TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 DƯƠNG THỊ NGA NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN TẦM VÓC, THẾ LỰC CỦA THIẾU NIÊN VÀ NHI ĐỒNG Ở HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm Mã số: 6
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
DƯƠNG THỊ NGA
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN TẦM VÓC, THẾ LỰC CỦA THIẾU NIÊN VÀ NHI ĐỒNG
Ở HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Loan
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Thị Loan – người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em về mặt chuyên môn, hướng nghiên cứu, cách tổ chức, triển khai nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Sinh lý người và động vật, khoa Sinh học và phòng Sau đại học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Liên Hà, trường Tiểu học Tàm Xá, trường Trung học cơ sở Liên Hà, trường Trung học cơ sở Tàm Xá huyện Đông Anh - thành phố Hà Nội cùng tất cả bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Dương Thị Nga
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Dương Thị Nga
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BMI Body mass index (chỉ số khối cơ thể)
CDC National Center for Chronic Disease Prevention and Health
Promotion (Trung tâm quốc gia phòng bệnh mãn tính và tăng cường sức khỏe)
GTSH Giá trị sinh học người Việt Nam
HSSH Hằng số sinh học người Việt Nam
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Những đóng góp của đề tài 3
NỘI DUNG 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Nghiên cứu các đặc điểm tầm vóc và thể lực của trẻ em 5
1.2 Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý hệ hô hấp của trẻ em 12
1.3 Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý hệ tuần hoàn của trẻ em 13
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số tầm vóc của trẻ em 18
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu chỉ số về thể lực và thể trạng của trẻ em 20
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh lý của hệ hô hấp và tuần hoàn của trẻ em 22
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu thể lực của trẻ em qua hoạt động chạy 23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 25
3.1 Một số chỉ số tầm vóc của thiếu niên và nhi đồng 25
3.1.1 Chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng 25
3.1.2 Cân nặng của thiếu niên và nhi đồng 28
Trang 63.1.3 Vòng ngực trung bình của thiếu niên và nhi đồng 30
3.1.4 Vòng đầu của thiếu niên và nhi đồng 33
3.1.5 Vòng bụng của thiếu niên và nhi đồng 35
3.1.6 Vòng mông của thiếu niên và nhi đồng 36
3.1.7 Vòng cánh tay của thiếu niên và nhi đồng 38
3.1.8 Vòng đùi của thiếu niên và nhi đồng 39
3.2 Thể lực và thể trạng của thiếu niên và nhi đồng 41
3.2.1 Thể lực của thiếu niên và nhi đồng 41
3.2.2 Thể trạng của thiếu niên và nhi đồng 46
3.3 Các chỉ số về chức năng của một số hệ cơ quan của thiếu niên và nhi đồng 50
3.3.1 Tần số thở của thiếu niên và nhi đồng 50
3.3.2 Tần số tim của thiếu niên và nhi đồng 52
3.3.3 Huyết áp động mạch của thiếu niên và nhi đồng 54
3.4 Thể lực của thiếu niên và nhi đồng qua hoạt động chạy 57
3.4.1 Thể lực của thiếu niên và nhi đồng qua thời gian chạy 30 m 57
3.4.2 Thể lực của thiếu niên và nhi đồng qua quãng đường chạy 5 phút 61
3.4.3 Thể lực của thiếu niên và nhi đồng theo cả hai tiêu chuẩn chạy 30 m và chạy 5 phút 65
3.5 Mối liên quan giữa các chỉ số nghiên cứu 68
3.5.1 Chỉ số pignet và thời gian chạy 30 m 68
3.5.2 Chỉ số pignet và quãng đường chạy 5 phút 69
3.5.3 Chỉ số BMI và thời gian chạy 30 m 70
3.5.4 Chỉ số BMI và quãng đường chạy 5 phút 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẠN VĂN
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và theo giới tính 18
Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số pignet 20
Bảng 3.1 Chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng 25
Bảng 3.2 Cân nặng của thiếu niên và nhi đồng 28
Bảng 3.3 Vòng ngực trung bình của thiếu niên và nhi đồng 31
Bảng 3.4 Vòng đầu của thiếu niên và nhi đồng 34
Bảng 3.5 Vòng bụng của thiếu niên và nhi đồng 35
Bảng 3.6 Vòng mông của thiếu niên và nhi đồng 37
Bảng 3.7 Vòng cánh tay của thiếu niên và nhi đồng 38
Bảng 3.8 Vòng đùi của thiếu niên và nhi đồng 40
Bảng 3.9 Chỉ số pignet của thiếu niên và nhi đồng 41
Bảng 3.10 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo loại thể lực 41
Bảng 3.11 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo loại thể lực và giới tính 45
Bảng 3.12 Chỉ số BMI của thiếu niên và nhi đồng 46
Bảng 3.13 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo thể trạng 48
Bảng 3.14 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo thể trạng và giới tính 49
Bảng 3.15 Tần số thở của thiếu niên và nhi đồng 51
Bảng 3.16 Tần số tim của thiếu niên và nhi đồng 52
Bảng 3.17 Huyết áp tâm thu của thiếu niên và nhi đồng 54
Bảng 3.18 Huyết áp tâm trương của thiếu niên và nhi đồng 56
Bảng 3.19 Thời gian chạy 30 m của thiếu niên và nhi đồng 58
Bảng 3.20 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo loại thể lực chạy 30 m 59
Bảng 3.21 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo loại thể lực chạy 30 m và theo giới tính 60
Trang 8Bảng 3.22 Quãng đường chạy trong 5 phút của thiếu niên và nhi đồng 61 Bảng 3.23 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo loại thể lực chạy 5 phút 63 Bảng 3.24 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo loại thể lực chạy 5 phút và
theo giới tính 64 Bảng 3.25 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo cả hai loại thể lực chạy 30
m và 5 phút 66 Bảng 3.26 Tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo cả hai loại thể lực (chạy 30
m và 5 phút) và theo giới tính 67 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa các chỉ số nghiên cứu 68
Trang 9DANH MỤC HÌNH TRONG LUẬN VĂN
Hình 2.1 Chỉ số BMI của trẻ em từ 2 – 20 tuổi 21
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng 26
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng 26
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn cân nặng của thiếu niên và nhi đồng 29
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của thiếu niên và nhi đồng 30
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn vòng ngực trung bình của thiếu niên và nhi đồng 32
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng vòng ngực trung bình của thiếu niên và nhi đồng 32
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn vòng đầu của thiếu niên và nhi đồng 34
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn vòng bụng của thiếu niên và nhi đồng 36
