1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng của trần quốc tuấn đặc điểm và ý nghĩa lịch sử (bản tóm tắt)

27 2,2K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 234 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, một mặt đòi hỏi chúng taphải xây dựng và phát triển đất nước trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội nhằmxây dựng đấ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học:

PGS, TS Trịnh Doãn Chính

TS Nguyễn Anh Quốc

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân vănĐại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Vào lúc… giờ… phút, ngày… tháng… năm 2015

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

- Thư viện Khoa học Tổng hợp số 69 Lý Tự Trọng, Q 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, một mặt đòi hỏi chúng taphải xây dựng và phát triển đất nước trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội nhằmxây dựng đất nước Việt Nam trở thành một nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”1, chúng ta đồng thời phải “xây dựng và phát triển một nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóanhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội,vào từng con người, từng gia đình, từng tập thể và cộng động, từng địa bàn dân

cư và mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đờisống tinh thần cao đẹp”2, nhằm phát triển đất nước một cách hài hòa, bền vững,bởi lẽ “Văn hóa là nền tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lựcthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”3 Để làm được điều đó, chúng ta cần tiếptục nghiên cứu lý luận, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn; đồng thời tiếp thu, kếthừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của lịch sử dân tộc, đặc biệt làbản sắc văn hóa dân tộc “những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồngcác dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranhdựng nước và giữ nước”4; cái “tạo nên cốt cách, tinh thần, bản lĩnh và sức mạnhtrường tồn của dân tộc trong lịch sử và sức mạnh nội sinh trong công cuộc đổimới” hôm nay, tạo thành sức mạnh tổng hợp gồm kinh tế, chính trị và văn hóanhằm góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước và xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội

Dân tộc Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữnước Thực tiễn lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta không chỉ kếttinh nên truyền thống lịch sử vẻ vang, mà qua đó còn đúc kết, để lại cho chúng tanhiều bài học kinh nghiệm quý báu Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dântộc ta, thời kỳ nhà Trần (1226 - 1400) được xem là một trong những giai đoạnphát triển cao của văn hoá Đại Việt Đó là một nền văn hoá, là kết quả của quátrình đấu tranh, xây dựng và phát triển bền bỉ, lâu dài của dân tộc ta trên cơ sở kếthừa và phát triển tinh hoa các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam

Trong suốt 174 năm tồn tại, vương triều Trần không chỉ đạt tới sự phát triểnrực rỡ của nền văn hóa Đại Việt, mà còn để lại những trang sử sáng ngời vớinhững thành tựu và chiến công vĩ đại trong công cuộc dựng nước và giữ nước

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 70.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ thứ năm Ban chấp Trung ương khóa VIII, Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 54.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ thứ năm Ban chấp Trung ương khóa VIII, Sđd, tr 55.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ thứ năm Ban chấp Trung ương khóa VIII, Sđd, tr 56.

Trang 4

Một trong những nhân vật tiêu biểu trong sự nghiệp hiển hách giữ nước của triềuđại nhà Trần, đó là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (1232? – 1300), nhà tư

tưởng lớn, nhà chính trị lỗi lạc, nhà quân sự kiệt xuất của dân tộc ta Cuộc đời,

sự nghiệp và tư tưởng của ông để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử tư tưởng ViệtNam; đặc biệt là tư tưởng yêu nước, ý chí độc lập dân tộc, tư tưởng chính trị

“thân dân”, “khoan sức cho dân” và tư tưởng quân sự đặc sắc, được thể hiện

trong Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư và Lâm

chung di chúc Những tư tưởng trên của ông tuy còn có những hạn chế lịch sử

nhất định; nhưng về cơ bản nó vẫn có ý nghĩa lịch sử sâu sắc và thiết thực khôngnhững đối với thời kỳ nhà Trần, mà còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đốivới sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, đặt biệt là tư tưởng yêu nước, phát huysức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tổ chức và xây dựng quân đội tinh nhuệ

