Từ lâu ,tiền giấy xuất hiện và sau một thời gian sẽ diễn ra tình trạng giảm giátiền và dẫn đến lạm phát .Nét đặc trưng cơ bản nền kinh tế thị trường khi cólạm phát là giá cả của hầu hết
Trang 1Việt Nam,hiện nay về việc kiềm chế lạm phát, giữ vững sự phát triển ổn địnhcủa nền kinh tế là một mục tiêu quan trọng trong việc phát triển kinh tế xãhội ,nâng cao đời sống nhân dân.
Thật vậy ,vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan tâm, nghiên cứu vàcũng đưa ra phương pháp khắc phục nhằm kiểm soát được lạm phát
Từ lâu ,tiền giấy xuất hiện và sau một thời gian sẽ diễn ra tình trạng giảm giátiền và dẫn đến lạm phát Nét đặc trưng cơ bản nền kinh tế thị trường khi cólạm phát là giá cả của hầu hết các hàng hoá đêù tăng cao và sức mua của đồngtiền ngày càng giảm nhanh Có thể thấy lạm phát là một cái gai nhức nhối trongnền kinh tế thị trường hiện nay
Trang 2I/Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
Trong suốt hơn 30 năm qua , nền kinh tế của chúng ta đã có những biến chuyểnquan trọng , đi đôi với nó lạm phát cũng có những sự thay đổi dựa trên thựctrạng nền kinh tế
Căn cứ vào những đặc điểm cốt yếu ta có thể chia tình hình lạm phát thành cácgiai đoạn như sau :
1/Giai đoạn khó khăn và đòi hỏi đổi mới ( Trước 1989)
a)Thời kì trước đổi mới:
Trước năm 1975, đất nước ta đang dốc toàn lực cho cuộc kháng chiến cứunước Tất cả cho tiền tuyến Mọi nguồn lực đều dành hết cho một mục tiêu duynhất là thống nhất đất nước và giành độc lập dân tộc Vì thế nên mục tiêu pháttriển kinh tế chỉ bó hẹp trong nội dung dồn sức cho tiền tuyến Không thể đòihỏi gì hơn ở một nền kinh tế trong chiến tranh Mặt khác, hai đầu đất nước làhai nền kinh tế khác nhau Một bên là nền kinh tế thị trường tự do, một bên lànền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp Do những đặc điểm đặcthù của nền kinh tế nên giai đoạn này lạm phát hầu như chưa xuất hiện rõ nét
b)Thời kỳ bắt đầu đổi mới
Từ năm 1979 đến 1985 nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã bộc lộ nhiều yếuđiểm và hạn chế đòi hỏi phải có sự đổi mới
Tỷ lệ lạm phát năm 1984 ở mức 164,9%, năm 1985 là 191,6%, trong khi đótăng trưởng lại giảm sút trông thấy, giảm từ 6% năm 1984 xuống khoảng 3%năm 1985, tăng trưởng và lạm phát thời kỳ này có thể nói là không có quan hệgắn bó lạm phát phi mã đã xuất hiện và ngày càng trầm trọng
c)Lạm phát phi mã cuối thập kỷ 80
Năm 1986 tỷ lệ lạm phát lên đến 487,2%, năm 1987 là 301,3%, năm 1988 là308,2%, năm 1989 tỷ lệ lạm phát ở mức 74,3% Trong khi tăng trưởng kinh tế ởnhững năm này chỉ khoảng 1% đến 2% Giai đoạn trước 1989 tỷ lệ tăng trưởng
và tỷ lệ lạm phát luôn ngược chiều nhau Vào thời điểm này, lạm phát và tăng
Trang 3trưởng gần như không có mối quan hệ nào và nếu như có quan hệ thì số liệucho thấy thì lạm phát càng cao thì tăng trưởng càng thấp.
