CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC,TÍNH TỰ LỰC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM DẠY HỌC VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY...7 1.1... Một số đ
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, các Thầy, Côgiáo khoa Vật Lí trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các thầy cô giáo trực tiếpgiảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy TS.Trần Đức Vượng, người đã hướng dẫn chu đáo, chỉ bảo tận tình cho tôi suốt thờigian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
giáo-Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu và giáo viên Vật Lítrường THPT Lý Nhân Tông - TP.Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện tốtnhất cho tôi tiến hành khảo sát thực tế và tiến hành thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và những người thânyêu, bạn bè đã dành nhiều tình cảm và sự động viên khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốtquá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Kim Văn Dũng
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kếtquả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Kim Văn Dũng
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của đề tài: 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC,TÍNH TỰ LỰC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM DẠY HỌC VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY 7
1.1 Hoạt động nhận thức, tính tích cực hoạt động nhận thức và tính tự lực của học sinh 7
1.1.1 Hoạt động nhận thức của HS 7
1.1.2 Tính tích cực hoạt động nhận thức của HS 9
1.1.3 Tính tự lực trong hoạt động nhận thức của học sinh 15
1.2 Phần mềm dạy học 19
1.2.1 Khái niệm về phần mềm dạy học 19
1.2.2 Tác dụng của phần mềm dạy học trong dạy học vật lí 20
1.3 Bản đồ tư duy(BĐTD) 21
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của BĐTD 21
1.3.2 Cách đọc BĐTD 22
1.3.3 Cách vẽ BĐTD 23
1.3.4 Ưu điểm của cách ghi chép bằng BĐTD 25
1.3.5 Các ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học 26
Trang 511 ở trường THPT 29
1.4.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh THPT 29
1.4.2 Điều tra thực trạng vấn đề nghiên cứu 30
1.4.3 Điều tra thực trạng học sinh 32
1.5 Một số định hướng trong việc tổ chức hoạt động nhận thức với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy để phát huy tính tích cực nhận thức và tính tự lực cho học sinh 34
1.5.1 Định hướng khi sử dụng BĐTD để hỗ trợ việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS 34
1.5.2 Định hướng khi sử dụng PMDH để hỗ trợ việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS 36
Chương 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG”-VẬT LÍ 11-THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM DẠY HỌC VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY 48
2.1 Mục tiêu dạy học chương “Từ trường”-Vật lí 11 THPT trong chương trình Vật Lí phổ thông 48
2.1.1.Vị trí, cấu trúc chương “Từ trường”-Vật Lí 11 THPT trong chương trình Vật Lí phổ thông 48
2.1.2 Đặc điểm nội dung chương “Từ trường” 49
2.1.3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng mà HS cần đạt được khi học xong chương “Từ trường” - Vật lí 11 THPT 49
2.2 Tiến trình dạy học chương “Từ trường”- Vật Lí 11 THPT theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy 51
2.2.1 Quy trình soạn thảo tiến trình dạy học chương “Từ trường” - Vật Lí 11 THPT theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho HS Với sự hỗ trợ của PMDH và BĐTD 51
Trang 6Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 84
3.1.1 Mục đích 84
3.1.2 Nhiệm vụ 84
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 85
3.2.1 Đối tượng 85
3.2.2 Nội dung 85
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 86
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 86
3.3.2 Quan sát giờ học 86
3.3.3 Bài kiểm tra 87
3.4 Đánh giá thực nghiệm sư phạm (TNSP) 87
3.4.1 Phương pháp đánh giá kết quả TNSP 87
3.4.2 Kết quả và xử lí kết quả TNSP 88
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7Trước yêu cầu đó ngành Giáo dục của nước ta cần phải đổi mới toàn diện:
Về mục tiêu, về nội dung và về phương pháp dạy học Trong đó đổi mới PPDH làmột khâu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.[10]
Nghi quyết số 9, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật
và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học…”[12]
Điều 28 Luật giáo dục đã quy định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải biết phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kỹ thuật vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho mọi học sinh” [24]
Trang 8Ở các trường PT nói chung và các trường THPT nói riêng thì việc đổi mớiphương pháp giảng dạy đã được thực hiện với nhiều phương pháp khác nhau songđều hướng tới nhằm phát huy năng lực cá nhân của mỗi HS Việc nâng cao chấtlượng dạy - học môn Vật lý ở trường THPT đã được chú trọng, đầu tư, tuy nhiênhiệu quả vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới trong giáo dục Với thực tế
đó, nhiệm vụ đặt ra cho người GV là phải đổi mới phương pháp dạy học và kết hợpvới sự hỗ trợ của các ứng dụng của công nghệ thông tin trong giảng dạy, từ đó làmcho HS có ham muốn, có khát vọng hiểu biết, có cố gắng trí tuệ và nghị lực caotrong quá trình chiếm lĩnh tri thức Trong dạy học vật lý với đặc thù là môn khoahọc thực nghiệm, khi tổ chức dạy học vật lý với ứng dụng của CNTT sẽ đem lạihiệu quả rất cao, đồng thời nó khắc phục được những giờ dạy mà thiết bị thí nghiệmkhông thể làm thành công được Các quá trình, các hiện tượng vật lý và sự biến đổicủa các đại lượng vật lý đôi khi rất khó quan sát được một cách đầy đủ vì nó diễn ranhanh và trong một không gian rất nhỏ Điều đó gây khó khăn cho việc nghiên cứutìm ra quy luật của chúng Những vấn đề đó sẽ được giải quyết khi chúng ta biết sửdụng hiệu quả sự hỗ trợ của CNTT CNTT đang đóng vai trò rất lớn trong việc nângcao chất lượng dạy và học môn vật lí trong trường học.[20],[22],[24]
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về não bộ cho thấy: khi chúng ta thườngghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số thì với cách ghi chép nàychúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não- não trái, mà chưa sử dụng kỹ năngbên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, mầu sắc, khônggian và cách ghi chép thông thường khó nhìn được tổng thể của cả vấn đề Quanghiên cứu cho thấy: nhiều HS chưa biết cách học, cách ghi nhớ kiến thức vào bộnão mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, học máy móc, thuộc nhưng không nhớ đượckiến thức trọng tâm và sự kiện nổi bật trong tài liệu đó, hoặc không biết cách liênkết các kiến thức có liên quan với nhau và không có nhiều hứng thú trong việc học.Vậy câu hỏi đặt ra là: Chúng ta sẽ đạt được những gì khi sử dụng nhiều hơn nữatiềm năng của não? Học tập như thế nào và sử dụng công cụ gì để tận dụng và pháthuy tối đa tiềm năng bộ não?
Trang 9Giải pháp mà luận văn này muốn hướng đến chính là việc sử dụng phần mềmdạy học và các ứng dụng của bản đồ tư duy vào dạy học.
Bản đồ tư duy là phương tiện tư duy mới, đó là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi,đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hoá một chủ đề hay một mạch kiến thức bằngcách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tưduy tích cực BĐTD có thể vẽ trên giấy, bảng… hoặc có thể thiết kế trên powerpointhoặc các phần mềm bản đồ tư duy như là phần mềm Mindmap, Free Mind, Imindmap,Mindjet mind ManagerPro7… Qua đó, BĐTD giúp khai phá tiềm năng của bộ não,phát huy tối đa năng lực sáng tạo, năng lực tư duy của con người Mặt khác,việc sửdụng các PMDH là hết sức cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học nói chung và
hỗ trợ trực tiếp cho việc sử dụng BĐTD trong dạy học [31],[32]
Qua quá trình tìm hiểu những thông tin khoa học có liên quan đến lĩnh vựcnghiên cứu của đề tài, tác giả nhận thấy:
Đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực nhậnthức cho HS trong dạy học vật lý ở trường THPT Đặc biệt, một số luận văn đã đềcập đến vấn đề phối hợp và sử dụng các phương pháp và PTDH theo hướng pháthuy tính tích cực, sáng tạo của học sinh Vấn đề ứng dụng BĐTD (Mind Map) trongdạy học mới được chú ý vào năm 2006, khi dự án "Ứng dụng công cụ phát triển tư duy-
Sơ đồ tư duy" của nhóm Tư duy mới (New Thinking Group- NTG), Đại học Quốc gia
Hà Nội được triển khai thực hiện Một số đề tài mới nghiên cứu hiệu quả hỗ trợ củaBĐTD trong dạy học Vật lí đã thu được kết quả thực nghiệm tốt
Các luận văn khoa học có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài:
“Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh THPT miền núi khi dạy chương Dòng điện trong
các môi trường (Vật lí 11- Cơ bản)” của tác giả Lê Thị Bạch ( 2009); Nguyễn Thị Nguyên (2010), Nghiên cứu sử dụng bản đồ tư duy (Mindmaps) trong dạy học
chương “động học chất điểm” vật lý 10 THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức và bồi dưỡng tư duy cho học sinh, Luận văn thạc sĩ ĐHSP TP.Hồ Chí Minh [24]; “Phối hợp các phương pháp và phương tiện dạy học khi
Trang 10dạy các kiến thức về Hạt nhân nguyên tử (Vật lí 12 nâng cao) theo hướng phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh”của tác giả Hoàng Hữu Quý (2012); “Phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh qua dạy chương “Động lực học chất điểm” vật lí lớp 10 cơ bản với sự hỗ trợ của một số phần mềm dạy học và bản đồ tư duy”của tác giả Bùi Ngọc Anh Toàn (2011) [28]; “Phát huy tính tích cực nhận thức cho HS THPT qua dạy chương “Dòng điện không đổi” Vật lí lớp 11 NC với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và BĐTD” của tác giả Trịnh Ngọc Linh (2012) [22];“ Hướng dẫn học sinh ôn tập phần “Quang hình học” Vật lí 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và bản đồ tư duy” của tác giả Lại Văn Bắc (2013) [4];
“Hướng dẫn học sinh ôn tập, hệ thống hóa kiến thức chương "điện học" vật lí 9 với
sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”của tác giả Đào Kiên Cường (2013);
Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề: Tổ chức dạy
học chương “Từ trường” - Vật lí 11 THPT với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy.
