2 Nhìn chung, lịch sử nghiên cứu về trào phúng, mỉa mai và châm biếm khá phong phú về số lượng công trình tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu vào giải mã các cơ chế ngôn ngữ dưới góc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN TRỌNG NGHĨA
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
LẬP LUẬN
(Trên cứ liệu tiếng Việt)
Chuyên ngành : Lí luận ngôn ngữ
Trang 2Công trình này được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Cán bô ̣ hướng dẫn khoa ho ̣c:
1 GS.TS Nguyễn Đức Dân
2 TS Trần Văn Tiếng Cán bô ̣ phản biê ̣n đô ̣c lâ ̣p:
Cán bô ̣ phản biện Hội đồng chấm luâ ̣n án cấp Trường:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Trường, tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian: giờ ngày tháng năm
Có thể tìm đọc luận án tại:
- Thư viê ̣n Khoa ho ̣c Tổng hơ ̣p TP.HCM
- Thư viê ̣n Trung tâm Đa ̣i ho ̣c Quốc gia TP.HCM
- Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM
Trang 3NHỮNG CÔNG BỐ KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN
1 Trần Trọng Nghĩa (2011), Logic ngôn ngữ trong truyện
cười, Tập san Ngoại ngữ - tin học và giáo dục, (tr 109 -
114), Trường đại học Ngoại ngữ và Tin học TP.HCM
2 Trần Trọng Nghĩa (2012), So sánh cách lập luận trong
chuyện cười của Việt Nam và Hàn Quốc, Kỷ yếu hội thảo
quốc tế Việt – Hàn, (tr 209 - 214), Trường đại học Ngoại
ngữ và Tin học TP.HCM
3 Trần Trọng Nghĩa (2013), Về cái hài trong ngôn ngữ, Tạp
chí Đại học Sài Gòn (Journal of Saigon University), số
13/2013 (tr 22-27), Trường đại học Sài Gòn
4 Trần Trọng Nghĩa (2013), Một số yếu tố cơ bản trong gây
cười bằng ngôn ngữ, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 7,
(tr 21 - 24), tháng 7 năm 2013
5 Trần Trọng Nghĩa (2013), Lý lẽ trong lập luận trào phúng -
châm biếm, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 12, (tr 48 -
52), tháng 12 năm 2013
Trang 5việc nghiên cứu đề tài „Lập luận trong tiểu phẩm trào phúng’ có ý nghĩa cả về
mặt lý thuyết và thực tiễn trong nói năng hài hước hàng ngày, trong giảng dạy
và nghiên cứu tiếng Việt
2 Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, các phạm trù của trào phúng gồm hài hước, mỉa mai và
châm biếm đã được giới học thuật quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Một số đại
diện tiêu biểu là: Socrates (469-399) một triết gia Hy Lạp cổ đại, nổi tiếng với
khái niệm Mỉa mai kiểu Socrates (Socratic irony); Henri Bergson, Le rire (1959), (Tiếng cười); Booth W có công trình A rhetoric of irony (1974), (Phép
tu từ nói mỉa); Raskin V với quyển The semantic mechanisms of humor (1984), (Những cơ cấu ngữ nghĩa của hài hước) Tuy nhiên những công trình
trên thường chỉ xem xét từng đối tượng riêng, chưa thấy công trình nào khảo
sát bộ ba của trào phúng gồm: hài hước, mỉa mai và châm biếm trong một hệ thống chỉnh thể Đến năm 2007, Thomas Cathcart & Daniel Klein trong Plato
and a Platypus Walk into a Bar, bắt đầu khảo sát bộ ba trên từ góc nhìn liên
ngành với triết học, xem trào phúng là một nguyên tắc thấu thị
Tại Việt Nam, Trương Chính và Phong Châu bàn về tiếng cười trong văn
học trào phúng dân gian trong tác phẩm “Tiếng cười dân gian Việt Nam” (TCDGVN, 1979); cuốn “Tiếng cười thế giới” (TCTG, 1988) do Nguyễn Đức
Dân chủ biên, đã đề cập đến vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật gây cười
Trang 62 Nhìn chung, lịch sử nghiên cứu về trào phúng, mỉa mai và châm biếm khá phong phú về số lượng công trình tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu vào giải mã các cơ chế ngôn ngữ dưới góc nhìn của lý thuyết lập luận