2 Thời kỳ tăng trưởng kinh tế đi đôi với lạm phát (sau năm 1989)
Năm 1991 tỷ lệ lạm phát còn là 67,5%, năm 1992 tỷ lệ này giảm xuống còn17,6%, đặc biệt năm 1993 tỷ lệ lạm phát chỉ còn 5,2% Trong giai đoạn nàynhờ kiểm soát được lạm phát nên tỷ lệ tăng trưởng tăng lên
Đến năm 1996, tình hình lạm phát và tăng trưởng đã bắt đầu có thay đổi, tỷ lệlạm phát giảm còn 4,5%, tăng trưởng đạt 9,34%, giá cả thị trường trong năm
1996 khá ổn định Tuy biên động giá trong các tháng còn lớn, nhưng kết quảkiềm chế lạm phát đã vững chắc tạo sự ổn định cho nền kinh tế
3 Thời kỳ thiểu phát (1997-2005)
Bước vào năm 1997 tình hình lạm phát chuyển sang thiểu phát Tỉ lệ lạm pháttháng 1/1997 là 0,8%, hai tháng lạm phát 2,6% nhưng đến hết tháng 3 chỉ sốgiá chỉ ở mức 2,1%, tiếp đó tỷ lệ lạm phát tiếp tục giảm, 10 tháng đầu năm tỷ lệlạm phát ở mức 2,3%, đến tháng 11 và 12 tỷ lệ lạm phát mới nhích lên chút ít
a)Thời kỳ khởi đầu thiểu phát 1997
Năm 1997 giá cả thị trường trong nước ở mức khá ổn định, chỉ số lạm phát ởmức 103,6% tăng 3,6% so với cuối năm 1996 Đây là mức lạm phát thấp nhất ởnước ta cho đến trước năm 1997
b)Thời kỳ chịu tác động khủng hoảng kinh tế khu vực
Sang năm 1998 tình hình kinh tế xã hội trong khu vực có những biến động dẫnđến lạm phát cũng có nhiều biến đổi, tỷ lệ lạm phát thấp kéo theo tình hình tăngtrưởng kinh tế có chiều hướng không thuận lợi
c)Thời kỳ thiểu phát bắt đầu
Tình hình lạm phát trong các năm từ 1999 đến 2003 diễn ra ở mức thấp và dấuhiệu thiểu phát kéo dài đến hết năm 2000 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế có tănglên, chấm dứt thời kỳ tốc độ tăng trưởng đi xuống Số liệu cho thấy chỉ số giátiêu dùng trong các tháng ở các năm từ 1999 đến 2003 là rất thấp kéo theo tỷ lệlạm phát thấp làm tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng ở mức thấp
Trang 4Trong 7 năm từ 1997 đến 2003 nền kinh tế nước ta nằm trong tình trạng lạmphát thấp nhưng tốc độ tăng trưởng cũng thấp, đây thực sự là điều không mongmuốn
4/Lạm phát sau thời gian thiểu phát (2004 – 2005)
Chỉ số giá 9,5% năm 2004 là một giới hạn mỏng manh giữa lạm phát kiểm soátđược và lạm phát cao
5/ Lạm phát 2007 đến nay
*Năm 2007:Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu,cộng với
những nguyên nhân chủ quan bên trong,lạm phát đã trở lại,chỉ số lạm phát tănglên hai con số Dấu hiệu lạm phát cao xuất hiện từ t6/2007 khi CPI thánh 6 tăngđọt biến xấp xỉ 1%,và tỉ lệ lạm phát tăng tới 12,6% so với tháng 12 năm 2006.Điểm khác biệt của lạm phát trong năm 2007 này là sự tăng giá diễn ra đồngloạt ở cả nhóm hàng lương thực và phi lương thực Đứng đầu về tốc độ tăng giátrong nhóm các hàng hóa tính CPI là thực phẩm (tăng 21,16%, riêng tháng 12tăng 4,69%) Nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng tăng cao thứ hai (tăng17,12%, riêng tháng 12 tăng 3,28%) Đứng thứ ba là nhóm hàng lương thực(tăng 15,4%, riêng tháng 12 tăng 2,98%) Phương tiện đi lại và bưu điện đứngthứ tư (tăng hơn 7%, riêng tháng 12 tăng 0,7%) Tiếp đến là nhóm hàng maymặc và giày dép (tăng 7%, riêng tháng 12 tăng 1,16%); dược phẩm và y tế(tăng 7%)(2), v.v
Năm 2007 lạm phát của Việt Nam tăng cao ở mức hai con số 12,63% Nếu sosánh với mức lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới nhưTrung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu vựcđồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có phần caohơn Bước sang Quý I/2008 lạm phát của Việt Nam đạt 9,19%, vẫn cao hơn sovới mức 3,02% của Quý I/2007 và bằng khoảng trên 70% so với mức tăng của