Xuất phát từ lý do trên,chúng tôi chọn đề tài: Tổ chức dạy học chương “Từ trường” - Vật lí 11 THPT với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy.
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tiến trình dạy học chương “Từ trường” - Vật lí 11 THPT với sự hỗtrợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy nhằm phát huy tính tự lực, tích cựcnhận thức cho học sinh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học chương “Từ trường” - Vật lí 11 THPT theo hướngphát huy tính tự lực, tích cực nhận thức của học sinh với sự hỗ trợ của PMDH vàBĐTD
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tôi chỉ nghiên cứu xây dựng tiếntrình dạy học và một số giải pháp hướng dẫn học sinh tự ôn tập củng cố kiến thức
Trang 11chương “Từ trường” - Vật lý 11 THPT với sự hỗ trợ của PMDH và BĐTD ở trườngTHPT Lý Nhân Tông - TP.Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh.
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được tiến trình dạy học chương “Từ trường” - Vật lí 11 cơ bảnvới sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy thì sẽ phát huy được tính tựlực, tích cực nhận thức cho học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phát huy tính tích cựcnhận thức cho học sinh với sự hỗ trợ của PMDH và bản đồ tư duy
5.2.Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa và xây dựng sơ đồ cấutrúc logic chương “Từ trường” - Vật lý 11 cơ bản
5.3 Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học chương “Từ trường”- Vật lý 11 cơbản với sự hỗ trợ của PMDH và bản đồ tư duy trong dạy học Vật lí
5.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT để khẳng định tính khả thi củatiến trình dạy học đề xuất và rút ra kết luận
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu những văn kiện của Đảng, chỉ thị của Nhà nước, văn bản của BộGD-ĐT về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
- Nghiên cứu các tài liệu: về các quan điểm, sự định hướng việc dạy và họctích cực cũng như đổi mới phương pháp dạy học; về lí luận dạy học nói chung và líluận dạy học môn Vật lí nói riêng
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phát huy tính TCNT cho học sinh, sửdụng PTDH hiện đại và BĐTD trong dạy học vật lí; các luận văn về đề tài có liênquan, nội dung chương trình SGK, sách giáo viên và các tài liệu khác liên quan
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra: Tìm hiểu thực trạng của việc phát huy tínhTCNT cho học sinh với sự hỗ trợ PMDH và BĐTD trong dạy học vật lí hiện nay ởtrường THPT thông qua phiếu điều tra
Trang 126.2.2 Phương pháp quan sát: Quan sát để thu thập thông tin về sự tích cực, sự
hứng thú tham gia của học sinh trong giờ học và trong các hoạt động
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm có đối chứng tại trường THPT Lý Nhân Tông ở tỉnhBắc Ninh để kiểm tra hiệu quả và tính khả thi của đề tài
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm sưphạm và kết quả điều tra, từ đó rút ra những kết luận về sự khác nhau trong kết quảhọc tập của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm
7 Đóng góp của đề tài
- Góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận trong dạy học Vật lí ở trườngphổ thông với sự hỗ trợ của PMDH và bản đồ tư duy để phát huy tính tích cực nhậnthức cho học sinh
- Các giáo án xây dựng theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức cho HS
THPT qua chương “Từ trường” - Vật lí 11 THPT với sự hỗ trợ của PMDH và bản
đồ tư duy có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên THPT
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC,TÍNH TỰ LỰC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM DẠY HỌC VÀ
BẢN ĐỒ TƯ DUY
1.1 Hoạt động nhận thức, tính tích cực hoạt động nhận thức và tính tự lực của học sinh.
1.1.1 Hoạt động nhận thức của học sinh.
Theo quan điểm triết học Mác – Lênin: “Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn”.
V.I.Lênin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [8] Hoạt động nhận thức là hoạt động tích cực của chủ thể phản ánh hiện
thực khách quan để thích ứng với nó hoặc cải tạo nó Hoạt động nhận thức đi từchưa biết đến biết,từ thuộc tính bên ngoài: Cảm tính, trực quan riêng rẽ đến đốitượng trọn vẹn, ổn định, có ý nghĩa trong các quan hệ của nó; sau đó đến thuộc tínhbên trong, có tính quy luật này đi sâu vào bản chất của cả một lớp đối tượng, hiệntượng Và cuối cùng từ đó trở về thực tiễn, thông qua các quá trình tâm lý nhưcảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ
Đối với lứa tuổi học sinh, hoạt động nhận thức chủ yếu của các em là hoạtđộng học tập Bằng hoạt động này và thông qua hoạt động này, các em chiếm lĩnhtri thức, hình thành và phát triển năng lực tư duy cũng như nhân cách đạo đức, thái
độ Hoạt động học tập của học sinh có cấu trúc giống hoạt động lao động sản xuấtnói chung, bao gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: Một bên là động
cơ, mục đích, điều kiện và bên kia là hoạt động, hành động, thao tác [26]
Trang 14Động cơ nào quy định sự hình thành và diễn biến của hoạt động ấy; muốnthỏa mãn được động cơ ấy, phải thực hiện lần lượt những hành động nào để đạtđược mục đích cụ thể nào và cuối cùng mỗi hành động được thực hiện bằng nhiềuthao tác sắp xếp theo một trình tự xác định, ứng với mỗi thao tác phải sử dụngnhững phương tiện, công cụ thích hợp.
Hoạt động nào cũng có đối tượng Thông thường, các hoạt động khác có đốitượng là một khác thể, hoạt động hướng vào biến đổi khách thể Trong khi đó, hoạtđộng học lại làm cho chính chủ thể (người học) biến đổi và phát triển Đối tượngcủa hoạt động học là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần chiếm lĩnh Nội dung của đốitượng này không hề bị thay đổi sau khi bị chiếm lĩnh, nhưng nhờ có sự chiếm lĩnhnày mà các chức năng tâm lý của chủ thể mới được thay đổi và phát triển
Trong hoạt động học tập, học sinh phải tìm ra cái mới, nhưng cái mới nàykhông phải để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại mà chỉ là cái mớivới chính bản thân HS, cái mới đó đã được loài người tích lũy, đặc biệt là giáo viên
đã biết Việc khám phá ra cái mới của học sinh cũng chỉ diễn ra trong thời gianngắn, với nhưng dụng cụ đơn giản, diễn ra dưới sự định hướng và giúp đỡ của GV
Do đó hoạt động nhận thức của HS diễn ra một cách thuận lợi, không quanh co, gậpghềnh Cũng chính vì vậy mà GV dễ dẫn đến một sai lầm là chỉ thông báo cho HScái mới mà không tổ chức cho HS khám phá tìm cái mới đó Do đó để tổ chức tốthoạt động nhận thức cho HS, GV cần phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập nhậnthức của HS, tạo điều kiện để cho HS phải tự khám lại để tập làm công việc khámphá đó trong hoạt động thực tiễn sau này
Trang 15Vật lí học là một môn khoa học thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu cũngnhư học tập đều dựa trên cơ sở quan sát, thí nghiệm để phân tích, tổng hợp, so sánh,khái quát hóa, trừu tượng hóa thành các khái niệm, định luật, thuyết Vật lí Rồi
từ lý thuyết vận dụng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng ở phạm vi rộng hơn Dovậy, để tạo điều kiện cho học sinh tự khám phá kiến thức, GV cần tổ chức tốt quátrình quan sát và tư duy cho học sinh Trong dạy học Vật lý có thể có nhiều loạiquan sát như: quan sát thí nghiệm, quan sát hiện tượng tự nhiên, quan sát một bàithực nhiệm
Để quan sát được sâu sắc cần phải hướng dẫn HS xác định mục đích, nộidung, trình tự quan sát, ghi lại dấu hiệu, phân tích và xử lí số liệu, kĩ năng đặt câuhỏi với một dấu hiệu bất kỳ Qua nhiều hoạt động và nhiều nội dung mới rènđược óc quan sát cho HS, giúp HS nhận thức tích cực hơn và tạo điều kiện cho tưduy HS phát triển
