Nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp chỉ mua cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường thứ cấp sẽ chấp nhận cho chứng khoán này.Xét về phương diện tổ chức và giao dịch, thị tr
Trang 1MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán (TTCK) chính thức của Việt Nam đã được đưa vào hoạt động từ tháng 7 năm 2000 Việc phát triển TTCK có thể thu hút một lượng vốn lưu động lớn đáp ứng tình trạng thiếu vốn sản xuất hiện nay.Có thể nói đây là một thị trường tiềm năng có sức hút lớn nên việc phát triển TTCK là một bước đi đúng đắn để phát triển kinh tế.Song hiện nay TTCK nước ta phát triển ra sao và có những phương án giải quyết thế nào?Thì cùng với sự yêu thích và mong muốn nâng cao những hiểu biết của mình
về TTCK em xin được nghiên cứu đề tài :”Chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam”
Đề án này đi sâu hơn vào những khái niệm,những phân loại các vấn đề liên quan đến Chứng khoán(CK) và TTCK;song đồng thời cũng cập nhật những tình hình mới nhất của CK Việt Nam cùng những giải pháp ,ý kiến đưa ra từ các chuyên gia
Trang 2NỘI DUNGPHẦN1: CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Khái niệm:
Chứng khoán là chứng chỉ thể hiện quyền của chủ sở hữu chứng khoán đối với người phát hành Chứng khoán bao gồm: chứng khoán nợ (trái phiếu), chứng khoán vốn (cổ phiếu) và các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán ( chứng quyền, chứng khế, chứng chỉ thụ hưởng …)
2.2.Trái phiếu:
Trái phiếu là chứng khoán nợ, người phát hành trái phiếu phải trả lãi và hoàn trả gốc cho những người sổ hữu trái phiếu vào lúc đáo hạn:
Nếu căn cứ vào cách thức trả lãi, trái phiếu được chia thành
+ Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu được thanh toán cố định theo định kỳ
+ Trái phiếu với lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu
Trang 3được thay đổi theo sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị chi phối bởi biểu giá, chẳng hạn như goà bán lẻ.
+Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thưởng và được bán theo nguyên tắc chiết khấu Tiền thưởng cho việc sở hữu trái phiết nằm dưới dạnh lợi nhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu nhập (nó là phần chênh lệch giữa goá thị danh nghĩa - mệnh giá trái phiếu và giá mua )
II THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán theo các nguyên tắc của thị trường (theo quan hệ cung cầu):
-Vai trò : tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu
tư cho nền kinh tế
Nhà đẩu tư trên thị trường sơ cấp bao gồm cá nhân,tổ chức đầu tư Tuy nhiên, không phải nhà phát hành nào cũng nắm được các kiến thức và kinh nghiệm phát hành Vì vậy, trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ chức trung gian giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, đó là nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán Nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán giúp cho nhà phát hành thực hiện việc phân phối chứng khoán mới phát hành và nhận từ nhà phát hành một khoản hoa hồng bảo lãnh phát hành cho dịch vụ này
*Thị trường thứ cấp: là thị trường giao dịch Đây là thị trường mua bán các loại chứng khoán đã được phát hành Thị trường thứ cấp thực hiện vai trò giều hoà, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các nguồn
Trang 4vốn ngắn hạn thành dài hạn Qua thị trường thứ cấp, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời xó thể đầu tư vào chứng khoán, khi cần tiền họ có thể bán lại chứng khoán cho nhà đầu tư khác Nghĩa là thị trường thứ cấp là nơi làm cho các chứng khoán trở nên "lỏng" hơn Thị trường thứ cấp là nơi xác định giá của mỗi loại chứng khoán mà công ty phát hành chứng khoán bán ở thị trường thứ cấp Nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp chỉ mua cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường thứ cấp sẽ chấp nhận cho chứng khoán này.