cả năm 2007 Đây là mức tăng cao trong vòng 12 năm trở lại đây
*Năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với kinh tế vĩ mô cũng như tình hình lạm
phát ở Việt Nam CPI đã liên tục tăng cao từ đầu năm, và mức cao nhất của CPI
Trang 5tính theo năm của năm 2008 đã lên đến 30% Kết thúc năm 2008, chỉ số CPItăng 19.89%, tính theo trung bình năm tăng 22.97%
*Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều
hàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế CPInăm 2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây Tuy vậy,mức tăng này nếu so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơnkhá nhiều
*Năm 2010, chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát CPI cuối kỳ khoảng 7% Mục
tiêu này có thể không được hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35%.Ngoài ra, nền kinh tế hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến lạmphát cao trong thời gian sắp tới
Trong năm 2010, do dịp Tết nguyên đán và việc tăng giá điện, lạm phát tronghai tháng đầu năm tăng cao Năm tháng tiếp theo của năm 2010 chứng kiến tỷ
lệ lạm phát tương đối ổn định ở mức thấp chứng tỏ các biện pháp kiểm soát lạmphát của Chính phủ đã có tác động Tuy nhiên, lạm phát lại tăng trở lại mạnh
mẽ từ tháng 9 năm 2010 khiến cho chỉ số giá tiêu dùng CPI cho 11 tháng đãtăng lên đến 9,58% so với 20,71% và 5,07% của cùng kỳ năm 2008 và 2009.Việc phá giá VND so với USD trong tháng 8 năm 2010 và biến động của thịtrường vàng trong nước và quốc tế vừa qua được coi là hai trong số nhữngnguyên nhân chủ yếu khiến cho lạm phát tăng cao
Tính trung bình, lạm phát trong các tháng 9, 10 và 11 vừa qua tăng mạnh nhất
so với cùng kỳ 20 năm gần đây Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) so với cùng kỳ nămtrước tăng vọt từ mức 8.18% vào tháng 8 đã lên tới 11.09% vào tháng 11 Lũy
kế trong 11 tháng, CPI đã lên tới 9.58% và lạm phát năm 2010 gần như chắcchắn sẽ cao hơn hai con số Đây là mức lạm phát cao nhất kể từ năm 1992 đếnnay, ngoại trừ năm 2007 và 2008
*Năm 2011 lạm phát gia tăng gây áp lực cho bất ổn trong nền kinh tế CPI
tháng 3/2011 tăng 2.17% so với tháng 2, và như vậy đã tăng 6.12% so đầu năm
và tăng 13.89% so với cùng kỳ năm trước CPI tháng 3 có mức tăng cao nhất kể
Trang 6từ tháng 6/2008 đến nay Trước đó, CPI tháng 12/2010 tăng 1.98%, tháng1/2011 tăng 1.74% và tháng 2 tăng 2.09%.
Xét theo các mặt hàng cụ thể, CPI nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng1.98%, lương thực tăng 2.18%, thực phẩm tăng 1.57% so với tháng trước Mứctăng cao nhất thuộc về nhóm giao thông với mức tăng 6.69% do chịu tác độngmạnh của đợt điều chỉnh giá xăng dầu.Tiếp ngay sau mức tăng mạnh trên thìCPI nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng thêm tới 3.67% do chịu ảnhhưởng của tăng giá chất đốt, thép xây dựng, xi măng và nhiều loại vật liệu xâydựng khác.Ngoài ra, CPI của hầu hết các nhóm hàng hóa khác cũng tăng khámạnh Thông thường CPI tháng 3 giảm là do tháng 2 thường trùng với dịp Tết
âm lịch, nhu cầu tiêu dùng tăng đẩy giá hàng hóa tăng, nhưng đến tháng 3 tiêudùng giảm làm cho giá cũng giảm theo Khác với những năm trước, giá hànghóa tháng 3 năm nay chịu tác động của việc điều chỉnh tỷ giá, giá xăng và giáđiện đã làm cho nhiều mặt hàng bị kìm nén giá trước đó đồng loạt bung ra.Ngoài ra, cũng không ít mặt hàng tăng giá do ”tát nước theo mưa”