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa các cấu trúc và phương pháp lập luận trong lập luận trào phúng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án đề ra bốn nhiệm vụ nghiên cứu sau:
a Luận giải cơ sở ngôn ngữ học và các yếu tố cấu thành lập luận trào phúng
b Minh định và hệ thống hóa các kiểu lý lẽ được sử dụng trong các tiểu phẩm trào phúng
c Xác định vai trò và sức mạnh của ngôn ngữ trong việc tạo ra các hiệu quả trào phúng
d Định danh các phương thức lập luận gây hiệu quả trong các tiểu phẩm loại này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của luận án là các tiểu phẩm trào phúng (TPTP) bằng
tiếng Việt Phạm vi nghiên cứu chủ yếu giới hạn trong các cơ sở hình thành và các tiêu chí nhận diện yếu tố trào phúng gồm hài hước, châm biếm và mỉa mai Minh định và hệ thống hóa các kiểu lý lẽ được sử dụng trong các TPTP, các chiến lược lập luận và các giá trị ngữ dụng của chúng
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Luận án chủ yếu vận dụng hai phương pháp: Phương pháp miêu tả và
Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp miêu tả: bao gồm hai thủ pháp là thống kê, phân loại và thủ
pháp phân tích, tổng hợp Thủ pháp phân tích và tổng hợp được vận dụng để
Trang 73 phân tích ngữ liệu trên ba lĩnh vực: cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng trong mối liên hệ với các ngành văn hóa học, văn học, tâm lý học và triết học Kết quả phân tích sẽ được khái quát và tổng hợp thành sơ đồ, bảng biểu; dùng làm cơ
sở cho việc so sánh đối chiếu trong quá trình nghiên cứu
Phương pháp so sánh đối chiếu: Luận án tiến hành so sánh, đối chiếu các
đặc điểm nổi bật và các phương thức tạo ra trào phúng, châm biếm trong các tiểu phẩm Qua đó chúng tôi tổng kết những nét phổ quát và những nét riêng
về văn hóa, ngôn ngữ trong TPTP Luận án có sử dụng một số kết quả nghiên cứu liên ngành để làm sáng tỏ các vấn đề khảo sát
Nguồn ngữ liệu chính của luận án là các quyển: Tiếng cười thế giới (TCTG) của Nguyễn Đức Dân và Phạm Văn Tình (sưu tầm và tuyển chọn), Nxb.Văn học, 2007 (350 tiểu phẩm); Tiếng cười dân gian Việt Nam (TCDGVN) của Trương Chính và Phong Châu, Nxb Khoa học Xã hội, 1979 (288 tiểu phẩm) và quyển Plato và con thú mỏ vịt bước vào quán bar Lĩnh
hội triết học thông qua truyện cười (Plato and a Platypus Walk into a Bar… Understanding Philosophy Through Jokes (PPWB)) của Thomas Cathcart &
Daniel Klein Nxb Abrahams Image, 2005 (bản dịch của Tiết Hùng Thái, Nxb Thế Giới, 2014), (125 tiểu phẩm) Nguồn ngữ liệu quan trọng thứ 3 là các
TPTP tiêu biểu, đặc sắc trên tờ báo Tuổi trẻ cười (giai đoạn 2003 - 2013)
Luận án chỉ lựa chọn 515 tiểu phẩm tiêu biểu làm ngữ liệu Trong quá trình khảo sát, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu với một số lập luận cùng thể loại trong văn học Việt Nam và văn học dân gian của một số nước khác
6 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận án
6.1 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án chỉ ra khái niệm trào phúng là một nguyên tắc thấu thị Người lập luận có điểm nhìn xuyên suốt bản chất của hiện tượng cần phê
Trang 84 phán, từ đó lựa chọn các chiến lượt sử dụng ngôn ngữ phù hợp nhất để đạt hiệu quả cao nhất
- Luận án trình bày công thức trào phúng:
trào phúng = hài + mỉa mai, châm biếm
- Luận án xác định yếu tố trào (hài) là yếu tố quyết định và đã tập trung khảo sát, kiến giải các bước lập luận gây cười Luận án đã mô hình hóa bằng sơ đồ 1.1, theo đó có ba bước cơ bản cho một lập luận gây cười Biên độ của kết đề trong lập luận trào phúng càng xa với lẽ thường bao nhiêu thì sức bùng nổ của cái cười càng lớn bấy nhiêu