1.1.2 Tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh.
1.1.2.1 Tính tích cực
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống
xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiênnhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại vàphát triển của xã hội, sáng tạo nền văn hóa ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môitrường tự nhiên, cải tạo xã hội
Hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong các nhiệm vụ chủyếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phầnphát triển cộng đồng Có thể xem TTC như là một điều kiện, đồng thời là một kếtquả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục
Theo quan điểm của các nhà giáo dục học, tính tích cực là khái niệm biểu thị
sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng TTC cũng là khái niệm biểu thịcường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đềnào đó[28] Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt:
Sinh lý: Đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp
Trang 16Tâm lý: Tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, trừu tượng
Xã hội: Đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài
Vì vậy tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách có quan hệ, chịu ảnhhưởng của rất nhiều nhân tố như:
Nhu cầu – tích cực nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó;
Động cơ – tích cực vì hướng tới những động cơ nhất định;
Hứng thú – do bị lôi cuốn bởi những say mê, vì muốn biến đổi, cải tạo mộthiện tượng nào đó;
TTC cũng có mối quan hệ mật thiết với tính tự lực, với xúc cảm và ý chí Tóm lại, TTC nói chung là một phẩm chất rất quan trọng của con người đượchình thành từ rất nhiều lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ với rất nhiều phẩm chấtkhác của nhân cách và với môi trường, điều kiện mà chủ thể hoạt động và tồn tại
1.1.2.2 Tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức (TTCNT) là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm
vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của HS
Theo giáo sư Trần Bá Hoành “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức” [16].
TTCNT bao gồm: Sự lựa chọn đối tượng nhận thức; đề ra cho mình mụcđích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng nhằm cải tạo nó Tínhtích cực trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đổi trong ý thức và hànhđộng của chủ thể nhận thức, được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu như sự tập chungchú ý, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích, sự tổng hợp sâu sắc [22]
Trang 17diễn ra rất tự nhiên, nhưng rất cần thiết cho sự phát triển Qua mô phỏng, bắt chước,tái hiện mà HS tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm từ các thế hệ trước.
Tính tích cực sử dụng: Đây là sự phát triển tính tích cực ở mức độ cao hơn Quaviệc vận dụng các công cụ, các khái niệm, định lý, định luật vào giải quyết mộtnhiệm vụ nào đó, HS phải phân tích, suy nghĩ tìm tòi để tự lực đưa ra những phương ánkhác nhau, nhờ đó mà nhu cầu, hứng thú nhận thức và óc sáng tạo phát triển
Tính tích cực sáng tạo: Đây là mức độ phát triển cao nhất của tính tích cực Nóđược đặc trưng bằng sự khẳng định con đường suy nghĩ riêng của mình, vượt ra khỏikhuôn mẫu, máy móc nhằm tạo ra cái mới, cái bất ngờ, có giá trị Tính tích cực sángtạo tạo điều kiện cho sự phát triển các khả năng và tiềm năng sáng tạo của cá nhân
Nó hướng đến việc ứng dụng những thủ thuật mới để giải quyết vấn đề, tìm tòi nhữngbiện pháp khắc phục khó khăn, đưa những phát minh mới vào cuộc sống Nó biểu thịkhả năng tự mình tìm kiếm những nhiệm vụ mới, những phương pháp giải quyếtmới, khả năng sử dụng những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong những tình huống,hoàn cảnh mới Như vậy tính tích cực sáng tạo không phải là một nét riêng của tínhcách cá nhân, mà là một tập hợp những dấu hiệu đặc trưng của một con người [30]
1.1.2.3 Những biểu hiện của tính tích cực hoạt động nhận thức
Trong học tập, HS chỉ có thể chiếm lĩnh được kiến thức và phát triển được tưduy của mình khi họ tích cực hoạt động nhận thức Hoạt động nhận thức là nhiệm vụxuyên suốt trong quá trình học tập của HS Thông quan hoạt động nhận thức, HSchiếm lĩnh được kiến thức và năng lực tư duy đồng thời được phát triển [19]
Để phát hiện xem HS có tích cực hoạt động nhận thức không ta có thể dựa vàocác dấu hiệu:
Dấu hiệu bên ngoài (qua hành vi, thái độ, hứng thú):
- Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng :
Các em hay đặt những câu hỏi và có những thắc mắc đối với GV, đối vớingười lớn và yêu cầu giải thích cặn kẽ Việc đặt câu hỏi của các em thể hiện lòngmong muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn về những đối tượng mà các em đang tiếpxúc Những câu hỏi dạng: Đây là cái gì? Dùng để làm gì? Có thể… được không? Tại
Trang 18sao? Như thế nào? Do đâu mà có? Những thắc mắc các em đưa ra biểu hiện sự tíchcực tìm kiếm, lòng ham hiểu biết, trí tò mò đang khuấy động các em Học tập thụđộng, không hứng thú sẽ không có câu hỏi và cũng sẽ không có phản ứng nếu câu hỏikhông được trả lời.
- Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm
- Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời củabạn và thích tham gia vào các hoạt động cũng là một biểu hiện của hứng thú Thôngqua quan sát, thày giáo có thể xác định được những biểu hiện cảm xúc, hứng thú nhậnthức như niềm vui sướng, sự hài lòng khi được người khác giải đáp những câu hỏi,những thắc mắc, khi tự mình tìm ra câu trả lời đúng hay là những thành công tronghọc tập…
Dấu hiệu bên trong có thể cụ thể hóa qua một số câu hỏi:
- Học sinh có chú ý, tập trung tư tưởng học tập không?
- Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không? (Thể hiện ở chỗ giơtay phát biểu ý kiến, ghi chép…)
- Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?
- Có thường xuyên hỏi thầy cô, trao đổi với bạn bè, tích cực tham gia họcnhóm, tổ không?
- Có hay thường xuyên lui tới thư viện, cửa hàng sách không?
Dấu hiệu bên trong (sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển tư duy, ý chí và xúc cảm…):
Những dấu hiệu bên trong này cũng chỉ có thể phát hiện được qua những biểuhiện bên ngoài, nhưng phải tích lũy một lượng thông tin đủ lớn và phải qua một quátrình xử lý thông tin mới thấy được, cụ thể là:
- Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác tưduy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…vào việc giải quyết các nhiệm
vụ nhận thức
- Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kỹ năng đã tích lũy được vào việc giảiquyết các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lý các tìnhhuống mới
Trang 19- Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát.
- Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý của mình
- Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết cácnhiệm vụ nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vàicách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giảiquyết hay nhất
- Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực, cốgắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùngnhững nhiệm vụ được giao, sự phản ứng khi có tín hiệu báo hết giờ
Những câu hỏi mà thông qua đó có thể thấy được biểu hiện tích cực hoạt độngnhận thức của học sinh qua dấu hiệu bên trong:
- Có biểu hiện hứng thú, say mê, có hoài bão học tập không?
- Có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
- Có sự phát triển về năng lực phân tích, tổng hợp… năng lực tư duy nóichung không?
- Có thể hiện sự sáng tạo trong học tập không?
Kết quả học tập
Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tínhtích cực nhận thức Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới
có kết quả học tập tốt
Dấu hiệu này có thể cụ thể hóa qua các câu hỏi sau:
- Học sinh có hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao không?
- Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?
- Có vận dụng được kiến thức đã học vào thực tế không?
- Có phát triển tính năng động sáng tạo không?
- Kết quả kiểm tra, thi cử có cao không?
