Nhiều năm nay một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến đặc trưng từng thể loại thơ khi giảng dạy. Có khi dạy thơ siêu thực như dạy một bài thơ tự do thông thường nên thấy các bài thơ ấy thực khó tiếp cận và thưởng thức cái hay cái đẹp của nó. Ví dụ như bài Đàn ghi ta của lorca,i Nhiều đồng chí giáo viên băn khoăn khi giảng bài thơ này, học sinh kêu khó hiểu vì chưa hiểu hết đặc điểm của thơ Siêu thực.Vì vậy trong năm đầu nghiên cứu tôi sẽ hệ thống hóa các đặc trưng cơ bản của một số thể thơ để từ đó ứng vào các bài giảng cụ thể các tác phẩm thơ nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong các giờ dạy này.Trên cơ sở nội dung chương trình văn học của THPT tôi hệ thống hóa đặc trưng thể loại để giúp HS tiếp cận với các tác phẩm thơ trong chương trình
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TÂOJ YÊN BÁI
TRƯỜNG THPT THÁC BÀ
Chuyên đề nghiên cứu khoa học
"Giảng dạy phần đọc thơ trong chương trình ngữ văn THPT chú ý đặc
Trang 2Đề tài "Giảng dạy phần đọc thơ trong chương trỡnh ngữ văn THPT chỳ
-Trong chương trỡnh Ngữ Văn ở cấp THPT phần lớn kiến thức ở phần đọc văn là cỏc tỏc phẩm thơ( chiếm khoảng 40 %).Thực trạng giảng dạy hiện nay vẫn là chỉ tỡm
ra giỏ trị khỏi quỏt của tỏc phẩm( Nội dung-Nghệ thuật) chứ chưa thật sự khỏm phỏ hết cỏi hay cỏi đẹp của tỏc phẩm thơ
-Qua dự giờ đồng nghiệp tụi thấy nhiều giỏo viờn vẫn chỉ dừng ở mức độ tỡm hiểu khỏi quỏt, nhiều khi diễn nụm bài thơ chứ chưa chỳ ý đặc trưng thể thơ để tiếp cận và khỏm phỏ
-Khi kiểm tra kỹ năng nghị luận về một bài thơ và đoạn thơ, tụi thấy nhiều học sinh làm rất yếu, đa số là diễn nụm đoạn thơ và bài thơ ra văn xuụi, kết quả khụng cao
=>Từ thực trạng trờn tụi thấy việc nghiờn cứu chỳ ý đặc trưng thể thơ để giảng dạy phần đọc hiểu thơ là rất quan trọng
Chính vì vậy mà tôi đã quyết định chọn đề tài "Giảng dạy phần đọc thơ trong
chương trỡnh ngữ văn THPT chỳ ý đặc trưng thể loại" để trớc hết là bản
thân có điều kiện nâng cao chuyên môn, ỏp dụng vào giảng dạy sau thời gian nghiên cứu Và qua đây mong đợc chia xẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lợng chuyên môn và thực hiện tốt tiến trình đổi mới trong phạm vi nhà trờng THPT
3.ĐỐI TƯỢNG NGHIấN CỨU;
-Cỏc thể thơ: Lục bỏt, song thất lục bỏt, Đường luật, thơ hiện đại(thơ siờu thực)
-Cỏc tỏc phẩm thơ được học trong chương trỡnh Ngữ văn THPT ban Cơ bản
4.PHẠM VI ĐỀ TÀI
Trang 3-Phạm vi: môn đọc văn các phần văn học Việt Nam và văn học nớc ngoài ở một số tiết tiêu biểu.
5.NHIỆM VỤ NGHIấN CỨU
Năm học 2009-2010 tụi nghiờn cứu phần lớ thuyết, năm học 2010-2011 sẽ ứng dụng vào giảng dạy
6.PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
Làm đề tài này, tôi đã vận dụng nhiều phơng pháp Dới đây là những phơng pháp chủ yếu:
I.Cỏc tiờu chớ phõn loại thơ
Thơ cú đặc trưng riờng bàn về thơ nhà thơ Súng Hồng viết"Thơ là một hỡnh thỏi
nghệ thuật cao quý, tinh vi.Người làm thơ phải cú tỡnh cảm mónh liệt thể hiện sự nồng chỏy trong lũng Nhưng thơ là tỡnh cảm và lớ trớ kết hợp một cỏch nhuần nhuyễn
và cú nghệ thuật.Tỡnh cảm và lớ trớ ấy được diễn đạt bằng những hỡnh tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sỏng vang lờn nhạc điệu khỏc thường."
