5 II.2:Sự thiếu minh bạch trong việc cung cấp điện cho người dân và doanh nghiệp,yếu kém trong điều hành và lựa chọn dự án,đi theo lối mòn tư duy,hệ thống xử lý sự cố chưa thực sự hoạt
Trang 1Mục lục:
I.1:Lượng điện năng tiêu thụ còn cao,ý thức tiết kiệm còn yếu kém
=> “đói điện”,cúp điện thường xuyên,giá điện cao.
5
II.2:Sự thiếu minh bạch trong việc cung cấp điện cho người dân và
doanh nghiệp,yếu kém trong điều hành và lựa chọn dự án,đi theo lối
mòn tư duy,hệ thống xử lý sự cố chưa thực sự hoạt động có hiệu quả
12
II.4:chưa chú trọng tới công tác dự báo nhu cầu tiêu thụ điện 14 II.5:Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện năng quá cao,khai thác không
hợp lý nguồn năng lượng
16
II.6:Chưa có chiến lược đầu tư chuyên nghiệp,chưa chú trọng vào
đầu tư nhiệt điện
17
II.7:thiếu nguồn năng lượng sơ cấp,vốn,chính sách đền bù,giải phóng
mặt bằng và tái định cư còn nhiều bất cập
18
II.8:Ý thức sử dụng điện năng lãng phí,thất thoát điện trong quá
trình truyền tải điện năng,tình trạng ăn cắp điện diễn ra phổ
biến,gian lận trong tiêu thụ điện
18
III.1:Bắt đầu từ doanh nghiệp
III.1.1:Thực hiện tiết kiệm,căt giảm chi phí
III.1.2:Kiên quyết cắt giảm thoái vốn
III.1.3:Đổi mới quản trị doanh nghiệp
20 20 21 22
Trang 2là một loại hàng hoá đặc biệt Quá trình kinh doanh điện năng bao gồm 3 khâu liên hoàn: Sản xuất - Truyền tải - Phân phối điện năng xảy ra đồng thời (ngay tức khắc),
Trang 3từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ không qua một khâu thương mại trung gian nào Điện năng được sản xuất ra khi đủ khả năng tiêu thụ vì đặc điểm của hệ thống điện
là ở bất kỳ thời điểm nào cũng có sự cân bằng giữa công suất phát ra và công suất tiêu thụ (không để tồn đọng)
Thị trường điện lực (TTĐL) được hình thành đầu tiên ở Anh vào thập niên
90 của thế kỷ trước do việc không đảm bảo chất lượng điện năng của ngành điện các nước trên toàn thế giới Điều kiện hình thành TTĐL không những chỉ phụ thuộc vào chính sách về kinh tế, xã hội của Nhà nước mà còn được quyết định bởi điều kiện kỹ thuật, công nghệ của hệ thống điện Có nhiều điểm khác nhau về TTĐL tuy nhiên về cơ bản TTĐL là việc hộ tiêu thụ cuối tiêu thụ điện năng từ các nhà máy sản xuất điện thông qua hệ thống truyền tải điện (được xem như độc quyền tự
nhiên) hình thành nên thị trường điện bán buôn giữa các nhà máy điện và thị
trường điện bán lẻ cho các hộ tiêu thụ điện năng.
Và với thực trạng thiếu điện của ngành điện tại Việt Nam hiện nay,câu hỏi lớn nhất đặt ra cho các chuyên gia đó là nguyên nhân dẫn đến thực trạng ngành điện Việt Nam hiện nay,và làm thế nào để có thể tái cấu trúc tốt nhất ngành điện!!
Chính vì thực tiễn kinh tế.nhóm sinh viên chúng em có đề tài tìm hiểu về:
“Thực trạng nguyên nhân dẫn tới thực trạng và tái cấu trúc ngành điện Việt nam hiện nay”.Tuy ngày 1/10/2011 Chính Phủ Việt Nam đã ra quyết định cho phép nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư vào ngành điện nhưng trên thực tế EVN vẫn có tầm ảnh hưởng khá lớn tới ngành điện Việt Nam.Do vậy,nhóm em đã chủ yếu tìm hiểu về EVN
Trang 4Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn cô giáo-giảng viên Tạ Thị Lệ Yên
đã giao đề tài tiểu luận cho nhóm em và hướng dẫn nhóm em hoàn thành bài tiểu luận
Thực hiện:nhóm 1
I:Thực trạng ngành điện Việt Nam.