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề: “Tư tưởng của

Trần Quốc Tuấn - đặc điểm và ý nghĩa lịch sử”, làm đề tài luận án tiến sĩ triết

học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu tư tưởng của Trần Quốc Tuấn ở góc

độ lịch sử như: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội,

2009; Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, t 1, Nxb Giáo dục, Hà

Nội, 2006; Trương Hữu Quýnh - Đinh Xuân Lâm - Lê Mậu Hãn, Đại cương lịch

sử Việt Nam, Toàn tập (từ thời nguyên thủy đến năm 2000), Nxb Giáo dục,

2002; Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên

Mông thế kỷ XIII, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003 Các công trình này đã

trình bày và phân tích khái quát quá trình suy vong của nhà Lý, chỉ ra sự chuyểnbiến tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt ở thế kỷ XIII và công cuộc xâydựng, củng cố chính quyền của vương triều Trần gắn liền với việc hình thành,phát triển tư tưởng của Trần Quốc Tuấn

Thứ hai, các công trình nghiên cứu tư tưởng của Trần Quốc Tuấn ở góc độ

văn học như: Viện Văn học, Thơ văn Lý - Trần, t 2, quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989; Lịch sử tư tưởng Việt Nam (Văn tuyển), t 2, Nxb.

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Mai Cao

Chương, Văn học Việt Nam thế kỷ thứ X, nửa đầu thế kỷ XIII, t 1, Nxb Đại học

và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978 Các công trình này đã tập trung giớithiệu các tác phẩm và thân thế sự nghiệp, đánh giá về vị trí, vai trò của Trần

Quốc Tuấn đối với cuộc kháng chiến quân Nguyên - Mông xâm lược

Thứ ba, các công trình nghiên cứu tư tưởng của Trần Quốc Tuấn ở góc độ

tư tưởng và văn hoá như: Trương Văn Chung - Doãn Chính, Tư tưởng Việt Nam

Trang 5

thời Lý Trần, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Nguyễn Hùng Hậu

-Doãn Chính - Vũ Văn Gầu, Đại cương lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam, t 1,

Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002; Doãn Chính (Chủ biên), Lịch sử tư tưởng

triết học Việt Nam - từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2013; Viện Triết học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam văn tuyển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Viện Sử học, Binh thư yếu lược, (Bản

dịch của Nguyễn Ngọc Tỉnh và Đỗ Mộng Khương, Đào Duy Anh hiệu đính),

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977; Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Nam Định - Viện

Lịch sử quân sự Việt Nam, Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn

và quê hương Nam Định, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000 Các công

trình trên chủ yếu đề cập đến những nội dung tư tưởng chủ yếu của Trần QuốcTuấn như: tư tưởng yêu nước, tư tưởng chính trị, tư tưởng quân sự, nghệ thuậtquân sự từ góc độ những hoạt động lý luận và thực tiễn của ông với nhiều nhậnđịnh, đánh giá mang tính chất tổng quát về sự vận dụng những tư tưởng quân sựông trong việc đánh thắng kẻ thù xâm lược

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng Trần Quốc Tuấn ởphương diện này hay phương diện khác, bước đầu đã làm rõ những nét lớn trong

tư tưởng cũng như đánh giá công lao to lớn của ông đối với lịch sử của dân tộc.Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu vàtrình bày một cách hệ thống, toàn diện để đi đến khái quát, rút ra nội dung tưtưởng chủ yếu, đặc điểm và giá trị lịch sử trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn,cũng như chỉ ra tư tưởng của ông nảy sinh, phản ánh những nhu cầu và giải đápnhững vấn đề gì mà xã hội Đại Việt đặt ra

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án:

Từ việc trình bày, phân tích làm rõ những nội dung tư tưởng chủ yếu củaTrần Quốc Tuấn, luận án nhằm đánh giá, rút ra những đặc điểm, ý nghĩa và bàihọc lịch sử trong tư tưởng của ông đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đấtnước hiện nay

Nhiệm vụ của luận án:

Một là, trình bày, phân tích những đặc điểm, yêu cầu xã hội Việt Nam trong

thế kỷ XIII, đặc biệt là thực tiễn của các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược; làm rõ sự ảnh hưởng của “tam giáo”, sự tiếp thu và kế thừa truyềnthống văn hoá dân tộc với việc hình thành tư tưởng của Trần Quốc Tuấn

-Hai là, phân tích và trình bày quá trình hình thành, phát triển và những nội

dung tư tưởng chủ yếu của Trần Quốc Tuấn qua các vấn đề: tư tưởng chính trị,

tư tưởng quân sự và vấn đề nhân sinh

Trang 6

Ba là, chỉ ra những đặc điểm chủ yếu, ý nghĩa và bài học lịch sử trong tư

tưởng Trần Quốc Tuấn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay,

đó là bài học phát huy lòng yêu nước, độc lập tự chủ, ý thức tự cường dân tộc,dân là gốc của nước, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, xây dựng quân đội

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:

Luận án tập trung nghiên cứu tư tưởng của Trần Quốc Tuấn, qua các tác

phẩm tiêu biểu như: Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền

thư và Lâm chung di chúc.

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nêu trên, luận án được thựchiện dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, tác giả còn sử dụng tổng hợp cácphương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quynạp, lôgíc và lịch sử, so sánh lịch sử để nghiên cứu và trình bày luận án

5 Cái mới của luận án

Một là, luận án đã trình bày, phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng chủ yếu

của Trần Quốc Tuấn, góp phần làm sâu sắc tư tưởng chính trị của ông về lòngyêu nước, về nhân dân và tư tưởng quân sự

Hai là, luận án đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong tư tưởng của Trần

Quốc Tuấn; đó là tính kế thừa, tính dân tộc và tính nhân sâu sắc Từ đó luận án

đã rút ra ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng của ông về mặt lý luận và thực tiễn đốivới quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam và công cuộc kháng chiếnchống quân Nguyên - Mông xâm lược

Ba là, luận án đã rút ra những bài học lịch sử trong tư tưởng của Trần

Quốc Tuấn đã được kế thừa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, thời đại HồChí Minh và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay Đó là bài học vềnêu cao tinh thần độc lập tự chủ và ý thức tự cường dân tộc, bài học phát huylòng yêu nước, dân là gốc và đoàn kết toàn dân tộc, bài học về quân sự

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về ý nghĩa khoa học, luận án đã góp phần làm rõ những tư tưởng cơ bản, đặc

điểm, ý nghĩa và bài học lịch sử trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn qua các vấn đề

về lòng yêu nước; tinh thần độc lập tự chủ, tự cường dân tộc; phát huy sức mạnhđại đoàn kết dân tộc; trọng dân, thân dân, “khoan sức cho dân”, dân là gốc; về tổchức và xây dựng quân đội

Về ý nghĩa thực tiễn, trên cơ sở trình bày, phân tích một cách có hệ thống

tư tưởng của Trần Quốc Tuấn, luận án rút ra những đặc điểm, ý nghĩa lịch sửtrong tư tưởng của ông cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn trên các phương diện

Trang 7

tư tưởng, văn hoá, chính trị, quân sự; đặc biệt là những bài học có ý nghĩa lịch

sử sâu sắc như lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đối với

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận

án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy lịch

sử tư tưởng triết học Việt Nam, văn học, sử học và văn hoá học

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,luận án được kết cấu gồm có 3 chương, 6 tiết và 15 tiểu tiết

Chương 1

CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI KỲ NHÀ TRẦN VỚI VIỆC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN

1.1.1 Khái quát điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thời

kỳ Trần – cơ sở xã hội hình thành tư tưởng của Trần Quốc Tuấn

Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng của Trần Quốc Tuấn chính là

sự phản ánh ba nhu cầu chủ yếu của điều kiện lịch sử xã hội Đại Việt ở thế kỷ

XII - XIII Một là, xây dựng nước Đại Việt hùng mạnh thống nhất về chính trị,

kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của vương triều Trần và bảo vệ nền độc lập

dân tộc; Hai là, nhu cầu củng cố sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để chống ngoại

xâm, trước hết là chống quân Nguyên - Mông xâm lược, bảo vệ độc lập chủ

quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc; Ba là, xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm

của các cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông Trước hết, là phản ánh

nhu cầu xây dựng nhà nước Đại Việt hùng mạnh thống nhất về chính trị, kinh tế

-xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của vương triều Trần và bảo về nền độc lập dân tộc.