Xét về phương diện tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán có ba loại:
Thị trường chứng khoán tập trung: là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện thông qua Sở giao dịch chứng khoán(SGDCK)
Thị trường chứng khoán bán tập trung: là thị trường chứng khoán "bậc cao" Thị trường chứng khoán bán tập trung (OTC) không có trung tâm giao dịch mà giao dịch mua bán chứng khoán thông qua mạnh lưới điện tín, điện thoại Một điều rất quan trọng là các nhà đầu tư trên thị trường OTC không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận mua bán chứng khoán như trong phòng giao dịch của SGDCK, thay vào đó họ thuê các công ty môi giới giao dịch hộ thông qua hệ thống viễn thông
Các công ty chứng khoán trên thị trường OTC có mặt ở khắp nơi trên đất nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh buôn bán một số loại chứng khoán nhất định Các công ty chứng khoán giao dịch mua bán chứng khoán cho mình và cho khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà tạo thị trường
về các loại chứng khoán đó Các công ty cũng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán như: giao dịch mua bán cho chính mình, môi giới mua bán cho khách hàng, dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành Các chứng khoán mua bán trên thị trường OTC cũng phải được niêm yết công khai cho công chúng biết để có quyết định đầu tư Các chứng khoán được niêm yết trên thị trường OTC tương đối dễ dàng, các điều kiện niêm
Trang 5yết không quá nghiêm ngặt Như vậy, hầu như tất cả các chứng khoán không được niêm yết trên SGDCK đều được giao dịch ở đây Các chứng khoán buôn bán trên thị trường OTC thường có mức độ tín nhiệm thấp hơn các chứng khoán được niêm yết trên SGDCK Song, do thị thị trường nằm rải rác ở khắp nơi nên độ lớn của thị trường khó có thể xác định chính xác được, thông thường khối lượng buôn bán chứng khoán trên thị trường này là lớn hơn SGDCK Từ điều kiện niêm yết thông thoáng hơn mà chứng khoán của các công ty được buôn bán trên thị trường này nhiều hơn, thậm chí một số chứng khoán được niêm yết trên SGDCK cũng được mua bán ở thị trường này.
Hoạt động giao dịch buôn bán chứng khoán trên thị trường OTC cũng diễn ra khá đơn giản Khi một khách hàng muốn mua một số lượng chứng khoán nhất định, anh ta sẽ đưa lệnh ra cho công ty chứng khoán đang quản
lý tài sản của mình, yêu cầu thực hiện giao dịch hộ mình Thông qua hệ thống viễn thông, công ty môi giới-giao dịch sẽ liên hệ tới tất cả các nhà tạo thị trường của loại chứng khoán đó Sau đó công ty này sẽ thông báo lại cho khách hàng của mình và nếu khách hàng chấp thuận, thì công ty sẽ thực hiện lệnh này và giao dịch của khách hàng sẽ được thực hiện
Thị trường chứng khoán phi tập trung: còn gọi là thị trường thứ ba Hoạt động mua bán chứng khoán được thực hiên tự do
2 Chức năng của TTCK
2.1 Chức năng huy động vốn cho nền kinh tế
Thị trường chứng khoán được xem như chiếc cầu vô hình nối liền người thừa vốn với người thiếu vốn để họ giúp đỡ nhau thông qua việc mua bán cổ phiếu và qua đó để huy động vốn cho nền kinh tế, góp phần phát triển sản xuất kinh doanh tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp, ổn định đời sống dân cư và thúc đẩy nền kinh tế phát triển Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ và chính quyền địa phương cũng huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Thị trường chứng
Trang 6khoán đóng vai trò tự động điều hoà vốn giữa nơi thừa sang nơi thiếu vốn
Vì vậy, nó góp phần giao lưu và phát triển kinh tế
2.2 Chức năng thông tin
Thị trường chứng khoán bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời (cho các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán ) về tình hình cung - cầu, thị trường giá của từng loại chứng khoán trên thị trường mình và trên thị trường chứng khoán hữu quan
2.3 Chức năng cung cấp khả năng thạnh khoản
Nhờ có thị trường chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi thành tiền khi họ muốn Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản bảo đảm cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và năng động