1.1.2.4.Các biện pháp chung phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
Tính tích cực nhận thức của học sinh chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố: Bảnthân học sinh, nhà trường, gia đình, xã hội Vì vậy các biện pháp phát huy tính tích
Trang 20cực nhận thức của học sinh rất đa dạng và phong phú Trong phạm vi của luận văn,chúng tôi chỉ trình bày nhóm các biện pháp cho giáo viên đứng lớp, chủ yếu đượcthực hiện trong giờ lên lớp Nhóm biện pháp này rất quan trọng vì nó tác động trựctiếp đến học sinh và về thời gian thì dạy học chiếm hơn 80% hoạt động của nhàtrường Nó gồm một số vấn đề sau:
- Giác ngộ ý thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú họctập của các em bằng cách nói lên ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng củavấn đề nghiên cứu
- Kích thích hứng thú qua nội dung: Đây là biện pháp mà GV hay sử dụngnhất Tùy thế mạnh của từng môn học mà cách kích thích hứng thú sẽ khác nhau.Nhưng nhìn chung, muốn kích thích được hứng thú của HS thì nội dung phải mới,không quá xa lạ với HS mà cái mới phải liên hệ và phát triển cái cũ, phát triểnnhững kiến thức và kinh nghiệm mà các em đã có, phải gắn liền với cuộc sống hiệntại và có khả năng ứng dụng trong tương lai
- Kích thích hứng thú qua phương pháp dạy học: Để tích cực hóa hoạt độngnhận thức của HS phải phối hợp nhiều phương pháp với nhau, nhưng những phươngpháp có tác dụng tốt nhất trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức là: Dạy họcnêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, thảo luận, tự học, trò chơi học tập…
- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuậtdạy học hiện đại Đây là biện pháp hết sức quan trọng nhằm nâng cao TTC của họcsinh và giúp nhà trường đưa chất lượng dạy học lên một tầm cao mới
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập thểlớp…; làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm…; tổ chức tham quan, cáchoạt động nội, ngoại khóa đa dạng
Việc tổ chức cho học sinh tham quan thực tế, tham gia các hoạt động xã hội
có tác dụng rất tốt trong việc tạo nên những động lực học tập lãnh mạnh và tính tíchcực học tập
Ngoài ra có thể tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh qua nhiềubiện pháp như:
Trang 21+ Luyện tập dưới nhiều hình thức khác nhau, vận dụng kiến thức vào thựctiễn các tình huống mới.
+ Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, động viên, khen thưởng HS khi có thànhtích học tập tốt
+ Kích thích tính tích cực học tập qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS.+ Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương tiệnthông tin đại chúng và các hoạt động xã hội
1.1.3 Tính tự lực trong hoạt động nhận thức của học sinh
1.1.3.2.Tính tự lực nhận thức
Quá trình hình thành và phát triển tính tự lực của HS thay đổi theo lứa tuổi
và đến khoảng 18 tuổi thì định hình về cơ bản Đối với HS lứa tuổi THPT thì có thểnêu lên những biểu hiện của tính tự lực như: [30]
- Nguyện vọng giải quyết các nhiệm vụ hoạt động một cách độc lập Nguyệnvọng này giúp HS hoạt động tích cực trong thời gian dài, đòi hỏi ở họ khả năng chú
ý cao độ Đó cũng là biểu hiện của nhu cầu tự khẳng định mình, là kết quả của quátrình nhận thức về giá trị tự lực và rèn luyện thói quen tự lực
- Đã hình thành được những kỹ năng thực hiện hoạt động tự lực
1.1.3.3 Những biểu hiện của tính tự lực hoạt động nhận thức
Ở lứa tuổi này, HS đã có các kĩ năng tự đặt mục đích và nhiệm vụ hoạt động,biết lựa chọn các phương tiện, vật liệu cho hoạt động, sơ bộ lập kế hoạch hoạt động,
Trang 22tự điều khiển bản thân, so sánh kết quả với mục đích Có thể khái quát một số kỹnăng thực hiện hoạt động tự lực của HS trong các điều kiện cụ thể như sau:
+ Kỹ năng thực hiện hoạt động theo sáng kiến của mình, nhận thức sự cầnthiết tham gia vào các hoạt động này hay hoạt động khác
+ Kỹ năng thực hiện các công việc quen thuộc không có sự đòi hỏi giúp đỡ
từ xung quanh hoặc sự kiểm tra từ người lớn
+ Kĩ năng thực hiện hành động có ý thức trong những tình huống có sẵn theoyêu cầu của người lớn và tuân thủ những điều kiện hoạt động nhất định (hành độngtheo chỉ dẫn, theo mẫu…)
+ Kỹ năng thực hiện hoạt động trong những điều kiện mới (tự đặt mục đích,chú ý đến điều kiện hoạt động, thực hiện và lập kế hoạch đơn giản)
+ Kỹ năng di chuyển cách thức hoạt động đã biết vào hoàn cảnh mới, tổnghợp chúng và phân loại chúng theo kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã cóthể hiện cách làm sáng tạo
+ Kỹ năng tự kiểm tra đánh giá sản phẩm, hoạt động ở mức độ đơn giản
- Có sự nỗ lực của ý chí
Quá trình hoạt động tự lực đòi hỏi ở HS sự căng thẳng của hoạt động trí tuệ
và thể lực, có ý chí biết vượt khó khăn bên trong và bên ngoài để đạt mục đích Ýchí của HS thể hiện sức mạnh tinh thần và thể lực giúp họ tạo dựng những giá trị vậtchất và tinh thần thoả mãn nhu cầu cá nhân Nếu không có sự nỗ lực của ý chí họkhó thành công trong việc đạt mục đích Vì vậy, sự nỗ lực của ý chí là biểu hiện cơbản tính tự lực thể hiện ở kĩ năng biết vượt khó khăn để đạt mục đích
- Niềm tin vào bản thân (sự tự tin)
Sự tự tin quyết định tính nguyên tắc và tính kiên định trong suốt quá trìnhhành động Tự tin thể hiện ở yêu cầu cao đối với bản thân trong quá trình hànhđộng
- Các biểu hiện mang tính sáng tạo
Đó là những biểu hiện tìm tòi, sáng tạo nên cái mới, cái độc đáo trong hoạtđộng dựa trên những kiến thức, kĩ năng mà HS đã có
Trang 231.1.3.4 Các biện pháp chung phát huy tính tự lực nhận thức của học sinh
Để có thể tổ chức hoạt động nhận thức vật lý cho HS một cách tự lực, mộtmặt phải hướng hoạt động đó phỏng theo quá trình hoạt động nhận thức vật lý củacác nhà khoa học, mặt khác phải dựa trên các kết quả nghiên cứu của tâm lý họcphát triển
Thành tựu quan trọng nhất của tâm lý học phát triển, dùng làm cơ sở choviệc tổ chức hoạt động nhận thức của HS một cách tích cực và tự lực là hai lý thuyếtphát triển trí tuệ của Jean Piaget (1896-1983) và Lev Vưgosky (1896-1934)
Lý thuyết của Piaget nhấn mạnh rằng: HS giữ một vai trò rất tích cực trongviệc thích nghi với môi trường Sự thích nghi bắt đầu từ lúc ra đời như là kết quảcủa sự phát triển tự nhiên về mặt sinh học và kinh nghiệm với thế giới Ban đầu trẻ
em dựa vào các cấu trúc sinh học vốn có của cơ thể thực hiện các hoạt động tự phátcủa toàn bộ cơ thể, tạo nên sự cân bằng qua cơ chế đồng hoá và điều ứng để thíchnghi với môi trường, hoàn cảnh và suy rộng ra là với các tác động bên ngoài từ xãhội vào bản thân đứa trẻ Phát triển tâm lý tựu trung lại là sự phát triển trí tuệ cùngvới tình cảm, xúc cảm, bao gồm quá trình nảy sinh, hình thành và phát triển qua cácgiai đoạn cảm giác - vận động, tiền thao tác, thao tác cụ thể, thao tác hình thức, quaquá trình nội tâm hoá, xuất tâm và đều nhằm vào việc tạo lập các cấu trúc tâm lý ởcác trình độ khác nhau, cùng nhằm vào mục đích là đồng hoá, điều ứng, thích nghi