*Đề cập đến triển vọng năm 2012, các nhìn nhận của Ngân hàng thế giới chothấy bức tranh kinh tế Việt Nam sẽ “sáng màu” hơn Tổ chức này dự báo tăngtrưởng GDP năm tới sẽ đạt mức khoảng 6,1%, trong khi lạm phát sẽ giảm mạnhmặc dù vẫn khó đưa về ở mức một con số Cụ thể, báo cáo cho rằng, chỉ số giátiêu dùng (CPI) năm tới sẽ tăng khoảng 10,5% Với các cân đối khác, WB chorằng hoạt động xuất, nhập khẩu tiếp tục tăng trưởng tốt, tuy nhiên thâm hụt thươngmại sẽ tăng lên, kéo theo thâm hụt cán cân vãng lai; thu hút đầu tư trực tiếp nướcngoài cũng sẽ khởi sắc hơn; nợ nước ngoài có thể lên đến 52,2% GDP…
II/Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam
Lạm phát về thực chất là sự mất giá của đồng tiền so với hàng hóa, dịch vụ, vớinguyên nhân tổng quát là mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu, mà biểu hiệncủa nó là mất cân đối tiền-hàng: tổng cung cao hơn tổng cầu, tiền nhiều hơnhàng thì lạm phát (còn tổng cung ít hơn tổng cầu, tiền ít hơn hàng thì thiểuphát)
Trang 7Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát bao gồm những yếu tố tác động đến hai vếcủa quan hệ cân đối này, tức là các yếu tố tác động đến tổng cung, đến hàng vàcác yếu tố tác động đến tổng cầu, đến tiền.
Xét theo các mặt này, thì các nguyên nhân của lạm phát thời gian qua bao gồmcác yếu tố sau:
1 Xét tổng quát là sản xuất trong nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùng cuối
cùng, hay đầu tư và tiêu dùng vượt qua sản xuất lên đến trên dưới 10% hàngnăm, phải nhập siêu, phải vay nợ từ nước ngoài để bù đắp
Khi tổng cầu vượt quá tổng cung thì Việt Nam không chỉ ở vị thế nhập siêu, màcòn rất dễ rơi vào lạm phát cao, nếu có sự bất ổn ở bên ngoài (khủng hoảng,lạm phát ) và có trục trặc ở bên trong (thiên tai, dịch bệnh, bất ổn vĩ mô ) Vốn đầu tư/GDP gia tăng từ 34,9% trong thời kỳ 1996-2000 lên 39,1% trongthời kỳ 2001-2005 và lên 43,5% trong thời kỳ 2006-2010 Tiêu dùng cuốicùng/GDP của Việt Nam đã tăng tương ứng từ 71,1% thời kỳ 2001-2005 lên72,2% thời kỳ 2006-2010
Đây là tỷ lệ cao so với một số nước (năm 2009 của Việt Nam là 72,8%, trongkhi của Brunei là 47%, Trung Quốc 48,7%, Singapore 52,4%, Malaysia 64%,Indonesia 68,2%, Thái Lan 68,3%, Ấn Độ 69,6%, Hàn Quốc 70,3% ) Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt Nam cao và tăng lên, có một phần do quy
mô GDP bình quân đầu người thấp, có một phần do tiêu dùng có xu hướng tănglên; nhưng có một phần do đã xuất hiện tình trạng “ăn chơi sớm” và chuộnghàng ngoại của một bộ phận dân cư
Do đầu tư và tiêu dùng cuối cùng vượt xa so với GDP, nên nhập siêu tăng lênqua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 mới gần 9,4 tỷ USD, đã tăng lên trên 19,1
tỷ USD thời kỳ 2001-2005 và tăng lên gần 62,8 tỷ USD thời kỳ 2006-2010) Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đóđáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhập khẩulớn như thủy sản, sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu mỡ động thực vật,thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, cao su, gỗ và nguyên phụ liệu, đường, thịt;
Trang 8mà một nước có bờ biển dài nhưng phải nhập muối; một nước có tỷ lệ xuấtkhẩu/GDP cao, nhưng do tính gia công, lắp ráp cao mà nhập khẩu nguyên phụliệu lớn, như nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, chất dẻo nguyên liệu, máy vitính, sản phẩm điện tử và linh kiện; một số loại hàng tiêu dùng có kim ngạchlớn, như điện thoại các loại và linh kiện, ô tô nguyên chiếc, xe máy nguyênchiếc, hóa mỹ phẩm lên đến mấy tỷ USD.