Hiện nay đã có những loại năng lượng mới có thể thay thế vai trò của điện trong một số lĩnh vực,nhưng vai trò của điện chúng ta không thể nào phủ nhận.Điện
là nguồn năng lượng được sản xuất nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển thiết yêu của xã hội.Điện vốn là một phần trong cuộc sống sinh hoạt hiện nay của người dân,là một phần nguồn nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành công nghiệp.Điện giúp quá trình nâng cao chất lượng sống sinh hoạt hàng ngày, giúp quá trình sản xuất được diễn ra liên tục và là động lực cho sự phát triển của nhiều ngành khoa học kỹ thuật.Tuy nhiên,việc sử dụng nguồn điện không hợp lý của người tiêu dung điện,khả năng quản lý,quy hoạch và mở rộng ngành điện còn nhiều bất cập khiến
Trang 5cho thực trạng thiếu điện ngày càng gia tăng.sản lượng điện giảm,giá thành tăng nhưng không cải thiện mấy về chất lượng Việc mất điện gây phiền toái cho đời sống hàng ngày của người dân và những hoạt động thương mại và sản xuất của các
xí nghiệp Không có điện không thể bơm nước lên cao cho những người làm việc hay sống ở trong cao ốc sử dụng và làm hư hỏng đồ ăn trong các tủ lạnh Nạn cúp điện liên miên ở Saigon , một trung tâm kinh tế quan trọng của Việt-Nam, gây tai nạn lưu thông và được thông báo là còn kéo dài Thủ đô Hà-Nội cũng sẽ phải
đương đầu với tình trạng này.Không chỉ thiếu điện trong thời gian ngắn mà thiếu điện thường xuyên xảy ra và thời gian kéo dài khiến cho cuộc sống sinh hoat của người dân gặp nhiều khó khăn,quá trình sản xuất bị ngưng trệ,gây tổn thất lớn cho nền kinh tế.Tình trạng “đói điện” và khát đầu tư trở thành căn bệnh không phương cứu chữa
I.1.lượng điện năng tiêu thụ cao, ý thức tiết kiệm điện còn yếu kém.
=>tình trạng “đói điện”,cúp điện thường xuyên,giá điện cao.
Trang 6Biểu đồ 1:Gía điện giai đoạn 2009-2011
Theo những số liệu thống kê thu được thì Việt Nam là quốc gia có số lượng điện năng thiêu thụ trên đầu người lớn chỉ đứng sau Trung Quốc.Nhu cầu điện cho sinh hoạt hàng ngày cũng như các ngành công nghiệp mới đòi hỏi phải sử dụng nhiều điện đang tăng lên từng ngày.Lượng điện năng tiêu thụ trung bình của Việt Nam hiện nay đạt 15% /năm trong khi hệ số tăng trưởng GDP chỉ tăng 7,2% /năm (trong năm 2006)gấp hơn 2 lần,mức sử dụng điện bình quân đầu người của Việt Nam năm 2010 là 981kWh/người,tăng 1,8 lần so với năm 2005.Tổng lượng điện thương phẩm của nước ta đạt khoảng 97 tỷ kWh/năm.(Nguồn:Dự thảo tổng Sơ đồ phát triển Điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn 2030)
Hiện trên cả nước vẫn xảy ra hiện tượng dùng điện lãng phí với đủ cấp độ khác nhau Theo EVN Hà Nội, năm 2011, đã phát hiện có tới 20 đơn vị hành chính sự nghiệp đã có thống kê lượng điện tiêu thụ, phát hiện tăng đột biến so với
Trang 7cùng kỳ 2010 Điển hình như tháng 8.2011, mức tiêu thụ điện năng của các đơn vị này tăng từ 165-190% so với cùng kỳ Qua tiến hành khảo sát, đánh giá mức độ tiêu thụ điện tại một số đợn vị, đoàn kiểm tra liên ngành của Hà Nội đã kết luận, có nhiều nguyên nhân dẫn tới tiêu thụ điện tăng cao tại các đơn vị này, nhưng chủ yếu vẫn là ý thức sử dụng điện tiết kiệm còn yếu kém.