Hình 3.9 Đồ thị biểu diễn vòng mông của thiếu niên và nhi đồng 37
Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn vòng cánh tay của thiếu niên và nhi đồng 39
Hình 3.11 Đồ thị biểu diễn vòng đùi của thiếu niên và nhi đồng 40
Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn chỉ số pignet của thiếu niên và nhi đồng 42
Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chỉ số pignet của thiếu niên và nhi đồng 42
Hình 3.14 Biểu đồ biểu thị tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo loại thể lực 44
Hình 3.15 Đồ thị biểu diễn chỉ số BMI của thiếu niên và nhi đồng 47
Hình 3.16 Biểu đồ biểu thị tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo loại thể trạng 48
Hình 3.17 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo thể trạng và giới tính 50
Hình 3.18 Đồ thị biểu diễn tần số thở của thiếu niên và nhi đồng 51
Trang 10Hình 3.19 Đồ thị biểu diễn tần số tim của thiếu niên và nhi đồng 53 Hình 3.20 Đồ thị biểu diễn huyết áp tâm thu của thiếu niên và nhi đồng 55 Hình 3.21 Đồ thị biểu diễn huyết áp tâm trương của thiếu niên và nhi
đồng 56 Hình 3.22 Đồ thị biểu diễn thời gian chạy 30 m của thiếu niên và nhi
đồng 58 Hình 3.23 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo thể lực
chạy 30 m 61 Hình 3.24 Đồ thị biểu diễn quãng đường chạy 5 phút của thiếu niên và nhi
đồng 62 Hình 3.25 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo thể
lựcchạy 5 phút 65 Hình 3.26 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ thiếu niên và nhi đồng theo cả hai
loại thể lực (chạy 30 m và 5 phút) và theo giới tính 66 Hình 3.27 Đồ thị biểu diễn mối liên quan giữa chỉ số pignet và thời
gian chạy 30 m của thiếu niên và nhi đồng 69 Hình 3.28 Đồ thị biểu diễn mối liên quan giữa chỉ số pignet và quãng
đường chạy 5 phút của thiếu niên và nhi đồng 70 Hình 3.29 Đồ thị biểu diễn mối liên quan giữa chỉ số BMI và thời gian
chạy 30 m của thiếu niên và nhi đồng 70 Hình 3.30 Đồ thị biểu diễn mối liên quan giữa chỉ số BMI và quãng
đường chạy 5 phút của thiếu niên và nhi đồng 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để đáp ứng được nguồn nhân lực có sức khỏe và trình độ khoa học kỹ thuật cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc nâng cao tầm vóc và thể lực của người Việt Nam đang là mối quan tâm hàng đầu của nhà nước Vì vậy, trong “Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011–2020” [53] cũng đưa ra mục tiêu tổng quát là “Đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới” Và mục tiêu cụ thể của chiến lược là “Nhân lực Việt Nam có thể lực tốt, tầm vóc cường tráng, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức, có năng lực tự học, tự đào tạo, năng động, chủ động, tự lực, sáng tạo, có tri thức
và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng và nhanh chóng tạo được thế chủ động trong môi trường sống và làm việc” Trong “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 – 2030” [54] cũng nêu lên mục tiêu là “Phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới
để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; từng bước nâng cao chất lượng giống nòi và tăng tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam” Để thực hiện được mục tiêu trên thì một trong những nhiệm vụ của đề án là “Khảo sát, thống kê các chỉ số sinh học và tổng hợp các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá thể lực, tầm vóc người Việt Nam”
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số tầm vóc và thể lực của trẻ em Việt Nam ở các địa bàn khác nhau Các kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong các tạp chí, các tài liệu chuyên
Trang 12ngành [4], [6], [7], [13], [14], [16], [20], [22], [30], Tuy nhiên, các chỉ số tầm vóc và thể lực của trẻ em không phải là hằng định mà có thể thay đổi Sự phát triển các chỉ số về tầm vóc và thể lực của trẻ em phụ thuộc vào tính di truyền, chế độ dinh dưỡng, tình hình phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, cần phải triển khai nghiên cứu các chỉ số này ở trẻ em theo định kỳ nhằm cung cấp những thông số cần thiết cho các nghiên cứu y học, sinh học và còn phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng Vì thế việc nghiên cứu
sự phát triển tầm vóc và thể lực của thiếu niên và nhi đồng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục ở tất cả các địa bàn trên cả nước, đặc biệt là thủ đô Hà Nội
Đông Anh là một huyện ngoại thành, ở vị trí cửa ngõ phía bắc của thủ
đô Hà Nội, là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa Huyện Đông Anh nằm trong vùng quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và du lịch đã được Chính phủ và Thành phố phê duyệt Hiện nay Đông Anh là một trong những địa phương có tốc độ phát triển nhanh của Hà Nội nên có nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực có sức khỏe tốt và trình độ kĩ thuật cao
Xuất phát từ lý do trên và với mong muồn góp một phần công sức của
mình vào sự phát triển của quê hương, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu sự phát triển tầm vóc, thể lực của thiếu niên và nhi đồngở huyện Đông Anh,
Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định được thực trạng một số chỉ số tầm vóc và thể lực của thiếu niên và nhi đồng ở huyện Đông Anh, Hà Nội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu sự phát triển tầm vóc của thiếu niên và nhi đồng ở huyện Đông Anh, Hà Nội (chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, vòng bụng, vòng mông, vòng cánh tay, vòng đùi)
Trang 13- Nghiên cứu sự phát triển thể lực và khả năng vận động của thiếu niên
và nhi đồng ở huyện Đông Anh, Hà Nội
- Nghiên cứu sự phát triển thể trạng của thiếu niên và nhi đồng ở huyện Đông Anh, Hà Nội
- Nghiên cứu sự phát triển một số chỉ số hoạt động hô hấp và tuần hoàn của thiếu niên và nhi đồng ở huyện Đông Anh, Hà Nội (tần số thở, tần số tim, huyết áp)
- Nghiên cứu mối liên quan giữa các chỉ số nghiên cứu của thiếu niên
và nhi đồng ở huyện Đông Anh, Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là thiếu niên và nhi đồng từ 6 đến 14 tuổi ở huyện Đông Anh, Hà Nội Đối tượng nghiên cứu có sức khỏe bình thường, không có các dị tật về hình thể và không mắc các bệnh mạn tính
5 Phương pháp nghiên cứu
Các chỉ số tầm vóc thể lực của thiếu niên và nhi đồng được xác định theo các phương pháp đã chuẩn hóa hiện hành
- Tần số thở, tần số tim được xác định bằng ống nghe tim phổi
- Huyết áp được xác định bằng phương pháp Korotkov
- Thể lực của thiếu niên và nhi đồng được xác định qua chỉ số pignet, thời gian chạy 30 m và quãng đường chạy trong 5 phút (theo tiêu chuẩn của
Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Kết quả nghiên cứu được phân tích và xử lý trên máy vi tính bằng chương trình Microsoft Excel
6 Những đóng góp của đề tài
- Là đề tài đầu tiên xác định được sự phát triển tầm vóc, thể lực của thiếu niên và nhi đồng ở huyện Đông Anh, Hà Nội
Trang 14- Là đề tài đầu tiên nghiên cứu thể lực của thiếu niên và nhi đồng qua khả năng vận động theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Nghiên cứu đƣợc mối liên quan giữa các chỉ số nghiên cứu của thiếu niên và nhi đồng ở huyện Đông Anh, Hà Nội
- Các số liệu trong luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung số liệu cho việc nghiên cứu về các các chỉ số sinh học của thiếu niên và nhi đồng và có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nuôi, dạy thiếu niên và nhi đồng
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu các đặc điểm tầm vóc và thể lực của trẻ em
Tầm vóc là khái niệm phản ánh cấu trúc tổng hợp của cơ thể, liên quan chặt chẽ tới cấu tạo, hình thái, sức khỏe, sức lao động, thẩm mỹ và là khả năng, năng lực vận động của mỗi con người Các chỉ số thể lực của con người phản ánh mức độ phát triển tổng hợp của các hệ cơ quan trong cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất Ở bất kỳ người bình thường nào cũng đều có mức độ phát triển thể lực nhất định Một trong những biểu hiện cơ bản của thể lực là các số
đo kích thước của cơ thể và khả năng hoạt động của cơ thể
Trong các chỉ số trên, chiều cao là chỉ số phát triển thể lực quan trọng nhất và được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc học Chiều cao phản ánh quá trình phát triển chiều dài của xương và nói lên tầm vóc của con người Ludman Nold và Volanski [58] nhận thấy có ảnh hưởng của hoàn cảnh địa lý đến sự tăng trưởng chiều cao của con người Ý nghĩa phổ biến hơn cả của chiều cao là ở chỗ được coi như một trong những biểu hiện của thể lực và nó là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá thể lực trong công tác tuyển chọn vào quân đội, tuyển học sinh, tuyển lao động,… cũng như hầu hết các cuộc điều tra về hình thái học, nhân chủng học, y học Sự phát triển chiều cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tốt bên trong cơ thể như tính di truyền, hoocmon, trao đổi chất,… và các yếu tố bên ngoài như dinh dưỡng, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội,… Các yếu tố này tác động lên sự phát triển chiều cao một cách dần dần, liên tục và không đồng nhất [35]
Khối lượng cơ thể cũng là một chỉ số được sử dụng thường xuyên trong các nghiên cứu nhằm đánh giá sự phát triển và thể lực của con người Khối
Trang 16lượng cơ thể đã được nhắc tới trong công trình của Tenon từ thế kỷ XIII [57] Sang thế kỷ XIX, khối lượng cơ thể trở thành một tiêu trí đánh giá thể lực của con người So với chiều cao, khối lượng cơ thể ít phụ thuộc vào yếu tố
di truyền hơn, mà liên quan nhiều với điều kiện dinh dưỡng và hoạt động [1], [46] Khối lượng cơ thể không đồng đều trong quá trình phát triển của con người Ngoài ra, khối lượng cơ thể còn phụ thuộc vào yếu tố địa lý như: khí hậu, nhiệt độ,…
Vòng ngực cũng được coi là đặc trưng cơ bản phản ánh thể lực của con người Đầu thế kỷ XIX các bác sĩ lâm sàng là những người đầu tiên lưu ý tới
số đo vòng ngực Họ nhận thấy, có mối liên quan giữa mức độ phát triển lồng ngực và các bệnh của đường hô hấp Đến cuối thế kỷ XIX, vòng ngực trở thành một trong những chỉ tiêu đánh giá thể lực quan trọng sau chiều cao và khối lượng cơ thể trong các cuộc tuyển chọn binh lính, nhân công lao động,… Vòng ngực chỉ tăng nhanh vào giai đoạn dậy thì và phát triển đến một giai đoạn nhất định thì dừng lại
Theo một số tác giả, quá trình phát triển cơ thể con người diễn ra không đồng đều [6], [7], [13], [23], [35], [57], [58], [59] Sự phát triển không đồng đều ở trẻ em thể hiện qua các thời kỳ khác nhau, có thời kỳ tốc độ tăng trưởng nhanh, còn thời kỳ khác lại tăng trưởng chậm [6], [35], [46] Trong quá trình phát triển ở trẻ em từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành có hai giai đoạn tăng trưởng “nhảy vọt” Đó là giai đoạn từ 5 đến 7 tuổi và giai đoạn dậy thì [35], [46] Trong quá trình phát triển ở trẻ em, sự hoàn chỉnh các cơ quan xảy
ra không đồng thì và không đồng tốc [22], [59], [68]
Nhiều tác giả khác [35], [57], [68], nhận thấy, có sự khác nhau về tốc
độ phát triển thể lực giữa nam và nữ Từ 7 đến 10 tuổi, tốc độ tăng chiều cao của nữ nhanh hơn của nam Từ 11 tuổi trở đi, tốc độ tăng chiều cao của nam lại nhanh hơn của nữ Đó là nguyên nhân đã tạo ra điểm giao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ nhất và lần thứ hai lúc 11 và 14 tuổi [35]
Trang 17Thực tế cho thấy, sự phát triển thể lực ở trẻ em phụ thuộc vào nhiều yếu tố và là kết quả của sự tác động qua lại giữa cơ thể với môi trường Dưới tác động của yếu tố di truyền và điều kiện của môi trường sống, đã xảy ra quá trình cải tổ về mặt hình thái và chức năng, làm cho cơ thể trẻ em ngày một hoàn thiện hơn [35], [45], [68]
Pignet là chỉ số đánh giá mối tương quan giữa chiều cao với cân nặng
và vòng ngực Chỉ số pignet đã được quốc tế công nhận từ lâu và được dùng
để đánh giá thể lực của con người Đây là một chỉ số dễ vận dụng để phân loại sức khỏe cho nhiều đối tượng nên đã được nhiều tác giả nghiên cứu [4], [7], [13], [21], [35],…
Hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) đã công nhận chỉ số khối cơ thể (BMI) là chỉ số đánh giá mức độ gầy hay béo của một người, còn chỉ số pignet để đánh giá mức độ khỏe hay yếu
Ở Việt Nam, người đầu tiên nghiên cứu về sự tăng trưởng chiều cao và cân nặng của trẻ em là Mondiere (1875) và sau này là của Huard và Bogot (1938), Đỗ Xuân Hợp (1943) (theo [59]) Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó còn lẻ tẻ và các phương pháp nghiên cứu còn đơn giản
Sau năm 1954, có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu các đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý của người Việt Nam và năm 1975 cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” [61] được xuất bản Trong công trình này các tác giả đã trình bày khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh lý, hóa sinh của người Việt Nam
Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cs [68] đã nghiên cứu một số chỉ
số sinh học của người Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở mọi lứa tuổi, chiều cao, cân nặng của người Việt Nam nhỏ hơn so với người châu Âu, châu