-Hiện thực trong thơ khụng phải hiện thực khỏch quan mà là hiện thực tõm trạng
-Thơ phải cú tứ thơ: là mối quan hệ đặc biệt giữa điều đang núi và những điều muốn
núi
-Thiờn về biểu hiện cảm xỳc, hàm sỳc cụ đọng
-Ngụn ngữ thơ là ngụn ngữ đặc biệt: cú vần, nhịp điệu,giàu hỡnh ảnh
*Tuỳ theo yờu cầu nghiờn cứu , cú thể chia thơ theo những tiờu chớ khỏc nhau
-Dựa vào phương thức phản ỏnh cú thể chia ra thơ tự sự và thơ trữ tỡnh
-Dựa vào thể luật chia ra thơ cỏch luật và thơ tự do
-Xột về mặt gieo vần:thơ cú vần , thơ khụng vần
-Phõn loại theo thời đại: thơ Đường, thơ Lý Trần
-Theo nội dung cú :Thơ tỡnh yờu, thơ triết lý, thơ chớnh trị, thơ đời thường
-Theo đặc trưng: Thơ siờu thực,
Chương 2.THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI:
I Kết quả thống kờ cỏc bài thơ và đoạn trớch thơ trong chương trỡnh văn THPT
* lớp 10
-Thơ Lục bỏt:18 bài
-Thơ song thất Lục bỏt: 02 bài
-Thơ thất ngụn Đường luật:10 bài
-Thơ ngũ ngụn Đường luật:03 bài
Trang 4-Thơ tự do:09 bài
* lớp 11
-Thơ Lục bát:05 bài
-Thơ song thất Lục bát:0 bài
-Thơ thất ngôn bát cú Đường luật: 08bài
- Thơ ngũ ngôn :0 bài
-Hát nói: 02 bài
-Thơ tự do:07 bài
* lớp 12
-Thơ Lục bát:02 bài
-Thơ song thất Lục bát: 0 bài
-Thơ thất ngôn: 01 bài
- Thơ ngũ ngôn:01 bài
-Thơ tự do:07 bài
-Thơ Siêu thực: 02 bài
II Thống kê số tiết đọc thơ trong phân phối chương trình Ngữ Văn THPT
dụ như bài Đàn ghi ta của lor-ca,i Nhiều đồng chí giáo viên băn khoăn khi giảng bài
thơ này, học sinh kêu khó hiểu vì chưa hiểu hết đặc điểm của thơ Siêu thực.Vì vậy trong năm đầu nghiên cứu tôi sẽ hệ thống hóa các đặc trưng cơ bản của một số thể thơ để từ đó ứng vào các bài giảng cụ thể các tác phẩm thơ nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong các giờ dạy này
Chương 3: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.
Hệ thống hóa đặc trung một số thể thơ
Trên cơ sở nội dung chương trình văn học của THPT tôi hệ thống hóa đặc trưng thể loại để giúp HS tiếp cận với các tác phẩm thơ trong chương trình
1.Thơ Đường luật
Thơ Đường luật chia làm hai thể: thơ bát cú (Luật Thi) và thơ tứ tuyệt (tuyệt cú)
1 1.Bát Cú : Thơ Bát Cú Có Hai Loại:
Thất Ngôn và Ngũ Ngôn
a Thất Ngôn Bát Cú
Thơ thất ngôn bát cú là loại thơ mỗi bài có 8 câu và mỗi câu 7 chữ, tức là chỉ có 56 chữ trong một bài thơ thất ngôn bát cú Thơ thất ngôn bát cú có thể được làm theo hai luật: luật bằng và luật trắc Về vần thì có hai loại: vần bằng và vần trắc Tuy nhiên,
Trang 5các nhà thơ thường hay làm theo vần bằng, tức là luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng
- Luật Bằng Vần Bằng là bài thơ bắt đầu bằng hai tiếng bằng và các tiếng ở cuối câu
1,2,4,6 và 8 phải vần với nhau và là vần bằng, chẳng hạn như trong bài Thu vịnh của
Nguyễn Khuyến câu đầu của bài thơ này bắt đầu bằng hai tiếng bằng: “Trời thu xanh
ngắt mấy tầng cao.” Các chữ cuối của câu 1, 2, 4, 6 và 8 gồm: “cao,hiu,vào,nào,bèo” đều là vần bằng và bắt vần với nhau
Cách sắp đặt tiếng bằng trắc (luật thơ) trong các câu của bài thơ thất ngôn bát cú luật bằng vần bằng như sau:
- Luật Trắc Vần Bằng là bài thơ bắt đầu bằng hai tiếng trắc và các tiếng ở cuối câu 1,
2, 4 ,6 và 8 phải vần với nhau và phải là vần bằng, chẳng hạn như trong bài Qua đèo
Ngang-Bà Huyện Thanh Quan, câu đầu của bài thơ này bắt đầu bằng hai tiếng trắc:
“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà.” Các chữ cuối của câu 1, 2, 4, 6 và 8 gồm: “tà, hoa, nhà, gia, ta ) đều là vần bằng và vần với nhau
Thơ ngũ ngôn bát cú là loại thơ mỗi bài gồm có 8 câu và mỗi câu có 5 chữ, tức là chỉ
có 40 chữ trong một bài thơ thuộc loại này Thơ ngũ ngôn bát cú cũng theo qui luật
về cách gieo vần như thất ngôn bát cú, tức là chỉ có một vần được gọi là độc vận và thường là vần bằng Cũng giống như thơ thất ngôn bát cú, các vần trong bài ngũ ngôn bát cú được gieo ở cuối câu đầu và cuối các câu chẵn
Thơ ngũ ngôn bát cú cũng có luật bằng trắc như thất ngôn bát cú, tức là bài thơ theo luật bằng thì bắt đầu bằng hai tiếng bằng, bài thơ theo luật trắc thì bắt đầu bằng hai tiếng trắc Cũng giống như thất ngôn bát cú, thường thường các nhà thơ làm thơ ngũ ngôn bát cú theo luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng Không có mấy ai làm theo vần trắc
- Luật Bằng Vần Bằng và cách sắp đặt các tiếng bằng trắc:
Luật Thơ
Trang 6* Bất Luận (không kể, tức là không cần phải theo đúng luật)
Trong lối thơ Đường Luật, người ta áp dụng luật “nhất tam ngũ bất luận” cho thơ thất ngôn, và “nhất tam bất luận” cho thơ ngũ ngôn Điều này có nghĩa là trong thơ thất ngôn thì chữ thứ nhất, thứ ba, và thứ năm không cần phải theo đúng luật; trong thơ ngũ ngôn thì chữ thứ nhất và thứ ba không bắt buộc phải theo đúng luật Chính vì thế mới gọi là “bất luận” (không kể)
- Niêm
“Niêm” có nghĩa là dính, ý nói sự liên hệ về âm luật của hai câu thơ trong một bài Đường luật phải đúng cách Đó là bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc Chữ thứ 2 của mỗi hai câu sau đây phải niêm với nhau, hoặc là cùng bằng hoặc là cùng trắc, bằng niêm với bằng và trắc niêm với trắc: câu 1 và 8, câu 2 và 3, câu 4 và 5, câu 6 và
7 Điều này có nghĩa là nếu bài thơ thuộc loại bát cú luật trắc vần bằng, chữ thứ nhì của câu 1 là trắc thì chữ thứ nhì của câu 8 cũng phải là trắc; chữ thứ nhì của câu 2 là bằng thì chữ thứ nhì của câu 3 cũng phải là bằng; chữ thứ nhì của câu 4 là trắc thì chữ thứ nhì của câu 5 cũng phải là trắc; và chữ thứ nhì của câu 6 là bằng thì chữ thứ nhì của câu 7 cũng phải là bằng Nếu bài thơ thuộc loại bát cú luật bằng vần bằng, chữ thứ nhì của câu 1 là bằng thì chữ thứ nhì của câu 8 cũng phải là bằng; chữ thứ nhì của câu 2 là trắc thì chữ thứ nhì của câu 3 cũng phải là trắc; chữ thứ nhì của câu 4 là bằng thì chữ thứ nhì của câu 5 cũng phải là bằng; và chữ thứ nhì của câu 6 là trắc thì chữ thứ nhì của 7 cũng phải là trắc
- Bố Cục Bài Thơ Bát Cú
* Câu số 1 dùng để mở bài (phá đề), câu số 2 dùng để chuyển tiếp vào bài (thừa đề)
Trang 7Hai câu này có tên là hai câu đề
* Hai câu 3 và 4 dùng để giải thích đề tài cho rõ ràng Hai câu này có tên là hai câu thuật (thực)
* Hai câu 5 và 6 dùng để bàn rộng nghĩa đề tài và được gọi là hai câu luận