2 Nguyên nhân tiềm ẩn, sâu xa của lạm phát là hiệu quả đầu tư và năng suất
lao động thấp Hiệu quả đầu tư thấp thể hiện ở hệ số ICOR cao và tăng lên quacác thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 là 5 lần, thời kỳ 2001-2005 lên 5,2 lần, thời kỳ2006-2010 lên 6,2 lần, cao gấp đôi nhiều nước trong khu vực)
Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư của Việt Nam từ năm 2003 trở về trước
ở mức trên dưới 57%, từ 2004 đã giảm xuống nhưng vẫn ở mức trên dưới 40%,trong khi ICOR của khu vực này cao gấp rưỡi hệ số chung của cả nước Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2010 đạt 40,3 triệu đồng/người,chỉ tương đương với 2.067 USD, thấp xa so với các con số tương ứng của một
số nước (năm 2008 của Nhật Bản 73.824 USD, Brunei 72.500 USD, Singapore62.724 USD, Hàn Quốc 38.235 USD, Malaysia 17.718 USD, Thái Lan 6.915USD, Trung Quốc 5.460 USD, Indonesia 4.597 USD, Philippines 4.535 USD,
Ấn Độ 2.706 USD )
3 Tổng thu ngân sách/GDP của Việt Nam thuộc loại khá cao (mấy năm nay đạt
trên dưới 28%), nhưng thu từ dầu thô, từ hải quan, thu từ đất đai là nhữngkhoản không trực tiếp phản ánh hiệu quả kinh tế và có xu hướng giảm (thu từdầu thô năm 2005 chiếm 29,2%, 6 tháng đầu năm 2011 chiếm 13,9%; thu từ hảiquan, tương ứng chiếm 16,7% và 22,5%; thu từ đất đai chiếm khoảng 6-7%) Bội chi ngân sách/GDP từ năm 2006 trở về trước ở mức thấp, nhưng từ năm
2007 đến nay ở mức cao, tuy đã có xu hướng giảm xuống trong vài năm nay,nhưng vẫn thuộc loại cao Trong tổng chi ngân sách, tỷ trọng chi cho đầu tư, chicho lĩnh vực xã hội là cần thiết, nhưng thuộc loại cao, nhất là chi cho đầu tư
Trang 9công-thể hiện Nhà nước còn “ôm” nhiều quá mà cần khuyến khích các nguồnlực xã hội
4 Tiền tệ là nguyên nhân trực tiếp và bộc lộ ra cuối cùng của lạm phát Tốc độ
tăng dư nợ tín dụng cao gấp nhiều lần tốc độ tăng GDP
Năm 2010 so với năm 2000, tín dụng cao gấp trên 13,7 lần, trong khi GDP chỉgấp trên 2 lần; hệ số giữa tốc độ tăng của tín dụng và của GDP lên đến trên 6,2lần-một hệ số rất cao Do vậy, dư nợ tín dụng/GDP đã ở mức khoảng 125%,cao gấp đôi con số tương ứng của nhiều nước Cùng với tăng trưởng tín dụng làtăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, mà tổng phương tiện thanh toán củaViệt Nam không chỉ là tiền đồng mà còn có vàng, có ngoại tệ
5 Tình trạng vàng hóa và Đô la hóa khá cao, tác động tiêu cực đối với lạm phát
- Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại lạm phát
ở trong nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn lạm phátcủa thế giới; làm tăng nợ quốc gia khi tính bằng VND
6 Việc thực hiện lộ trình giá thị trường khi chuyển sang kinh tế thị trường là
tất yếu, đúng hướng, là một nội dung quan trọng của đường lối đổi mới Tuynhiên, kết quả của việc thực hiện lộ trình này nếu thực hiện dồn dập cùng mộtlúc sẽ tạo ra mặt bằng giá mới cao hơn, như đã từng xảy ra trong thời kỳ lạmphát phi mã, hay vào tháng 2-3 vừa qua