2.4 Chức năng đánh giá giá trị doanh nghiệp
Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá chính xác doanh nghiệp thông qua chỉ số chứng khoán trên thị trường Việc này kích các nhà doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới
2.5 Chức năng tạo môi trường để chính phủ thực chính sách kinh
tế vĩ mô
Chính phủ có thêu bán trái phiều chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư
3 Những mặt tích cực và hạn chế
3.1 Những mặt tích cực:
3.1.1.Khuyến khích dân chúng tiết kiệm và sử dụng mọi nguồn vốn
nhàn rỗi vào công cuộc đầu tư:
Muốn phát triển thì phải đầu tư Đầu tư, bất cứ một doanh nghiệp nào,
dù là khu vực nhà nước hay khu vực tư nhân cùng đều có hai giải pháp cơ bản:
-Bản thân doanh nghiệp tự tích luỹ để đầu tư qua phân bổ lợi nhuận Biện pháp này chỉ có thể thực hiện được ở những doanh nghiệp hiện hữu,
Trang 7kinh doanh có hiệu quả, có lãi Hoặc :
-Huy động vốn từ bên ngoài, chủ yếu bằng hai nguồn vốn: vay tín dụng trung và dài hạn vủa các tổ chức tài chính, tín dụng và phát hành cổ phiếu, trái phiếu Biện pháp này chỉ có thể thực hiện được khi dân chúng có nguồn tiết kiệm dồi dào, và ý thức cũng như phong trào tiết kiệm trong dân chúng tốt
Có thị trường chứng khoán số vốn nhàn rỗi trong xã hội xẽ được thu hút vào công cuộc đầu tư Vốn đầu tư sẽ sinh lời, càng kích thích ý thức tiết kiệm trong dân chúng
3.1.2.Giúp nhà nước thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội
Nhà nước nào cũng có nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế Nền kinh
tế tăng trưởng hay suy thoái trước hết phụ thuộc vào chính sách và các biện pháp can thiệp của nhà nước Bất cứ nhà nước nào cũng phải có ngân sách Ngân sách nhà nước càng lớn thì chương trình phát triển kinh tế xã hội càng
dễ thành công
Để có vốn cho chi tiêu, nhà nước phải thực hiện chính sách thuế Thuế
là biện pháp quan trọng nhất để tạo ngân sách nhà nước Nhưng thông thường thuế không đủ cho chi tiêu, do đó phải có một nguồn thu khác, đó là trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương Một hình thức nhà nước vay tiền của dân
3.1.3.Thị trường chứng khoán là công cụ giảm áp lực lạm phát
3.1.4.Thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng đối với những nước đang phát triển Chúng ta ai cũng xó thể nhận ra rằng vốn đầu tư trong nước (dù có huy động tối đa nguồn tiết kiệm của dân chúng) cũng chỉ có giới hạn Do vậy phải có vốn đầu tư nước ngoài Trong việc thu hút vốn đầu
tư nước ngoài có nhiều chính sách và biện pháp có thể thực hiện ở nước ta
3.1.5.Thị trường chứng khoán lưu động hoá mọi nguồn vốn trong nước
Các cổ phiếu, trái phiếu tượng trưng cho một số vốn đầu tư được mua
đi bán lại trên thị trường chứng khoán như một thứ hàng hoá Người có vốn
Trang 8(có cổ phiếu,trái phiếu…) không sợ vốn của mình bị bất động tức là không
sợ bị "chôn" tại nơi mà mình không thể lấy ra được khi không vừa ý Vì khi cần, họ sẽ bán lại các cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán để mua lại cổ phiếu,trái phiếu khác Nhờ vậy, sinh hoạt kinh tế thêm sôi động
3.1.6.Thị trường chứng khoán là điều kiện tiền đề cho quá trình cổ phần
hoá
Cổ phần hoá là quy trình chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang công
ty cổ phần Nó đòi hỏi phải có thị trường chứng khoán Bởi vì thị trường chứng khoán và công ty cổ phần như hính với bóng Chỉ có thông qua thị trường chứng khoán thì nhà nước mới có thể thực hiện cổ phần hoá đối với bất cứ loại doanh nghiệp nào, dù doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi hay thua lỗ Vì thị trường chứng khoán là nơi tập trung các nhà đầu tư Do vậy
có thể nói thị trường chứng khoán là tiền đề vật chất cho quá trình cổ phần hoá
3.1.7 Thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện đúng pháp luật
Nhờ thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp mới có thể đem bán, phát hành các cổ phiếu, trái phiếu của họ Với sự tự do lựa chọn của người mua cổ phiếu, để bán được cổ phiếu không cách nào khác là nhà quản lí các doanh nghiệp phải tính toán, làm ăn đàng hoàn và có hiệu quả hơn
