Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người
Trang 1MỤC LỤC
đề……… 1
B Nội dung……….2
I Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm và các chủ thể liên quan……… 2
1 Hợp đồng bảo hiểm………2
2 Một số khái niệm………2
a Bên mua bảo hiểm……… 2
b Người được bảo hiểm……….2
c Người thụ hưởng………2
3 Quyền lợi có thể được bảo hiểm ……… 3
II Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể……….3
1 Mối quan hệ giữa chủ thể của hợp đồng bảo hiểm và chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm……… 4
a Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm………4
b Chủ thể của quan hệ về nghĩa vụ bảo hiểm……… 5
2 Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể: bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng………
5 3 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm………6
a Bên mua bảo hiểm đồng thời là bên được bảo hiểm hoặc là người thụ hưởng……… 7
b Bên mua bảo hiểm không đồng thời là bên được bảo hiểm hoặc là người thụ hưởng……… 8
III Trường hợp người thụ hưởng không được nhận tiền bảo hiểm……… 8
Trang 2IV Những bất cập của pháp luật hiện hành điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm con người……… 10
C Kết luận………13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 14
A Đặt vấn đề.
Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm là một nội dung cơ bản, quan trọng và không thể thiếu Có lẽ vì thế mà trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Luật KDBH), đã quy định về Hợp đồng bảo hiểm ở ngay chương II của luật sau phần những quy định chung Trong bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) cũng đã có một mục quy định về Hợp đồng bảo hiểm và coi đây là một loại hợp đồng thông dụng
Trong hợp đồng bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm chấp nhận đóng cho bên nhận bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm, bên nhận bảo hiểm chấp nhận các rủi ro mà bên tham gia bảo hiểm gặp phải trong thời hạn còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm Vì vậy, khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, các bên hướng tới một quan hệ bảo hiểm sẽ hình thành giữa bên nhận bảo hiểm với bên mua bảo hiểm Tuy nhiên, không phải trong tất cả các trường hợp, bên mua bảo hiểm chính là người được bảo hiểm hay người thụ hưởng Chính vì vậy,
em xin đi vào vấn đề: “Phân tích mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể: bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng Trong trường hợp nào thì người thụ hưởng không được nhận tiền bảo hiểm”.
Trang 3B Nội dung.
I Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm và các chủ thể liên quan.
1 Hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Trong 1 Hợp đồng bảo hiểm cần nhắc tới 4 chủ thể chính là: Doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), Bên mua bảo hiểm (BMBH), Người được bảo hiểm (NĐBH) người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng (NTH) và cuối cùng đó chính là người thụ hưởng (NTH)
2 Một số khái niệm.
a Bên mua bảo hiểm.
Bên mua bảo hiểm: là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng
b Người được bảo hiểm.
Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng
Khi rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm xảy ra đối với người này sẽ làm phát sinh trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Người được
Trang 4bảo hiểm có thể đồng thời là bên mua bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm không phải là bên mua bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm phải có Quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với người được bảo hiểm
c Người thụ hưởng.
Người thụ hưởng: là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định
để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người
Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, không nhất thiết phải quy định rõ người thụ hưởng Nếu trong hợp đồng không thỏa thuận về người thụ hưởng,
số tiền bảo hiểm được trả là tài sản của bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm (tùy quy định của từng doanh nghiệp bảo hiểm)
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm có thể thay đổi người thụ hưởng nhưng phải được sự đồng ý của người được bảo hiểm bằng văn bản
3 Quyền lợi có thể được bảo hiểm
Là mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, trong
đó sự rủi ro của người được bảo hiểm sẽ gây tổn thất về tài chính hoặc tinh thần cho bên mua bảo hiểm
Bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể bảo hiểm đối với những người sau đây:
Bản thân bên mua bảo hiểm;
Vợ, chồng, con, cha, mẹ hợp pháp của bên mua bảo hiểm;
Anh chị em ruột, người có quan hệ nuôi dưỡng/giám hộ hợp pháp;
Cháu trực hệ của bên mua bảo hiểm;
Người khác nếu bên mua bảo hiểm phải chịu một tổn thất tài chính thật sự khi người được bảo hiểm chết
II Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể.
Trang 5Qua những khái niệm trên mình có thể phân tích được mối quan hệ giữa Doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng, các chủ thể này có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau
1 Mối quan hệ giữa chủ thể của hợp đồng bảo hiểm và chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm.
Thông thường, chủ thể của một hợp đồng dân sự cũng chính là chủ thể của quan hệ nghĩa phát sinh từ hợp đồng Tuy nhiên, đó chỉ là trong những trường hợp người tham gia hợp đồng cũng chính là người có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mà họ đã tham gia Đối với các hợp đồng mà người được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng (các hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba), thì chủ thể của hợp đồng không đồng nghĩa với chủ thể của quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó
Với tư cách là một hợp đồng dân sự, hợp đồng bảo hiểm cũng nằm trong tình trạng đó, do đó, xem xét mối liên hệ giữa chủ thể của hợp đồng bảo hiểm với chủ thể của quan hệ về nghĩa vụ bảo hiểm cũng vì lí do trên
a Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm (là các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm) bao gồm:
- Bên bảo hiểm (còn gọi là bên nhận bảo hiểm hoặc bên bán bảo hiểm):
là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và cam kết nhận rủi
ro bảo hiểm về phía mình Do nghĩa vụ của bên nhận bảo hiểm rất lớn khi xảy
ra các sự kiện bảo hiểm, nên bên nhận bảo hiểm phải là các tổ chức có cơ cấu chặt chẽ và nguồn vốn lớn mạnh mới có thể đảm nhận được nghĩa vụ bồi thường Chính vì vậy, pháp luật về bảo hiểm quy định bên nhận bảo hiểm phải
là các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bảo hiểm
- Bên tham gia bảo hiểm (còn gọi là bên mua bảo hiểm) là bên đã nộp cho bên nhận một khoản tiền là phí bảo hiểm khi kí kết hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm Khác với bên nhận bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm là cá
Trang 6nhân, tổ chức bất kỳ Tuy nhiên, các chủ thể này phải có đủ năng lực chủ thể và
có mối quan hệ nhất định đối với đối tượng được bảo hiểm
b Chủ thể của quan hệ về nghĩa vụ bảo hiểm.
Là những người có quyền, nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm Quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm là quan hệ giữa một bên có nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại với một bên được thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Vì vậy, chủ thể của quan hệ nghĩa vụ về bảo hiểm bao gồm:
- Bên có nghĩa vụ: là doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận phí bảo hiểm từ người tham gia bảo hiểm, hay nói một cách cụ thể, thì bên có nghĩa vụ chính là bên nhận bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm làm hình thành quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm
- Bên được bảo hiểm: là bên thụ hưởng một khoản tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường thiệt hại hoặc được bên bảo hiểm đảm nhiệm thay một trách nhiệm dân sự khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Ngoài ra, bên được bảo hiểm còn được xác định cụ thể hơn thông qua hai thuật ngữ: người được bảo hiểm và người được hưởng bồi thường Trong
đó, người được bảo hiểm có thể đồng thời là người được bồi thường, nhưng có thể không đồng thời là người được hưởng bồi thường
2 Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể: bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng
Mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến hợp đồng bảo hiểm được xác định cụ thể trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, trong các hợp đồng bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm
trong hợp đồng đó hướng tới việc bảo hiểm cho chính mình (như bảo hiểm cho
Trang 7sức khỏe, tài sản…), thì bên được bảo hiểm trong quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm chính là người đã tham gia bảo hiểm
Thứ hai, trong các hợp đồng bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm
hướng tới việc bảo hiểm cho sức khỏe của người khác (như cha, mẹ tham gia hợp đồng bảo hiểm an sinh cho con), thì bên được bảo hiểm là người thứ ba được thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm (con của người tham gia bảo hiểm)
Thứ ba, trong các hợp đồng bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm
hướng tới bảo hiểm tính mạng cho chính mình trong trường hợp chết, thì bên được bảo hiểm là những người thứ ba thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm (có thể là người được chỉ định trong hợp đồng bảo hiểm hoặc là người thừa kế của người tham gia bảo hiểm)
Từ việc xác định về chủ thể của hợp đồng bảo hiểm, chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm, thì:
- trường hợp thứ nhất, chủ thể của hợp đồng bảo hiểm đồng thời với chủ thể của quan hệ bảo hiểm
- Hai trường hợp còn lại chủ thể của hợp đồng bảo hiểm không đồng nhất với chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm Trong đó, người thứ ba ở trường hợp thứ hai và thứ ba được gọi là người thụ hưởng
3 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm
Mặc dù các bên trong giao kết hợp đồng bảo hiểm chỉ bao gồm hai bên
là bên bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm nhưng người tham gia bảo hiểm có thể với mục đích là bảo hiểm cho tài sản hay sức khỏe của chính mình, có thể với mục đích là bảo hiểm cho tính mạng, sức khỏe của người khác hoặc bảo hiểm trách nhiệm dân sự của mình đối với người thứ ba
Vì vậy mà các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm có thể là ba bên Do đó, quyền và nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng bảo hiểm được xem xét theo các bên sau đây
Trang 8Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời hoặc không đồng thời là bên được bảo hiểm, hoặc bên được bảo hiểm nhưng không đồng thời là người thụ hưởng hay không phải là bên được bảo hiểm nhưng là người thụ hưởng Vì vậy, khi xem xét quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm cần lưu ý đến các trường hợp đó
a Bên mua bảo hiểm đồng thời là bên được bảo hiểm hoặc là người thụ hưởng
Về cơ bản, bên mua bảo hiểm đồng thời là bên được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
Về quyền:
- Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm để mua bảo hiểm
- Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm
- Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm
- Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm
- Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm
- Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm
- Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại
Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm
Vì vậy, trong trường hợp người tham gia bảo hiểm cũng là người được bảo hiểm và người thụ hưởng (trong hợp đồng bảo hiểm con người mà không tham gia bảo hiểm để bảo hiểm cho chính mình và không chỉ định người khác làm người thụ hưởng) thì người tham gia bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp phải trả tiền bảo hiểm cho chính mình khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Nếu
Trang 9doanh nghiệp bảo hiểm chậm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại so với thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc pháp luật đã quy định, thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tại thời điểm trả tiền bảo hiểm tương ứng với thời gian chậm trả
b Bên mua bảo hiểm không đồng thời là bên được bảo hiểm hoặc là người thụ hưởng.