7 Giá cả thế giới tăng là một trong những yếu tố quan trọng tác động đối với
lạm phát ở trong nước xét trên các góc độ khác nhau
Trang 10- Tỷ lệ xuất, nhập khẩu/GDP của Việt Nam đã tăng nhanh và hiện ở mức khácao (năm 1992 đạt 51,6%, năm 1995 đạt 65,4%, năm 2000 đạt 96,5%, năm
2005 đạt 130,8%, năm 2010 đạt 154,4%, khả năng năm 2011 sẽ còn cao tức là có độ mở khá cao, đứng thứ 5 thế giới-nên biến động giá cả trên thế giới
hơn)-sẽ tác động nhiều đến biến động giá ở Việt Nam hơn các nước khác
- Giá thế giới tăng sẽ làm cho chi phí đẩy ở trong nước tính bằng VND tăngkép: vừa tăng do đơn giá tính bằng USD tăng, vừa tăng do tính bằng VND tăng
8 Ngoài ra, cũng cần tính đến sự chuyển động của dòng tiền giữa các kênh đầu
tư Từ quý II/2007, thị trường chứng khoán sau khi lên đỉnh đã đao xuốngmạnh, làm cho một lượng tiền lớn từ kênh này chuyển sang làm cho giá bấtđộng sản bốc lên và giá tiêu dùng tăng cao vào cuối năm 2007, đạt đỉnh điểmvào năm 2008
Giá vàng, giá bất động sản tăng cao vào năm 2009, đầu năm 2010 cũng đã hútmột lượng tiền lớn vào đây, nên CPI cũng tăng chậm lại Từ cuối 2010, chứngkhoán và bất động sản đều giảm, góp phần làm cho sức ép tăng giá tiêu dùngcao lên Sự chuyển động của dòng tiền giữa các kênh cũng góp phần tạo lên sựcộng hưởng và chia sẻ dòng tiền với thị trường tiêu dùng
9.Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá cao nhưng chất lượng thấp Trong giai đoạn
2007 -2009 tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình đạt mức 25 – 30%, đặc biệtnăm 2009 khi Chính phủ thực hiện gói kích cầu trị giá gần 08 tỷ USD để đốiphó với cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ trên thế giới, trong đó nổi bật làchương trình cho vay hỗ trợ lãi suất 4% trị giá 17.000 tỷ VNĐ (01 tỷ USD), thìchỉ riêng gói HTLS này đã đưa hơn 400.000 tỷ VNĐ vào lưu thông.Đầu tư củatoàn xã hội cũng duy trì mức trên 40% GDP trong giai đoạn 2005 – 2009 Mặc
dù có tốc độ tăng trưởng tín dụng và đầu tư toàn xã hội ở mức khá cao so vớinhiều quốc giá khác tuy nhiên tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạnnày chỉ trung bình ở mức 6 – 7%
10.Tình trạng thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại diễn ra trong thời
gian dài:Trong giai đoạn 2005 – 2010 liên tục gia tăng từ mức 7,1 nghìn tỷ
Trang 112005 lên mức 115.900 tỷ đồng năm 2009 và mức 69 nghìn tỷ năm 2010; nhậpsiêu cũng gia tăng mạnh từ mức 4,3 ỷ USD lên mức 12,2 tỷ USD năm 2009 vàước xấp xỉ 12,4 tỷ USD năm 2010 Mới đây nhất, Bộ Công thương cho biếtnhập siêu trong 5 tháng đầu năm 2011 đã lên đến 6,4 tỷ USD Tình trạng nàynếu tiếp tục kéo dài gây khó khăn cho việc hoạch định triển khai chính sách tỷgiá, nỗ lực giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ và quá trình tăng trưởngbền vững của nền kinh tế.