*Hai câu 7 và 8 dùng để tóm ý nghĩa cả bài và được gọi là hai câu kết
- Hai cặp câu thơ phải đối với nhau trong bài Thất ngôn và Ngũ ngôn bát cú:
Trong bài thơ bát cú (thất ngôn hay ngũ ngôn), câu 3 đối với câu 4, và câu 5 đối với câu 6
Những câu này phải theo đúng luật bằng trắc (hai câu thực và hai câu luận) Đối là đặt hai câu cân xứng với nhau sao cho ý và chữ đối với nhau Thí dụ:
“Một duyên hai nợ âu đành phận”
* Thất ngôn tứ tuyệt Lý Thường Kiệt với bài thơ Thần (1076) Bài này được làm
theo cách luật trắc vần bằng, 3 vần, hai câu cuối đối nhau:
Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Nghĩa của bài này được tóm lược như sau:
"Núi sông nước Nam thì vua nước Nam ở
Rõ ràng phận đã định ở trong cuốn sổ của trời
Làm sao bọn giặc lại xâm phạm đất của ta được
Lũ chúng mày rồi sẽ bị thua bại hết"
*Ngũ ngôn tứ tuyệt Khi đem quân vào thành Thăng Long để mở tiệc khao quân sau
khi đánh cho Thoát Hoan (giặc nhà Nguyên) phải bỏ chạy (1284) Trần Quang Khải
đã làm bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt sau đây Bài thơ này được làm theo luật trắc, vần bằng, 2 vần, hai câu đầu đối nhau
Nguyên Tác của Trần Quang Khải:
Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái bình nghi nỗ lực
Trang 8Vạn cổ thử giang san
Trần Trọng Kim đã diễn Nôm:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu
2.Thơ lục bát là một thể thơ cách luật cổ điển thuần túy việt nam.
Đơn vị cơ bản là một tổ hợp gồm hai câu sáu tiếng và tám tiếng ,số câu không hạn định
Về gieo vần, chủ yếu là vần bằng, và cứ mỗi cặp hai câu mới đổi vần, tiếng cuối câu sáu vần với tiếng thứ sáu của câu tám, rồi tiếng cuối câu tám lại vần với tiếng cuối câu sáu sau, như thế ngoài vần chân có cả ở hai câu 6 8 ,lại có cả vần lưng trong câu tám:
Mình về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Về phối thanh, chỉ bắt buộc các tiếng thứ tư phải là trắc, các tiếng thứ hai, thứ sáu ,thứ tám phải là bằng,nhưng trong câu tám các tiếng thứ sáu thứ tám phải khác dấu, nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu hoặc ngược lại:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Trong thơ lục bát biến thể, những qui định trên có thay đổi chút ít,trước hết là số chữ
có thể tăng thêm , và vần lưng tất nhiên cũng xê dịch theo:
Tiền bạc ông lĩnh không biết bao cơ
Ông làm quan giữa huyện dân có ăn nhờ chi ông
Về phối thanh, tiếng thứ hai có thể là thanh trắc, nhất là ở câu sáu có tiều đối:
Ta với mình, mình với ta
Ngoài ra có thể gieo vần trắc, hệ thống bằng trắc trong tổ hợp hai câu sáu tám, do đó cũng thay đổi:
Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi
vần lưng có thể ở tiếng thứ hai, nhất là ở tiếng thứ tư, và lúc đó tiếng thứ tư đổi qua thanh bằng, và tiếng thứ sáu tiếp theo phải đổi sang thanh trắc:
Trang 93.Thơ song thất lục bát ( hai câu 7 + 6-8) là một thể văn vần (thơ) đặc thù của Việt Nam, là một dạng biến thể của Lục bát kết hợp với thơ 7 chữ theo Đường luật Tác phẩm dịch thơ Nôm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này.