và cân bằng Piaget cho rằng: sự phát triển do con người tạo ra bằng cách là đưa quátrình cân bằng từ thấp lên cao, đạt đến đỉnh cao là các cấu trúc logic – toán, có khiông gọi là cân bằng nhận thức.Cân bằng tâm lý không phải chỉ là cân bằng nhậnthức được tạo ra theo cơ chế thao tác với đỉnh cao là thao tác tượng trưng, thao táckhái niệm mà còn là, hay chủ yếu là cân bằng được tạo ra theo cơ chế hoạt động:quá trình cân bằng được tạo ra bởi các hành động thực tiễn gắn bó, bao gồm cả hànhđộng trí tuệ Cân bằng không phải chỉ để con người sống mà còn chính là để tạo lập
ra cuộc sống, sáng tạo ra các giá trị mới Những kết luận chính của các công trìnhnghiên cứu tâm lý học trẻ em cống hiến cho giáo dục học có liên quan đến tính chấtcủa sự phát triển trí tuệ Một mặt, sự phát triển này đề cập chủ yếu đến các hoạt
Trang 24động của chủ thể và tự hoạt động cảm giác - vận động đến các thao tác hoá khôngsuy giảm và tự phát Mặt khác, khả năng thao tác hoá đó không phải được hìnhthành sẵn, nhất thành bất biến mà cũng không thể giải thích được chỉ bằng nhữngđóng góp bên ngoài của thực nghiệm hoặc của sự truyền đạt của xã hội; nó là sảnphẩm của sự cấu tạo liên tiếp và yếu tố chính của sự xây dựng đó là một sự giữ cânbằng những sự tự điều hoà, cho phép bổ cứu những sự không ăn khớp tạm thời, giảiquyết vấn đề và khắc phục những khủng hoảng hoặc những mất cân bằng với một
sự xác lập thường xuyên những cấu trúc mới [5]
Như vậy Piaget đã nghiên cứu quá trình phát triển trí tuệ với phương pháptiếp cận duy vật biện chứng, tạo nên một cơ sở khoa học khá chắc chắn cho tâm lýhọc phát triển: tri thức nảy sinh từ hành động
Vưgôtski nghiên cứu vấn đề dạy học và sự phát triển trí tuệ trong lứa tuổi HSmột cách độc đáo và có hiệu quả với lý thuyết về “vùng phát triển gần” do ông đềxuất Vưgôtski cho rằng: sự phát triển nhận thức có nguồn gốc xã hội, chủ yếuthông qua sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt trong bối cảnh tương tác với những ngườikhác Điều đó có nghĩa là: xã hội tạo ra cơ sở cho sự phát triển nhận thức Theo ông,chỗ tốt nhất cho sự phát triển nhận thức là vùng phát triển gần Vùng đó là khoảngnằm giữa trình độ phát triển hiện tại được xác định bằng trình độ độc lập giải quyếtvấn đề và trình độ gần nhất mà các em có thể đạt được với sự giúp đỡ của người lớnhay bạn hữu khi giải quyết vấn đề Như vậy vùng phát triển gần là khoảng trốnggiữa nơi mà một người đang đứng khi giải quyết vấn đề và nơi mà người đó cầnphải tìm đến một cách tự lực hoặc với sự giúp đỡ của người khác Dạy học cần đóntrước sự phát triển của HS Việc giảng dạy nào đi trước sự phát triển mới là việcgiảng dạy tốt
Như vậy, sự phát triển nhận thức đạt kết quả tốt nhất khi HS phải đi quavùng phát triển gần thông qua việc lập luận, tranh luận với bạn hữu hoặc người lớntuổi Để nắm được một công việc, đầu tiên HS có thể hiểu một phần của công việc
đó, nhưng nhờ có giải thích, biểu diễn, hướng dẫn của người khác, HS hiểu toàn bộcông việc Một khi HS đã đạt được sự hiểu biết toàn bộ công việc, họ sẽ phải vượtqua vùng phát triển gần và có thể độc lập thực hiện công việc đó
Trang 25Học thuyết về vùng phát triển gần dẫn đến một kết luận quan trọng khác: chỉ
có sự dạy học đi trước sự phát triển mới là dạy học tốt Quá trình dạy học được tổchức đúng đắn sẽ dẫn đến sự phát triển trí tuệ của trẻ em, làm cho một loạt quá trìnhphát triển sống động lên, mà có lẽ nói chung, không diễn ra ngoài dạy học
* Mối quan hệ giữa tính tích cực, tự lực
Nét đặc trưng chủ yếu của tính tích cực là sự nỗ lực của bản thân còn nét đặctrưng cơ bản của tính tự lực là ở mối quan hệ với người khác: không dựa dẫm vàongười khác, hết sức tiết kiệm sự nhờ cậy
Tính tích cực và tính tự lực có liên quan mật thiết với nhau Khi đã hoạt động
tự lực có nghĩa là không dựa dẫm vào người khác mà phải phát triển năng lực chủquan, phải nỗ lực phát huy sức mạnh bản thân: trí tuệ, tâm hồn, ý chí, thể lực… đểgiải quyết vấn đề Như vậy giữa tính tích cực và tính tự lực có mối quan hệ chặt chẽ
Tính tự lực cũng có quan hệ chặt chẽ với tính sáng tạo Để phát hiện ra mộtvấn đề mới mà chưa ai biết, con người phải tiến hành một quá trình tư duy và tưởngtượng trên cơ sở tái hiện những vấn đề đã biết Như vậy về bản chất, quá trình sángtạo là một quá trình làm việc lâu dài và gian khổ của cá nhân, nó mang màu sắc cánhân rõ nét [30]
1.2 Phần mềm dạy học.
1.2.1 Khái niệm về phần mềm dạy học
1.2.1.1 Khái niệm về phần mềm
Có rất nhiều định nghĩa về phần mềm như:
- Là một dạng chương trình cho máy tính để xử lí thông tin, ngược với phầncứng (gồm thiết bị, máy, phần về điện tử ) Các phần mềm được ứng dụng ngay khi
có phần cứng ra đời.
- Monet định nghĩa: Phần mềm là nội dung thông minh trong máy tính, baogồm toàn bộ các chỉ dẫn nhằm hướng dẫn các hoạt động chung (hệ thống khai thác),riêng (ứng dụng) cho một cách sử dụng chính xác hay đặc thù
- Theo Hồ Sĩ Đàm, Tin Học 10 – SGK thì: Phần mềm là chương trình có thể
để giải bài toán với nhiều bộ Input khác nhau
Trang 261.2.1.2 Khái niệm về phần mềm dạy học
Theo các nhà tin học: Phần mềm dạy học là phần mềm tin học được coi làchỗ dựa cho dạy học
Theo tôi phần mềm dạy học là dạng phần mềm giáo dục, là các chương trìnhđược viết cho máy tính có nội dung liên quan đến dạy và học, giúp chúng ta có thểquan sát, tính toán hoặc tạo ra hình ảnh mà khó thực thi trong thực tế
1.2.1.3 Ý nghĩa của phần mềm dạy học
- Có khả năng cung cấp thông tin dưới nhiều dạng: hình ảnh, âm thanh, chữviết, đoạn phim, sơ đồ, biểu đồ… Tính tích hợp này cho phép mở rộng thông tin,nâng cao tính trực quan
- Có khả năng mô phỏng các đối tượng đầy tính trực quan, đầy đủ chính xác
và đi sâu vào nguyên lí, bản chất
- Có khả năng lưu trữ thông tin lớn, trình xuất nhanh, có thể lặp đi lặp lạinhiều lần những kiến thức nào mà HS còn chưa hiểu, khó hình dung
- Làm thỏa mãn nhu cầu của học sinh, nâng cao cường độ dạy và học
1.2.2 Tác dụng của phần mềm dạy học trong dạy học vật lí
Phần mềm dạy học sớm ra đời và ngày càng phong phú đa dạng, dễ sử dụng,thuận tiện, thường xuyên cập nhật phiên bản mới Các phần mềm dạy học ngày càngchuyên biệt và được xây dựng theo nội dung kiến thức cụ thể của từng chuyên ngành
Trong dạy học vật lí thì PMDH có ứng dụng rất lớn, chúng ta hoàn toàn cóthể quan sát được các hình ảnh, các chuyển động dưới dạng mô phỏng mà trongthực tế rất khó để quan sát được, hay các thí nghiệm rất khó thực hiện và rất khóthành công thì lại được hoàn thành một cách quá tốt với PMDH
Một số phần mềm hay được sử dụng:
+ Phần mềm Violet, Powerpoint
+ Phần mềm Crocodile Physics 605
+ Phần mềm mô phỏng: Flash, Powerpoint…
+ Phần mềm dạy học bằng bảng thông minh: ActivInspire, ActiView
Trang 271.3 Bản đồ tư duy(BĐTD)
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của BĐTD
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… “Là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề… bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết” [11].
