm thuế đến 15% tổng chi phí sử đụng
cho đảo tạo cán bộ kỹ thuật Bên cạnh đó, khi tính thuế các đoanh nghiệp này được giảm
đến 10% khoản kinh phí đầu tư vào trang thiết bị phục vụ NC&PT và khấu hao nhanh đối
với thiết bị nghiên cứu và thử nghiệm ở tỉ lệ 90% một năm
Ngoài các khuyến khích thuế, chính phủ Hàn Quốc cũng đưa ra những hỗ trợ tài chính như
có thể hỗ trợ đến 50% tổng chỉ phí cho NC&PT khi viện NC&PT công nghiệp tư nhân
tham gia vào các dự án NC&PT quốc gia về phát triển công nghệ nên, phát triển công nghệ công nghiệp, phát triển nguồn năng lượng mới, v.v Bên cạnh đó, chính phủ cũng hỗ trợ tài chính 80-90% tổng chỉ phí của cá nhân hoặc doanh nghiệp nhỏ, giúp họ thương mại hoá các công nghệ mới Các doanh nghiệp nhỏ nếu không có khả năng thành lập các trung tâm NC&PT của mình thì được khuyến khích thành lập liên hiệp nghiên cứu với các doanh
Chương trình hỗ trợ đối với SMEs (tháng 9/1999) do Văn phòng sở hữu công nghiệp Hàn Quốc (KIPO) khởi xướng với mục tiêu khuyến khích tất cả SMEs phát minh ra công nghệ mới và sử dụng như một tài sản kinh doanh nòng cốt của doanh nghiệp (làm thế nào để
SMEs với trên 5 lao động có ít nhất 01 sáng chế hoặc giải pháp hữu ích) Để giành được
mục tiêu này, chiến dịch đã thực hiện các bước: Tăng cường nhận thức của công chúng về
SHTT; liên kết các hoạt động NC&PT với việc tạo ra SHTT; cải tiến những điều kiện thuận
lợi về các thủ tục sáng chế; hỗ trợ việc sử dụng, giao dịch các công nghệ đã được cấp sáng
chế (KIPO, 2002)
32