Thơ song thất lục bát gồm có 2 câu 7 chữ và 1 câu 6 chữ, 1 câu 8 chữ
Chữ cuối câu thất trên vần với chữ thứ 5 câu thất dưới, chữ cuối câu thất dưới vần với chữ cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với chữ thứ 6 câu bát Và chữ cuối câu bát vần với chữ thứ 5 (đôi khi chữ thứ 3) của câu thất tiếp theo Thể thơ này thường gặp trong các khúc ngâm hoặc các bài thơ diễn tả nỗi buồn vì âm hưởng nó lặp lại ( 2 câu
7 , 1 câu 6 1 câu 8) rất phù hợp diễn tả nỗi buồn triền miên
• T : vần Trắc, với các dấu thanh : Hỏi, ngã, sắc, nặng
• B : Vần Bằng, với các dấu thanh : Bằng hay huyền
• Chữ in hoa : Chữ phải giữ vần
Một đoạn song thất lục bát tiêu biểu :
Thuở trời đất nổi cơn gió BỤI
Khách má hồng nhiều NỖI truân CHUYÊN
Xanh kia thăm thẳm từng TRÊN
Nào ai gây dựng cho NÊN nỗi NÀY
Trống Trường Thành lung LAY bóng NGUYỆT
Khói Cam Tuyền mờ MỊT khúc MÂY
Chín tầng gươm báu trao TAY
Nửa đêm truyền hịch đợi NGÀY xuất CHINH
Chinh Phụ Ngâm
4.Hát nói
Hát nói là một trong các lối hát ả-đào hay đào nương-ca Hát ả - đào gốm
những lối ca trù do đào-nương (hoặc cô đào) hát, đối với lối hát trai hay nam do giáp-công (hoặc kép) hát
Hà-Hát ả - đào kể có nhiều lối như dâng hương,giáo trống, gửi thư, thét nhạc… Nhưng chỉ có lối hát nói là thông dụng nhất là có văn chương lý-thú nhất
Hát nói có thể coi là một biến thể của hai thể lục bát và song thất
Đủ khổ, dôi khổ và thiếu khổ,- Mỗi bài hát nói chia làm nhiều đoạn gọi là khổ bài Mỗi khổ có bốn câu, trừ khổ cuối chỉ có ba câu
*Theo số khổ, hát nói chia làm ba thể:
Trang 10-Đủ khổ là những bài có ba khổ (khổ đầu 4 câu, khổ giữa 4 câu, khổ xếp 3 câu) cộng là 11 câu Thế này là chính thức.
-Dôi khổ là những bài có hơn ba khổ (khổ dôi ra là khổ giữa)
-Thiếu khổ là những bài thiếu một khổ (thường là khổ giữa) chỉ có 7 câu
Hai thể sau là biến thức
4.1 Đủ khổ
Các câu trong bài đủ khổ: theo tiếng nhà nghề, 11 câu trong bài đủ khổ có tên riêng là :
- khổ đầu: hai câu 1 – 2 là lá đầu, hai câu 3 – 4 là xuyên thưa
- Khổ giữa: hai câu 5-6 là thơ, hai câu 7-8 là xuyên mau
- Khổ xếp: câu 9 là dồn, câu 10 là xếp, câu 11 là keo
Số chữ trong câu hát nói: số chữ không nhất định , thường đặt những câu 7,8
chữ, nhưng có khi đặt những câu ngắn hơn chỉ có 4,5 chữ, hoặc dài tới 12,13 chữ
Duy có câu cuối bao giờ cũng đặt 6 chữ và hai câu 5-6 đặt thành hai câu thơ thì phải theo thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn Nhưng hai câu 5-6 không đặt theo thể thơ và có số chữ so le cũng được Thí dụ (hai câu 5-6 trong bài Rõ mặt tu mi của Nguyễn Công Trứ):
Đố kỵ sá chi con tạo
Nợ tang bồng quyết trả cho xong
Cách gieo vần trong bài hát nói:
Trong bài hát nói, dùng cả hai thứ vần: vầng bằng và vần trắc Khi nào trong một câu đang vần bằng đổi sang vần trắc hoặc trả lại thế thì vừa có yêu vận và cước vận những câu ấy là các câu chẵn, trừ câu thứ sáu là câu thơ nên chỉ có cước vận thôi
Trong mỗi khổ, cước vận của câu đầu và câu cuối phải dùng tiếng trắc, cước vận của hai câu giữa phải dùng tiếng bằng còn yêu vận của câu thứ hai thì phải dùng tiếng trắc mà của câu thứ tư thì dùng tiếng bằng để có thể chuyển vần trắc sang vần bằng hoặc vần bằng sang vần trắc được
yêu vận gieo vào chữ cuối đoạn thứ nhì (về sự chia đoạn, xem rõ mục sau)
Luật bằng trắc trong các bài hát nói - Đại khái luật bằng trắc các câu trong
mỗi khổ bài hát nói là như sau (những chữ in nghiêng ) không cần theo đúng luật, theo lệ (nhất, tam, ngũ bất luận ):
Câu thứ nhất : t t b b t t
Câu thứ nhì : b bt t b b
Câu thứ ba : b b t t b b
Câu thứ tu : t t b bt t
Trang 11Nên nhớ : Câu đầu và câu cuối theo một luật vì hai câu ấy đều gieo vần trắc, hai câu giữa đều theo một luật vì hai câu ấy đều gieo vần bằng.