3.2.Những mặt hạn chế:
3.2.1.Yếu tố đầu cơ: Đầu cơ là một yếu tố có tính toán của những người chấp nhận rủi ro Yếu tố này dễ gây ảnh hưởng dây chuyền làm cho cổ phiếu
có thể tăng giá giả tạo
3.2.2.Mua bán nội gián: Một cá nhân nào đó lợi dụng việc nắm được những thông tin nội bộ của một đơn vị kinh tế để mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cách không bình thường nhằm thu lợi cho mình ảnh hưởng đến giá của cổ phiếu đó trên thị trường
3.2.3.Mua bán cổ phiếu ngoài thị trường chứng khoán: Luật về thị trường chứng khoán cũng hạn chế những nhà môi giới mua bán cổ phiếu ngoài thị trường chứng khoán Vì nếu để việc mua bán này được tự do thực
Trang 9hiện sẽ gây ra hậu quả khôn lường.
3.2.4.Tin đồn thất thiệt: Việc phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc về hoạt động của một đơn vị kinh tế sẽ gây hậu quả xấu cho đơn
vị Đây là điều cấm trong hoạt động của thị trường chứng khoán
3.2.5.Mua bán liên tục nhằm đầu cơ: Liên tục mua một loại cổ phiếu nào đó ở giá cao và bán ra ở giá thấp với mục tiêu làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu để đầu cơ
4 Các đối tượng tham gia thị trường chứng khoán
Các đối tượng tham gia thị trường chứng khoán chia thành các nhóm: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan
4.1 Nhà phát hành và các tổ chức huy động vốn
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Nhà phát hành có thể là chính phủ, chính quyền địa phương, công ty, hay các tổ chức tài chính
4.2 Nhà đầu tư
Nhà đầu tư có thể chia làm hai loại: nhà đầu tưa cá nhân và nhà đầu tư
có tổ chức
4.2.1.Các nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên lợi nhuận luôn gắn liền với rủi ro Rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn Do vậy các nhà đầu tư phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với mình
4.2.2.Các nhà đầu tư có tổ chức
Các tổ chức này thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn
và xó các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư Đầu tư thông qua các
tổ chức này có ưu điểm là đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính Bên cạnh đó các công ty chứng khoán, các nhân hàng thương mại cũng có
Trang 10thể trở thành những nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ nua chứng khoán cho mình.
4.3.Các tổ chức kinh doanh chứng khoán
4.3.1 Công ty chứng khoán
Các công ty này hoạt động với nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, môi giới, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán
4.3.2.Các ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn để đầu tư chứng khoán nhưng chỉ được trong giới hạn nhất định để bảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán
Ngoài ra còn có 1 số các tổ chức khác có liên quan đến thị trường chứng khoán
Trang 11PHẦN 2-THỰC TIỄN THỰC TRẠNG TTCK VIỆT NAM
I THỰC TRẠNG
1.NHÌN CHUNG
-Những năm vừa qua TTCK nước ta phát triển phát triển rất nhanh,đây
là một điều đáng mừng.Và trong thời gian qua thị trường đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư khiến nó trở thành 1 kênh huy động vốn dài hạn trong nền kinh tế
-Bản thân TTCK đang phát huy tác dụng của nó với nền kinh tế nói chung,nhiều doanh nghiệp được cổ phần hóa,được niêm yêt trên TTCK
- Thị trường đã xây dựng được một hệ thống các tổ chức trung gian, bao gồm 55 công ty chứng khoán, 18 công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán với tổng số vốn điều lệ là 673,78 tỷ đồng; các tổ chức lưu ký,6 ngân hàng lưu ký, ngân hàng chỉ định thanh toán đã hình thành, và 18 Công ty quản lý quỹ đầu tư.Các trung gian tài chính đã phát huy tích cực vai trò môi giới mua bán chứng khoán trên thị trường tập trung; tham gia bảo lãnh phát hành và tư vấn cho các công ty trong việc niêm yết và cung cấp thông tin cho nhà đầu tư; thực hiện tốt việc thanh toán, bù trừ các giao dịch chứng khoán trên thị trường
-Thời gian qua giá cả tăng nhanh,có nhiều nhà đầu tư mới tham gia,quý
Trang 12IV năm 2007 số lượng nhà đầu tư mở tài khoản tại TTCK tăng 1,5 lần.