Các vua nhà Trần chú trông củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyềnvững mạnh, tăng cường tiềm lực quân sự nhằm bảo vệ đất nước và chống giặc

ngoại xâm Về kinh tế, hệ thống điền trang, thái ấp thời kỳ nhà Trần một mặt góp

phần phát triển kinh tế nông nghiệp, ổn định định đời sống nhân dân; mặt khác,củng cố bộ máy chính quyền nhà nước, xây dựng quân đội vững mạnh nhằm bảo

vệ lợi ích của quý tộc, tôn thất nhà Trần Về chính trị xã hội, nhà nước phong

kiến trung ương tập quyền thời Trần được tổ chức chặt chẽ, xã hội tồn tại haimâu thuẫn cơ bản sau: mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần vớitầng lớp địa chủ quan liêu, mâu thuẫn giữa quý tộc tôn thất nhà Trần với nhândân mà chủ yếu là nông dân Cùng với việc hoàn thiện thể chế chính trị, luậtpháp, nhà Trần mở Giảng võ đường để các võ quan học binh pháp, rèn luyện võ

nghệ, xây dựng quân đội tinh nhuệ Trần Quốc Tuấn viết hai bộ binh pháp: Binh

Trang 8

thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư để huấn luyện kỹ thuật quân sự cho

các tướng sĩ Hai là, nhu cầu củng cố sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để chống

ngoại xâm, trước hết là chống quân Nguyên - Mông xâm lược, bảo vệ độc lập

chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc Thực tiễn chính trị - xã hội Đại Việt

trong thế kỷ XIII đã đặt ra hai vấn đề lớn: nhu cầu củng cố, xác lập củng cốvương triều Trần, bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến; nhu cầu xây dựng nhànước phong kiến độc lập về chính trị, văn hóa, tư tưởng, phát huy tinh thần độclập tự chủ, đấu tranh chống lại ảnh hưởng của phương Bắc và giữ vững độc lậpdân tộc Trong điều kiện đất nước có giặc ngoại xâm, mâu thuẫn giữa tầng lớpquý tộc nhà Trần với nhân dân lao động và mâu thuẫn giữa toàn bộ dân tộc ViệtNam, trong đó có cả quý tộc vương triều Trần với sự xâm lăng, nô dịch của quân

Nguyên - Mông xâm lược là hai mâu thuẫn chủ yếu Trước nhu cầu cấp thiết

phải huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc chống quân xâm lược, nhà Trần

đã giải quyết mâu thuẫn đó bằng cách hy sinh lợi ích giai cấp, đặt lợi ích dân tộclên trên lợi ích giai cấp nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc chống

giặc Nguyên - Mông và bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia dân tộc Ba là, xuất

phát từ thực tiễn và kinh nghiệm của các cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông Trong thế kỷ XIII, nhà Trần đã phải đương đầu với ba lần kháng chiến

-chống quân Nguyên - Mông vào những năm 1258, 1285 và 1287 - 1288 Thực tiễn của các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông đầy gian khổ và oanh

liệt là những tiền đề giúp cho Trần Quốc Tuấn hình thành nên tư tưởng yêunước, tư tưởng chính trị và quân sự đặc sắc của mình Ông đã đúc kết kinhnghiệm thực tiễn ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông hình thành nên

tư tưởng phong phú và sâu sắc của mình, thể hiện trong các tác phẩm như: Hịch

tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư, Trả lời vua hỏi về thế giặc và Lâm chung di chúc