Một bài hát nói có đủ khuôn khổ làm mẫu :
Nợ nam nhi của Nguyễn Công Trứ (0= chữ gác ra ngoài luật, b = bằng; t = trắc; yv = yêu -vận; cv = cuớc-vận; (hết một đoạn)
I :Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái
B b t t b b t (cv) ( theo luật thơ)
II : Cái công danh là cái nợ nần
Trang 12Cách làm bài hát nói dôi khổ - Trong những bài dôi khổ, khổ đầu, vẫn ở trên, khổ xếp vẫn ở duới, còn khổ giữa thì làm dôi ra thành hai ba khổ hoặc nhiều hon nữa tùy ý Trong những khổ dôi ra, số câu, số chữ, cách gieo vần và luật bằng trắc cung theo như các khổ chính Thí dụ Bài ca phong cảnh Hương sơn của Chu Mạnh Trinh
4.3 Thiếu khổ
Những bài khổ thiếu - một đôi khi bài hát nói thiếu hẳn đi một khổ, thuờng là khổ giữa, chỉ còn lại có 7 câu
Thí dụ :
Tiễn biệt ( Cung Thúc Thiềm)
Ngán cho nỗi xoay vần thế cục
Sum-họp này chả bõ lúc phân ly,
Hỡi ông tơ ! Độc địa làm chi!
Bắt kẻ ở người đi mà nỡ được!
Thôi đã chót cùng nhau nguyện-ước,
Duyên đôi ta chả trước thì sau
Yêu nhau nhớ lấy lời nhau
Mưỡu đầu có thể có một cặp câu lục bát (mưỡu đơn)hoặc hai cặp câu lục bát (mưỡu kép)
Những câu mưỡu đầu bao giờ cũng đặt trùm lên bài hát nói Câu mưỡu cuối không phải hiệp vần với câu đầu bài hát nói Thí dụ :
Đồng Tiền (NGUYỄN CÔNG TRỨ)
Trang 13Đủ vuông tròn tuợng Đất, tuợng Trời.
Khẳm họa, phúc, nguy, yên, tử, hoạt
Chốn kim-môn noi tử-thát
Mặc phao tuồng không kẻ phòng nhàn
Đương om-sòm chớp giật, sấm ran
Nghe xốc xách, lại gió hòa mua ngọt
Kẻ tài-bộ đa vào phương vận đạt,
Không ngươi, cùng ải với cỏ cây
Nguời yêm yêm đành một phận trầm mai
Có gã, lại trổ ra sừng gạc
Dốc đáy túi, mặt Nguyễn lang ngơ-ngác,
Trổng đầu giuờng, gan tráng-si-làu-bàu
Để đoàn ấm-á càu-nhàu,
Khiến lu tài-danh vơ-vẩn
Khả quái tầm thuờng “a đổ vật”
Khuớc giao đáo để đại thần linh
Đương đồ ai chẳng chuộng gia Huynh,
Thù thế, kể lấy làm đệ nhất,
Tiếng xỏng-xảnh đầy trong trời đất,
Thần cũng thông, huống nữa là ai?
Long đồ nghĩ cũng nực cuời
5.