Ví dụ:Chỉ cần vào một cơ quan, công sở ở Hà Nội, tình trạng đi ra khỏi phòng vẫn để máy tính, điều hòa, bóng điện vào buổi trưa vẫn thường xuyên diễn
ra “Trong khi khu vực sản xuất đổ lỗi cho việc thay đổi công nghệ sẽ rất tốn kém thì khu vực sinh hoạt lại xảy ra tình trạng ý thức kém Việc dùng điện ở cơ quan công sở do quan niệm “dùng của chùa” nên “cha chung không ai khóc” dẫn tới lãng phí điện”
Theo TS Vũ Minh Mão - Chủ tịch Hội Chiếu sáng Việt Nam, hiện nay, mỗi năm ở nước ta điện chiếu sáng chiếm khoảng 25% tổng sản lượng điện thương phẩm, trong khi con số này ở các nước trên thế giới chỉ từ 16-17% Do đó, vẫn còn nhiều tiềm năng để tiết kiệm điện từ hệ thống điện chiếu sáng bằng việc thay đổi công nghệ lạc hậu
I.2 Thực trang trong sản xuất và phân phối điện năng
Về nguồn điện: Hiện tại, tổng công suất lắp đặt của các nhà máy điện bao gồm thủy điện, nhiệt điện, tuabin khí, diesel là 8.749 MW với công suất khả dụng 8.454 MW tập trung chủ yếu vào các nhà máy thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN), các nhà máy điện độc lập chỉ chiếm khoảng từ 3-5% tổng công suất
Về lưới điện: EVN đã tập trung nhiều vào việc cải tạo nâng cấp hệ thống lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối bằng rất nhiều nguồn vốn khác nhau, đặc biệt là các nguồn vốn vay từ các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thế giới (WB),
Trang 8Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), SIDA (Thuỵ Điển),… Hiện tại lưới điện
truyền tải cao áp toàn quốc bao gồm (1531 km đường dây, 2700 Trạm biến áp
(TBA) 500KV; 3839 km đường dây, 8474 TBA 220KV; 7703 km đường dây, 11004 TBA 110KV) do 4 Công ty Truyền tải điện quản lý vận hành Tuy nhiên, mặt kỹ thuật thì tính liên kết của hệ thống lưới điện truyền tải chưa cao, khi một phần tử bị
sự cố sẽ ảnh hưởng chung tới toàn bộ hệ thống lưới điện Đối với lưới điện phân phối, do 7 công ty điện lực trực thuộc EVN quản lý trực tiếp bán điện đến các hộ phụ tải.(Nguồn báo lao động ra ngày 22/11/2011)
I.3 Thực trạng trong phương thức tổ chức kinh doanh điện năng
Mô hình quản lý sản xuất kinh doanh của EVN vẫn đang thực hiện theo mô hình Nhà nước độc quyền quản lý tất cả các khâu của quá trình: Sản xuất - Truyền tải - Phân phối điện năng Mô hình này đã dẫn đến nhiều hạn chế về quản lý cũng như hiệu quả đầu tư, không thúc đẩy sự phát triển sản xuất kinh doanh điện năng
Giá bán điện cho từng loại khách hàng được tính trên cơ sở chi phí cận biên dài hạn và do Chính phủ quy định áp dụng thống nhất trong cả nước Giá bán điện vẫn còn mang nặng tính “bù chéo” giữa các nhóm khách hàng
Hoạt động kinh doanh điện năng hiện nay vẫn chưa tách bạch rõ ràng chức năng kinh doanh và hoạt động công ích của các công ty phân phối điện,còn nhiều bất cập gây hoang mang và mất lòng tin đối với người tiêu dùng
=>vậy yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải làm gì để tái cấu trúc ngành điện Việt Nam
II:Nguyên nhân.