Thời gian tới để giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững, Chính phủ phải giảiquyết tốt tình trạng thâm hụt ngân sách; tăng trưởng tín dụng phải đi kèm chấtlượng đặc biệt trong việc định hướng luồng chảy tính dụng thông qua việc nângcao hệ thống giám sát và quản lý tín dụng; nâng cao hiệu quả đầu tư công củaChính phủ; giảm thâm hụt thương mại thông qua kích thích nhu cầu tiêu thụ từtrong nước, đồng thời mở rộng thị trường kích thích xuất khẩu
Với ưu tiên hàng đầu là chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô thì chính sáchtiền tệ và tài khóa tiếp tục thắt chặt cho đến hết năm 2011 là cần thiết, tuy nhiêncần cân nhắc tới việc đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế, đặc biệt là trong hệthống ngân hàng và các tổ chức tín dụng thông qua việc sử dụng linh hoạt cáccông cụ trên thị trường mở, công cụ triết khấu để giải quyết thiếu hụt tiền mặttạm thời đối với một số ngân hàng, đồng thời cần có biện pháp trung hòa lượngtiền bơm ra này để tránh tình trạng tính dụng tăng nóng trở lại
III/ Giải pháp nhắm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
Lạm phát là hiện tượng vốn có của nền kinh tế sử sụng tiền tệ.Ngày nay không
có một nền kinh tế nào không dùng tiền, và do đó cũng không có một nền kinh
tế nào có thể nói là không có lạm phát Lạm phát trong không ít trường hợp đã
là một biện pháp phát triển kinh tế , làm tăng nhu cầu, thúc đẩy các hướng đầu
tư có lợi Song khi lạm phát vượt quá một giới hạn nhất định, vượt quá mứctăng thu nhập quốc dân thì nó trở thành một căn bệnh gây nhiều tác hại cho sựphát triển kinh tế- xã hội
Trang 12Lạm phát tăng cao và kéo dài sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nềnkinh tế Những tác động chủ yếu bao gồm: Giá cả tăng mạnh sẽ làm tăng chiphí sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp và toàn bộ nền kinh tế Lạm phát cao làm giảm giá trị đồng tiền trongnước Khi các mức giá cả trong tương lai khó dự đoán hơn thì các kế hoạch chitiêu và tiết kiệm hợp lý sẽ trở nên khó thực hiện hơn Người dân ngày càng longại về việc sức mua trong tương lai của họ bị giảm xuống và mức sống của họcũng vì vậy mà kém đi Lạm phát cao khuyến khích các hoạt động đầu tư mangtính đầu cơ trục lợi hơn là đầu tư vào các hoạt động sản xuất Lạm phát cao đặcbiệt ảnh hưởng xấu đến những người có thu nhập không tăng kịp mức tăng củagiá cả, đặc biệt là những người sống bằng thu nhập cố định như là những ngườihưởng lương hưu hay công chức Phúc lợi và mức sống của họ sẽ bị giảm đi.Lạm phát làm khổ toàn dân, nhưng giới lao động bị đe dọa trực tiếp.
Nhiệm vụ trọng tâm trong tình hình lạm phát hiện nay là: Phấn đáu kiềm chếlạm phát , ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bềnvững Trong đó, kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu Bởi lẽ, nếukhông kiềm chế được lạm phát, chẳng những sẽ ảnh hưởng đến phát triển sảnxuất và đời sống của nhân dân, đến ổn định kinh tế vĩ mô mà còn ảnh hưởngđến tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn, việc làm cũng giảm sút, môitrường đầu tư kinh doanh cũng sẽ trở nên xấu hơn
Vì vậy kiểm soát lạm phát là nhiệm vụ hàng đầu của nước ta Nước ta cũng đã
có những biện pháp chủ yêu nhằm giảm thiểu lạm phát:
Chính sách tiền tệ thắt chặt.: Cho dù do nhiều nguyên nhân, nhưng lạm phátluôn có nguyên nhân tiền tệ Mức cung tiền trong lưu thông và dư nợ tín dụngtăng liên tục từ năm 2004 qua các năm và tăng cao trong năm 2007 là nguyênnhân quan trọng gây lạm phát Nhận thức được tình hình đó, Chính phủ chủtrương kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng.Ngân hàng nhà nước, thông qua việc chủ động, linh hoạt sử dụng hợp lý cáccông cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường để thực hiện bằng được