Như vây, xã hội Đại Việt từ cuối thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XIII đã trảiqua một thời kỳ đầy những biến động sâu sắc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,

xã hội Đây chính là cơ sở xã hội cho sự hình thành, phát triển của tư tưởng thờiTrần nói chung và tư tưởng của Trần Quốc Tuấn nói riêng

1.1.2 Sự phát triển văn hoá, giáo dục thời kỳ nhà Trần với việc hình thành tư tưởng của Trần Quốc Tuấn

Tư tưởng của Trần Quốc Tuấn không chỉ được nảy sinh và phát triển trên

cơ sở xã hội Đại Việt thế kỷ XIII, mà còn là sự tiếp thu, kế thừa các giá trị vănhóa tư tưởng của dân tộc và nhân loại nhằm giải đáp nhu cầu thực tiễn của xã hộiđại Việt lúc bấy giờ, đặc biệt là nhu cầu xây dựng một nền văn hoá độc lập vàcủng cố vương triều Trần trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng Nhà Trần đã khôi phục

và đưa nền văn hoá dân tộc phát triển rực rỡ trên các lĩnh vực văn học, sử học và

Trang 9

nghệ thuật Những thành tựu phát triển rực rỡ của nền văn hoá thời kỳ này đãgóp phần xây dựng nền giáo dục, khoa cử quy củ nhằm tuyển chọn nhân tài chođất nước và củng cố bộ máy nhà nước phong kiến Nhìn chung, trên tinh thầndân tộc, nhà Trần đã xác lập một nền giáo dục khoa cử độc lập đánh dấu mộtbước phát triển mới trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam cũng như tronglịch sử văn hoá của dân tộc ta “Nền văn hoá thời Trần đã đạt đến một trình độcao Đỉnh cao nhất của nền văn hoá đó là khoa học và nghệ thuật quân sự củanhà chiến lược thiên tài Trần Quốc Tuấn Một số ngành khoa học khác như thiênvăn, lịch pháp, y học cũng có những thành tựu đáng kể”5

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN

1.2.1 Giá trị tư tưởng và văn hoá truyền thống Việt Nam với sự hình thành tư tưởng của Trần Quốc Tuấn

Tư tưởng của Trần Quốc Tuấn một mặt phản ánh và chịu chi phối bởi đặcđiểm lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt và thực tiễn của ba cuộc khángchiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược trong thế kỷ XIII; mặt khác là sự kếthừa những giá trị tư tưởng và văn hoá truyền thống Việt Nam được vun đắp nênqua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước “Đó là lòng yêunước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắnkết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩatình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử,tính giản dị trong lối sống”6 Trong các truyền thống đúc kết đó, Trần Quốc

Tuấn đã tiếp thu những vấn đề cốt yếu sau: Một là, ý thức quốc gia dân tộc, ý chí

độc lập dân tộc; Hai là, lòng yêu nước nồng nàn; Ba là, tinh thần đoàn kết dân

tộc, ý thức gắn kết cộng đồng cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc Trên cơ sởtiếp thu, kế thừa tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc, ông đã phát triển, làmphong phú, sâu sắc thêm nội dung của nó qua tư tưởng yêu nước, trọng dân, thândân, “khoan sức cho dân”, dân là gốc, đánh giặc giữ nước dựa vào dân, thể hiện

trong Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Lâm chung di chúc.

1.2.2 Sự ảnh hưởng của “Tam giáo” với việc hình thành tư tưởng của Trần Quốc Tuấn

Cùng với việc kế thừa, phát triển các giá trị tư tưởng và văn hóa truyềnthống Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước

và giữ nước của dân tộc ta, tư tưởng của Trần Quốc Tuấn còn được hình thành,phát triển trên cơ sở tiếp thu, chắt lọc tinh hoa tư tưởng văn hóa phương Đông, mà

5 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, t 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tr 218.

6 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương Khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1998, tr 56.