Hình 1.1: Sơ đồ tư duy
Nghĩa của cụm từ BĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thường như bản
đồ địa lí mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗingười bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết Đặc biệt đây là một sơ đồ mở,việc thiết kế BĐTD theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiếtkhắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểukhác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nộidung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng do
đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩthuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợpvới cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng
vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc hướng tới lối suynghĩ mạch lạc Tony Buzan là người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tìm ra hoạtđộng của bộ não Theo Tony Buzan “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ…” và
Trang 28“màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến choBĐTD những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho
tư duy sáng tạo”
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạnglưới liên tưởng (các nhánh) BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệvới nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, ôn tập, hệthống hóa kiến thức, và lập kế hoạch công tác
Kỹ thuật tạo ra bản đồ tư duy này được gọi là Mindmapping và được pháttriển bởi Tony Buzan vào đầu năm 1970 Ở giữa bản đồ tư duy là một chủ đề trungtâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh nhỏ thể hiện các tiêu đề nhằm nghiêncứu chủ đề ở mức độ sâu hơn Trong từng tiêu đề được phát triển bởi những nhánhnhỏ này lại tiếp tục được phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề
ở mức độ sâu hơn nữa và các chi tiết hỗ trợ Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ýtưởng cũng có sự liên kết dựa trên mối liên hệ của bản thân chúng, điều này khiếnBĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt
kê ý tưởng thông thường không thể làm được
1.3.2 Cách đọc BĐTD
Cấu trúc của BĐTD không xuất phát từ trái sang phải và từ trên xuống dướitheo kiểu truyền thống Thay vào đó, BĐTD được vẽ, viết và đọc theo hướng bắtnguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Do
đó, các từ ngữ trên BĐTD nên được đọc từ phải sang trái, bắt đầu từ phía trong dichuyển ra ngoài Các mũi tên xung quanh BĐTD bên dưới chỉ ra cách đọc thông tintrong sơ đồ Các số thứ tự cũng là một hướng dẫn khác
Bốn kết cấu chính I, II, III, IV trong BĐTD phía trên được gọi là nhánhchính BĐTD có bốn nhánh chính vì nó có bốn tiêu đề phụ Số tiêu đề phụ là sốnhánh chính Đồng thời các nhánh chính của MM được đọc theo chiều kim đồng hồ,bắt nguồn từ nhánh I tới nhánh II, rồi nhánh III, và cuối cùng là nhánh IV Các từkhóa được viết và đọc theo hướng từ trên xuống dưới trong cùng một nhánh chính
Trang 29Hình 1.2: Cách đọc BĐTD
1.3.3 Cách vẽ BĐTD
1.3.3.1 Công cụ vẽ bản đồ tư duy
Có hai cách vẽ BĐTD: Vẽ bằng tay hoặc bằng phần mềm máy tính Nếu vẽbằng tay thì người học sử dụng bút chì màu, phấn, tẩy,… vẽ trên giấy, bìa, bảngphụ,…Nếu vẽ bằng phần mềm người học có thể sử dụng các phần mềm bản đồ tưduy như: bản miễn phí ConceptDraw MINDMAP 5 Professional, MindjetMindManager Pro7, FreeMind, MindManager, Buzan’s iMindMap…hoặc vẽ bằngchương trình Microsoft Word Đối với học sinh phổ thông thì vẽ BĐTD bằng tay sẽ
dễ dàng và thiết thực hơn cho việc học
1.3.3.2 Các bước vẽ BĐTD
Theo Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thuỷ [11], BĐTD được lập theo cácbước sau:
Bước 1: Chọn từ trung tâm (còn gọi là từ khóa) Từ trung tâm là tên của một
bài hay một chủ đề hay một nội dung kiến thức cần khai thác Khi vẽ HS có thể sửdụng hình vẽ, màu sắc mà các em thích để làm nổi bật chủ đề
Bước 2: Vẽ các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1) Nội dung của các tiêu đề phụ
chính là các nội dung kiến thức cơ bản của một bài học hoặc một đơn vị kiến thứcnào đó của bài học Những nội dung kiến thức này sẽ góp phần làm sáng tỏ nộidung của chủ đề chính ở trung tâm HS vẽ thêm các tiêu đề phụ bàng hình ảnh hoặcchữ xung quanh tiêu đề trung tâm, lưu ý cách bố trí và sử dụng màu sắc Tiêu đề
Trang 30phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể vẽ tỏa ra mộtcách dễ dàng.
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ
trợ (nhánh cấp 2,3…) Sau khi vẽ các tiêu đề phụ, HS xác định những nội dung
kiến thức hỗ trợ cho nội dung của các tiêu đề phụ đó rồi tiến hành vẽ thêm các ýchính và các chi tiết hỗ trợ Trong khi vẽ HS chỉ nên tận dụng các từ khóa và hìnhảnh Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh
Bước 4: Hoàn thiện BĐTD Học sinh có thể vẽ thêm hình ảnh và sử dụng
màu sắc giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, bổ sung các liên kết cần thiết để hoànthiện BĐTD
Có thể tóm lược cách vẽ bản đồ tư duy bằng một BĐTD như sau:
Hình 1.3: Cách vẽ BDTD 1.3.3.3 Nguyên tắc vẽ bản đồ tư duy
Để sử dụng công cụ BĐTD một cách có kết quả, trong quá trình lập và sử
dụng BĐTD, cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau: Nhấn mạnh, liên kết và mạch lạc.
Nhấn mạnh có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sự sáng tạo Mọi kỹ thuật
để nhấn mạnh đều có thể được dùng để liên kết, và ngược lại Muốn đạt hiệu quả
Trang 31nhấn mạnh tối ưu trong BĐTD hãy sử dụng hình ảnh, màu sắc, kích cỡ của chữ viếtmột cách thích hợp để thu hút sự tập trung của mắt và não.
Liên kết tạo ra mối liên hệ giữa các kiến thức thành phần trong một chủ đề
thống nhất có vai trò tăng trí nhớ và tính sáng tạo của HS Việc dùng kí hiệu để liênkết là quy tắc khá quan trọng Khi dùng kí hiệu, các mối liên kết giữa các bộ phậntrong cùng một trang trong BĐTD sẽ dễ dàng được tìm thấy bất kể chúng xa haygần nhau Có thể kí hiệu bằng dấu thập chéo, vòng tròn, tam giác, gạch dưới haynhững kí hiệu phức tạp hơn…Kí hiệu cũng giúp tiết kiệm thời gian
Mạch lạc: Sự diễn đạt sáng sủa, dễ nhìn của BĐTD cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc tăng cường hứng thú và giúp cho việc ghi nhớ trở nên dễ dàng hơnđối với người học Một ghi chú viết vẽ nghệch ngoạc sẽ gây trở ngại nhiều hơn làgiúp cho trí nhớ vì nó đi ngược lại bản tính liên kết của tư duy và hạn chế tư duymạch lạc
1.3.4 Ưu điểm của cách ghi chép bằng BĐTD
So với các cách thức ghi chép truyền thống thì phương pháp dùng BĐTD cónhững điểm vượt trội như sau:
+ Logic, mạch lạc
+ Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng
+ Nhìn thấy bức tranh tổng thể mà lại chi tiết
+ Quan hệ hỗ tương giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọng thì
sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính
+ Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thịgiác
+ Kích thích hứng thú học tập và tính sáng tạo của HS
+ Giúp mở rộng ý tưởng và đào sâu kiến thức
+ Giúp HS ôn tập củng cố, khái quát, hệ thống hóa kiến thức một cách hiệuquả
+ Giúp ghi nhớ nhanh, nhớ lâu, nhớ sâu kiến thức
+ Thêm thông tin dễ dàng hơn bằng cách vẽ chèn thêm vào sơ đồ
Trang 32+ Các ý mới có thể được đặt vào đúng vị trí trên hình một cách dễ dàng, bấtchấp thứ tự của sự trình bày, tạo điều kiện cho việc thay đổi một cách nhanh chóng
và linh hoạt cho việc ghi nhớ
Kiểu ghi chép của BĐTD thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc đượctrải theo các hướng có tính tuần tự và có độ thoáng, giúp dễ dàng phát triển ý tưởngnhanh hơn so với kiểu ghi chép thông thường theo kiểu xuống dòng Điểm mạnh
nhất của BĐTD là phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng Việc xây dựng một
hình ảnh thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đángquan tâm về các mặt: Ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khảnăng sáng tạo BĐTD vừa như bức tranh tổng thể mà lại chi tiết, vừa giúp nhìnđược khái quát toàn bộ vấn đề vừa nhìn được cái cụ thể trong cái nhìn tổng thể
1.3.5 Các ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học
1.3.5.1 Bản đồ tư duy hỗ trợ hoạt động dạy
Ngoài việc giúp học sinh làm quen với lý thuyết và thực hành BĐTD, người
GV còn có thể sử dụng BĐTD theo nhiều cách thực tế để làm cho việc dạy học dễdàng, lý thú hơn
Lập dàn ý cho bài giảng
Dùng BĐTD làm dàn ý cho bài giảng cho phép GV có cái nhìn tổng quát vềchủ đề Nhờ có những đặc tính hỗ trợ trí nhớ, BĐTD cho phép GV chỉ cần xem lướtqua trước khi lên lớp là có thể nắm bắt được trọng tâm Nó giúp GV có khả năngduy trì sự cân đối, sinh động cho một bài giảng với bố cục rõ ràng, hợp lý của mộtbài thuyết trình Hơn nữa, BĐTD còn cho phép GV giảng bài theo đúng thời gianquy định, hoặc nếu thời gian thay đổi vì một lý do nào đó thì GV cũng có thể chỉnhsửa cho bài giảng dài hơn hay ngắn đi theo yêu cầu
Xây dựng các kế hoạch cho năm học
- Kế hoạch cho năm: Giáo viên có thể dùng BĐTD để có cái nhìn tổng quát
về chương trình học của năm, bao gồm các học kỳ và hình thức bài học phải dạy
- Kế hoạch cho từng chương: Đây là một phần của kế hoạch hàng năm,thường có dạng BĐTD nhỏ hơn, và được phát triển từ một hay nhiều nhánh trong
Trang 33chương trình cho năm Kế hoạch của học kỳ có thể cho thấy chủ đề và thứ tự giảngdạy mà GV sẽ theo trong quá trình.