Thơ hiện đại:
+Bắt đầu từ phong trào thơ Mới, các nhà thơ Mới một mặt vẫn chiụ ảnh hưởng của
Luật thơ của các thể thơ truyền thống khi sáng tác một mặt có những cách tân sáng tạo
Ví dụ: Bài Vội Vàng của Xuân Diệu bốn câu thơ đầu viết theo thể Ngũ ngôn , ngắt
nhịp 2/3, thanh điệu không theo luật thanh, có đối nhưng là đối giữa 2câu trên với 2
câu dưới Phần tiếp theo lại đan xen thơ 8 chữ với câu 3 chữ Ta muốn ôm
+ Sau năm 1975 có sự đổi mới về thơ ca xuất hiện nhiều bài thơ chịu ảnh hưởng thơ
ca phương Tây viết theo trường phái Siêu thực
Trong thơ hiện đại phương Tây, dòng thơ tượng trung và siêu thực là những trào lưu nghệ thuật ra đời vào cuối thế kỷ XIX và những năm 20 của thế kỷ trước với nhiều tên tuổi lớn và có ảnh hưởng đến nhiều khu vực trên thế giới
Chủ nghĩa tượng trưng (Symbolisme) : gắn liền với những nhà thơ lừng danh : Bôđơle, Véclen, Ranh bô, Man lác mê
-Thơ tượng trưng chủ trương phát huy cao độ mối quan hệ tương giao cảm giác (chuyển đổi cảm giác) trong việc cảm nhận và diễn tả thế giới
-Đề cao tính nhạc của thơ ’’Thơ là một bản hoà âm hình ảnh, mỗi từ trong thơ phải là một nốt nhạc ’’
-Dùng những biểu tượng để thể hiện tâm trạng cảm xúc của tâm hồn
-Chủ nghĩa siêu thực (Surréalisme): gắn liền với những tên tuổi lớn như Breton, Aragon, Pol Eluya
-Vì sao gọi là Chủ nghĩa siêu thực ? Các nhà thơ siêu thực quan niệm có hai thế giới Thế giới hiện thực là thế giới có thể nhìn thấy được, sờ mó được Phản ảnh thế giới
Trang 14đó là chỉ nắm bắt được những cái tầm thường Còn một thế giới khác chỉ có thể cảm thấy trong giấc mơ, trong cõi vô thức, tiên tri, trực giác, linh cảm, tiềm thức, ảo giác,
mê sảng mà họ gọi là thế giới siêu thực-trên hiện thực Thế giới đó là những lĩnh vực
vô hạn của sự sáng tạo nghệ thuật Nghệ thuật phải đào sâu vào thế giới vô thức của con người để thâm nhập khám phá bản chất bên trong của sự vật của tâm hồn con người Đó mới là chiều sâu của hiện thực (siêu thực)
-Chủ nghĩa siêu thực tin rằng nghệ thuật đã bị cầm tù quá lâu trong sự kiểm soát của
lý trí nên trở thành sáo mòn Thi nhân hãy đập vỡ bức tường chắn giữa con người với phần vô thức, pha trộn mộng với thực để sáng tạo
-Họ đề cao lối viết tự động ghi chép những gì lướt qua trong tâm linh, giấc mơ, ảo giác mà không thèm chú ý đến lí trí, đạo đức, tôn giáo
-Chủ nghĩa siêu thực chủ trương thơ ca phải được tự do tuôn trào- tuôn trào âm thanh
và thi ảnh, không cần sắp xếp, ngữ pháp, dấu câu, đề cao liên tưởng của cá nhân.-Các nhà siêu thực kêu gọi giải phóng cái tôi khỏi “gông cùm” của lô-gích, lý trí, đạo đức và mỹ học truyền thống, bị coi là sản phẩm quái gở của nền văn minh tư sản, cản trở khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ Vậy nên, theo các nhà siêu thực, hiện thực chân thực nhất, hiện thực tuyệt đối - tức siêu thực - là hiện thực bị “cầm tù” trong vô thức, cần phải được giải phóng và được thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật
Cơ sở phương pháp sáng tạo của chủ nghĩa siêu thực, theo A.Breton, là “sự tự động của tinh thần thuần túy nhằm mục đích thể hiện bằng lời nói, hoặc chữ viết, hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào khác sự hoạt động hiện thực của tư tưởng Các
tư tưởng được tự do bộc lộ, không phải chịu bất kỳ một sự kiểm soát nào của lý trí, hay của những thành kiến đạo đức và thẩm mỹ” Nhà nghệ sĩ, bởi vậy, cần phải dựa vào kinh nghiệm của những biểu hiện vô thức như giấc mơ, ảo giác, sự