Trang 10

cốt lõi là tinh hoa tư tưởng, những giá trị đặc sắc của Nho giáo, Phật giáo Thứ nhất, Phật giáo Việt Nam thời kỳ nhà Trần đã đáp ứng được nhu cầu có một hệ

tư tưởng độc lập thống nhất trên phương diện văn hoá, tư tưởng nhằm thoát dần

sự ảnh hưởng của văn hoá bên ngoài Những biến đổi về chính trị, kinh tế - xã

hội đầu thời kỳ nhà Trần tất yếu đòi hỏi có sự biến đổi về tư tưởng, đặc biệt là cần

có một hệ tư tưởng, tôn giáo mới để duy trì trật tự xã hội, củng cố nhà nước quânchủ trung ương tập quyền và thiền Trúc Lâm Yên Tử ra đời đáp ứng nhu cầu đócủa Đại Việt Trần Quốc Tuấn không chỉ tiếp thu tinh thần “từ bi, bác ái” của Phậtgiáo để xây dựng một nền chính trị hoà mục, trọng dân, “thân dân”, cứu dân khỏihoạ chiến tranh và đem lại hạnh phúc cho nhân dân, mà còn yêu thương, hoà đồngvới các tướng sĩ nhằm xây dựng “đội quân cha con” đánh thắng quân Nguyên -

Mông xâm lược Thứ hai, Nho giáo Việt Nam thời Trần là phương tiện hữu hiệu

để nhà Trần củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền, quản lý đất nước

và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Nhà Trần đã chắt lọc tinh hoa của Nho

giáo để trị nước, an dân, bảo vệ lợi ích của vương triều Trần Quan lại xuất thân từnho học ngày càng nhiều và nắm giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình:

“Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Hứ, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Dữ, PhạmMại, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Lê Duy, TrươngHán Siêu, Lê Cư Nhân nối nhau làm quan, nhân tài nở rộ”7 Tư tưởng của TrầnQuốc Tuấn cũng đề cập các phạm trù đạo đức nhân sinh như: “nhân”, “lễ”,

“nghĩa”, “trí”, “tín”, “trung”, “hiếu”, “nhân nghĩa”, “vinh”, “nhục”, thế - thời….Ông tiếp thu Nho giáo trên tinh thần dân tộc và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Thứ ba, cùng với Nho giáo và Phật giáo, Lão giáo Việt Nam thời Trần hoà vào

tín ngưỡng dân gian tạo nên sự dung hợp “Tam giáo” đặc sắc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần của nhân dân, tôn vinh những người có công lớn với dân tộc Trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn sự ảnh hưởng của Lão

giáo chưa rõ nét Ông vốn xuất thân từ dòng võ tướng, nhưng sống chan hòa,bình dị, hoà đồng với tướng sĩ và gần gũi với nhân dân Ông có lối sống bình

dị, phong thái ung dung tự tại, coi nhẹ hình thức, không xem trọng danh lợi vàhòa nhập với thiên nhiên

7 Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2009, tr 357.

Trang 11

hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhất là tinh thần đoàn kết, lòngyêu nước nồng nàn, ý thức quốc gia dân tộc, ý chí độc lập dân tộc

Có thể nói, những nhu cầu của xã hội Đại Việt và thực tiễn của các cuộc

kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược đầy gian khổ mà hào hùng là

những tiền đề giúp cho Trần Quốc Tuấn hình thành nên tư tưởng yêu nước, tưtưởng chính trị và quân sự đặc sắc của mình

Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN

CỦA TRẦN QUỐC TUẤN 2.1 CÁC GIAI ĐOẠN CHỦ YẾU TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN

Tư tưởng của Trần Quốc Tuấn là một quá trình phát triển liên tục, sinhđộng và thống nhất Cho nên phân chia các giai đoạn để nghiên cứu tư tưởng chủyếu và làm rõ sự chuyển biến trong tư tưởng của ông chỉ mang tính tương đối

Về cơ bản, tác giả chia quá trình phát triển tư tưởng của Trần Quốc Tuấn thành

ba giai đoạn chủ yếu sau:

2.1.1 Giai đoạn thứ nhất - Trần Quốc Tuấn trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông

Trần Quốc Tuấn đã sớm nghiên cứu binh pháp và chắt lọc tinh hoa quân

sự của Trung Quốc cổ đại và những tri thức quân sự của dân tộc ta thành hai bộ

binh thư: Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư để dạy cho các tướng

sĩ, huấn luyện kỹ thuật quân sự cho quân đội nhà Trần Tư tưởng Trần Quốc Tuấn

được thể hiện qua hai tác phẩm này với nội dung chủ yếu sau: Một là, ông đề cao vai trò của “hòa mục” trong việc trị nước an dân; Hai là, ông đề cao tinh thần đoàn kết, đồng cam cộng khổ của tướng sĩ; Ba là, nghệ thuật quân sự với phương châm chiến lược là đánh lâu dài, dựa vào sức mình Bốn là, phát huy sở trường

của ta, chống lại sở trường của địch và đánh địch theo cách đánh mà ta lựa chọn,

không cho địch phát huy cách đánh sở trường của chúng Năm là, “dân là gốc”

Từ những tri thức quân sự của ông đúc kết, các tướng lĩnh nhà Trần vậndụng linh hoạt, nhờ đó mà trăm trận trăm thắng “Cho nên đương thời phía Bắclàm cho Hung Nô phải sợ, phía Tây làm cho Lâm Ấp phải kinh”8

2.1.2 Giai đoạn thứ hai - Trần Quốc Tuấn với ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông

Quân Nguyên - Mông ba lần xâm lược nước ta vào các năm 1258, 1285 và

1288 Đây là giai đoạn đánh dấu quá trình chuyển biến trong tư tưởng của TrầnQuốc Tuấn từ giai đoạn nhận thức sâu sắc về độc lập dân tộc, bước sang giai

8 Thơ văn Lý - Trần, t 2, Sđd, tr 600.

Trang 12

đoạn quyết tâm đánh thắng giặc bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 9 năm 1257, vua Trần Thái Tông “xuống

chiếu lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sựtiết chế của Trần Quốc Tuấn”9 Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên

- Mông lần thứ hai và lần thứ ba, Trần Quốc Tuấn được trao quyền tổng chỉ huy

quân đội Trong giai đoạn này, tư tưởng cơ bản của ông được thể hiện trong

Hịch tướng sĩ, Trả lời nhà vua hỏi về thế giặc nổi bật là lòng yêu nước nồng

nàn, ý chí căm thù giặc sâu sắc “臣請先斬臣頭然後降賊 臣頭若在社稷 猶存.願陛下無憂 臣沮有破賊之策 Thần thỉnh tiên trảm thần đầu, nhiên hậu hàng tặc.Thần đầu nhược tại, xã tắc do tồn Nguyện bệ hạ vô ưu Thần tự hữu phá tặc chisách Thần xin trước hãy chém đầu thần rồi sau lại hàng Đầu thần còn đấy thì xãtắc ắt còn Xin bệ hạ đừng lo Thần đã tự mình có kế sách phá giặc”10 Sự cống

hiến của ông trong thời gian này: Một là, ông chủ động xây dựng và củng cố

khối đại đoàn kết toàn dân đánh giặc cứu nước, chuẩn bị mọi mặt để chống quân

Nguyên - Mông xâm lược Hai là, ông tham gia vạch ra kế hoạch chiến lược

chống quân Nguyên - Mông; Ba là, tổ chức và chỉ đạo chiến lược, chiến thuật

đưa các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông giành thắng lợi, thể hiện

lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nghệ thuật quân sự thiên tài

Nhìn chung, “Với tri thức quân sự uyên bác kết hợp với tinh thần yêunước nồng nàn và lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc, ông đã góp phần lớn laovào việc tổ chức và lãnh đạo kháng chiến, đưa khoa học và nghệ thuật quân sựViệt Nam tiến lên một bước vượt mức Trần Quốc Tuấn là một anh hùng vinhquang của dân tộc, một thiên tài quân sự mà công lao và sự nghiệp giữ nước củaông sẽ sống mãi với lịch sử oai hùng của dân tộc”11