Trong trường hợp người tham gia bảo hiểm không đồng thời là người thụ hưởng hoặc không đồng thời là bên được bảo hiểm thì họ vẫn có quyền yêu cầu bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm
Về nghĩa vụ
- Đóng phí bảo hiểm theo đúng thỏa thuận
- Cung cấp cho bên bảo hiểm các thông tin liên quan đến đối tượng được bảo hiểm
- Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm
- Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất
- Chuyển yêu cầu bồi hoàn
III Trường hợp người thụ hưởng không được nhận tiền bảo hiểm.
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được coi là phần loại trừ trong một hợp đồng bảo hiểm, trong đó, liệt kê các trường hợp bên bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Vì vậy, trong các trường hợp sau thì người thụ hưởng không được nhận tiền bảo hiểm
Thứ nhất, trường hợp người được bảo hiểm bị chết do hành vi cố ý của
người mua bảo hiểm và/hoặc người thụ hưởng hay do hành động tự tử của
Trang 10người được bảo hiểm trong một giai đoạn nhất định, thường là hai năm kể từ ngày phát hành hợp đồng (đây là thời gian đủ để ngăn chặn trường hợp mua bảo hiểm với mục đích trục lợi bảo hiểm cùng với việc tự tử)
Thứ hai, doanh nghiệp bảo hiểm có thể từ chối trả tiền bảo hiểm trong
những trường hợp đi ngược lại với đạo lý xã hội, nhằm đảm bảo các giá trị nhân văn, bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp của con người
Thứ ba, doanh nghiệp bảo hiểm có thể từ chối trả tiền bảo hiểm trong
những trường hợp có thảm hoạ, có thể gây tổn thất trên diện rộng và làm mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm
Ngoài những phạm vi loại trừ như trên, các doanh nghiệp bảo hiểm còn
có thể áp dụng điều khoản loại trừ đối với các trường hợp như: chiến tranh, nội chiến, bạo động, nổi loạn, các hoạt động thể thao nguy hiểm, ảnh hưởng của rượu, bia, ma tuý, các sở thích nguy hiểm, bệnh tật, tàn tật có sẵn…
Theo Điều 16 - LKDBH: “1 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
quy định trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện được bảo hiểm; 2 Điều khoản này phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng; Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây: a) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý;
b) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện được bảo hiểm”.
Tuy nhiên quy định nói trên là chưa phù hợp, bởi nó chỉ giới hạn đối với đối tượng là “người mua bảo hiểm”- điều này chỉ có thể đúng đối với loại hình bảo hiểm tài sản hay bảo hiểm trách nhiệm dân sự còn đối với bảo hiểm con người thì đối tượng là “người được bảo hiểm” hay “người thụ hưởng” chưa được điều luật này đề cập đến Vì trong rất nhiều hợp đồng bảo hiểm con
Trang 11người, người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng không trùng là một
Riêng đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, khoản 1 Điều 39 - LKDBH quy định về các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không trả tiền bảo hiểm như sau:
“a) Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 2 (hai) năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng tiếp tục có hiệu lực;
b) Người được bảo hiểm chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do lỗi
cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng;
c) Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình.”
IV Những bất cập của pháp luật hiện hành điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm con người.
Hiện nay, những quy định về HĐBH con người được ghi nhận trong BLDS và LKDBH Trên cơ sở các văn bản luật này, cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành như Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01/8/2001 quy định chi tiết thi hành một số điều của LKDBH, Thông tư 98/2004/TT-BTC ngày 19/10/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 42/2001/NĐ-CP Trong các văn bản này, chỉ riêng các văn bản luật, đặc biệt là LKDBH còn khá nhiều bất cập Sau đây là một số bất cập cơ bản liên quan trực tiếp đến HĐBH con người sau đây:
Thứ nhất, giữa BLDS và LKDBH không thống nhất trong quy định trả
tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm chết
Trong BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005, hợp đồng bảo hiểm cũng được quy định như là một loại hợp đồng thông dụng Tuy nhiên, trong những quy định về hợp đồng bảo hiểm của BLDS không có quy định về người thụ hưởng mà chỉ có quy định về người được bảo hiểm, nhưng khái niệm về người