Trang 9Đĩnh nghĩa “tái cấu trúc”:Tái cấu trúc là quá trình tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp nhằm tạo ra một thể trạng tốt hơn giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả dựa trên những nền tảng sứ mệnh, tầm nhìn và phù hợp với môi trường kinh doanh hiện tại.Đối với ngành điện Việt Nam tái cấu trúc đơn giản là tạo ra một thị
trường điệnđáp ứng đủ nhu cầu điện của người dân với mức giá thành hợp lí
Trong các hội nghị trong nước và quốc tế, Việt Nam đang được coi là lá cờ đầu của các nước đang phát triển trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh và phát triển xã hội Đằng sau những ánh hào quang của tấm huy chương, có rất nhiều vấn đề kinh tế, xã hội đã và đang nảy sinh Nếu không có sự "phẫu thuật thành công" các khối u đó sớm muộn sẽ trở thành ác tính dẫn đến nhiều di căn nguy hiểm khác
Hình ảnh các doanh nghiệp và người dân Việt Nam chống chọi với việc cắt điện luân phiên và triền miên trong cả 3 miền Bắc Trung Nam, từ thành thị đến nông thôn, đã miêu tả bức tranh rất xấu về ngành điện trong người dân Việt Nam nói chung và các nhà đầu tư trong nước cũng như quốc tế nói riêng Vậy các
nguyên nhân nào đã dẫn đến việc thiếu điện ở Việt Nam trong thời gian dài như vậy?
Ngành điện là ngành công nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư lớn,chi phí cho cơ sở hạ tầng cao,quá trình thực hiện đầu tư thu hồi vốn chậm và đòi hỏi cần có kế hoạch chuẩn bị trước đó nhiều năm cho từng giai đoạn phát triển của ngành.Khi tìm hiểu
về đối tượng ngành điện của Việt Nam có rất nhiều nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu tới ngành công nghiệp này,nó làm cho tình trạng thiếu điên không có xu hướng giảm mà còn ngày càng tăng,không những thế còn kìm hãm sự phát triển cả về số lượng và chất lượng đầu ra của ngành điện.Chính vì vậy khi đi tìm hiểu về thực
Trang 10trạng ngành điện Việt Nam nhóm chúng em đã rút ra được một vài nguyên nhân cơ bản như sau.
II.1:Độc quyền “tự nhiên” và hệ lụy.
Ngược dòng lịch sử ngành điện về những năm 80 đầu những năm 90 thế kỷ trước, khi nền kinh tế Việt Nam còn mang tính kế hoạch nhà nước tập trung và bước những bước đi đầu tiên sang kinh tế thị trường
Trong những năm đó quy mô ngành điện Việt Nam mới chỉ mang tính nhỏ lẻ
và điện mới chỉ cung cấp được đến các trung tâm tỉnh và các thành phố lớn Với sự
ra đời của nhà máy thủy điện (NMTĐ) Hòa Bình, Trị An, Phả Lại hầu hết là do Liên Xô cũ viện trợ và sự hình thành cơ quan tập trung điều hành và phát triển ngành điện là Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) đã là bước nhảy vọt về cơ chế để điều hành và phát triển ngành điện Việt Nam
Khi đó sự ra đời của huyết mạch 500kV xương sống Bắc Nam, các cải tổ về mặt tổ chức trong điều hành ngành điện như thành lập Trung tâm điều độ Quốc gia
và Điều độ miền đã đem lại đột phá quan trọng cho việc điều hành cung cấp điện cho toàn quốc
Trải qua hơn 15 năm phát triển EVN (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam)
đã có bước phát triển đáng kể so với ngày đầu thành lập Tuy nhiên sau 15 năm phát triển và thiếu sự cải tổ về cơ chế, chính cơ chế tập trung điều hành cả ngành điện Việt Nam ở EVN đang lại là những cản trở lớn thách thức sự phát triển theo nhịp nhu cầu phát triển của xã hội
Trang 11-Cơ chế độc quyền "tự nhiên" gói cả 3 khâu: phát điện, truyền tải và phân phối trong 1 công ty mẹ là EVN đã che đậy những "vết ung thư" đang nhức nhối trong bản thân ngành điện.