1 Độ “trễ” của thị trường chứng khoán Chúng ta biết rằng thị trường chứng khoán là thị trường phái sinh của thị trường tài chính - tiền tệ, là thị trường thứ cấp của nền kinh tế, nó có tính 2 mặt: tích cực và tiêu cực, nó vừa
là cái hàn thử biểu phản ánh mức độ tăng trưởng của các doanh nghiệp, của nền kinh tế, nó cũng cực kỳ nhạy cảm và trở thành ngòi nổ của một cuộc suy thoái hoặc khủng hoảng kinh tế, nhưng nó cũng rất “chậm trễ” khi những dấu hiệu phục hồi của doanh nghiệp hay nền kinh tế chưa rõ nét, vì yếu tố
Trang 13tâm lý của các nhà đầu tư có vai trò cực kỳ quan trọng Thị trường chứng khoán nước ta đang trong giai đoạn thách thức kỳ vọng của các nhà đầu tư, vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước, năng lực thực sự của các chủ doanh nghiệp trên cả hai lĩnh vực: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Biên độ giao động của thị trường chứng khoán trên cả hai sàn giao dịch Thành phố
Hồ Chí Minh và Hà Nội trong tháng 5 và quá nửa đầu tháng 6 vừa qua đã phản ánh điều đó
2 Các giải pháp kiềm chế lạm phát của Nhà nước đã phát huy tác dụng nhưng hiệu quả chưa cao Lạm phát vẫn giữ mức trên 20%, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vẫn ở mức cao, tháng 6-2008 là 5,2% cao hơn so với cuối năm ngoái Tuy có giảm 1 điểm phần trăm so với tháng 5-2008, nhưng vẫn tăng gấp đôi so với dự báo của Hội đồng Tư vấn thông tin Bộ Thương mại Theo
dự báo của các nhà nghiên cứu thì mức lạm phát này còn kéo dài cho đến quý III/2008 và đến quý IV/2008 sẽ xuống mức khoảng 18-19% và sang đầu năm 2009 mới có thể xuống mức 9-10%, khi nền kinh tế tăng trưởng GDP đạt mức 7,8% (năm nay phấn đấu giữ mức tăng GDP 7%, nhưng có thể vẫn đạt mức 7,3%)
3 Tình trạng thiếu tiền trong lưu thông vẫn kéo dài, khả năng thanh khoản của nền kinh tế vẫn hạn chế Chính sách thắt chặt tiền tệ của Nhà nước là đúng đắn, tuy nhiên các biện pháp cụ thể như phát hành 20.000 tỉ tín phiếu trong 3 tháng và các biện pháp khác đã tạo sức ép lớn cho hệ thống ngân hàng Cuộc chạy đua lãi suất và hai lần thay đổi mức trần lãi suất ngân hàng, việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái giữa Việt Nam đồng với đồng USD cũng là những tác nhân càng làm tăng độ “trễ” của thị trường chứng khoán Một ví dụ điển hình về giải pháp hút tiền trong lưu thông, tăng thanh khoản cho thị trường tài chính: Ngày 11-6, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng lãi suất huy động VNĐ, đỉnh điểm lên đến 19,2%/năm; lãi suất cho vay cũng có điều kiện để lên tới 21%/năm Và cùng ngày, chỉ số HASTC-Index