1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn tâm lý học thần kinh rối loạn phân ly

29 1,5K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 345,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và cập nhật mới nhất hiện nay là DSM –V, các rối loạn phân ly bao gồm: - Rối loạn nhận thức bản thân phân ly disociative identity disorder - Quên phân ly disociative emnesia - Giải thể n

Trang 2

Lời Mở Đầu

Từ thời xa xưa, đã có một số người có những biểu hiện lạ như ngồi chơi và nóichuyện một mình hay buổi tối đến nơi nào đó làm việc gì đó nhưng sáng dậy lạikhông biết mình đã làm những gì và đi đâu, hay những trạng thái ngồi lên đồng,…

Đó là những biểu hiện của rối loạn phân ly Theo người cổ xưa triệu chứng nàyđược gọi là Hysteria, nhưng ngày nay đã đổi tên lại là Dissociative disorder Theophân loại, rối loạn phân ly ngày nay được xếp vào hai hệ thống: DSM (Hiệp hộitâm thần học Hoa Kỳ) và ICD (hệ thống phân loại bệnh quốc tế)

Theo ICD -10 thì đặc điểm chung của rối loạn phân ly (hoặc chuyển dạng) là sựmất toàn bộ hay phần nào của trí nhớ, ý thức và tình cách của con người ảnh hưởngtrực tiếp đến cảm giác và vận động của người đó

Còn theo DSM – IV –TR đặc trưng quan trọng của các rối loạn phân ly là sự phá

vỡ các chức năng của tâm lý của con người bao gồm những tri giác, cảm giác, nhậnthức, cảm xúc, … Rối loạn này có thể xảy cấp tính hay mãn tính

Và cập nhật mới nhất hiện nay là DSM –V, các rối loạn phân ly bao gồm:

- Rối loạn nhận thức bản thân phân ly (disociative identity disorder)

- Quên phân ly (disociative emnesia)

- Giải thể nhân cách và tri giác sai thực tại (depersionalization/derealizationdisorder)

- Các rối loạn đặc trưng khác (other specified disociative disorder)

- Các rối loạn phân ly không đặc trưng khác (unspecified dissociativedisorder)

Trang 3

HỆ THỐNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

- RLPL: rối loạn phân ly

- DID: rối loạn đa nhân cách (disociative identity disorder)

- SCTL: sang chấn tâm lý

- PTSD: rối loạn stress sau sang chấn tâm lý (Post Traumatic Stress Disorder)

- DSM: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kì

Trang 4

BỐ CỤC TIỂU LUẬN

Phần một: thông qua việc tham khảo các tài liệu nghiên cứu có liên quan,chúng tôi sẽ tổng hợp lại những kiến thức cơ bản nhất về rối loạn phân ly Đặcbiệt là lịch sử hình thành và phát triển thuật ngữ “Dissociative disorder”, từ đólàm rõ quan điểm cũng như nguyên nhân của RLPL theo một số trường pháikhác nhau trong giới tâm lý học; theo ICD 10 và theo DSM qua cá thời kỳ.Trong các phần tiếp theo, chúng tôi sử dụng DSM V để làm nền tảng phân tíchcác vấn đề có liên quan đến RLPL

Từ nền kiến thức đó, chúng tôi tiến hành tìm hiểu: nguyên nhân, cơ chế bệnhsinh, triệu chứng chuẩn đoán, trị liệu, tình hình tại Việt Nam…của 3 trong 5dạng RLPL, đó là: Rối loạn định dạng nhân cách (Dissociative IdentityDisorder); Quên phân ly (Dissociative Amnesia) và Giải thể nhân cách/Tri giácsai thật tại (Depersonalization/Derealization Disorder) Tất cả các vấn đề này

sẽ được trình bày trong phần hai

Sau khi tìm hiểu 3 (trong 5) dạng RLPL, ở phần ba chúng tôi tìm ra những nétchung nhất về nguyên nhân dẫn đến tình trạng rối loạn này Từ đó đưa ranhững kiến nghị cần thiết nhằm hạn chế và phòng ngừa, ở mức có thể, mầmmóng hình thành và phát triển của RLPL

Phần kết luận chúng tôi trình bày ở mục cuối cùng

Trang 5

PHẦN MỘT: TÌM HIỂU KHÁI QUÁT

1 Khái niệm

Rối loạn phân ly thuộc về tâm lý, thường xảy ra do những cú sốc quá lớn về tâm

lý và những chấn thương thần kinh của con người, trong đó cơ chế tâm lý là chủ yếu.Đặc điểm cơ bản của rối loạn phân ly là sự ngưng trệ những chức năng tổng thểcủa nhận thức, trí nhớ, nhận dạng hoặc tri giác về xung quanh Sự rối loạn này có thểđột ngột hoặc từ từ, thoáng qua hoặc mãn tính