- Kế hoạch cho mỗi bài học (giáo án): Ghi lại những chi tiết cụ thể về bài họcnhư thời gian bắt đầu và kết thúc, phòng học, chủ đề giảng…
1.3.5.2 Bản đồ tư duy hỗ trợ hoạt động học
Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, HS cần phải tiếp thu mộtlượng kiến thức đồ sộ Vì vậy, để tiếp nhận lượng thông tin lớn một cách có hiệuquả nhất thì BĐTD với những đặc tính của nó sẽ giúp HS làm tốt công việc trên.[32]
Dễ dàng nhận thấy với cách ghi chú thông thường, hoạt động học thường gặpcác bất lợi sau:
Các từ khóa bị chìm khuất Từ khóa truyền tải các ý tưởng quan trọng,
giúp ta nhớ tới những ý tưởng liên kết khi đọc hay nghe thấy nó Theo lối ghi chúthông thường, những từ khóa thường rải ra trên nhiều trang giấy và bị chìm khuấttrong một rừng chữ không quan trọng bằng Điều này trở thành trở ngại khi bộ nãotìm mối liên kết có ích giữa các khái niệm trọng tâm
Khó nhớ nội dung Các ghi chú bằng một màu đơn điệu dễ gây nhàm
chán thị giác, khiến não khước từ và bỏ quên chúng đi
Lãng phí thời gian vì có thể ghi chú cả những cái không cần thiết, hoặc
buộc ta phải đọc đi đọc lại những ghi chú không cần thiết…
Không kích thích não sáng tạo
Ghi chép theo BĐTD khắc phục được các hạn chế trên, tạo điều kiện thuậnlợi cho lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng tư duy theo định hướng
1.3.5.3 Sử dụng BĐTD trong dạy học vật lý ở trường PT
BĐTD có thể và cần thiết để sử dụng như một công cụ hỗ trợ cho hoạt độngdạy và học trong các loại bài học vật lý khác nhau
*Bài học xây dựng kiến thức mới: Mục đích chính là xây dựng kiến thức
mới, xác định các đặc tính, các mối quan hệ trong đối tượng đó, hiểu nội dung cơbản của kiến thức mới Sử dụng BĐTD có thể dễ dàng giúp HS liên kết và tổ chức
Trang 34tri thức cũng như sự kiện liên quan nhằm tìm ra những đặc tính và mối quan hệ củacác đối tượng trong kiến thức mới.
+ Cấu trúc bài học xây dựng kiến thức mới theo định hướng sử dụng BĐTD:
- Củng cố kiến thức xuất phát, tạo tình huống nhận thức
- Xây dựng kiến thức mới
- Củng cố, hệ thống hóa kiến thức mới, GV vẽ BĐTD cho HS thuyết minhhoặc HS vừa vẽ, vừa thuyết minh BĐTD, GV nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh BĐTD
- Vận dụng kiến thức
* Bài học luyện tập giải bài tập vật lý: Mục đích chính là làm cho HS hiểu
sâu hơn những kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức vàoviệc giải bài tập cũng như vào thực tiễn đời sống, sản xuất Việc luyện tập giải bàitập vật lí cũng có nhiều dạng và cấp độ khác nhau Trong mỗi dạng vậy BĐTD cũng
có ít nhiều đóng góp hoàn tất công việc một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
+ Cấu trúc bài học luyện tập giải bài tập vật lý theo hướng sử dụng BĐTD:
- Củng cố kiến thức, công thức quan trọng, công thức suy ra,các công thứcliên quan
- Các dạng bài tập thường gặp, cách giải
- Dạng bài tập nâng cao, cách giải
- Chú ý quan trọng
* Bài học thực hành vật lý: Mục đích chính là rèn luyện kỹ năng sử dụng
một số thiết bị cơ bản, thực hiện các phép đo cơ bản, rèn luyện kĩ năng sử dụngdụng cụ, thiết bị thí nghiệm để nghiên cứu những tính chất hay những mối quan hệcủa các sự vât,hiện tượng
+ Cấu trúc bài học thực hành theo hướng sử dụng BĐTD:
- Củng cố, hệ thống hóa kiến thức
- Phân công công việc
* Bài học ôn tập, tổng kết hệ thống hóa kiến thức: Hệ thống hóa có vai trò
quan trọng, giúp HS hình dung tri thức trong mối quan hệ biện chứng với tri thứckhác trong cùng một chủ đề hay nội dung nào đó Việc hệ thống hóa kiến thức đòi
Trang 35hỏi khả năng khái quát hóa, đồng thời phải có hiểu biết nhất định về kiến thức đó.Như vậy dùng hệ thống hóa kiến thức không những giúp HS ôn tập mà còn kiểm tratrình độ, thói quen tư duy của HS.
+ Cấu trúc bài học ôn tập, tổng kết hệ thống hóa kiến thức theo hướng sử dụng BĐTD:
- GV vẽ BĐTD, HS thuyết minh
- HS vừa vẽ, vừa thuyết minh BĐTD, GV nhận xét, bổ sung, hoàn thiện BĐTD
1.4 Đặc điểm nhận thức của học sinh cấp THPT và thực trạng của việc sử dụng phần mềm dạy học và bản đồ tư duy khi dạy học chương “Từ trường”- Vật lí 11
Thái độ đối với việc học tập cũng có sự thay đổi Thái độ tự ý thức về việchọc tập cho tương lai được nâng cao Học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt độngchủ yếu theo quan điểm của tương lai của mình Có thái độ lựa chọn đối với từngmôn học và đôi khi chỉ chăm chỉ học những môn được cho là quan trọng và có ảnhhưởng trực tiếp tới tương lai
Ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập đã trở nên xác định vàthể hiện rõ ràng hơn, học sinh thường có hứng thú ổn định đối với một môn khoahọc hay lĩnh vực nào đó Điều này kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đàosâu các tri thức trong linh vực tương ứng
* Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ
Lứa tuổi THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ Do cơ thểđược hoàn thiện nên tạo điều kiện cho phát triển trí tuệ Cảm giác và tri giác lứa tuổinày đã đạt mức độ của người lớn Điều này làm cho năng lực cảm thụ được nâng cao
Trang 36Trí nhớ cũng phát triển rõ rệt, học sinh đã biết sử dụng nhiều phương phápghi nhớ chứ không chỉ ghi nhớ một cách máy móc (học thuộc) Sự chú ý của họcsinh THPT cũng phát triển Ví dụ học sinh có thể tập trung chú ý vào tài liệu màmình không hứng thú nhưng hiểu được ý nghĩa quan trọng của nó.
Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, ở thời kỳ này học sinh
đã có khả năng tư duy lý luận, trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo Nhữngnăng lực như phân tích, so sánh, tổng hợp cũng phát triển
Tóm lại, hoạt động nhận thức của lứa tuổi học sinh THPT đã phát triên ởmức độ cao, có khả năng nhận thức vấn đề một cách đúng đắn và sâu sắc Khả năng
tư duy và nhận thức cũng sẽ dần được hoàn thiện trong quá trình học tập và rènluyện cá nhân
1.4.2 Điều tra thực trạng vấn đề nghiên cứu
1.4.2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng tiến trình dạy học chương “Từtrường”- Vật lí 11 cơ bản với sự hỗ trợ của BĐTD nhằm phát huy tính tích cực, tựlực học tập của học sinh
1.4.2.2 Đối tượng điều tra
Để tìm hiểu thực trạng của vấn đề này, chúng tôi điều tra, thăm dò ý kiếncủa 9 GV Tổ lí – CN và 238 HS ở trường có giảng dạy theo chương trình Vật lí 11
cơ bản: Trường THPT Lý Nhân Tông - TP.Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh
1.4.2.3 Phương pháp điều tra
- Lấy ý kiến khách quan thông qua phiếu để nắm bắt tình hình học tập môn
Vật Lí 11-THPT và tình hình dạy và học chương “Từ trường,, -Vật Lí 11 THPT
- Phỏng vấn trực tiếp GV và HS về thực trạng dạy và học chương “Từtrường,,-Vật Lí 11 THPT
- Sử dụng các phép thống kê và đưa ra kết luận
1.4.2.4 Kết quả điều tra
Ý kiến về phương pháp dạy học được sử dụng trong dạy học Vật lí
Trang 37Bảng 1.1: Kết quả lấy ý kiến giáo viên
Phương pháp dạy học
Thường xuyên
Thỉnh thoảng Rất ít
Không dùng
- Phần lớn giáo viên vẫn duy trì phương pháp dạy học truyền thống, đã có
sự đổi mới PPDH nhưng không có tính hệ thống, chỉ mang tính cá nhân
- Tất cả giáo viên không vận dụng phương pháp BĐTD trong dạy học
- Đối với việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự ôn tập cho HS: Trong quá trìnhdạy từng bài, giáo viên rất ít chú ý tới việc bồi dưỡng năng lực tự học – tự ôn tập chohọc sinh Những tiết ôn tập, giáo viên tóm tắt kiến thức để học sinh thụ động họctheo Không hướng dẫn học sinh cách tổng hợp và hệ thống kiến thức theo logic kiếnthức Vì vậy kỹ năng tự học, tự ôn tập của học sinh còn ở mức trung bình hoặc thấp
Nguyên nhân của thực trạng:
- Một bộ phận không nhỏ giáo viên ngại tìm tòi, nghiên cứu các PPDH tíchcực để dạy học các bài học cụ thể
- Hiện nay khái niệm BĐTD và việc ứng dụng phương pháp BĐTD vào việcdạy học vẫn còn chưa được phổ biến rộng rãi tại ngành giáo dục tỉnh Bắc Ninh Vìthế, giáo viên chưa có ý định đưa BĐTD vào tiết dạy của mình nên chưa tạo được sựhứng thú học tập cho học sinh
- Hầu hết GV chưa nhận thức đúng khái niệm tự ôn tập củng cố, vai trò của
nó trong quá trình học tập Từ đó việc vận dụng các PP nhằm bồi dưỡng năng lực tựhọc – tự ôn tập cho HS vẫn còn nhiều hạn chế
1.4.3 Điều tra thực trạng học sinh
Để tìm hiểu hứng thú, tính tích cực học tập, và thực trạng việc tự ôn tập củng
cố với BĐTD của HS đối với môn Vật lí, tôi đã tiến hành dự giờ, trao đổi trực tiếp
Trang 38với HS, phát phiếu điều tra cho 238 em HS của học theo chương trình SGK Vật lí THPT tại Trường THPT Lý Nhân Tông Kết quả thu được:
1- Hứng thú của HS với môn Vật lí:
Bảng 1.3: Khả năng nhận thức, mức độ tích cực của học sinh.
Hiểu bài ngay
trên lớp Tích cực xây dựng bài
Chú ý nghe giảng trên lớp
Trang 39- Cách thức học theo vở ghi, SGK là chính, lười suy nghĩ tìm tòi kiến thứctrong các tài liệu tham khảo Phần lớn HS vẫn học theo kiểu đối phó (Khi có giờVật lí hoặc khi kiểm tra mới học).
- Dành nhiều thời gian cho việc học Vật lí Nhưng việc tự học – tự ôn tập củacác em còn hạn chế nhiều do kỹ năng (đọc sách, tổng hợp kiến thức, xử lý thông tin,
tự kiểm tra đánh giá,vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề ) chưa cao Việc họccủa các em chủ yếu là việc đi học thêm, giải bài tập theo dạng của thầy cô là chính
- SGK, Sách tham khảo chỉ được sử dụng chủ yếu khi HS cần làm bài tập, tracứu các số liệu, các sơ đồ, bảng biểu cần thiết không phát huy được vai trò tíchcực và sáng tạo của HS
Nguyên nhân của thực trạng:
- Việc áp dụng các PPDH tích cực trong quá trình dạy học Vật lí của GV cònhạn chế, nên chưa phát huy được tính tích cực của HS
- Một bộ phận HS không theo kịp chương trình của lớp học Do đó, HS thiếuhứng thú, động cơ học tập
- HS hầu như không được bồi dưỡng, rèn luyện khả năng tự học, tự ôn tậpcủng cố trong các tiết học trên lớp Nếu HS đi học thêm, các GV cũng chỉ tóm tắtkiến thức theo dạng, cho các em làm thật nhiều bài tập theo dạng Đây cũng là 1nguyên nhân quan trọng gây ra tính thụ động học tập cho HS
- Đối với giải pháp sử dụng BĐTD để tự học, tự ôn tập củng cố: hầu hết các
em đều chưa biết Với một số cá nhân HS được biết tới BĐTD: các em vẫn chưathực sự biết cách sử dụng hiệu quả để đạt kết quả cao trong học tập Cho nên chủyếu là các em có thể hiểu được kiến thức của các bài, chương nhưng không nhớđược để hệ thống lại nội dụng kiến thức một cách logic Kiến thức Vật lí đã học vẫnchưa phải là của mình, học máy móc, chép lại kiến thức của thầy đã dạy nên hiệuquả học tập không cao
1.5 Một số định hướng trong việc tổ chức hoạt động nhận thức với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy để phát huy tính tích cực nhận thức
và tính tự lực cho học sinh
Trang 401.5.1 Định hướng khi sử dụng BĐTD để hỗ trợ việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS
1.5.1.1 Hướng dẫn rèn kĩ năng sử dụng BĐTD
Trước hết GV cần cho các em HS thấy được lợi ích của việc sử dụng BĐTD,sau đó hướng dẫn các em dùng BĐTD Việc hướng dẫn này có thể tiến hành theocác bước sau:
Bước 1: Giới thiệu về BĐTD, một số ứng dụng của nó trong học tập
Bước 2: Nêu ý nghĩa và các ứng dụng của BĐTD trong dạy học Vật lí để HSthấy được sự hữu ích của việc sử dụng BĐTD khi học môn Vật lí
Bước 3: Trình bày các bước vẽ BĐTD và các nguyên tắc khi vẽ BĐTD.Bước 4: Cho HS thực hành vẽ BĐTD theo nhóm, cá nhân
1.5.1.2 Rèn luyện cho HS kĩ năng thu thập thông tin và tóm tắt bằng BĐTD
Sau khi thu thập được thông tin và đưa ra đưa ra được từ khóa thì việc tiếptheo là ghi chép lại bằng BĐTD Công việc này không chỉ giúp HS tiết kiệm đượcthời gian khi học thuộc hoặc ôn tập lại kiến thức mà còn giúp các em xử lí và truyềnthông tin dễ dàng hơn GV có thể rèn luyện kĩ năng này theo các bước sau:
+ GV thường xuyên thiết kế và sử dụng BĐTD phục vụ giảng dạy để cho HSthấy được tính hiệu quả của công cụ này trong việc ghi chép, tóm tắt kiến thức Vật
lí sau mỗi bài hoặc mỗi chương
+ Tổ chức cho từng nhóm HS xây dựng BĐTD
+ Tổ chức cho cá nhân HS dùng BĐTD để tóm tắt kiến thức đã học
1.5.1.3 Rèn luyện kĩ năng truyền đạt thông tin với sự hỗ trợ của BĐTD
Một người có kỹ năng truyền đạt thông tin tốt là người có khả năng trình bàythông tin đầy đủ, rõ ràng, logic và có tính thuyết phục cao; để làm được điều này thìngười đó phải nhớ được tất cả thông tin theo một hệ thống logic Công cụ BĐTDgiúp cho người thuyết trình (HS) nhớ nội dung trình bày một cách logic bởi vì cácthông tin được liên kết với nhau dưới dạng một sơ đồ có kèm theo hình ảnh
Khi học sinh tự ôn tập, HS phải tự mình thu thập thông tin, tự mình tổng hợpcác kiến thức, thông qua trao đổi với thầy giáo, bạn bè, và căn cứ vào sự hướng dẫn,