Trang 13yêu cầu này Điều cần nhấn mạnh là trong khi kiên quyết thắt chặt tiền tệ, cầnbảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động của các ngân hàng, tổchức tín dụng, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá và xuất khẩu phát triển Đây là biện pháp thường được áp dụng khi xảy ra lạm phát xuất phát từ nhậnđịnh lạm phát thường xuất hiện khi lượng tiền trong lưu thông tăng, mặc dầuđây không phải là nguyên nhân duy nhất Đây là biện pháp cần thiết và đúngđắn Tuy nhiên, thắt chặt quá mức sẽ hạn chế tăng trưởng (thông qua đó cũng làhạn chế nguồn cung) đồng thời làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh Đến lượt
nó, sẽ đẩy giá thành và giá bán hàng hoá và dịch vụ lên, ảnh hưởng đến tínhcạnh tranh của hàng xuất khẩu; việc làm cũng giảm.Vì vậy cần áp dụng chínhsách thắt chặt tiền tệ nhưng mềm dẻo hơn so với các biện pháp đang áp dụnghiện nay
Ví dụ: mở rộng thời gian mua trái phiếu theo từng đợt với hạn mức được chianhỏ; quy định dự trữ bắt buộc hợp lí để vừa bảo đảm an toàn hệ thống đồngthời nâng cao được khả năng thanh khỏan trong hoạt động ngân hàng
Chính sách tài khóa: Cho dù do nhiều nguyên nhân, nhưng lạm phát luôn có
nguyên nhân tiền tệ Nhận thức được tình hình đó, Chính phủ chủ trương kiểmsoát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng ngay từ đầunăm Ngân hàng nhà nước, thông qua việc chủ động, linh hoạt sử dụng hợp lýcác công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường để thực hiện bằngđược yêu cầu này Điều cần nhấn mạnh là trong khi kiên quyết thắt chặt tiền tệ,cần bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động của các ngân hàng,
tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá và xuất khẩu phát triển Bao gồm hạn chế lưọng tiền trong lưu thông (M2) và hạn chế mức tăng tíndụng Đây là biện pháp thường được áp dụng khi xảy ra lạm phát xuất phát từnhận định lạm phát thường xuất hiện khi lượng tiền trong lưu thông tăng, mặcdầu đây không phải là nguyên nhân duy nhất Ngân hàng Nhà nước cũng đang
áp dụng chính sách này.Việc làm đó là cần thiết và đúng đắn Tuy nhiên, thắtchặt quá mức sẽ hạn chế tăng trưởng (thông qua đó cũng là hạn chế nguồn
Trang 14cung) đồng thời làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh Đến lượt nó, sẽ đẩy giáthành và giá bán hàng hoá và dịch vụ lên, ảnh hưởng đến tính cạnh tranh củahàng xuất khẩu; việc làm cũng giảm.Vì vậy, theo ý chúng tôi, cần áp dụngchính sách thắt chặt tiền tệ nhưng mềm dẻo hơn so với các biện pháp đang ápdụng hiện nay
Ví dụ: mở rộng thời gian mua trái phiếu theo từng đợt với hạn mức được chianhỏ; quy định dự trữ bắt buộc hợp lí để vừa bảo đảm an toàn hệ thống đồngthời nâng cao được khả năng thanh khỏan trong hoạt động ngân hàng
Sử dụng công cụ tỉ giá: Đây là một giải pháp cần được tính đến Tuân thủ
nguyên tắc tỉ giá hối đoái giữa đồng USD và VND phản ánh quan hệ cung cầutrên thị trường ngoại tệ Theo đó, nên điều chỉnh tăng nhẹ VND so với USD.Điều này cũng phù hợp với việc đồng đô la Mỹ liên tục bị giảm giá so với cácđồng tiền khác Tăng nhẹ giá trị VND tuy có ảnh hưởng đến xuất khẩu nhưngkhông quá lớn Bởi lẽ, trừ nông sản và thuỷ sản, hầu hết các mặt hàng xuấtkhẩu khác giá trị nguyên liệu nhập khẩu đã chiếm 60 đến trên 70% Trong điềukiện đồng nhân dân tệ của Trung Quốc và một số đồng tiền các nước ASEANkhác - những đối thủ cạnh tranh xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam - tăng giá sovới đồng đô la Mỹ thì việc tăng nhẹ giá trị VND càng ít bị ảnh hưởng đến tínhcạnh tranh của hàng xuất khẩu nước ta so với các nước này Tăng giá VND sẽlàm giá hàng nhập khẩu giảm, tăng nguồn cung, có tác dụng giảm mức tăng giátrên thị trường nội địa, nhất là trong điều kiện nhập khẩu hiện chiếm tỉ lệ caotrong GDP của nước ta Tăng giá VND cũng góp phần kìm giữ giá luơng thựchiện đang tăng tăng cao và có khả năng còn tiếp tục tăng trước nhu cầu của thịtrường thế giới Trong bối cảnh lạm phát đang thao túng thị trường, để đạt được
và duy trì sự cân bằng cho những yếu tố nêu trên, cần ngay một chính sách vàcông cụ kiểm soát lạm phát mới, được sử dụng trong một thập niên vừa qua tạinhiều nước tiến bộ cũng như đang phát triển hay chậm tiến Chính sách và công
cụ kiểm soát lạm phát mới này được gọi là “xác định hạn mức lạm phát”