Mĩ Các tác giả còn nhận thấy ở người Việt Nam nhịp độ tăng trưởng chậm, thời kỳ tăng trưởng kéo dài hơn và bước vào thời kỳ nhảy vọt tăng trưởng dậy
Trang 18thì cũng muộn hơn Tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của nữ xuất hiện vào lúc 12 – 13 tuổi, của nam lúc 13 – 16 tuổi và đến 23 tuổi đạt giá trị tối đa Tăng trưởng nhảy vọt về khối lượng cơ thể ở nữ lúc 13 tuổi, ở nam lúc 15 tuổi
và kết thúc tăng trưởng khối lượng cơ thể lúc 19 tuổi ở nữ và 20 tuổi ở nam
Do đó, nữ bước vào thời kỳ tăng tiến và ổn định về chiều cao, khối lượng cơ thể sớm hơn so với nam
Từ năm 1980 đến năm 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp [13] nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 – 17 tuổi Với 31 chỉ tiêu nhân trắc học được nghiên cứu, tác giả đã rút ra kết luận là chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 11 – 12 tuổi ở nữ, 13 – 15 tuổi ở nam, chiều cao trung bình của nữ trưởng thành là 158 cm và của nam là 163 cm Cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam Vòng ngực trung bình của nữ trưởng thành là 79
cm và của nam là 78 cm
Năm 1989, nhóm tác giả Thẩm Thị Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền, Vũ Xuân Khôi và cs [14] đã tiến hành nghiên cứu chiều cao, vòng đầu, vòng ngực, chỉ số dài chi dưới, trên 8000 người từ 1 – 55 tuổi ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam Nhóm tác giả nhận thấy, chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi, của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi và có quy luật gia tăng chiều cao cho người Việt Nam (tăng 4 cm/20 năm) Vòng ngực tăng nhanh nhất ở nam lúc 13 – 16 tuổi và ở nữ lúc 11 – 14 tuổi
Đào Huy Khuê [23] nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể trên 1478 học sinh từ 6 – 17 tuổi ở thị xã Hà Đông Tác giả nhận thấy, hầu hết các thông số hình thái đều tăng dần theo tuổi, nhưng nhịp độ tăng không đều Tốc độ tăng tối đa các thông số nghiên cứu của nữ là lúc 11 – 15 tuổi và của nam lúc 14 – 16 tuổi Từ 6 – 9 tuổi, các kích thước của nữ và nam không có sự khác biệt rõ rệt Từ 11 – 15 tuổi, các kích thước của nữ thường cao hơn của nam và đến 16 – 17 tuổi, các chỉ số
Trang 19này của nam lại vượt của nữ Tác giả cũng cho rằng, có sự gia tăng chiều cao của người Việt Nam
Năm 1991 – 1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs [7], nghiên cứu trên 13747 học sinh từ 8 – 14 tuổi ở các địa phương Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái Bình về các chỉ số chiều cao, cân nặng và vòng ngực trung bình Kết quả nghiên cứu cho thấy, học sinh thành phố và thị xã có xu hướng phát triển thể lực tốt hơn so với ở nông thôn, so với số liệu trong cuốn “HSSH” [61] thì sự phát triển chiều cao của trẻ em từ 6 – 16 tuổi tốt hơn, đặc biệt là trẻ em thành phố, thị xã Về khối lượng cơ thể thì sự gia tăng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà Nội, còn ở khu vực nông thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể
Nghiêm Xuân Thăng [55], đã đo 17 chỉ số hình thái (chiều cao, cân nặng, vòng ngực, chỉ số pignet, Broca ) của người Việt Nam từ 1 – 25 tuổi ở một số vùng của Nghệ An và Hà Tĩnh Tác giả có nhận xét rằng, sự phát triển chiều cao ở tất cả các độ tuổi của cư dân vùng Nghệ An có khí hậu vừa nóng khô vừa nóng ẩm so với cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ không có thời kỳ nóng khô thấp hơn 0,5 – 4 cm, nhưng cân nặng lại tương đương, mức chênh lệch cao nhất cũng chỉ là 0,5 kg Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của con người Tác giả còn cho biết các chỉ số về kích thước có sự khác biệt giữa nam và nữ, ở các độ tuổi, các kích thước của nam đều lớn hơn của nữ Tuy nhiên, cũng có một số giai đoạn nữ phát triển nhanh hơn nam và đạt giá trị lớn hơn Ở các lứa tuổi khác nhau có sự phát triển không đồng đều về tầm vóc, phát triển nhanh ở độ tuổi 5 – 7 tuổi, 10 – 11 tuổi và 13 – 14 tuổi
Năm 1995, nhóm tác giả Trần Đình Long, Lê Nam Trà, Nguyễn Văn Tường và cs [39] nghiên cứu trên học sinh ở thị xã Thái Bình Nhóm tác giả cho thấy, chiều cao đứng, chiều cao ngồi, cân nặng, vòng cánh tay của học sinh thị xã Thái Bình lớn hơn so với số liệu trong cuốn “HSSH” [61] nhưng
Trang 20Năm 1998, Tạ Thúy Lan và Đào Phượng Sào [29] nghiên cứu sự phát triển thể lực của học sinh 6 – 14 tuổi ở tỉnh Hà Tây cho thấy, các chỉ số tầm vóc của như chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh tăng dần theo tuổi
Năm 1998 – 2002, Trần Thị Loan [35] nghiên cứu trên học sinh Hà Nội
từ 6 – 17 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ số chiều cao, cân nặng, vòng ngực của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác từ những thập kỷ 80 trở về trước cũng như so với học sinh ở Thái Bình
và Hà Tây ở cùng thời điểm nghiên cứu Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển thể lực của học sinh
Năm 2009, Đỗ Hồng Cường [4], nghiên cứu trên học sinh trung học cơ
sở các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình và nhận thấy, không có sự khác biệt rõ về các chỉ số hình thái – thể lực ở học sinh nam, nữ giữa các dân tộc Mường, Thái, Kinh và giữa các dân tộc Tày, Dao Tuy nhiên, các chỉ số hình thái – thể lực của học sinh nam, nữ các dân tộc Mường, Thái, Kinh đều cao hơn so với học sinh nam, nữ các dân tộc Tày, Dao Sự vượt trội của các chỉ số hình thái – thể lực ở học sinh các dân tộc Mường, Thái, Kinh so với ở học sinh các dân tộc Tày, Dao có thể có liên quan với sự khác biệt về điều kiện kinh tế – xã hội giữa các huyện ở tỉnh Hòa Bình
Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Loan và Nguyễn Bá Hùng [36] trên
1230 học sinh giai đoạn 12 – 18 tuổi dân tộc Kinh và Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy, các chỉ số thể lực của học sinh tăng liên tục từ 12 đến 18 tuổi nhưng tốc độ tăng không đều giữa các độ tuổi Chiều cao của nam cả hai dân tộc tăng nhanh nhất lúc 14 – 15 tuổi, muộn hơn so với của nữ (lúc 12 – 13 tuổi) Cân nặng và vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng nhanh nhất lúc 16 – 17 tuổi, muộn hơn so với của nữ (lúc 13 – 14 tuổi) Chỉ số pignet của học sinh giảm dần theo tuổi chứng tỏ sức khỏe của học sinh tăng dần Chỉ số
Trang 21BMI của học sinh tăng dần theo tuổi chứng tỏ thể trạng của học sinh tốt dần lên Trong nhóm nghiên cứu, phần lớn học sinh có tình trạng dinh dưỡng bình thường (87,80 %), số học sinh bị thừa cân rất ít (0,73 %) và chỉ có 0,08 % số học sinh bị béo phì, nhưng số học sinh bị suy dinh dưỡng còn chiếm một tỉ lệ đáng kể (11,38 %)
Năm 2012, Trần Thị Loan và Lê Thị Tám [37] nghiên cứu trên học sinh