-Với cơ chế tập trung, ban đầu EVN có thể dễ dàng huy động được nguồn lực để phát triển các công trình trọng điểm Nhưng cũng chính vì thế đã tạo cho việc đầu tư mất cân đối của ngành điện trong từng vùng miền và trong cả 3 khâu: phát điện, truyền tải và phân phối
-Chính phủ Việt Nam khi thấy khả năng không thể tự đáp ứng cung cấp điện
từ phía EVN cho nền kinh tế quốc dân đã cho phép nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành điện Và chính cái cơ chế độc quyền "tự nhiên" của EVN đã là bước cản trở lớn cho các nhà đầu tư bên ngoài EVN phát triển nguồn điện
Biểu đồ 2:tỉ trọng cơ cấu nguồn điện các đơn vị (MW)
Trang 12Ví dụ:Bức tranh đầu tư mất cân đối của EVN trong những năm qua có thể minh họa thêm bằng sự ra đời rất nhanh trung tâm nhiệt điện rất lớn ở Phú Mỹ (gần 4.000MW) trong giai đoạn 1998-2003 trong khi miền Bắc chẳng có thêm nguồn điện nào trong thời gian dài sau khi NMNĐ Phả Lại 2 vào vận hành.Thế nên mới
có việc trong thời gian kỷ lục 2 năm, EVN đã phải gấp rút hoàn thành đường dây 500kV mạch 2 để tải điện từ Nam ra Bắc, trong khi nếu đầu tư phát triển hài hòa thì
có thể tránh khỏi việc đầu tư tập trung quá nhiều vào lưới truyền tải lớn trong giai đoạn 2003-2006 như đã làm Do nguồn lực hạn chế nên việc huy động tài chính vào đầu tư nguồn điện trong giai đoạn này đã bị sao nhãng dẫn đến hệ quả thiếu điện sau 4-5 năm như một trong các yếu tố tất yếu
II.2: Sự thiếu minh bạch trong việc cung cấp điện cho người dân và doanh nghiệp,yếu kém trong điều hành và lựa chọn dự án, đi theo lối mòn tư duy hệ thống xử lý sự cố chưa thực sự hoạt động có hiệu quả
-Hiện nay đã hình thành các tổng công ty phân phối và truyền tải nhưng về
sơ đồ công nghệ, EVN vẫn là người điều phối các hoạt động phát dẫn điện trong hệ thống thông qua các trung tâm điều độ Mô hình công nghệ từ những năm 90 đã không theo kịp yêu cầu phát triển của hệ thống điện Việt Nam
-Cho đến nay, EVN đang điều hành hệ thống điện Việt Nam đi theo tư duy lối mòn được thành lập và duy trì từ giữa những năm 90 thế kỷ trước Đó là việc trông đợi quá nhiều khả năng đáp ứng của các NMTĐ ở miền Bắc và miền Trung
-Việc điều hành hệ thống và xử lý sự cố thường diễn ra rất chậm, không đủ nguồn lực và động lực giúp người điều hành hệ thống tối ưu hóa các chế độ làm việc và giảm tổn thất truyền tải và tổn thất không tải của hệ thống khi có thể
Ví dụ:Trung tâm điều độ hệ thống điện Quốc gia cùng với 3 trung tâm Điều
độ miền ra đời từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước.Lúc đó hệ thống điện còn
Trang 13nhỏ bé với với hơn chục nhà máy điện và vài chục trạm 220Kv,110kV việc điều hành chủ yếu thông qua hình thức điện thoại và hình thức điện thoại trục thông là chủ yếu.Hiện nay, quy mộ hệ thống điện đã thay đổi với hàng chục nhà máy, hàng trăm tổ máy, hàng trăm trạm 220kV và 110kV Tuy nhiên,trên thực tế việc điều hành vẫn diễn ra theo kiểu "alo" Hàng chục tỷ đồng được đầu tư cho các hệ thống điều khiển tự động bằng máy tính hiện đại trong các trung tâm điều độ và các trạm biến áp vẫn chưa được khai thác hết các tính năng.