2.1.3 Giai đoạn thứ ba - Trần Quốc Tuấn tổng kết kinh nghiệm lịch

sử trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Là người trực tiếp tham gia ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược và là người lãnh đạo chủ chốt của triều đình nên Trần QuốcTuấn đã có những trải nghiệm thực tiễn nhất định, vì vậy mà ông có điều kiện đểđúc kết những kinh nghiệm thực tiễn của mình Ông đã tổng kết kinh nghiệm giữ

-nước từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần và chỉ các bài học: Một là, về quân sự, “kén

dùng tướng giỏi”, và “phải gây dựng được một “đội quân cha con”, nghệ thuật

quân sự “lấy ngắn chế dài”; Hai là, về chính trị “Khoan sức cho dân để làm kế

sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”12 Những quan điểm tư tưởng chínhtrị - quân sự như dựa vào dân đánh giặc giữ nước, “khoan sức cho dân”, dân là

9 Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr 283.

10 Thơ văn Lý - Trần, t 2, Sđd, tr 386.

11 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, t 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tr 212.

12 Thơ văn Lý - Trần, t 2, Sđd, tr 397.

Trang 13

gốc, về xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, về phương châmchiến lược “dĩ đoản, chế trường”, về xây dựng quân đội tinh nhuệ trên dưới một

dạ như cha con của Trần Quốc Tuấn là những tư tưởng tiên tiến, đúng đắn vàsáng tạo, vượt thời đại mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị

2.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN QUỐC TUẤN

Tư tưởng chính trị và tư tưởng quân sự của ông phản ánh một cách sâusắc, sinh động thực tiễn xã hội Đại Việt trong thế kỷ XIII và thực tiễn của các

cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược Tư tưởng của ông phản

ánh và thể hiện bao quát sâu rộng trên các lĩnh vực chính trị, quân sự; trong đó,nổi bật chính là tư tưởng quân sự Nội dung tư tưởng của Trần Quốc Tuấn được

thể hiện trong Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ và Vạn Kiếp tông bí truyền thư.

2.2.1 Tư tưởng chính trị của Trần Quốc Tuấn

Có thể nói, tư tưởng chính trị của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn nảysinh, hình thành không chỉ dựa trên những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị -

xã hội, mà còn là sự phản ánh những nhu cầu cấp thiết của xã hội Đại Việt lúc

bấy giờ và biểu hiện ở những nội dung chủ yếu sau: Một là, tư tưởng yêu nước

và tinh thần dân tộc; Hai là, tư tưởng về nhân dân.

Thứ nhất, về tư tưởng yêu nước và tinh thần dân tộc “Yêu nước là

nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội, mà nội dung là tình yêu

và lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổquốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc”13 Nội dung tư tưởng yêu nước

của Trần Quốc Tuấn thể hiện sinh động trong các tác phẩm Binh thư yếu lược,

Vạn Kiếp tông bí truyền thư, Hịch tướng sĩ và Lâm chung di chúc Có thể nói

lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở những nội dung sau: Một là, ý

chí và lòng căm thù giặc sâu sắc ông viết: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm

vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăngan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây tabọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm”14 Ông kêu gọi tướng sĩ đồng lòngcùng nhau luyện tập binh thư, võ nghệ “Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cungtên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như HậuNghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân NamVương ở Cảo Nhai”15 Có lòng yêu nước, tinh thần độc lập dân tộc sâu sắc, cóniềm tin tất thắng vào cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc và sức mạnh củaquân dân Đại Việt nên ngay cả khi lúc giặc mạnh, đất nước lâm nguy, một sốngười trong triều đình ra hàng giặc, vua Trần Thánh Tông đến hỏi ông: “Nay thế

13 Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ, Máxcơva, 1975, tr 712.

14 Thơ văn Lý - Trần, t 2, Sđd, tr 391.

15 Thơ văn Lý - Trần, t 2, Sđd, tr 392.

Ngày đăng: 26/01/2016, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w