ở Tuyên Quang cho thấy, các chỉ số thể lực của học sinh tăng liên tục từ 12 đến 18 tuổi nhưng tốc độ tăng không đều giữa các độ tuổi Chiều cao của nam tăng nhanh nhất lúc 14 – 15 tuổi, muộn hơn so với của nữ (lúc 12 – 13 tuổi) Cân nặng và vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng nhanh nhất lúc 16 –
17 tuổi, muộn hơn so với của nữ (lúc 13 – 14 tuổi) Chỉ số pignet của học sinh giảm dần theo tuổi chứng tỏ sức khỏe của học sinh tăng dần Chỉ số BMI của học sinh tăng dần theo tuổi chứng tỏ thể trạng của học sinh tốt dần lên Trong nhóm nghiên cứu, phần lớn học sinh có thể trạng bình thường (79,28 %), không có học sinh nào bị béo phì, số học sinh bị thừa cân rất ít (0,95%) nhưng
số học sinh bị suy dinh dưỡng còn chiếm một tỉ lệ đáng kể (19,77 %)
Năm 2013, Nguyễn Thị Bích Ngọc [47] nghiên cứu trên học sinh 11 –
17 tuổi ở miền núi tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ nhận thấy, các chỉ số hình thái của học sinh tăng theo tuổi Chiều cao của nam tăng nhanh lúc 14 – 15 và của
nữ lúc 12 – 13 tuổi Thời điểm tăng nhanh cân nặng và vòng ngực của học sinh diễn ra chậm hơn so với thời điểm tăng chiều cao 1 – 2 năm Chiều cao của học sinh dân tộc Kinh lớn hơn so với học sinh dân tộc Mường và Sán Dìu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về tầm vóc thể lực của trẻ em ở Việt Nam khá phong phú Tuy kết quả nghiên cứu trong các công trình có sự khác nhau ít nhiều, nhưng đều xác định được là chúng biển đổi theo lứa tuổi
và có sự khác biệt về những chỉ số này giữa nam và nữ, giữa học sinh thành phố, thị xã và học sinh nông thôn Trong quá trình phát triển ở trẻ em có hai
Trang 22giai đoạn nhảy vọt tăng trưởng Mốc đánh dấu lứa tuổi nhảy vọt tăng trưởng của các công trình là tương đối thống nhất đó là chiều cao tăng nhanh nhất từ
13 – 15 tuổi ở nam, 11 – 13 tuổi ở nữ
1.2 Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý hệ hô hấp của trẻ em
Số lần thở trong một phút gọi là tần số thở Tần số thở phụ thuộc vào kích thước của cơ thể, lứa tuổi, trạng thái tâm sinh lý và khí hậu [28], [35] Lúc thở nhanh, lúc thở chậm Tần số thở của trẻ em cao hơn của người lớn
Trong giai đoạn bào thai, sự trao đổi khí được thực hiện qua nhau thai Ngay sau khi được sinh ra, trẻ bắt đầu thở bằng phổi Sau động tác thở đầu tiên, tần số thở của trẻ tăng dần lên và thời gian thở tương đối dài hơn Ở thời
kỳ sơ sinh và trong mấy tháng đầu, trung tâm hô hấp chưa hoàn thiện nên tần
số thở của trẻ em dễ bị rối loạn
Trong những năm tiếp theo, tần số thở của trẻ em giảm dần theo tuổi
Cụ thể, ở trẻ sơ sinh tần số thở 40 – 60 nhịp/phút, trẻ dưới 6 tháng thở 40 – 35 nhịp/phút, trẻ từ 7 – 12 tháng thở 35 – 30 nhịp/phút, trẻ 2 – 3 tuổi thở 30 – 25 nhịp/phút, trẻ 10 – 12 tuổi thở 22 – 20 nhịp/phút, trẻ 14 – 15 tuổi thở 20 – 18 nhịp/phút Như vậy, tần số thở trẻ em giảm nhanh trong những năm đầu, sau
đó giảm dần ở những năm tiếp theo cho đến 15 tuổi Sau 15 tuổi thì tần số thở của trẻ em hầu như không giảm nữa và dần đi vào ổn định Tần số thở của trẻ
em nam và nữ có sự chênh lệch nhỏ Dưới 2 tuổi, trẻ em nam thở nhanh hơn trẻ em nữ, nhưng đến khi 10 tuổi, trẻ em nữ thở nhanh hơn trẻ em nam Nguyên nhân là do khi bước vào tuổi dậy thì có sự thay đổi hoạt động của một số hệ cơ quan trong cơ thể
Năm 1993, Đoàn Yên và cs [68] nghiên cứu tần số thở của người Việt Nam từ 4 – 110 tuổi nhận thấy, từ 6 đến 17 tuổi, tần số thở của trẻ em giảm dần Cụ thể là tần số thở của nam giảm từ 28,8 lần/phút lúc 6 tuổi xuống còn
Trang 2317 lần/phút lúc 17 tuổi; tần số thở của nữ giảm từ 24,2 lần/phút lúc 6 tuổi xuống còn 18,2 lần/phút lúc 17 tuổi
Theo Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan [26], động tác thở của trẻ em không phải hoàn toàn giống nhau, thậm chí cùng một đứa trẻ lại mỗi lúc thở một kiểu Người ta có thể chia thành các kiểu thở như thở bụng, thở ngực Ở trẻ nhỏ, các cơ của lồng ngực còn yếu nên động tác thở chủ yếu thực hiện bằng cơ hoành tạo ra kiểu thở bụng Ở trẻ lớn, các cơ liên sườn và cơ ức đòn chũm phát triển mạnh nên động tác thở được thực hiện chủ yếu bằng các cơ liên sườn phối hợp với cơ hoành tạo nên kiểu thở ngực
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Loan và Vũ Thị Bảo Tâm trên trẻ em mầm non từ 1 đến 6 tuổi ở Thái Bình thì tần số thở của trẻ em giảm dần theo tuổi Tần số thở của nam giảm từ 33,75 lần/phút lúc 1 tuổi giảm xuống còn 24,47 lần/phút lúc 6 tuổi Tần số thở của nữ giảm từ 32,80 lần/phút lúc 1 tuổi giảm xuống còn 26,61 lần/phút lúc 6 tuổi [theo 28]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc [47] trên học sinh miền núi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ cho thấy, tần số thở của học sinh giảm dần theo tuổi với mức giảm dao động từ 0,44 ÷ 1,32 nhịp/năm và đến 17 tuổi gần tương đương so với của người lớn Thời điểm giảm nhanh tần số thở của học sinh nam từ 13–15 tuổi và của nữ từ 12–14 tuổi
Theo Nghiêm Xuân Thăng [55], khí hậu ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của cư dân Nghệ Tĩnh, trong đó tần số thở và dung tích sống chịu ảnh hưởng nhiều nhất
1.3 Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý hệ tuần hoàn của trẻ em
Hoạt động của hệ tuần hoàn đảm bảo cung cấp ôxi và chất dinh dưỡng cho toàn bộ cơ thể, trong đó tần số tim và huyết áp động mạch là những chỉ số
cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn Tim là động cơ chính của hệ tuần hoàn, vừa hút, vừa đẩy máu vào mạch máu
Trang 24Tần số tim là số lần tim đập trong 1 phút Bởi vậy, tần số tim là một trong các chỉ số dùng để đánh giá hoạt động của hệ tuần hoàn và tình trạng sức khỏe của con người Khi tim đập quá chậm sẽ không cung cấp đủ máu cho cơ thể hoạt động, đặc biệt là não, có thể làm cho bệnh nhân hoa mắt, chóng mặt, thậm chí là ngất Khi tim đập quá nhanh có thể làm cho chức năng tim sẽ bị suy giảm, xuất hiện các biểu hiện của suy tim
Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch máu Huyết áp khi tim co và khi tim dãn không giống nhau Khi tim co, áp suất đẩy máu trong hệ mạch tăng cao nên huyết áp có được giá trị lớn nhất gọi là huyết áp tối đa hay huyết áp tâm thu Khi tim giãn, không có sức đẩy của tim nhưng máu vẫn được đẩy đi do tính đàn hồi của thành động mạch Vì vậy, huyết áp có được trong giai đoạn này có trị số thấp nhất nên gọi là huyết áp tối thiểu hay huyết
áp tâm trương Mức chênh lệch giữa huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu gọi
là huyết áp hiệu số Chỉ số này cần cho sự tuần hoàn máu Huyết áp hiệu số lớn nhất ở các động mạch chủ và động mạch lớn [15], [61] Khi huyết áp hiệu
số quá nhỏ thì tốc độ tuần hoàn máu bị chậm lại nên không cung cấp đủ máu cho cơ thể và được gọi là chứng “kẹt huyết áp”
Theo Tur A P tần số tim trung bình của trẻ sơ sinh trong những ngày đầu tiên là 120 – 140 nhịp/phút, sau đó giảm dần theo độ tuổi và đạt mức ổn định ở lứa tuổi trưởng thành (theo [36]) Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy ở trẻ lứa tuổi đang bú mẹ tần số tim trung bình là 110 – 160 nhịp/phút, trước tuổi đến trường là 80 – 100 nhịp/phút và ở tuổi học đường là 72 – 82 nhịp/phút (theo [36]) Sự giảm tần số tim trong quá trình phát triển của trẻ em
có liên quan đến sự giảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của các dây thần kinh ngoài tim Trong những năm tiếp theo, tần số tim tiếp tục giảm
đi chút ít [26], [48] Tần số tim có thể thay đổi theo độ tuổi, theo trạng thái cơ thể, khí hậu, bệnh lý, giới tính Tần số tim của trẻ em cao hơn của người lớn,
Trang 25càng nhỏ càng nhanh Ở trẻ em, tần số tim rất dễ thay đổi khi khóc, khi bị sốt,
Trần Đỗ Trinh [60], nghiên cứu huyết áp của người Việt Nam tại 20 tỉnh thuộc 7 vùng địa lý trong cả nước từ 15 tuổi trở lên Tác giả nhận thấy, huyết áp tăng dần theo tuổi ở cả nam và nữ, mức tăng chậm nhất ở nhóm tuổi
15 – 19 Huyết áp của nam cao hơn của nữ khoảng 1 – 3 mmHg với sự khác nhau có ý nghĩa thống kê
Nghiêm Xuân Thăng [55], nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động tim mạch và huyết áp với khí hậu của cư dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh Kết quả nghiên cứu cho thấy, tần số tim và huyết áp của con người chịu ảnh hưởng của khí hậu Tần số tim tăng theo sự tăng của nhiệt độ môi trường và biến đổi trong ngày Trong ngày, tần số tim tăng dần từ sáng đến trưa, cao nhất lúc 12 – 14 giờ, sau đó giảm dần và thấp nhất lúc 22 – 24 giờ Vào cùng một thời điểm thì mùa hè tần số tim cao hơn mùa đông Ngoài ra, tần số tim còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như lao động và trạng thái tâm lý
Theo Frolkis (theo [66]), ở trẻ dưới 5 tuổi huyết áp của nam và nữ hầu như bằng nhau, còn từ 5 – 9 tuổi huyết áp của nam cao hơn của nữ Kết quả nghiên cứu của Fedorova, Kaluifnaia cho thấy, ở lứa tuổi 8 – 12, huyết áp tối
đa và huyết áp tối thiểu của nam đều cao hơn của nữ (theo [66])
Đoàn Yên và cs [67], nghiên cứu tần số tim và huyết áp của người Việt Nam nhận thấy, sau khi sinh, tần số tim và huyết áp động mạch biến đổi có
Trang 26tính chu kỳ, trước 12 tuổi có tần số tim của nam và nữ gần như nhau, sau 12 tuổi tần số tim của nữ cao hơn của nam Tần số tim giảm dần cho đến 25 tuổi đạt trung bình 72 nhịp/phút sau đó ổn định đến 69 tuổi Huyết áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng lên chút ít Huyết áp động mạch của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi đều thấp hơn so với người châu Âu, châu Mĩ
Nguyễn Văn Mùi [43] nghiên cứu đặc điểm biến đổi tần số tim và huyết áp của trẻ em lứa tuổi 7 – 15 ở ngoại thành Hải Phòng nhận thấy tần số tim của các em giảm dần theo tuổi còn huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương tăng dần theo tuổi Tần số tim ở lứa tuổi 7 – 12 của các em nam nhanh hơn so với các em nữ cùng tuổi, nhưng từ 13 – 15 tuổi không có sự khác biệt Huyết áp tâm thu của nam từ 7 – 9 tuổi cao hơn của nữ, còn từ 10 – 15 tuổi không có sự khác biệt Huyết áp tâm trương của các em nam từ 7 – 15 tuổi lớn hơn so với của các em nữ
Theo Tạ Thuý Lan và Trần Thị Loan [26], [27] cho thấy, tần số tim của người lớn trong điều kiện nghỉ ngơi là 68 – 70 nhịp/phút còn ở trẻ em tần số tim cao hơn nhiều so với người lớn và phụ thuộc vào lứa tuổi Cụ thể, trẻ em lúc 6 tháng tuổi là 120 – 140 nhịp/phút, trên 6 tháng tuổi là 100 – 130 nhịp/phút, 2 tuổi là 90–120 nhịp/phút, 5–6 tuổi là 80 – 110 nhịp/phút
Trần Thị Loan [35] nghiên cứu học sinh ở Hà Nội nhận thấy, tần số tim của học sinh giảm dần theo tuổi Từ 6 – 17 tuổi tần số tim của học sinh nam giảm 18,90 nhịp/phút, mỗi năm giảm trung bình 1,72 nhịp/phút và của nữ giảm 14,00 nhịp/phút, mỗi năm giảm trung bình 1,27 nhịp/phút, huyết áp của học sinh tăng dần theo tuổi, mỗi năm tăng trung bình 2 mmHg Tốc độ tăng huyết áp không đều Thời điểm tăng nhanh huyết áp ở nam lúc 13 tuổi, ở nữ lúc 12 – 13 tuổi Ở cùng một độ tuổi huyết áp của nữ cao hơn của nam khoảng
2 – 3 mmHg
Trang 27Đỗ Hồng Cường [4], nghiên cứu trên học sinh trung học cơ sở các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã cho thấy, từ 11 – 15 tuổi tần số tim của học sinh nam và của học sinh nữ các dân tộc giảm dần Ở học sinh nam mỗi năm giảm khoảng 1,95 – 2,36 lần/phút còn ở học sinh nữ giảm khoảng 1,75 – 2,02 lần/phút Tần
số tim của nam nữ học sinh giữa các dân tộc không có sự khác biệt và ở các lứa tuổi khác nhau tần số tim của nữ đều cao hơn của nam Huyết áp động mạch của học sinh tăng dần theo tuổi, hiện tượng này liên quan với sự biến đổi cấu trúc và chức năng hệ tim mạch trong quá trình phát triển cá thể
Năm 2013, Nguyễn Thị Bích Ngọc [47] nghiên cứu trên học sinh miền núi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ nhận thấy tần số tim của học sinh giảm dần theo tuổi, thời điểm giảm nhanh lúc 11–13 tuổi đối với nữ và 12–14 tuổi đối với nam Tần số tim của nữ cao hơn so với của nam ở hầu hết các lứa tuổi nghiên cứu Huyết áp tâm thu và tâm trương của học sinh tăng dần theo tuổi Thời điểm tăng nhanh nhất huyết áp tâm thu lúc 12–13 tuổi đối với nam và 13–
14 tuổi đối với nữ Thời điểm tăng nhanh huyết áp tâm trương lúc 12 –14 tuổi đối với nữ và 13–15 tuổi đối với nam Huyết áp tâm thu của học sinh nữ cao hơn
so với của học sinh nam cả ba dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy, tần số tim có thể biến đổi theo tuổi, tùy thuộc vào trạng thái tâm sinh lý, khí hậu, bệnh lý, giới tính
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thiếu niên và nhi đồng ở huyện Đông Anh, Hà Nội từ 6 đến 14 tuổi Đối tượng được nghiên cứu có sức khỏe bình thường, không có các dị tật về hình thể và không mắc các bệnh mạn tính Tổng số đối tượng nghiên cứu là 1057 trẻ em, trong đó có 527 trẻ em nam và 530 trẻ em
nữ Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo tuổi và theo giới tính được thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và theo giới tính
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số tầm vóc của trẻ em
- Chiều cao đứng được xác định ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng,
hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm chẩm,
Trang 29lưng, mông, gót chạm vào thước đo Tư thế đứng thẳng được xác định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song song với mặt bàn cân
- Cân nặng được xác định bằng cân đồng hồ Khi cân, học sinh chỉ
mặc quần áo mỏng, không đi giày dép và đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, đo
xa bữa ăn
- Vòng ngực trung bình được xác định bằng thước dây không co giãn
của Trung Quốc Vòng ngực đo ở tư thế đứng thẳng, vòng thước quấn quanh ngực, phía sau sát dưới xương bả vai, vuông góc với cột sống, phía trước qua mũi ức, sao cho mặt phẳng do thước dây tạo ra song song với mặt đất Tiến hành đo ở hai thì khi hít vào hết sức và thở ra tận lực Vòng ngực trung bình
là trung bình cộng của vòng ngực khi hít vào hết sức và thở ra tận lực
- Vòng đầu được đo bằng thước dây không co dãn và có vạch chia độ
chính xác đến 0,1 cm Đối tượng ở tư thế đứng thẳng, vòng thước dây quanh đầu, phía trước nằm trên cung lông mày, phía sau qua ụ chẩm để lấy kích thước tối đa
- Vòng cánh tay được đo bằng thước dây không co dãn và có vạch chia
độ chính xác đến 0,1 cm Đối tượng đứng thẳng, tay buông thõng, lòng bàn tay úp vào đùi Vòng thước dây quanh cánh tay, ở vị trí 1/3 dưới
- Vòng bụng được đo bằng thước dây không co dãn và có vạch chia độ
chính xác đến 0,1 cm Đối tượng ở tư thế đứng thẳng Vòng thước dây quanh bụng, ở chỗ eo nhỏ nhất sao cho mặt phằng do thước dây tạo ra song song với mặt đất
-Vòng mông được đo bằng thước dây không co dãn và có vạch chia độ
chính xác đến 0,1 cm Đối tượng ở tư thế đứng thẳng, hai chân dạng hơi rộng Vòng thước dây quanh vị trí lớn nhất của mông sao cho mặt phẳng do thước dây tạo ra song song với mặt đất
Trang 30- Vòng đùi được đo bằng thước dây không co dãn và có vạch chia độ
chính xác đến 0,1 cm Đối tượng đứng thẳng, tay buông thõng Vòng thước dây quanh đùi, ở vị trí dưới nếp lằn mông, vuông góc với trục thân
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu chỉ số về thể lực và thể trạng của trẻ em
- Chỉ số pignet được tính theo công thức:
Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Cân nặng (kg) + vòng ngực trung bình (cm)]
Phân loại thể lực theo chỉ số pignet (Bảng 2.2) (theo [4])
Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số pignet
Trang 31Hình 2.1 Chỉ số BMI của trẻ em từ 2 – 20 tuổi
Trang 322.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh lý của hệ hô hấp và tuần hoàn của trẻ em
Tần số thở, tần số tim và huyết áp được đo vào đầu buổi học, sau khi đối tượng đã được nghỉ ngơi thoải mái ít nhất 15 phút
- Tần số thở được xác định bằng ống nghe tim phổi Người đo đặt
ống nghe ở phía sau ngực trái hoặc phải của đối tượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp thở trong vòng 1 phút, đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình
- Tần số tim được xác định bằng ống nghe tim phổi Người đo đặt ống
nghe vào ngực trái của đối tượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong vòng 1 phút, đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình Nếu thấy kết quả ba lần đo khác nhau nhiều thì cho đối tượng nghỉ ngơi 15 – 20 phút rồi đo lại
- Huyết áp động mạch được xác định bằng phương pháp Korotkov
Dùng huyết áp kế đồng hồ, đo huyết áp động mạch cánh tay trái Đối tượng nằm ngửa ở tư thế thoải mái, người đo quấn bao cao su quanh cánh tay đối tượng, chặt vừa phải và đặt trống nghe ở động mạch cánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để nghe mạch đập và đặt đồng hồ trước mặt Vặn chặt ốc ở bóp cao su và từ từ bơm cho tới khi không nghe thấy tiếng mạch đập và kim đồng hồ của huyết áp kế chỉ vào số 150 – 160 mmHg Sau đó mở nhẹ ốc cho hơi ra từ từ và lắng nghe Trị số trên đồng hồ khi nghe thấy tiếng mạch đập đầu tiên chỉ huyết áp tối đa và lúc bắt đầu không nghe thấy tiếng mạch đập nữa chỉ huyết áp tối thiểu Đối với các trường hợp kim đồng hồ hạ dần tới 0 mmHg mà vẫn nghe thấy tiếng mạch đập thì đo lại và lấy trị số huyết áp tối thiểu ngang mức khi tiếng mạch đập thay đổi âm sắc Đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình của 3 lần đo
Trang 332.2.4 Phương pháp nghiên cứu thể lực của trẻ em qua hoạt động chạy
Thời gian chạy 30 m xuất phát cao và quãng đường chạy tùy sức trong
5 phút được xác định theo “Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên” [50] của Bộ Giáo dục và Đào tạo
2.2.4.1 Chạy 30 m xuất phát cao
Đối tượng thực hiện tư thế xuất phát cao và chạy trên đường thẳng có chiều dài 50 m, chiều rộng 3 m, hai đầu kẻ vạch xuất phát và vạch đích, phía sau vạch đích có khoảng trống 10 m để đối tượng giảm tốc độ sau khi về đích Thời gian chạy được xác định bằng đồng hồ bấm giây Thực hiện một lần
2.2.4.2 Chạy tùy sức 5 phút
Đường chạy có chiều dài 1000 m, chiều rộng 3 m có kẻ vạch xuất phát
và vạch đích, phía sau vạch đích có khoảng trống 10 m để đối tượng giảm tốc
độ sau khi về đích Trên đường chạy đánh dấu từng đoạn 0,1 m Thời gian chạy được xác định bằng đồng hồ bấm giây
Đối tượng tay cầm một tích – kê tương ứng với số đeo ở ngực, thực hiện tư thế xuất phát cao và chạy tùy sức trong 5 phút Khi hết giờ, đối tượng lập tức thả tích – kê của mình xuống ngay nơi chân tiếp đất để xác định quãng đường chạy được trong 5 phút Thực hiện một lần
2.2.4.3 Xác định thể lực của thiếu niên và nhi đồng qua hoạt động chạy
Thể lực của thiếu niên và nhi đồng được xác định qua thời gian chạy 30
m và quãng đường chạy trong 5 phút theo tiêu chuẩn đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo [50] (bảng 1 – phụ lục)
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Tính toán các thông số theo thuật toán thống kê xác suất dùng cho y sinh học để phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu Việc xử lý số liệu được thực hiện trên máy vi tính, theo chương trình Microsof Excel
Trang 34Các dữ liệu được tính theo trị số giá trị trung bình (X ), độ lệch chuẩn (SD), hệ số tương quan pearson (r) Các mẫu nghiên cứu đều có n > 30, nên:
- Tính giá trị trung bình theo công thức:
- Tính độ lệch chuẩn theo công thức:
Trong đó:
X – Giá trị trung bình;
Xi – Giá trị thứ i của đại lượng X;
n – Số cá thể ở mẫu nghiên cứu;
SD – Độ lệch chuẩn
- Hệ số tương quan Pearson (r) được tính bằng chương trình Tools Data Analysis – Regression theo công thức:
Trong đó: Xi – Từng giá trị của đại lượng X;
Yi – Từng giá trị của đại lượng Y;
n – Số mẫu có trong công thức;
r – Hệ số tương quan giữa hai đại lượng X và Y;
Sự sai khác của hai giá trị trung bình của hai mẫu nghiên cứu được kiểm định bằng hàm “T – test” theo phương pháp Student – Fisher
n
X X
n
i i
n
i i i
n i
n
i
n i
n i
n
i i i
i i
Y Y
n X
X n
Y X
Y X
n r
1
2 1
2 1
2 1 2
.
.
.
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Một số chỉ số tầm vóc của thiếu niên và nhi đồng
3.1.1 Chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng từ 6 –
14 tuổi thể hiện trong bảng 3.1 và hình 3.1, 3.2
Bảng 3.1 Chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng
Tăng trung bình/năm 5,27 4,90
Qua số liệu trình bày ở bảng 3.1 có thể thấy, ở giai đoạn 6 – 14 tuổi, chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng tăng dần theo tuổi Cụ thể, chiều cao đứng của nam lúc 6 tuổi là 115,66 cm, đến 14 tuổi đạt được 157,84 cm, tăng thêm 42,18 cm, mỗi năm tăng trung bình 5,27 cm Chiều cao đứng của
nữ lúc 6 tuổi là 113,84 cm, đến 14 tuổi đạt được 153,32 cm, tăng thêm 39,48
cm, mỗi năm tăng trung bình 4,90 cm Như vậy, ở giai đoạn 6 – 14 tuổi, chiều cao của nam tăng nhiều và tăng nhanh hơn của nữ
Trang 36Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chiều cao đứng
của thiếu niên và nhi đồng Tốc độ tăng chiều cao hàng năm của nam và nữ không đồng đều giữa
các độ tuổi, có lứa tuổi tăng nhanh có lứa tuổi tăng chậm Ở cả nam và nữ đều
có giai đoạn tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao Ở nam thời điểm tăng trưởng
nhảy vọt về chiều cao diễn ra lúc 12 – 13 tuổi (tăng 7,00 cm/năm), còn ở nữ
diễn ra lúc 11 – 12 tuổi (tăng 6,70 cm/năm), sớm hơn so với của nam một
năm Sự tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của nam và nữ diễn ra vào giai
chiều cao (cm)
Trang 37đoạn dậy thì, đó là thời điểm cơ thể có sự biến đổi mạnh mẽ về mặt sinh lý Hoạt động mạnh của hoocmon sinh dục (testosterone ở nam và ơstrogen ở nữ)
đã kích thích sự phát triển chiều dài của hệ xương, nhất là các xương ống dài rất nhanh nên chiều cao cũng tăng nhanh Các em nữ thường dậy thì sớm hơn các em nam nên thời điểm tăng trưởng nhảy vọt chiều cao của các em nữ diễn
ra sớm hơn các em nam
Thời điểm tăng trưởng nhảy vọt chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi sớm hơn so với số liệu của các tác giả Thẩm Thị Hoàng Điệp [13], Đào Huy Khuê [23], Trần Thị Loan [35], Nguyễn Tấn Gi Trọng [61], Lê Ngọc Trọng và cs [62], Đoàn Yên và cs [67]
Trong cùng một độ tuổi, chiều cao của nam và nữ không giống nhau
Từ 6 – 7 tuổi, chiều cao của nam lớn hơn của nữ, ở giai đoạn 8 – 12 tuổi chiều cao của nữ lại lớn hơn của nam Đến giai đoạn 13 – 14 tuổi chiều cao của nam lại lớn hơn của nữ Vì vậy, trên đồ thị biểu diễn sự tăng trưởng chiều cao của nam và nữ từ 6 đến 14 tuổi xuất hiện hai điểm giao chéo Điểm giao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ nhất xuất hiện vào lúc 7 – 8 tuổi và điểm giao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ hai xuất hiện lúc 12 – 13 tuổi (hình 3.1)
Mức chênh lệch về chiều cao giữa nam và nữ trong cùng một độ tuổi từ
7 tuổi đến 12 tuổi không rõ (p>0,05), còn ở độ tuổi 6,13,14 rõ rệt (p<0,05)
So với số liệu chiều cao đứng của trẻ em trong công trình nghiên cứu của các tác giả Thẩm Thị Hoàng Điệp [13], Đào Huy Khuê [23], Trần Thị Loan [35], Nguyễn Tấn Gi Trọng [61], Lê Ngọc Trọng và cs [62], Đoàn Yên
và cs [67] thì chiều cao đứng của thiếu niên và nhi đồng trong nghiên cứu của chúng tôi lớn hơn (bảng 2 – phụ lục)
Sự khác nhau trong nghiên cứu của chúng tôi so với các công trình nghiên cứu trước đó có là do đối tượng nghiên cứu thuộc các địa bàn khác nhau, có điều kiện sống khác nhau, thời điểm nghiên cứu khác nhau và có
Trang 38khuynh hướng tăng trưởng thế tục Khuynh hướng tăng trưởng thế tục là những biến đổi tăng trưởng về tốc độ sinh trưởng và phát triển ở trẻ em theo thời gian Đặc trưng của biến đổi thế tục thường thể hiện ở sự thay đổi chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, thay đổi các chức năng và thay đổi thời điểm trưởng thành sinh dục
3.1.2 Cân nặng của thiếu niên và nhi đồng
Kết quả nghiên cứu cân nặng của thiếu niên và nhi đồng từ 6 – 14 tuổi thể hiện trong bảng 3.2 và hình 3.3, 3,4
Bảng 3.2 Cân nặng của thiếu niên và nhi đồng
Tăng trung bình/năm 3,30 3,08
Qua số liệu trình bày ở bảng 3.2 có thể thấy, cân nặng của thiếu niên và nhi đồng tăng liên tục từ 6 – 14 tuổi Cân nặng của nam lúc 6 tuổi là 21,53 kg, đến 14 tuổi đạt được 46,93 kg, tăng thêm 26,40 kg, mỗi năm tăng trung bình 3,30 kg; Cân nặng của nữ lúc 6 tuổi là 19,04 kg, đến 14 tuổi đạt được 43,69
kg, tăng thêm 24,65 kg, mỗi năm tăng trung bình 3,08 cm Như vậy, ở giai
Trang 39đoạn 6 – 14 tuổi tốc độ tăng cân nặng của nam lớn hơn so với của nữ Nhận xét này phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác như Đào Huy Khuê [24], Trần Thị Loan [35], Trần Đình Long và cs [39], Nguyễn Tấn Gi Trọng [61],
Lê Ngọc Trọng và cs [62], Đoàn Yên và cs [67]
Tốc độ tăng cân nặng hàng năm của nam và nữ diễn ra không đều qua các năm, có giai đoạn tăng nhanh, có giai đoạn tăng chậm Cả nam và nữ đều
có giai đoạn tăng trưởng nhảy vọt về cân nặng Ở nam thời điểm tăng trưởng nhảy vọt về cân nặng diễn ra lúc 12 – 13 tuổi (tăng 4,83 kg/năm), còn ở nữ diễn ra lúc 11 – 12 tuổi (tăng 4,11 kg/năm) Như vậy, thời điểm tăng trưởng nhảy vọt về cân nặng của nữ xuất hiện sớm hơn so với của nam
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn cân nặng của thiếu niên và nhi đồng
Trong cùng một độ tuổi, cân nặng của nam và nữ cũng không giống nhau Từ 6 – 8 tuổi cân nặng của nam lớn hơn của nữ, từ 9 – 12 tuổi cân nặng của nữ lại lớn hơn của nam Đến giai đoạn 13 – 14 tuổi khi nam bước vào giai đoạn dậy thì và có sự tăng nhảy vọt về cân nặng thì cân nặng của nam lại cao
(kg)
Trang 40hơn của nữ Do tốc độ tăng cân nặng của nam và nữ không giống nhau nên đồ thị biểu diễn sự biến đổi về cân nặng có hai điểm giao chéo Điểm giao chéo tăng trưởng cân nặng lần thứ nhất xuất hiện vào lúc 8 – 9 tuổi và điểm giao chéo tăng trưởng cân nặng lần thứ hai xuất hiện lúc 12 – 13 tuổi (hình 3.3)
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của thiếu niên và nhi đồng
Cân nặng của thiếu niên và nhi đồng trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả nghiên cứu của các tác giả Đào Huy Khuê [23], Trần Thị Loan [35], Trần Đình Long và cs [39], Nguyễn Tấn Gi Trọng [61], Lê Ngọc Trọng và cs [62], Đoàn Yên và cs [67] (bảng 3 – phụ lục) Có thể giải thích hiện tượng này là do sự cải thiện điều kiện kinh tế – xã hội ở nước ta thời gian gần đây Do điều kiện sống, đặc biệt là chế độ dinh dưỡng tốt hơn, phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nên cân nặng của các em tăng lên một cách rõ rệt
3.1.3 Vòng ngực trung bình của thiếu niên và nhi đồng
Kết quả nghiên cứu vòng ngực trung bình của thiếu niên và nhi đồng từ
6 – 14 tuổi thể hiện trong bảng 3.3 và hình 3.5, 3.6
cân nặng (kg)