2 Quá trình phát triển của thuật ngữ Rối loạn phân ly

Trong phần này, dựa trên công trình nghiên cứu của TS Vũ Thy Cầm trong luận

án: “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số đặc điểm nhân cách của bệnh nhân rối loạn phân ly vận động và cảm giác”, chúng tôi tổng hợp lại lịch sử hình thành và

phát triển của thuật ngữ Rối loạn phân ly (RLPL) để có sự hiểu biết sâu rộng hơn,toàn diện hơn về rối loạn này

Hiện tượng rối loạn phân ly đã được nhìn nhận từ rất sớm, có từ thời Hyppocrate.Platon là người đầu tiên giải thích nguyên nhân triệu chứng này là do sự dịch chuyển

tử cung của người phụ nữ Nên triệu chứng này được gọi là “Hysteria” có nguồn gốc

từ từ “Hystera” theo tiếng Hy Lạp là Tử cung

Theo khoa học chứng minh được tử cung không di chuyển được, nhưng quan điểmcủa Ông vẫn tồn tại cho đến thế kỷ XVII, Charles Lepois không hoàn toàn phủ nhậnquan điểm của Platon, nhưng theo Ông Hysteria không hẵn chỉ xảy ra ở phụ nữ màcòn ở nam giới nên nguyên nhân chính không phải ở tử cung mà là ở não của conngười, não có vấn đề nên gây Hysteria

Năm 1681, Thomas Syndeham đã tách hoàn toàn Hysteria ra khỏi vấn đề liên quanđến tử cung, mà là do những rối loạn về tâm lý con người, Ông thiên về cảm xúc conngười, những vấn đề ảnh hưởng đến buồn vui Đến 1859 Briquet đã khẳng định lại lầnnữa những cảm xúc vận động, động kinh co giật là những triệu chứng chính củaHysteria

Vào thế kỷ XIX, Chacot đã đưa ra một quan điểm mới, cho rằng Hysteria là donhững tổn thương thần kinh khu trú, người mắc chứng này dễ bị ám thị và tự ám thịcho chính mình Cùng quan điểm với Chacot, Sigmund Freud cũng cho những rốiloạn này do tổn thương tâm lý gây ra Ông là người đầu tiên đưa ra quan điểm về cácrối loạn Hysteria Theo thuyết phân tâm cổ điển, Ông cho rằng chuyển di là một quátrình vô thức, xảy ra như một cơ chế giảm âu lo, khi có sự xung đột với bản năng Khicon người trở nên bất lực trước một vấn đề gì đó nhu cầu phản kháng của bản năngđược nâng cao, để tự bảo vệ chính mình Hiện tượng phân ly sẽ xảy ra, người bị triệuchứng đó sẽ tự phân ly chính mình, biến mình thành một người khác mạnh mẽ, nhanhnhẹn và thông minh hơn để bảo vệ chính mình hoặc giảm đi căng thẳng, thường người

họ hoá thân thành là người quen thân với mình nhằm để giảm âu lo kết quả đem lại sựthoả mãn cho bản thân

Còn theo thuyết hoạt động thần kinh cấp cao của Paplop thì triệu chứng củaHysteria là do sự rối loạn của hoạt thần kinh cấp cao, các hệ thống tín hiệu không cân

Trang 6

bằng, hệ thống tín hiệu thứ 1 về bản năng và tình cảm lấn áp hệ thống tín hiệu thứ 2 lýtrí và bản lĩnh, nên họ sẽ có những hành động khó kiểm soát được, nó thiên về mặt vôthức nhiều hơn Những người mắc những rối loạn này thường là những người có nhâncách yếu, nghệ sĩ vì họ thường không dùng lí trí để giải quyết vấn đề mà dùng tìnhcảm là chính

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Pierre Janet phát triển thuyết phân ly Ôngcho rằng nhận thức của con người có vấn đề, ông nhỏ vấn đề để quan sát những hànhđộng biểu hiện ra bên ngoài như nhìn, nghe, nói, hành vi, biểu cảm,… và những sựthay đổi thất thường ý thức, trí nhớ, tính cách

Theo quan điểm về rối loạn phân ly hiện nay thì theo 2 hệ thống đó là DSM (Hiệp hộitâm thân học Hoa Kỳ) và ICD (hệ thống phân loại bệnh quốc tế) Theo ICD -10 thì rốiloạn phân ly xảy ra cấp tính nghĩa là sau cơn chấn thương thì sau vài tuấn hay vàitháng thì xảy ra hiện tượng rối loạn phân ly nó bao gồm chuyển dạng và phân ly Cònđối với DSM –IV thì cho rằng rối loạn phân ly là mãn tính, sau cơn chấn thương thì

có thể chưa có biểu hiện gì nhưng trong thời gian dài như mấy năm sau cho khi cả 5

-7 năm sự rối loạn phân ly mới xảy ra Theo DSM -IV –TR không cho rối loạn chuyểndạng thuộc rối loạn phân ly

Với từng giai đoạn phát triển y học có khác nhau về tên gọi khác nhau nhưng rốiloạn phân ly là do rối loạn chức năng vận động và cảm giác không giải thích được,các rối loạn này gần với stress, nó thuộc về tâm lý hơn là thần kinh

Theo cập nhật mới nhất của bảng DSM – V (2013) thì rối loạn phân ly là sự giánđoạn hay giảm chức năng hoạt động của tâm lý con người như tri giác, trí nhớ, tìnhcảm, cảm xúc…

3 Một số giả thuyết bệnh sinh của RLPL

a Theo thuyết phân tâm cổ điển

Phân ly là trạng thái tâm lý khi những suy nghĩ, cảm giác, cảm xúc hay kí

ức bị tách ra thành những phần khác nhau của tinh thần; là so sự ảnh hưởngcủa cơ chế phòng vệ nhằm chống lại những lo hãi, những xung đột bảnnăng bị dồn nén bên trong dẫn đến sự rút lui về mặt tâm lý của cá nhântrước những sự kiện ngập tràn tổn thương

b Theo thuyết hoạt động thần kinh cấp cao của Pavlop

Như đã trình bày ở phần trên, RLPL phát sinh ở những người có hệ thốngtính hiệu thứ hai bị suy yếu trong khi hệ thống tín hiệu thứ nhất cũng nhưphần dưới võ não chiếm ưu thế

c Theo thuyết tập nhiễm của Wolpe

“Wolpe cho rằng các RLPL phát sinh theo cơ chế cảm ứng và bắt chước trong quá trình tiếp xúc xã hội, đó là các hành vi học hỏi được trong suốt quá trình trải nghiệm Khi các hành vi này xuất hiện hoặc nặng lên thì bệnh nhân đạt được điều mình muốn và ngược lại” [1]

Như đã trình bày, theo DSM –V các rối loạn phân ly bao gồm:

- Rối loạn nhận thức bản thân phân ly (disociative identity disorder)

Trang 7

- Quên phân ly (disociative emnesia)

- Giải thể nhân cách và tri giác sai thực tại (depersionalization/derealizationdisorder)

- Các rối loạn đặc trưng khác (other specified disociative disorder)

- Các rối loạn phân ly không đặc trưng khác (unspecified dissociativedisorder)

Trong khuôn khổ của bài tiểu luận, chúng tôi xin hạn chế trình bày 3 dạng: Rối loạnnhận thức bản thân phân ly, quên phân ly, giải thể nhân cách/tri giác sai thật tại Ởmỗi dạng, chúng tôi sẽ điểm qua các nội dung chính như: định nghĩa, chuẩn đoán,triệu chứng, cơ chế bệnh sinh, tình trạng ở Việt Nam và kiến nghị

Trang 8

PHẦN HAI: TÌM HIỂU KHÁI NIỆM, CƠ CHẾ BỆNH SINH, TRIỆU CHỨNG, CHUẨN ĐOÁN…CỦA 3 DẠNG RLPL: RỐI LOẠN NHẬN THỨC BẢN THÂN PHÂN LY; QUÊN PHÂN LY; GIẢI THỂ NHÂN CÁCH/TRI

GIÁC SAI THẬT TẠI

I RỐI LOẠN NHẬN THỨC BẢN THÂN PHÂN LY

1 Định nghĩa

Theo Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-IV-TR)

của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kì (American Psychiatric Association), Rối loạn nhận

thức bản thân phân ly (DID) “sự tồn tại hai hoặc nhiều hơn những bản thể

(identities) hoặc tính cách (personality), trong đó mỗi bản thể hoặc tính cách có lối nhận thức, liên hệ, và suy nghĩ về môi trường hoặc bản thân riêng rẽ liên tục kiểm soát hành vi”.

Rối loạn nhận biết bản thân phân ly hay còn gọi là rối loạn đa nhân cách Sau đây sẽ sửdụng cụm từ “rối loạn đa nhân cách” hay “DID”

Rối loạn đa nhân cách không phải rối loạn nhân cách như nhiều người nhầm lẫn, mà

nó nằm trong tổ hợp các bệnh có liên quan đến chấn thương tâm lý như: Hậu ChấnThương Tâm Lý Rối Loạn Căng Thẳng (PTSD), Rối Loạn Căng Thẳng Cấp Tính(ASD)… DID, PTSD và ASD có cùng một triệu chứng đó là sự tách rời nhận thức.Nhưng PTSD là những người gặp chấn thương tâm lý quá nặng và sau đó đôi khi họ bịtách rời ra khỏi hiện thực họ đang sống, trải nghiệm cảm giác sống lại trong ký ứcđáng sợ làm tổn thương tâm lý họ, còn rối loạn đa nhân cách cũng là sự tách rời rakhỏi hiện thực nhưng người bị DID sẽ không nhớ gì và cũng không biết được là mình

đã làm gì trong khoảng thời gian bị tách rời nhận thức ấy Đa số sẽ cho rằng mìnhđang ngủ nhưng thực chất không phải, hoặc họ sẽ có khoảng trống trong kí ức khôngthể nhìn thấy

Trang 9

Sự tách rời nhận thức là sự gián đoạn trong cảm giác chủ quan về đặc tính cá nhân vàtrung gian Biểu hiện này đi kèm với những thay đổi các chức năng tâm thần bao gồm:cảm xúc, hành vi, sự tỉnh táo, trí nhớ, tri giác, nhận thức và hoặc các chức năng tâmthần vận động

2 Triệu chứng

a Tiêu chuẩn chuẩn đoán

DID thường khó chẩn đoán vì có triệu chứng gần giống với các hội chứng tâm lý khác

 Theo như DSM-IV-TR, một người được chẩn đoán với triệu chứng DID khi mangnhững đặc điểm sau:

- Có 2 hoặc nhiều hơn trạng thái của các nhân cách liên tục thay nhau chi phối conngười ngoài vòng kiểm soát

- Các nhân cách hoàn toàn riêng biệt, tương đối ổn định về nhận thức, quan hệ giađình, xã hội, khả năng miêu tả thế giới xung quanh

- Khi bị một nhân cách chi phối, người đó quên các thông tin quan trọng liên quanđến các nhân cách tiềm ẩn khác, không phải là chứng quên thông thường

- Triệu chứng không phải là ảnh hưởng tạm thời từ việc sử dụng thuốc hoặc hoáchất

 Theo DSM-V

- Tách rời nhận thức thể hiện bằng hai hay nhiều hơn các trạng thái nhân cách.Trạng thái này trong một số nền văn hóa được mô tả là bị nhập, ma làm

Các dấu hiệu và triệu chứng này có thể được chính bệnh nhân mô tả hay được mô

tả bởi những người chứng kiến

- Sự xuất hiện và tái diễn cảm giác có khoảng trống trong việc nhớ lại những sựviệc hàng ngày, những thông tin cá nhân quan trọng và, hoặc quên những thôngtin liên quan đến sang chấn tâm lý Quên này không được lý giải bằng quênthông thường

- Các triệu chứng này gây khó chịu cho bệnh nhân và làm giảm sút nghiêm trọngđến hoạt động nghề nghiệp, xã hội và các chức năng quan trọng khác

- Các rối loạn này không phải là một phần của hoạt động tín ngưỡng

Lưu ý: Ở trẻ em các triệu chứng này không xuất phát từ sự tưởng tượng hay chơi cùng bạn chơi.

Trang 10

2.2 Đặc điểm chẩn đoán

- Một trong những triệu chứng của DID là có từ 2 trạng thái nhân cách trở lên Tuynhiên mức độ biểu hiện của các trạng thái nhân cách tùy thuộc vào động lực tâm lý,mức độ sang chấn, động lực và mâu thuẫn nội tại Sự tách rời nhận thức xảy ra khi áplực tâm lý trở nên nặng nề và/hoặc kéo dài hơn

- Trong những trường hợp người với DID có biểu hiện rõ ràng (hoang tưởng bịnhập) thì chúng ta dễ quan sát sự thay đổi trạng thái nhân cách hơn Tuy nhiên vớinhững trường hợp không rõ ràng thì sẽ khó quan sát trạng thái nhân cách trong mộtthời gian dài Chỉ một số ít bệnh nhân trong nhóm này có thể quan sát được sự thay đổitrạng thái nhân cách Nếu thay đổi trạng thái nhân cách không rõ ràng thì có thể dựavào 2 nhóm triệu chứng:

1) Sự thay đổi hay gián đoạn đột ngột về về cảm giác tự thân và trung gian

2) Tái diễn quên phân ly

- Người với DID khi tách rời nhận thức sẽ thay đổi hầu hết các chức năng tâm thần

Họ có thể mô tả rằng họ đột nhiên không phải là mình mà họ quan sát hành vi, lời nói,cảm xúc của chính mình mà không có khả năng dừng lại

Trang 11

mô tả như là “rối loạn trương lực cái tôi và bối rối” (ego-dystonic and puzzling) Tất

cả những gì thuộc về con người họ như thói quen ăn uống, trang phục, cử chỉ… độtnhiên thay đổi sau đó lại trở lại bình thường Người với DID thường mô tả là cơ thểcủa họ trở nên khác thường về mọi mặt (giống trẻ con, giới tính khác…)

- Thay đổi trong cảm nhận cái tôi thường đi kèm với thay đổi cảm giác, thái độ,hành vi, cảm xúc, thậm chí là cơ thể không thuộc về mình hoặc không phải do mìnhkiểm soát

- Mặc dù tách rời nhận thức là chủ quan của người với DID tuy nhiên có thể đượcquan sát và mô tả lại bởi người thân và những người xung quanh hoặc là bác sĩ

- Triệu chứng quên xảy ra trên người với DID thường theo 3 cách:

1) Có khoảng trống trong trí nhớ xa về những sự kiện cá nhân (ví dụ: sự việc xảy

ra trong thời thơ ấu, nơi học phổ thông…)

2) Nhầm lẫn trong trí nhớ phụ thuộc (dependable memory) (ví dụ: những kỹ nănghàng ngày như lái xe, công việc, sử dụng máy tính…)

3) Biết có những vật mình đã mua hoặc công việc mình đã làm nhưng không nhớ

đã làm như thế nào hoặc mua lúc nào

- Cơn bỏ đi phân ly cũng thường gặp trong DID Thường là họ mô tả lại là tự nhiênthấy mình ở một vị trí nào đó rất xa nhưng không biết đã đến đó như thế nào

- Quên trong DID không giới hạn trong các sang chấn tâm lý Thường gặp là bệnhnhân không thể nhớ những gì xảy ra hàng ngày Có thể bệnh nhân không nhớ tên của

vợ /chồng, con cái, không nhớ những điều đã nói hay những việc đã làm

- Hoang tưởng bị nhập trong DID thường biểu hiện qua hành vi và dáng điệu bềngoài là một linh hồn (spirit), nhân vật siêu nhiên, hay một người bên ngoài điều

Trang 12

khiển Người với DID hoạt động và nói năng giống như một người hoàn toàn khác Vídụ: Người với DID có thể biểu hiện mình là một hồn ma của một người con gái đãchết vì tự tử đã nhiều năm Người với DID nói và hoạt động như cô gái đang sống

Những người có triệu chứng DID có thể có một host (nhân cách chủ) và một hoặc nhiều alters (nhân cách thay thế) Host có thể không phải là nhân cách trước khi một

người bị rối loạn, nhưng là nhân cách chiếm lĩnh hành vi của người đó tại thời điểm

hiện tại Host đồng thời là nhân cách tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ tâm thần vì nhận

thức được sự rối loạn của bản thân hoặc do nghe theo sự hướng dẫn của người thân

Khi một người ở trạng thái Alter (nhân cách thay thế), Host có thể xuất hiện, nắm

quyền điều khiển, đưa người bị rối loạn trở lại trạng thái thông thường Khi một nhâncách đang chi phối hành vi – có thể là Host hoặc Alter, những nhân cách còn lại khôngxuất hiện Tuỳ theo sự biến đổi môi trường hoặc các biện pháp điều trị, các nhân cáchkhác có thể trỗi dậy và chiếm lĩnh nhân cách đang nắm vị trí kiểm soát hiện tại

- Switch, sự chuyển đổi giữa các nhân cách, có thể xảy ra trong vài giây, vài tiếng hoặc

vài ngày, có lúc qua một giấc ngủ, xuyên giới tính, độ tuổi và quốc tịch Những ngườivới DID có thể nhận biết một loạt những ngôn ngữ, giọng điệu, cách ăn mặc và cử chỉhoàn toàn khác nhau Họ có thể có nét chữ khác nhau và thậm chí đổi cả tay thuận Bí

ẩn hơn, có những người khi đổi nhân cách có thể thay đổi những đặc điểm sinh lý nhưnhịp tim, huyết áp, nhiệt độ cơ thể, sức chịu đau, thị giác và thậm chí xuất hiện nhữngcăn bệnh chưa hề mắc phải trước đó như dị ứng hay hen phế quản

2.3 Những yếu tố kết hợp củng cố chẩn đoán

Các rối loạn đi kèm thường gặp là trầm cảm, lo âu, tự gây tổn thương cơ thể, co giật,

và một số triệu chứng khác Người với DID thường giấu hoặc cũng có thể không nhậnthức hết các triệu chứng Có thể người với DID có hồi tưởng, các tác dụng phụ củathuốc

2.4 Chẩn đoán phân biệt

Trang 13

- Các trạng thái do chất gây nghiện, thuốc và tình trạng bệnh lí khác gây ra

- Các rối loạn nhân cách

- Rối loạn chuyển dạng

- Co giật khác

- Rối loạn giả bệnh (factitiuos disorder) và giả bệnh (malingerer)

2.5 Các rối loạn kèm theo (comorbidity)

- Trầm cảm

- PTSD

- Các rối loạn liên quan đến stress

- Các rối loạn nhân cách

- Các rối loạn có triệu chứng cơ thể

- Rối loạn bản năng ăn uống

- Rối loạn ám ảnh cưỡng bức

- Rối loạn giấc ngủ…

3 Nguyên nhân bệnh sinh

Hiện nay chưa có cơ sở khoa học nào tìm ra và chứng minh được nguyên nhân gây rarối loạn đa nhân cách Tuy nhiên các nhà khoa học cũng có giả thuyết rằng, con ngườingay từ khi sinh ra đã mang trong mình nhiều “mầm nhân cách” khác nhau, giống nhưmang nhiều hạt giống Hạt giống nào phù hợp với cơ thể, điều kiện sống và giáo dục thì

sẽ phát triển trở thành nhân cách của con người Khi đó các nhân cách khác kém hoặckhông phát triển Tuy có quá trình “chọn lọc tự nhiên” như vậy nhưng những “mầm nhâncách” kia không bị mất đi hoàn toàn mà nấp ở đâu đó trong tiềm thức Dưới một tác nhânnào đó, các nhân cách còn lại kia trỗi dậy, kiểm soát con người

Lúc trước các nhà khoa học cho rằng chấn thương tâm lý gây ra rối loạn đa nhâncách Thế nhưng những nghiên cứu mới đây về những hệ quả lâu dài của bạo hành trẻ

em, người ta tìm rất ít bằng chứng về việc trẻ em bị bạo hành lớn lên sẽ bị rối loạn đa

Trang 14

Năm 1957, thế giới biết đến nhiều hơn về chứng rối loạn đa nhân cách nhờ bộ phim

“Ba bộ mặt của Eve” Sau đó tỷ lệ người bị chứng rối loạn đa nhân cách tăng vọt tronghai thập niên tiếp theo, trong khi chỉ có khoảng 200 trường hợp được ghi lại trên toàn thếgiới trong các nghiên cứu từ trước cho tới năm 1980 Có một trường hợp bệnh nhân nghe

y tá nói rằng bác sĩ nghi ngờ bà ta có thể bị chứng rối loạn đa nhân cách, thế là bà thayđổi triệu chứng của mình sao cho giống với triệu chứng của những người bị chứng rốiloạn đa nhân cách Thậm chí, bà còn tự tạo ra một nhân cách khác và đặt tên cho nó.Nhưng bà không trải nghiệm sự đứt đoạn trong ký ức Trí nhớ của bà vẫn hoàn chỉnh vàkhông hề có dấu hiệu bất thường nào

Vì những lý do trên mà chứng rối loạn đa nhân cách vẫn còn nằm trong vòng tranh cãi.Nhiều chuyên gia cho rằng DID không có thật khi có rất ít bằng chứng về nguyên nhângây ra Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng chấn thương tâm lý dù ít dù nhiều vẫn

có ảnh hưởng đến tâm lý và nhân cách người với DID

Ngày đăng: 25/01/2016, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w