- Ngoài ra, luận án trình bày 3 qui tắc giải mã, 7 phương thức và 5 thủ thuật lập luận trong tiểu phẩm trào phúng
6.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào việc nghiên cứu diễn
ngôn trong văn học trào phúng, cụ thể là:
- Mở rộng biên độ về đối tượng khảo sát của lập luận (những TPTP và
châm biếm) Công trình này xem xét đối tượng này dưới góc nhìn lập
luận, nghĩa là kiến giải việc dùng các lý lẽ, tác tử, kết tử, các cấu trúc siêu ngôn ngữ v.v gọi chung là các công cụ lập luận để tạo ra những giá trị trào phúng và châm biếm một cách có hiệu quả
- Xây dựng các tiêu chí để nhận diện, qui tắc giải mã các hiện tượng trào phúng
Về thực tiễn: Những kết quả phân tích và tổng hợp của luận án này sẽ có ích:
- Cung cấp thêm một số cơ sở cho việc phân tích diễn ngôn, đặc biệt là các diễn ngôn châm biếm và hài hước
- Vận dụng các phương pháp lập luận trào phúng và hài hước vào giáo dục sẽ làm tăng hiệu quả dạy học
Trang 95
7 Kết cấu của Luận án
Bố cục của luận án gồm có 3 chương, chương 1: Cơ sở lý luận cho việc phân tích tiểu phẩm trào phúng, chương 2: Nghiên cứu vai trò của lý lẽ và vai trò của ngôn ngữ trong lập luận trào phúng, chương 3: Trình bày các phương thức lập luận, các chiến lược gây hiệu quả và một số thủ thuật lập luận trào phúng
NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Lập luận là sử dụng lý lẽ để đi đến mục đích của nói năng Mục đích của lập
luận là giải quyết hai vấn đề: Về lý thuyết: Lập luận đi tới một cái đích về giá trị chân lý, thường thấy trong các lập luận mang tính khoa học, hàn lâm Về
thực tiễn: Lập luận để đi tới một cái đích về tính hiệu quả, thường thấy trong
các lập luận phi hình thức, những kiểu nói năng thông thường hàng ngày
Có hai kiểu lập luận cơ bản: lập luận theo diễn từ chuẩn mực và lập luận trong
ngôn ngữ
1.2 Lập luận trào phúng
Khác với kiểu lập luận theo diễn từ chuẩn mực, lập luận trong ngôn ngữ tuân thủ những quy tắc ngôn từ trong lập luận Trong hoạt động ngôn từ có những biểu thức ngôn ngữ mang tính định hướng cho một kết luận nào đó Mỗi phát ngôn ngoài nghĩa văn bản còn có tiềm năng ngữ nghĩa tạo ra chuỗi liên kết với các phát ngôn khác Nghĩa là cần nhìn nhận chức năng ngữ dụng của một phát ngôn trong một chuỗi các phát ngôn đi với nó
Một lập luận trào phúng khác với lập luận thông thường ở chỗ mục đích,
nó không nhằm thuyết phục hay dẫn dắt người nghe đi đến một kết luận, mà nhằm tạo ra hiệu quả châm biếm hay mỉa mai thông qua công cụ chính là cái cười Trong lập luận trào phúng, các lẽ thường làm hạt nhân, làm cơ sở cho
Trang 106 các hàm ý trào phúng Các công cụ lập luận như tác tử, kết tử được sử dụng như những cấu trúc trừu tượng nhằm tạo nghĩa hàm ý và là dấu hiệu của các
tiền giả định Yếu tố trào – gây cười là phương tiện, yếu tố phúng – châm
biếm, mỉa mai là mục đích Cái hài trong trào phúng khác với cái hài thuần túy
ở chỗ chủ đích Tính trí tuệ và hiện thực càng cao thì triết lý giáo dục càng sâu
sắc
1.3 Yếu tố trào trong lập luận
Có ba bước cơ bản trong lập luận gây cười: mào đầu, dẫn dắt và đột ngột chuyển hướng và tăng tiến
Sơ đồ 1.1: Mô hình khái quát các bước lập luận gây cười
Quá trình chuyển hướng cần phải đảm bảo các yếu tố: bất ngờ, thú vị (hấp
dẫn, kích thích sự hiếu kì), tính hợp lý, yếu tố trí tuệ và tính mới lạ Biên độ
giữa C và C‟ càng lớn thì sức gây cười càng cao
Có ba yếu tố cơ bản: yếu tố bất ngờ, yếu tố phóng đại – cường điệu và
yếu tố dung tục Yếu tố bất ngờ là những gì diễn ra ngoài sự suy đoán, phán
đoán thông thường Xét về lượng thông tin, yếu tố nào càng mới lạ, càng gây
bất ngờ thì lượng thông tin càng cao Vì thế mà có người đã nhận xét: “Người
lịch sự là người nghe một câu chuyện cười lần thứ một trăm nhưng vẫn cứ
Trang 117
cười như lần đầu” Cười là vì phép lịch sự, thực tế trong những lần nghe tiếp
theo cùng một câu chuyện thì lượng thông tin lúc này bằng không (theo lý
thuyết thông tin - entropy) Bất ngờ luôn hiện hữu trong LLTP Khi yếu tố bất
ngờ không còn thì cái cười còn lại chỉ là cười xã giao Yếu tố dung tục chiếm
42,2% trong tổng số 515 mẫu khảo sát Yếu tố phóng đại – cường điệu xuất
hiện nhiều nhất trong TCDGVN
1.4 Yếu tố phúng trong lập luận
Trong phương châm hội thoại, Grice quan niệm: nói đủ, nói đúng, không
lạc đề và nói rõ ràng dễ hiểu Tất cả các phát ngôn của chúng ta đều bị chi phối bởi một hoặc những lẽ thường nào đó Khi một phát ngôn không tuân thủ theo các tiêu chuẩn trên phải được hiểu theo một các khác thường, đó là nghĩa của hàm ý Khi châm biếm, mỉa mai người ta chủ yếu sử dụng kiểu nói có hàm ý
và nói ngược
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương này, luận án đã xây dựng các khung khái niệm: hài hước,
mỉa mai, châm biếm nhằm mục đích làm cơ sở lý thuyết cho luận án Lập luận trong tiểu phẩm trào phúng Trong luận án này chúng tôi đã quan niệm cấu
trúc của một lập luận trào phúng là: Satire = humor + criticism → inspired
reform (trào phúng = hài hước + phê phán → khích lệ sự sửa đổi tích cực).Trong đó hài hước là công cụ để phê phán, hai hình thức phê phán chủ
yếu là mỉa mai và châm biếm Mỉa mai và châm biếm có những điểm chung và
những điểm khác biệt Điểm chung: Thứ nhất, khi gán cho đối tượng một
thuộc tính ngược lại với bản chất của đối tượng thì sẽ hiểu thành mỉa mai, châm biếm Thứ hai, mỉa mai và châm biếm vừa có tính phổ quát vừa có tính đặc thù của văn hóa vùng miền Thứ ba, sử dụng yếu tố hài làm công cụ hiệu quả để mỉa mai châm biếm Và Thứ tư, đối tượng của mỉa mai châm biếm là
các thói hư tật xấu, những điều kém cỏi thấp hèn Điểm khác biệt: Mỉa mai
Trang 128 thiên về châm chọc, đả kích, hạ diệt Châm biếm thiên về chỉ trích, khích lệ sự tiến bộ
Chương 2
LÝ LẼ VÀ VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ TRONG LẬP LUẬN TRÀO PHÚNG
2.1 Lý lẽ trong lập luận trào phúng
Luận án quan niệm các Tiểu phẩm trào phúng là các chỉnh thể lập luận, nghĩa là có tiền đề, lý lẽ và kết đề Có những phần là hiển ngôn nhưng cũng có
khi là hàm ngôn, do suy ý từ ngữ cảnh, tình huống
2.1.1 Cơ sở của lý lẽ trào phúng
Trong lập luận trào phúng, các lẽ thường dùng làm hạt nhân, làm cơ sở
cho các hàm ý trào phúng Các công cụ lập luận như tác tử, kết tử được sử
dụng để tạo hàm ý và là dấu hiệu của các tiền giả định Người lập luận không nói thẳng vào vấn đề nhưng người nghe vẫn có thể hiểu được, dựa trên cơ sở
bốn nguyên lý của tư duy: Nguyên lý đồng nhất, Nguyên lý phi mâu thuẫn,
Nguyên lý bài trung và Nguyên lý có lý do
2.1.2 Hai chức năng của lý lẽ trào phúng
Thứ nhất: Dùng lý lẽ để dẫn giải và đi đến kết luận: Để chuyển tải một
thông điệp trào phúng, người lập luận sử dụng một hoặc một chuỗi lý lẽ, nhằm dẫn dắt, tạo ra những ngữ nghĩa tác động lên người nghe Mục đích đầu tiên là
để gây sự chú ý hoặc tạo ra những bức xúc trước vấn đề được nêu, từ đó dẫn
dắt người nghe đến hàm ý trào phúng Thứ hai: Dùng lý lẽ để giả định tình
huống, nhằm tạo các tiền đề cơ sở cho kết đề Luận án đã thống kê các lý lẽ
dùng cho mục đích này chiếm 27,1% trên tổng số ngữ liệu khảo sát, tương đương 140/515 tiểu phẩm
Trang 139
2.2 Quy tắc giải mã lập luận trào phúng
Não bộ của con người luôn có xu hướng tổ chức lại những dữ kiện thu được từ quá trình tri nhận thành một cấu trúc có nghĩa Quá trình quan sát toàn diện và đưa ra suy luận được Langacker (Langacker R., 1997) gọi là quá trình phạm trù hóa Cơ sở của nó là quá trình thu thập, củng cố và tương tác giữa các dữ kiện Để hiểu được lập luận trào phúng, cần phải vận dụng các quy tắc
giải mã Luận án trình bày ba quy tắc giải mã một lập luận trào phúng: 1 xác
định điểm quy chiếu, 2 xác lập topos mới và 3 hiểu lại nghĩa của lập luận
2.2.1 Xác định điểm qui chiếu
Một lập luận trào phúng thường có hai điểm quy chiếu Điểm thứ nhất:
hiểu theo nghĩa thông thường, dựa trên các bề mặt thông tin hay sự chỉ dẫn của
từ vựng; điểm thứ hai: hiểu theo nghĩa suy luận, đây là phần thông tin mà lập
luận muốn truyền đạt
2.2.2 Xác lập các topos mới
Khác với các tiền đề logic, lẽ thường không có tính tất yếu Trong các kiểu nói năng có hàm ý, người ta có thể dễ dàng phủ định chúng (các lẽ thường hiện hữu trên bề mặt từ ngữ, còn gọi là lẽ thường cũ) để tạo ra các lẽ thường mới
(trong sự suy ý) Đỗ Hữu Châu (2003) “Có những trường hợp người nói tạo
ra hàm ngôn dựa vào một lẽ thường do chính anh ta xây dựng nên.” Trong
các truyện cười, các tiểu phẩm trào phúng việc xác lập một topos mới hầu như xảy ra liên tục vì các topos cũ thường chỉ dùng làm nền, hàm hạt nhân cho sự suy ý Cơ sở xác lập các topos mới là thực tiễn và tri thức nền Nếu thiếu tri thức nền thì không thể xác lập topos mới
2.2.3 Hiểu lại nghĩa của lập luận
Điều kiện để giải mã một lập luận trào phúng là phải gắn nó với ngữ cảnh (context) Theo phân tích trên, trong lập luận trào phúng thường xuất hiện sự mâu thuẫn nghĩa giữa hiển ngôn và tiền giả định Hoàng Phê viết: “Khi hiển
Trang 1410 ngôn có mâu thuẫn với tiền giả định thì vì tiền giả định có giá trị như một tiền
đề, không thể phủ định được, cho nên phải hiểu lại hiển ngôn.”
2.3 Phân loại lý lẽ trong lập luận trào phúng
Lý lẽ trong TPTP được sử dụng chủ yếu đảm đương những vai trò: Thứ
nhất là để dẫn giải, đưa ra các lý do, kể cả những lý do phi lý nhằm thu hút sự
chú ý Thứ hai là dùng lý lẽ để giả định một tình huống nhằm mục đích đặt
vào những nội dung châm biếm Luận án trình bày ba hình thức lý lẽ chính,
chiếm đa số trong ngữ liệu trào phúng được khảo sát là: ngộ biện, ngụy biện và
lý lẽ ngược
2.3.1 Lý lẽ ngộ biện
Ngộ biện là một lập luận sai Nghĩa là nó có hình thức của một lập luận nhưng lại không theo đúng những qui tắc đảm bảo cho sự suy diễn được đúng đắn Ngộ biện được thể hiện qua tính mơ hồ của ngôn ngữ Khi sử dụng
lý lẽ để gây mơ hồ, người lập luận tận dụng tối đa sự đa nghĩa và đồng âm của
từ vào trong tình huống lập luận để tạo ra nét nghĩa đặc biệt gọi là nghĩa lâm
thời Nghĩa lâm thời chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh hẹp và tự nó mất đi khi
không còn quy chiếu trong ngữ cảnh đó nữa Sử dụng lý lẽ gây mơ hồ, tạo nghĩa lâm thời chiếm 48,3% trên tổng số ngữ liệu khảo sát, tương đương
249/515 tiểu phẩm
2.3.2 Lý lẽ ngụy biện
Ngụy biện là sự cố tình dùng những lý lẽ có vẻ như đúng logic nhưng thực ra chứa đựng sai lầm để dẫn tới một kết luận sai nhằm một mục đích nào
đó Các thủ pháp ngụy biện sử dụng trong tiểu phẩm trào phúng: 1 đánh tráo
khái niệm, 2 đánh tráo luận đề, 3 dùng luận đề mơ hồ, 4 làm lẫn lộn, 5 Ngụy biện dựa vào lý lẽ quyền uy và 6 Dùng ngụy biện để đáp lại ngụy biện