-Yếu kém trong điều hành và lựa chọn dự án: Thủ tục đầu tư quá chậm: Nhiều dự án phải kéo dài nhiều năm mới duyệt được dự án đầu tư Ví dụ như Nhà máy Thuỷ điện Sơn La phải mất tới 3 nhiệm kỳ Quốc hội mới duyệt được, mà cũng chỉ là duyệt phương án thấp (2.400MW) thay vì Chính phủ trình phương án cao (4.200MW) Sự đồng thuận của các Bộ ngành để phê duyệt được dự án đầu tư hiếm khi có ngay được làm cho việc đầu tư dự án kém hiệu quả, đặc biệt trong điều kiện
có sự biến động lớn của giá cả vật tư thị trường thế giới như hiện nay
Ví dụ:Kỷ lục 2 năm, EVN đã phải gấp rút hoàn thành đường dây 500kV mạch 2 để tải điện từ Nam ra Bắc, trong khi nếu đầu tư phát triển hài hòa thì có thể tránh khỏi việc đầu tư tập trung quá nhiều vào lưới truyền tải lớn trong giai đoạn 2003-2006 như đã làm
Do nguồn lực hạn chế nên việc huy động tài chính vào đầu tư nguồn điện trong giai đoạn này đã bị sao nhãng dẫn đến hệ quả thiếu điện sau 4-5 năm như một trong các yếu tố tất yếu
-nhiều bất cập trong khâu mua bán điện,làm cho thị trường điện không cạnh tranh khó thu hút đầu tư
Ví dụ: Nhưng khi bạn chỉ cần đánh tiếng thuê các đơn vị môi giới, công việc
Trang 14của 1 doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Hà Nội Tự nhiên vào một ngày đẹp trời, công tơ và aptomat trong hòm điện của ngành điện trục trặc liên tục, dẫn đến dây chuyền sản xuất của công ty phải ngừng lại Nhưng chỉ khi có tiền lót tay cho các cán bộ ngành điện thì vấn đề của bạn được giải quyết triệt để.
II.3:năng lực tư vấn và năng lực nhà thầu còn non kém
- Năng lực tư vấn thiếu và yếu: Cho tới nay ở Việt Nam chỉ có 4 công
ty tư vấn có chức năng và được giao nhiệm vụ làm tư vấn cho cả nguồn và lưới điện Nhiều dự án do việc khảo sát không chu đáo đã làm chất lượng dự án kém, phải chỉnh sửa nhiều trong quá trình thi công gây mất thời gian và lãng phí tiền của của nhà nước
Năng lực nhà thầu kém: Thiếu dụng cụ thi công, năng lực quản lý kém lại thi công dàn trải nhiều công trình Đây là một vấn đề hết sức lo ngại để thực hiện TSĐ VI vì xét cho cùng, cho tới nay chúng ta mới chỉ thi công được một khối lượng 40 nghìn tỷ đồng/ năm trong lúc TSĐ VI đòi hỏi 100 nghìn tỷ đồng/ năm Các tổng thầu xây dựng được quyết định theo các cơ chế đặc biệt của Chính phủ (Văn bản 797, 400 hay Quyết định 1195) cũng chỉ có ngần ấy phương tiện nên dù
có vốn thì khả năng thực hiện dự án cũng không thể hoàn thành đúng tiến độ Khả năng quản lý dự án kém cũng gặp khó khăn trong việc xét chọn nhà thầu cung cấp vật tư thiết bị công trình, và có thể nói không chọn được thiết bị tốt nên dù lắp đặt xong nhưng quá trình chạy thử và chạy thương mại đã bộc lộ nhiều hỏng hóc phải dừng máy để sửa chữa hoặc thay thế
II.4:Chưa chú trọng tới công tác dự báo nhu cầu tiêu thụ điện.