mê sảng, hồi ức ấu thời, linh ảnh thần bí , “nhờ vào đường nét, mảng khối, hình thể và ánh sáng, nghệ sĩ phải cố gắng thâm nhập vào phía ấy của con người, phải đạt được sự vô hạn và sự vĩnh cửu” Hiệu quả của sự tác động thẩm mỹ của tác phẩm siêu thực dựa trên sự tuyệt đối hóa có ý thức nguyên tắc đối lập nghệ thuật Xuất phát từ luận điểm của nhà thơ P Reverdi cho rằng hình ảnh xuất hiện từ “sự xích lại gần nhau của những hiện thực cách xa nhau”, các nhà siêu thực xây dựng tác phẩm hoàn toàn dựa trên những thủ pháp như sự tương tự, cái nghịch lý, sự bất ngờ, sự thống nhất những cái không thể thống nhất được Từ đó ở tác phẩm xuất hiện một bầu không khí nghệ thuật đặc biệt, có tính huyền ảo, phi lý
Trong Siêu thực có 2 trường phái nhỏ:
* Siêu thực tự nhiên (ghép nối những thứ không liên quan gì với nhau, viễn cảnh nghịch, như ở các tác phẩm của Salvador Dalí),
* Siêu thực trừu tượng hoặc Siêu thực tuyệt đối (cũng giống như trên, nhưng không
có bất kỳ tính hiện thực nào, như trong tranh của Joan Miró)
-Trong bài nghiên cứu "Hình ảnh trong thơ siêu thực" của Đào Duy Hiệp:- "Chủ
nghĩa tượng trưng đề nghị thơ không phải là miêu tả, kể chuyện, mà phải chạm tới bản chất của sự vật, bên kia cái vẻ bề ngoài của nó -, thơ phải sử dụng tượng trưng (symbole), mang tính khơi gợi, tính lỏng, tính nhạc, tính phù chú"
- "Tạo ra từ ngôn ngữ một công cụ có khả năng gọi hồn và gợi nhắc, thơ không được
Trang 15kể chuyện, “không phải miêu tả sự vật, mà là kết quả cái sự vật đó sản sinh ra"
- "Thơ siêu thực được sinh ra từ hai phát hiện lớn: cái viết tự động và hình ảnh Khi thơ thiếu vắng vần luật thì hình ảnh quyết định cho bài thơ Hình ảnh trong thơ siêu thực là “những va đập chói lòa của từ ngữ”
- Thơ siêu thực đã để lại ba ảnh hưởng:
1) Tích cực, chủ động chống lại sự xói mòn, xơ cứng của từ, tìm nghĩa mới cho từ; 2) Một ý thức lao động chuyên nghiệp cộng với tri thức, trí tuệ, thường trực tìm kiếm hình ảnh mới, lạ từ “sự va đập chói lòa của từ”;
3) Làm nảy sinh những ý nghĩa, cái nhìn mới, đẹp vào cuộc đời, con người từ kết quả của những hình ảnh đó
Cuối cùng, xin đưa ra một số ý kiến của Phan Ngọc trong bài nghiên cứu "Thơ là
Các nhà siêu thực khêu gợi nỗi kinh ngạc bằng cách phá vỡ thói quen sử dụng từ ngữ sáo mòn và khai mở các dáng vẻ phong phú của thế giới bằng những hình ảnh chói
sáng “Chúng tôi phơi bày toàn bộ sức mạnh của hình ảnh Chúng tôi đã đánh mất
quyền lực điều khiển chúng Chúng tôi trở thành tài sản, thành cái khung của chúng”
(“Một luồng mộng”, Aragon) Thơ siêu thực trở thành “thơ hình ảnh” Hình ảnh
chính là một phương tiện giải phóng cái nhìn, gắn kết tưởng tượng với tự nhiên, biến các khả năng thành hiện thực
II ỨNG DỤNG VÀO GIẢNG DẠY NĂM HỌC 2010-2011
1 Ứng dụng giảng dạy chính khóa
, Với giảng dạy giờ đọc thơ trong chương trình môn văn THPT: năm học này tôi được phân công giảng dạy văn lớp 12A1, A3, 11D2 tôi đã ứng dụng chuyên đề vào giảng dạy cụ thể như sau:
Khối 11( chương trình nâng cao)
4 14 Bài ca ngắn đi trên bãi cát Thơ cổ thể
Vịnh khoa thi hương
Thất ngôn bát cú
10 26 Bài ca phong cảnh Hương Hát nói
Trang 163 27-28 Đất nước( Nguyễn Khoa Điềm) Tự do
4 29 Đất nước ( Nguyễn Đình Thi) Tự do
Trong phạm vi nghiên cứu của năm học 2010-2011 là năm thứ 2 nghiên cứu chuyên
đề tôi sẽ đưa cách ứng dụng trong giảng dạy ở mỗi thể thơ một ví dụ cụ thể
1.1 Thơ Đường luật
1.1.1 Thơ Thất ngôn bát cú Đường luật
1.2.1.Thơ đúng luật: Bài Thương vợ của Trần Tế Xương ở lớp 11
* Định hướng: đọc hiểu bài thơ theo bố cục bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, chú
ý phép đối ngẫu giữa các cặp câu thực và luận
a 6 c©u th¬ ®Çu: H×nh tîng ch©n dung bµ Tó: