Ngày nay BHXH đã trở thành một công cụ hữu hiệu, mang tính nhân văn sâu sắc để giúp con ngời vợt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh trong cuộc sống và trong quá trình lao động nh bị ốm
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới BHXH đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm Ngày nay BHXH đã trở thành một công cụ hữu hiệu, mang tính nhân văn sâu sắc để giúp con ngời vợt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh trong cuộc sống và trong quá trình lao động nh bị ốm đau, chăm sóc y tế, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, mất khả năng lao động, già cả hoặc bị chết, bằng việc lập các quỹ BHXH từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và Nhà nớc để trợ giúp cho họ khi gặp các rủi ro trên Vì thế BHXH là nền tảng cơ bản cho hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, và đợc thực hiện ở hầu hết các nớc trên thế giới
Năm 1995 Chớnh phủ ban hành Nghị định 12/CP cựng với việc thành lập
cơ quan chuyờn trỏch về lĩnh vực BHXH là BHXH Việt Nam, quỹ BHXH cũng được tỏch ra khỏi Ngõn sỏch Nhà nước, trở thành quỹ tài chớnh tập trung, hạch toỏn độc lập và được quản lý thống nhất
Qua 12 năm thực hiện BHXH trờn cả nước đó từng bước phỏt triển, hoàn thiện; đặc biệt trong cụng tỏc thu, chi và quản lý quỹ, giải quyết cỏc chế độ chớnh sỏch cho đối tượng tham gia BHXH ngày một đi vào nề nếp, gúp phần
ổn định đời sống cho người hưởng BHXH Việc thu quỹ Bảo hiểm xó hội là trọng tõm hàng đầu, quyết định sự tồn tại và phỏt triển của sự nghiệp BHXH Trờn thực tế thu và chi BHXH là thỏch thức khụng nhỏ đối với cỏc cơ quan BHXH Thường xuyờn xảy ra tỡnh trạng nợ đọng quỹ BHXH của cỏc doanh nghiệp đặc biệt là cỏc doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trốn đúng hoặc khụng đúng đầy đủ số lượng và quỹ tiền lương của đơn vị, khai bỏo thiếu chớnh xỏc
Sau gần 10 năm thực hiện chỉ thị 15/CT-TW ngày 26/5/1997 của Bộ chớnh trị, được sự chỉ đạo của cỏc cấp ủy Đảng, chớnh quyền, hệ thống BHXH
Trang 2đó nhanh chúng xõy dựng bộ mỏy, thực hiện đỳng chế độ, chớnh sỏch, dần từng bước hội nhập với những thụng lệ và nguyờn tắc cơ bản của hệ thống BHXH thế giới Cụng tỏc chi trả và giải quyết cỏc chế độ, chớnh sỏch cho người lao động đi vào nề nếp và kịp thời đỏp ứng cỏc quyền lợi cho người lao động Đặc biệt, cụng tỏc chi trả cỏc chế độ BHXH ngắn hạn cú tỏc động rất rừ ràng và mạnh mẽ tới người lao động Tuy nhiờn cũng khụng thể bỏ qua những bất cập trong thực tiễn bởi cơ chế thị trường cũn mới mẻ, cỏc chớnh sỏch BHXH cũn nhiều vấn đề chưa hợp lý, mà lực lượng lao động lại cú những thay đổi thường xuyờn và rất phức tạp.
Tất cả đều ảnh hưởng đến quỏ trỡnh thu và chi quỹ BHXH và cản trở việc thực hiện cỏc chế độ BHXH đối với người lao động Từ những vấn đề nờu trờn, trong quỏ trỡnh thực tập tốt nghiệp tại cơ quan BHXH tỉnh Hà Nam
em đó chọn đề tài “ Thực trạng cụng tỏc thu chi BHXH của BHXH Hà Nam trong giai đoạn 2003 – 2007” để nghiờn cứu Mục đích của chuyên đề là xem xét đánh giá công tác thu, chi quỹ BHXH ở cơ quan BHXH tỉnh Hà Nam từ đó
đa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu, chi tại BHXH tỉnh trong thời gian tới
Đề tài được hoàn thiện với sự giỳp đỡ tận tỡnh của cụ Tụn Thị Thanh Huyền cựng với cỏc anh chi trong cơ quan BHXH tỉnh Hà Nam Do trỡnh độ cũn hạn chế khụng chỏnh khỏi những thiếu sút, rất mong được sự gúp ý của cỏc thầy cụ và cỏc bạn
Trang 3CHƯƠNG I:Lí THUYẾT CƠ BẢN VỀ BHXH VÀ THU-CHI BHXH I.Bản chất và chức năng của BHXH
1.Bản chất của BHXH
Con ngời muốn tồn tại và phát triển trớc hết phải ăn, mặc, ở và đi lại …
Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, ngời ta phải lao động để làm ra những sản phẩm cần thiết Khi sản phẩm đợc tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con ngời ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Nh vậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con ng-
ời phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ Nhng trong thực tế, không phải lúc nào con ngời cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thờng Trái lại, có rất nhiều trờng hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho ngời ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng
tự phục vụ bị suy giảm v.v…Khi rơi vào những trờng hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới nh: Cần đợc khám chữa bệnh
và điều trị khi ốm đau; tai nạn thơng tật nặng cần phải có ngời chăm sóc nuôi dỡng v.v…Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con ngời và xã hội loài ngời phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau nh: San
sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng; đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nớc v.v…Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mớn nhân công trở nên phổ biến thì mối quan hệ kinh tế giữa ngời lao động làm thuê và giới chủ cũng trở lên phức tạp.Ban đầu ngời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhng về sau
đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho ngời làm thuê có một số thu nhập nhất
định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai
Trang 4nạn, thai sản v.v…Trong thực tế, nhiều khi các trờng hợp trên không xảy ra và ngời chủ không phải chi ra một đồng nào Nhng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn Vì thế, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế – xã hội Do vậy, Nhà nớc đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làm tăng đợc vai trò của Nhà nớc, mặt khác buộc cả giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất
định hàng tháng đợc tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra
đối với ngời làm thuê Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Quỹ này còn đợc bổ sung từ ngân sách Nhà nớc khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải, cuộc sống của ngời lao động và gia
đình họ ngày càng đợc đảm bảo ổn định Giới chủ cũng có lợi và đợc bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thờng, tránh đợc những xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo.Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên đợc thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội đối với ngời lao động Nh vậy, BHXH
là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với ngời lao động khi họ gặp những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Bản chất của BHXH đợc thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trờng, mối quan
hệ thuê mớn lao động phát triển đến mức độ nào đó Kinh tế càng phát triển
Trang 5thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vợt quá trạng thái kinh tế của mỗi nớc
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao
động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH (bên nhận nhiệm
vụ BHXH) thông thờng là cơ quan chuyên trách do Nhà nớc lập ra và bảo trợ Bên đợc BHXH là ngời lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con ngời nh ốm đau, TNLĐ - BNN…Hoặc cũng có thể là những trờng hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên nh: tuổi già, thai sản …Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động
- Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ đợc bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung đợc tồn tích lại Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn đợc sự hỗ trợ từ phía Nhà nớc
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của
ng-ời lao động trong trờng hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu này đã đợc tổ chức ILO cụ thể hoá nh sau:
+ Đền bù cho ngời lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ
1883, ỏ nớc Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm y tế Một
số nớc châu Âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH
Trang 6Tuy ra đời lâu nh vậy, nhng đối tợng của BHXH vẫn còn nhiều quan
điểm cha thống nhất Đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa đối tợng BHXH với đối tợng tham gia BHXH
Chúng ta đều biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi do ngời lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên nhân nh ốm đau, tai nạn, già yếu v.v…Chính vì vậy, đối tợng của BHXH chính là thu nhập của ngời lao động bị biền động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những ngời lao động tham gia BHXH
Đối tợng tham gia BHXH là ngời lao động và ngời sử dụng lao động Tuy vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nớc mà đối tợng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những ngời lao động nào đó
Hầu hết các nớc khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối với các viên chức Nhà nớc, những ngời làm công hởng lơng Việt Nam cũng không vợt ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng nh vậy là cha bình đẳng giữa tất cả những ngời lao động
Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài ngời lao
động còn có ngời sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dới sự bảo trợ của Nhà nớc Ngời sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ
để bảo hiểm cho ngời lao động mà họ sử dụng Còn cơ quan BHXH nhận sự
đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao động phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với ngời lao
động Mối quan hệ ràng buộc này chính là đặc trng riêng có của BHXH Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững
2.Chức năng của BHXH
BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây
- BHXH thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động khi
họ gặp phải những biến cố làm giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm Sự
Trang 7bảo đảm thay thế, bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiện của BHXH Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, ngời lao động cũng sẽ đợc hởng trợ cấp BHXH với mức hởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn đợc hởng phải đúng quy định Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH,
nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham
gia BHXH
Tham gia BHXH bao gồm những ngời lao động và sử dụng lao động, họ thuộc tất cả các ngành nghề lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH, quỹ này dùng để trợ cấp cho một số ngời lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
Số lợng những ngời này thờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những ngời tham gia đóng góp Nh vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo tất cả chiều dọc và chiều ngang Phân phối lại giữa những ngời khoẻ mạnh đang làm việc với những ngời ốm yếu phải nghỉ việc… Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội
- BHXH góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất,
nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội
Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, ngời lao động đợc chủ sử dụng lao động trả lơng hoặc tiền công Khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn đợc bảo đảm ổn định và có chỗ dựa
Do đó, ngời lao động luôn yên tâm, tận tình với công việc, với nơi làm việc
Từ đó họ rất tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu
Trang 8quả kinh tế Chức năng này biểu hiện nh một đòn bẩy kinh tế kích thích ngời lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao
động xã hội
- BHXH gắn bó lợi ích giữa ngời lao động với ngời sử dụng lao động,
giữa ngời lao động với xã hội
Trong thực tế lao động sản xuất, ngời lao động và ngời sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nhất định về tiền lơng, tiền công, thời gian lao
động…Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ đợc điều hoà và giải quyết Bởi vì thông qua quỹ tiền tệ tập trung mà ngời lao động và chủ sử dụng lao
động đóng góp thì rủi ro, bất lợi của ngời lao động đợc dàn trải đảm bảo cuộc sống ổn định và giới chủ cũng có lợi, tránh đợc những xáo trộn ảnh hởng đến quá trình kinh doanh vì phải chi ra những khoản tiền lớn mà họ không muốn
do rủi ro xảy ra đối với ngời lao động Nh vậy cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động đều thấy có lợi và đợc bảo vệ khi tham gia BHXH Từ đó giúp
họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích đợc với nhau Đối với Nhà nớc và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhng vẫn giải quyết đợc khó khăn về đời sống cho ngời lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị xã hội đợc phát triển và an toàn hơn
Trang 93.Sơ lược lịch sử phát triển của BHXH
3.1 Trên thế giới.
BHXH đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỷ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển Tuy nhiên ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp Từ thế
kỷ XVI đến thế kỷ XVIII một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, để bảo vệ lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ
để giúp đỡ lẫn nhau (ở Anh năm 1973 đã thành lập hội “bằng hữu” để giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn nghề nghiệp)
Năm 1883, nước Phổ (Cộng hoà liên bang Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm
xã hội Bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền của con người
và được xã hội thừa nhận Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/12/1948) đã ghi: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội
có quyền hưởng bảo hiểm xã hội” Ngày 4/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ký công ước Giơnevơ (102) về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” đã khẳng định tất yếu các nước phải tiến hành bảo hiểm xã hội cho người lao động và gia đình họ Theo Công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) phạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:
Trang 10- Trợ cấp gia đỡnh
- Trợ cấp thai sản
- Trợ cấp khi tàn phế
- Trợ cấp cho người cũn sống( trợ cấp mất người nuụi dưỡng)
Nhưng trờn thực tế khụng phải nước nào cũng thực hiện được toàn bộ 9 chế độ trờn và khụng phải nước nào cũng cú phạm vi, đối tượng nguồn hỡnh thành quỹ giống nhau Cú nghĩa là việc thực hiện BHXH ở những nước khỏc nhau thỡ khỏc nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước và hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn phỏt triển mà mỗi nước cú những hỡnh thức ỏp dụng khỏc nhau cho phự hợp
Trờn thế giới cú 33 nước thực hiện được 9 chế, trờn 84 nước chưa thực hiện được chế độ thứ 3 ( trợ cấp thất nghiệp), 9 nước chưa thực hiện được chế
độ thứ sỏu ( trợ cấp gia đỡnh)
3.2 Ở Việt Nam.
ở nớc ta, BHXH là chính sách có tính nhân văn sâu sắc, có tầm quan trọng và vai trò to lớn đối với cuộc sống con ngời Đảng và chính phủ đã luôn quan tâm đến việc hình thành và phát triển chính sách BHXH
Ngay từ khi thành lập ( năm 1929), trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dơng (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) đã nêu:
“Tổ chức tất cả vô sản giai cấp vào công hội thực hành bảo hiểm cho thợ thuyền; giúp đỡ thợ thuyền thất nghiệp”
Sau đó, tại Hội nghị Trung ơng tháng 11/1940, Đảng ta đã ra Nghị quyết
sẽ đặt ra Luật BHXH khi thiết lập đợc chính quyền cách mạng và tạo lập quỹ
hu bổng cho ngời già Để cụ thể hoá chủ trơng này, năm 1941 trong Chơng trình Việt Minh đã đề ra chính sách xã hội đối với những ngời làm công ăn l-
Trang 11ơng: Đối với công nhân thực hiện cứu tế thất nghiệp; xã hội bảo hiểm; công nhân già có lơng hu trí.
Sau Cách mạng Tháng 8 thành công, trên cơ sở Hiến Pháp năm 1946 của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hu trí cho công nhân viên chức Nhà nớc nh:
- Sắc lệnh 105/SL ngày 14/06/1946 quy định việc cấp lơng bổng cho công chức Nhà nớc
- Sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức Có thể nói, đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH
ở nớc ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này
Cở sở pháp lý tiếp theo đó là Hiến Pháp năm 1959 của nớc ta thừa nhận công nhân viên chức có quyền đợc trợ cấp BHXH Quyền này đợc cụ thể hoá trong điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nớc, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 Theo điều lệ này trong hệ thống BHXH của nớc ta có 6 chế độ:
Trang 12Đối tợng tham gia và thụ hởng chính sách BHXH chỉ giới hạn là cán bộ, công nhân viên chức làm trong khu vực quốc doanh và lực lợng vũ trang (khu vực Nhà nớc) nên cha thể hiện tính xã hội cao, tạo ra sự phân biệt giữa ngời lao động làm việc trong khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh gây tâm lý chỉ lao động trong khu vực quốc doanh mới có vị trí trong xã hội, mới đợc vinh dự về hu Điều này đã phủ nhận vai trò của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh dẫn đến nhiều ngời lao động không đợc tham gia BHXH, do đó đã tạo ra sự mất công bằng trong việc hởng quyền lợi BHXH của ngời lao động.
- Về thời gian công tác: Do sử dụng thời gian quy đổi đã làm số năm đợc coi là thời gian công tác liên tục để tính thời gian tham gia BHXH tăng lên từ
18 đến 20% so với số năm công tác thực tế Điều này làm sai lệch mục đích của BHXH
- Việc ban hành chế độ nghỉ mất sức lao động: Do không quản lý đợc chặt chẽ, chuẩn xác và do điều kiện giảm biên chế và sắp sếp lại lực lợng lao
động ở khu vực sản xuất kinh doanh nên một bộ phận khá đông cán bộ công nhân viên chức nghỉ ồ ạt để hởng chế độ BHXH, làm tăng gánh nặng cho Quỹ BHXH mà thực chất là NSNN phải gánh chịu Vì vậy, hiện nay chế độ này không thực hiện nhng hậu quả của nó Nhà nớc vẫn còn đang phải giải quyết
- Về mức hởng trợ cấp BHXH dựa trên mức lơng chính và các loại phụ cấp lơng mà đối tợng đợc hởng trớc khi về hu là không hợp lý, không thể hiện
đợc quá trình cống hiến của ngời lao động đối với xã hội Dẫn đến nhiều cơ quan, đơn vị tuỳ tiện cho đối tợng tăng từ 1-2 bậc lơng trớc khi về nghỉ hu, càng làm tăng gánh nặng cho quỹ BHXH và NSNN
- Các chế độ BHXH còn đan xen với các chính sách xã hội khác nh chính sách u đãi đối với ngời có công với đất nớc, chính sách dân số – kế hoạch hoá gia đình, chính sách sắp sếp lại lao động, tinh giản bộ máy đã làm giảm…một phần vai trò và ý nghĩa vốn có của BHXH
Trang 13- Thực hiện quản lý thu, chi BHXH cha có hiệu quả: Tổ chức chi trả BHXH mang tính chất hành chính, thực chất chỉ làm nhiệm vụ chi trả từ nguồn NSNN là chính, không chú ý đến thu quỹ, công việc thu nộp BHXH dựa trên cơ sở “tự nguyện” của các cơ quan xí nghiệp đã làm thất thu rất lớn cho quỹ BHXH Thu cho quỹ chỉ đợc 16%, NSNN hàng năm phải bù 84% số chi BHXH Việc kiểm tra kiểm soát đối tợng hởng chính sách còn lỏng lẻo nên đã xảy ra nhiều thiếu sót trong việc thực hiện chính sách Nguyên nhân chính là do nhận thức chủ quan về BHXH cho rằng chế độ BHXH thực chất là một khoản đãi ngộ của Nhà nớc dành cho công nhân viên chức và lực lợng vũ trang
Để khắc phục những hạn chế của chính sách BHXH trớc đây, xây dựng một chính sách BHXH phù hợp với sự đổi mới của nền kinh tế thị trờng, tồn tại nhiều thành phần kinh tế, theo định hớng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo ngời lao động, ngời sử dụng lao động, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nớc trong thời kỳ đổi mới và hoà nhập với xu thế phát triển BHXH của các quốc gia trên Thế giới, Nghị quyết Đại hội VII của
Đảng đã chỉ rõ: “ Đổi mới chính sách BHXH theo hớng: mọi ngời lao động và
đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều đóng góp vào quỹ BHXH Từng bớc tách quỹ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nớc khỏi Ngân sách và hình thành quỹ BHXH chung cho ngời lao động thuộc mọi thành phần kinh tế Phát triển bảo hiểm khám chữa bệnh, tăng ngân sách cho hoạt động…khám chữa bệnh”
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và Hiến pháp năm 1992, ngày 23/6/1994, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá IX đã thông qua Bộ luật Lao động, Trong đó giành cả chơng XII để quy định về BHXH Trên cơ sở đó Chính phủ ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và Điều lệ BHXH đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân kèm theo Nghị định số
Trang 1445/CP ngày 15/7/1995 Đây đợc coi là một cuộc cách mạng về BHXH nớc ta,
nó đã làm thay đổi hoàn toàn về chất trong BHXH Điều này thể hiện ở một số
điểm sau:
Đối tợng của BHXH không chỉ là công nhân viên chức Nhà nớc và lực ợng vũ trang mà còn mở rộng ra cho mọi đối tợng lao động trong các thành phần kinh tế có sử dụng từ 10 lao động trở lên
l-Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập đợc hình thành có sự đóng góp của ngời lao động, ngời sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nớc trong một
số trờng hợp Nh vậy các quan hệ tài chính trong BHXH đã đợc thể hiện rõ ràng Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải đợc cân đối một cách tổng thể trong BHXH
- Đã xác định đợc trách nhiệm của ngời sử dụng lao động trong việc
đóng góp BHXH và thực hiện các chế độ BHXH đối với ngời lao động trong quá trình sản xuất
- Chỉ có 5 chế độ BHXH cho ngời lao động
động BHXH có hiệu quả hơn
Trang 15Với quyết định số 20/2002/QĐ-TTg ngày 24/1/2002 chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam nhằm giảm bớt đầu mối quản lý và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới Ngày 6/12/2002 Chính phủ ra Nghị định số 100/2002/NĐ-
CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Theo Nghị định này, vị trí của BHXH Việt Nam đợc xác định là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính Phủ, có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý quỹ BHXH
Với việc thực hiện theo cơ chế mới, BHXH đã góp phần tích cực làm lành mạnh hoá thị trờng lao động ở nớc ta, góp phần thực hiện bình đẳng xã hội và ổn định đời sống cho ngời lao động cũng nh ổn định xã hội
Tuy vậy, từ trớc tới nay tất cả những quy định về BHXH mới chỉ dừng lại
ở mức độ Nghị định mà cha có luật về BHXH Nhng chính sách BHXH nớc ta
đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức ng-
ời sức của cho thắng lợi của công cuộc kháng chiến chống xâm lợc thống nhất
đất nớc và xây dựng Tổ quốc giàu đẹp nh ngày nay
II.Quỹ BHXH.
1.Phõn loại quỹ BHXH.
Trong đời sống kinh tế – xã hội, ngời ta thờng nói đến rất nhiều loại quỹ khác nhau nh quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lơng, quỹ
dự trữ quốc gia…Tất cả các loại quỹ này đều có điểm chung đó là tập hợp các phơng tiện tài chính hay vật chất khác cho những hoạt động nào đó theo những mục tiêu và định hớng trớc Tất cả các loại quỹ không chỉ tồn tại với một khối lợng tĩnh tại một thời điểm mà luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm đi ở đầu ra với một khoản chi nh một dòng chảy liên tục Để đảm bảo cho đầu ra ổn định, ngời ta thiết lập một lợng dự trữ - đó chính là quỹ Và với BHXH, quỹ đợc định nghĩa nh sau
Trang 16Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài NSNN Quỹ có mục đích và chủ thể riêng Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả cho ngời lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro Chủ thể của quỹ BHXH chính là những ngời tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: Ngời lao động, ngời sử dụng lao động và Nhà nớc.
a Phõn loại theo đặc điểm tài chớnh của quỹ:
Quỹ BHXH chia làm hai loại: ngắn hạn và dài hạn
- Quỹ ngắn hạn: chi trả cho các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp nhẹ
- Quỹ dài hạn: chi trả trợ cấp hu trí, tử tuất, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp nặng Quỹ này chịu ảnh hởng nhiều của chính sách tài chính tiền
tệ của Nhà nớc
Việc phân loại tiêu thức này có u điểm
- Tách đợc quỹ ngắn hạn và dài hạn riêng ra sẽ cân đối dễ hơn Đặc biệt quỹ ngắn hạn có thể cân đối ngay trong năm tài chính Đồng thời riêng nguồn quỹ ngắn hạn có thể để lại hoàn toàn cho doanh nghiệp chi trả
Tuy nhiên việc phân loại theo tiêu thức này có nhợc điểm là việc điều hoà giữa hai nguồn quỹ này chắc chắn không thực hiện đợc, đặc biệt nếu quỹ ngắn hạn để lại cho doanh nghiệp tự chi trả dẫn đến doanh nghiệp làm ăn tốt
đóng góp lớn dẫn đến quỹ ngắn hạn lớn chi trả ít còn quỹ dài hạn lại nhỏ, chi trả nhiều
Theo tiêu thức này quỹ BHXH đợc phân chia thành: Quỹ hu trí và tử tuất, quỹ TNLĐ - BNN, quỹ thất nghiệp, quỹ ốm đau thai sản…Phân loại theo tiêu thức này có u điểm: Cân đối quỹ trong từng chế độ BHXH rất dễ và việc xác
định phí BHXH đơn giản hơn, sát thực tế hơn Nhợc điểm đó là không thể
Trang 17điều phối giữa các quỹ, đầu t quỹ nhàn rỗi khó khăn và làm hạn chế tính chất xã hội hoá.
2.Nguồn hỡnh thành và mục đớch sử dụng quỹ BHXH.
Quỹ BHXH đợc hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:
- Ngời sử dụng lao động đóng góp
Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo đợc mối quan hệ chủ – thợ Về phía ngời lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có
ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ
Mối quan hệ chủ – thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích Vì thế, cũng nh nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu đợc sự tham gia đóng góp của Nhà nớc Trớc hết các luật lệ của Nhà nớc
về BHXH là những chuẩn mực pháp lý mà cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ – thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà nớc không chỉ tham gia đóng góp
hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH, mà còn là chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định
Trang 18Phần lớn ở các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành từ các nguồn nêu trên Tuy nhiên, phơng thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau.
Về phơng thức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao
động hiện vẫn còn 2 quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng: phải căn cứ vào mức lơng cá nhân và quỹ lơng của cơ quan, doanh nghiệp Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của ngời lao động đợc cân
đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp
Về mức đóng góp BHXH, một số nớc quy định ngời sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y
tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả ngời lao động và ngời sử dụng lao
động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau Một số nớc khác lại quy
định chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH v.v…
ở nớc ta, từ 1962 đến 1987, quỹ BHXH chỉ đợc hình thành từ 2 nguồn: Các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4.7% quỹ lơng của xí nghiệp, phần còn lại do ngân sách Nhà nớc đài thọ Thực chất là không tồn tại quỹ BHXH
độc lập Từ năm 1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15% quỹ lơng của đơn vị Sau khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng, chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993 và Điều lệ BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995, trong các văn bản này đều quy định quỹ BHXH đợc hình thành từ các nguồn sau đây:
- Ngời sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lơng của những ngời tham gia BHXH trong đơn vị Trong đó: 10% để chi trả các chế độ
hu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Ngời lao động đóng bằng 5% tiền lơng tháng để chi các chế độ hu trí và
tử tuất
Trang 19t-so với tổng quỹ lơng của những ngời tham gia trong đơn vị và ngời lao động
đóng 6% lơng hàng tháng
Mục đớch sử dung quỹ BHXH:
Quỹ BHXH đợc sử dụng chủ yếu để chi trả cho các mục đích sau đây:
- Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
- Chi đầu t tăng trởng quỹ BHXH
Trong 3 nội dung chi nêu trên thì chi trả trợ cấp BHXH theo các chế độ
là lớn nhất và quan trọng nhất Khoản chi này đợc thực hiện theo luật định và phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH Về nguyên tắc, có thu mới có chi, thu trớc chi sau Vì vậy quỹ chỉ chi cho các chế độ trong phạm
vi có nguồn thu Thu của chế độ nào thì chi ở chế độ đó
Tuy nhiên quá trình sử dụng quỹ BHXH mà phần sử dụng nhiều nhất là
để chi trả cho các chế độ còn phụ thuộc vào việc thành lập quỹ BHXH theo phơng thức nào
+ Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trả cũng phải đảm bảo tính thống nhất theo các nội dung chi Điều đó có nghĩa là, tất cả các nguồn thu BHXH đều đợc tập trung để hình thành một quỹ, sau đó quỹ đợc sử dụng để chi trả theo các chế độ, chi quản lý và chi đầu t
+ Nếu quỹ BHXH đợc hình thành theo 2 loại: Quỹ BHXH ngắn hạn và quỹ BHXH dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽ cụ thể hơn Quỹ BHXH
Trang 20động và bệnh nghề nghiệp Quỹ BHXH dài hạn đợc sử dụng để chi trả cho các chế độ dài hạn nh: Hu trí, tử tuất.
+ Nếu quỹ BHXH đợc thành lập theo từng chế độ: Quỹ ốm đau, quỹ thai sản, quỹ hu trí v.v…(hay còn gọi là quỹ BHXH thành phần), thì việc chi trả sẽ càng trở nên đơn giản và đảm bảo đúng mục đớch
III.Lý thuyết về quản lý thu chi BHXH.
1.Sự cần thiết phải quản lý thu chi.
Quản lý thu, chi BHXH là một trong những hoạt động rất quan trọng trong quản lý quỹ BHXH Đõy là hai nghiệp vụ mà cỏc cơ quan BHXH luụn chỳ trọng quan tõm và đặt lờn hàng đầu, quản lý việc tham gia BHXH của người lao động mà tập trung là quản lý việc đúng BHXH của họ nhằm tăng trưởng và ổn định quỹ chống làm thất thoỏt quỹ BHXH Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng tham gia BHXH rất đa dạng Họ cú thể là cụng chức nhà nước, những người làm cụng ăn lương trong cỏc doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Cũng cú thể họ là những người tự tạo việc làm Vỡ vậy quản lý quỹ BHXH đặt ra nhiệm vụ tiờn quyết là phải quản lý được tiền lương, thu nhập của những đối tượng này, để từ đú quản lý sự đúng gúp BHXH của họ Thứ hai đú là chi BHXH Chi BHXH là quỏ trỡnh phõn phối,
sử dụng quỹ BHXH, đỏp ứng nhu cầu về BHXH của người lao động và đảm bảo cho cỏc hoạt động của cả hệ thống BHXH diễn ra bỡnh thường, đồng thời gúp phần đảm bảo an toàn xó hội chớnh vỡ vậy cụng tỏc chi phải được thực hiện một cỏch chớnh xỏc, đỳng đủ và kịp thời gúp phần chống thất thoỏt cho quỹ BHXH của ngành
2.Quản lý thu BHXH :
Thứ nhất, Quản lý việc tham gia BHXH của người lao động, mà tập trung là quản lý việc đúng BHXH của họ.Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng tham gia BHXH rất đa dạng Họ cú thể là cụng chức nhà nước, những
Trang 21người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế Cũng có thể họ là những người tự tạo việc làm ( lao động độc lập) Vì vậy quản lý quỹ BHXH đặt ra nhiệm vụ tiên quyết là phải quản lý được tiền lương, thu nhập của những đối tượng này, để từ đó quản lý sự đóng góp BHXH của họ
Thứ hai, Quản lý sự đóng góp của người sử dụng lao động : Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng của quản lý thu BHXH Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng góp BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn Vì vậy, quản lý thu BHXH trước hết phải quản lý được số lượng các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh có sử dụng lao động phải đóng BHXH theo luật định ; quản lý được sổ lương tại mỗi doanh nghiệp và quỹ lương của doanh nghiệp đó Đồng thời phải quản lý được năng lực tài chính và khả năng đóng BHXH của các doanh nghiệp Quản lý tốt các doanh nghiệp sẽ hạn chế
sự trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH của các doanh nghiệp, đồng thời nắm được thực trạng sản xuất kinh doanh của họ( thông qua quỹ lương, thông qua lợi nhuận của doanh nghiệp )
Thứ ba, Quản lý nguồn thu từ đầu tư quỹ BHXH.Đây là một nội dung trong quản lý hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH Tuy nhiên, dưới giác
độ tổng thu, đay cũng thuộc vào nội dung quản lý thu BHXH
Quản lý thu là phải quản lý lợi nhuận do khoản đầu tư đem lại.Đây là nghiệp vụ quản lý thu rất khó, nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh giá hiệu quả đầu tư và là sự đảm bảo an toàn cho quỹ BHXH
Để thực hiện được những nội dung trên, cần có những phương pháp quản lý và công cụ quản lý thích hợp Trên thực tế, có nhiều phương pháp quản lý, nhưng các phương pháp đó về cơ bản có thể có những đặc điểm chung là :
Trang 22Cơ sở của hoạt động quản lý và những quy định của chính sách về BHXH và các chính sách về tài chính chung của quốc gia, từ đó có hệ thống
kế toán và các quy định nghiệp vụ cụ thể
- Các phương pháp đều phải xây dựng được quy trình thu phù hợp với các nhóm đối tượng
- Dựa vào đội ngũ chuyên môn giỏi, có năng lực và có phẩm chất
- Yêu cầu quan trọng để tiến hành các phương pháp quản lý là hoàn thiện
hệ thống thống kê và kế toán BHXH
3.Quản lý chi BHXH.
Chi BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH, đáp ứng nhu cầu
về BHXH của người lao động và đảm bảo cho các hoạt động của cả hệ thống BHXH diễn ra bình thường, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội Nội dung của chi BHXH bao gồm những khoản cơ bản như :
- Chi trả các trợ cấp BHXH dài hạn và ngắn hạn ;
- Những chi phí khác
Dưới giác độ tổng chi, các chi phí cho bộ máy BHXH ; chi phí cho đầu tư phần nhàn rỗi của quỹ BHXH cũng thuộc nghiệp vụ quản lý chi BHXH Tuy nhiên dưới giác độ cơ cấu, các nghiệp vụ này có thể tách ra là một trong các nghiệp vụ chi của các hoạt động quản lý cho hoạt động bộ máy
và quản lý hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ
Quản lý thu, quản lý quá trình chi BHXH phải tập trung vào những nội dung sau :
Một là, Quản lý đối tượng thụ hưởng BHXH Đây là nội dung quản lý phức tạp nhất, dễ xẩy ra những sự lợi dụng và lạm dụng,bởi vì các đối tượng thụ hưởng BHXH, nhất là những đối tượng hưởng BHXH ngắn hạn dễ có sự biến động
Hai là, Quản lý các khoản chi, trên cơ sở kế hoạch chi hàng năm ;
Trang 23Ba là, Quản lý quỏ trỡnh chi theo cỏc nghiệp vụ kế toỏn quy định ;
Bốn là, Quản lý được sổ sỏch, chứng từ chi thống nhất cho toàn hệ thống
Để quản lý quỏ trỡnh chi, cú cỏc phương phỏp quản lý khỏc nhau, nhưng chung nhất là :
- Thống nhất được hệ thống kế toỏn BHXH ;
- Xõy dựng quy trỡnh chi trả BHXH và cỏc nguyờn tắc chi Cỏc quy trỡnh
và cỏc nguyờn tắc được xõy dựng dựa trờn những quy định của phỏp luật BHXH và cỏc chớnh sỏch hiện hành về tài chớnh của nhà nước
- Phõn cấp quản lý và phõn cấp kiểm tra việc thực hiện chi để cú thể kiểm soỏt được quỏ trỡnh chi cú hiệu quả ; đồng thời ngăn chặn, hạn chế những vi phạm hoặc những sai sút trong quỏ trỡnh chi BHXH
4 Một số chỉ tiờu đỏnh giỏ hoạt động thu chi
đóng khác nhau Cũng nh việc quy định đối tợng nào tham gia đóng góp BHXH, đóng dới hình thức nào
b Dựa vào cỏc văn bản phỏp quy.
Từ chính sách BHXH các cấp, các ngành có thẩm quyền lại soạn thảo các văn bản pháp quy hớng dẫn việc thi hành chính sách BHXH của Nhà nớc Chính sách BHXH mang tính định hớng, nhng các văn bản hớng dẫn thi hành
Trang 24lại là cụ thể hoá chính sách BHXH Trên các văn bản này quy định rõ mọi vấn
đề, mọi trờng hợp liên quan đến BHXH của mỗi một quốc gia Sau khi ban hành các văn bản pháp quy thì các cấp các ngành có liên quan phải thực hiện các điều khoản đợc ghi trên các văn bản này
c.Dựa vào thực tế.
Việc ban hành chính sách BHXH cũng nh các văn bản pháp quy không thể thiếu đợc việc dựa vào thực tế để ban hành cho phù hợp với điều kiện kinh
tế – xã hội – chính trị của từng quốc gia Mỗi quốc gia đều xác định BHXH
là xơng sống của hệ thống An sinh xã hội Việc ban hành chính sách BHXH phải dựa trên thu nhập của ngời lao động, mức sống, tuổi thọ, điều kiện làm việc …
ở Việt Nam, cơ sở thu BHXH cũng đợc dựa vào chính sách BHXH của Nhà nớc, vào các văn bản pháp quy và điều kiện kinh tế, thu nhập, làm việc của ngời lao động
Trang 25CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU, CHI QUỸ BHXH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM.
I Vài nét về bhxh tỉnh hà nam.
1 Một số thuận lợi và khó khăn trong hoạt động của BHXH Hà Nam.
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam được thành lập theo quyết định số 1606/QĐ-BHXH ngày 16 tháng 9 năm 1997 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, nhưng do việc chuẩn bị về tổ chức, cơ sở vật chất phục vụ công tác chưa kịp nên đến ngày 01 tháng 04 năm 1998 Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam mới chính thức đi vào hoạt động Tuy nhiên 6 đơn vị Bảo hiểm xã hội cấp huyện vẫn hoạt động bình thường, không có sự xáo trộn về tổ chức Vì vậy công tác bảo hiểm xã hội trên địa bàn trong thời gian đầu mới tái lập tỉnh vẫn được duy trì ổn định, công tác chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đảm bảo đúng, đủ, kịp thời, an toàn đến tận tay đối tượng
Ngày 24 tháng 01 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định 20/2002/QĐ-TTg về việc chuyển bảo hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm
xã hội Việt Nam Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 01 tháng 01 năm 2003 Bảo hiểm y tế tỉnh Hà Nam và Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam chính thức sát nhập và hoạt động trong cùng một hệ thống
Trong 10 năm, trải qua hai lần thay đổi về tổ chức, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn
- Thuận lợi.
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Ngay
từ khi được thành lập ( tháng01/1995 ) ngành Bảo hiểm xã hội luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước từ trung ương đến địa phương Quỹ bảo hiểm xã hội được tách ra độc lập với ngân sách Nhà nước, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng được mở rộng, chính sách bảo hiểm xã hội được điều chỉnh kịp thời bắt nhịp với tiến trình đổi mới nền kinh tế theo cơ
Trang 26chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vì thế ngành Bảo hiểm xã hội từng bước cân đối quỹ, phục vụ chi trả kịp thời cho các đối tượng thụ hưởng Bảo hiểm xã hội Việt Nam thường xuyên chỉ đạo, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc về chuyên môn nghiệp vụ, tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất phương tiện làm việc giúp cho cán bộ, công chức Bảo hiểm xã hội tỉnh
Hà Nam đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao
Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh trực tiếp lãnh đạo ngành Bảo hiểm xã hội; chỉ đạo các cơ quan ban,ngành trong tỉnh phối hợp chặt chẽ với cơ quan Bảo hiểm xã hội để giải quyết công tác bảo hiểm xã hội trong phạm vi toàn tỉnh; thường xuyên kiểm tra, ban hành những văn bản chỉ đạo cụ thể đối với các cấp, các ngành trong việc lãnh đạo thực hiện công tác Bảo hiểm xã hội, tạo điều kiện để Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
- Khó khăn.
Khi mới được thành lập Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam cũng gặp những khó khăn như các sở, ban, ngành khác trong bối cảnh tỉnh mới được tái lập Đội ngũ cán bộ vừa thiếu về số lượng lại hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ Cán bộ quản lý cấp phòng phần lớn khi chia tách mới được bổ nhiệm vì thế còn lúng túng trong phương pháp quản lý và điều hành
Sự sát nhập giữa ngành Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế hoạt động chung một hệ thống ít nhiều gây xáo trộn về tâm lý cho một số cán bộ Đội ngũ cán bộ nghiệp vụ đòi hỏi phải ra sức học tập để nắm bắt kịp thời chức năng nhiệm vụ, nghiệp vụ chuyên môn mới
Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế bắt buộc trên địa bàn còn ít, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, một số doanh nghiệp đứng trước tình trạng giải thể, phá sản, nợ đọng bảo hiểm xã hội kéo dài, vì thế quyền lợi của người lao động chưa được đảm bảo
Trang 27Với những khó khăn và thuận lợi như trên, được sự quan tâm lãnh đạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tỉnh ủy, HDND, UBND tỉnh Hà Nam, sự phối hợp có hiệu quả của các cấp các ngành trong tỉnh, mười năm qua Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam đã tháo gỡ dần nhũng khó khăn, phát huy những mặt mạnh, khắc phục những tồn tại yếu kém, hàng năm đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch được Bảo hiểm xã hội Việt Nam giao cho; hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương; góp phần xứng đáng trong việc thực hiện mục tiêu an sinh xã hội, giữ gìn ổn định an ninh chính trị
và trật tự của địa phương
2 Tình hình hoạt động của BHXH Hà Nam trong thời gian qua.
Ngày 16 tháng 9 năm nay đánh dấu chặng đường 10 năm xây dựng và trưởng thành của ngành BHXH tỉnh Hà Nam Cùng với hệ thống BHXH của
cả nước, BHXH tỉnh đã có bước trưởng thành nhanh chóng Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành BHXH tỉnh khi mới thành lập chỉ có 66 người,
cơ cấu chưa đồng bộ, trình độ năng lực có mặt còn hạn chế, đến nay đã có 149 người, trong đó có 94 đồng chí có trình độ chuyên môn đại học và sau đại học, 11 đồng chí có trình độ cao đẳng
Mặc dù còn khó khăn nhưng được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của BHXH Việt Nam, của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các cấp, các ngành, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành BHXH tỉnh
đã nêu cao tinh thần đổi mới, năng động, sáng tạo, chung sức, chung lòng, nỗ lực phấn đấu dành nhiều thành tích rất đáng khích lệ Nổi bật là số đối tượng tham gia BHXH, BHYT tăng nhanh Năm 1997 chỉ có 349 đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH thì đến năm 2007 đã có 1.060 đơn vị, tăng gấp 3 lần, trong đó có trên 200 doanh nghiệp ngoài quốc doanh Năm 1997, có 19.698 người tham gia BHXH với số thu trên 20,3 tỷ đồng thì đến nay đã tăng lên 34.970 người, tăng 1,8 lần, với số thu đạt 126 tỷ đồng, gấp 6,2 lần năm 1997;
Trang 28đua tổng số thu BHXH trong 10 năm lên 556,9 tỷ đồng Đồng thời đã tổ chức chi trả lương hưu và các loại trợ cấp BHXH cho 35 nghìn người, với số tiền trên 2 nghìn tỷ đồng, đảm bảo kịp thời, chính xác, an toàn, đúng đối tượng Bên cạnh công tác BHXH, công tác BHYT bắt buộc và tự nguyện được triển khai sâu rông và đạt kết quả tích cực, có khoảng 30% dân số trong tỉnh được khám, chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế Trong 10 năm đã phát hành trên 1.625 nghìn lượt thẻ BHXH cho các đối tượng, trong đó có trên 427 nghìn lượt thẻ BHYT tự nguyện học sinh, 273 nghìn thẻ BHYT cho người nghèo Toàn tỉnh đã có trên 2.513 nghìn lượt người được khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT với số tiền chi khám chữa bệnh hơn 128 tỷ đồng, trong đó có trên 251 nghìn lượt người nghèo được cơ quan BHXH chi trả với số tiền hơn 11,7 tỷ đồng Nét mới trong công tác tuyên truyền là BHXH đã phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành tổ chức tốt cuộc thi tuyên truyền viên BHXH, BHYT từ cơ sở đến tỉnh, góp phần nâng cao nhận thức cho nhân dân và trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác BHXH trong tỉnh
Những kết quả và thành tích của ngành BHXH tỉnh đạt được có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, xóa đói giảm nghèo Những thành tích đó không chỉ khẳng định vị trí, vai trò của BHXH mà còn tạo được niềm tin của nhân dân và người lao động đối với các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta
Nhìn lại chặng đường 10 năm xây dựng và trưởng thành, cán bộ, công chức, viên chức ngành BHXH tỉnh nhà có quyền tự hào về thành tích, kết quả
đã đạt được, đồng thời càng ý thức được trách nhiệm của mình để góp phần thúc đẩy sự nghiệp BHXH tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa
3 Cơ cấu tổ chức.
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam được thành lập theo quyết định 1606/QĐ- BHXH ngày 16/9/1997 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam trên cơ sở chia
Trang 29tách từ Bảo hiểm xã hội tỉnh Nam Hà Sau thời gian chuẩn bị cơ sở vật chất, nhân sự, ngày 1 tháng 4 năm 1998, Bảo hiểm xã hội tỉnh chính thức đi vào hoạt động, cơ cấu tổ chức bao gồm:Ban cán sự Đảng, các tổ chức, đoàn thể; giám đốc, phó giám đốc BHXH tỉnh; phòng Quản lý thu; phòng Chế độ chính sách, phòng Kế hoạch Tài chính, phòng Tổ chức hành chính; phòng Kiểm tra Bảo hiểm xã hội các huyện, thị xã bao gồm: Bảo hiểm xã hội thị xã Phủ Lý, BHXH huyện Duy Tiên, BHXH huyện Kim Bảng, BHXH huyện Lý Nhân, BHXH huyện Thanh Liêm, BHXH huyện Bình Lục
Theo quyết định số 20/2002/QĐ-TTg ngày 24/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển giao Bảo hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam, ngày 1/1/2003, Bảo hiểm y tế tỉnh Hà Nam chính thức sát nhập về BHXH tỉnh Hà Nam
Ngày 17/12/2002, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành Quyết định số 1620/2002/QĐ-BHXH-TCCB về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức BHXH địa phương; Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam có cơ cấu tổ chức: giám đốc, các phó giám đốc; phòng Chế độ chính sách, phòng Kế hoạch Tài chính; phòng Thu; phòng Giám định chi; phòng Bảo hiểm tự nguyện; phòng Công nghệ thông tin; phòng Tổ chức hành chính; phòng Kiểm tra
Bảo hiểm xã hội các huyện, thị xã gồm: BHXH thị xã Phủ Lý, BHXH huyện Duy Tiên, BHXH huyện Kim Bảng, BHXH huyện Lý Nhân, BHXH huyện Thanh Liêm, BHXH huyện Bình Lục
Bảo hiểm xã hội tỉnh là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam đặt tại tỉnh, nằm trong hệ thống tổ chức của BHXH Việt Nam, chịu sự quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ của UBND tỉnh
Bảo hiểm xã hội huyện, thị xã là cơ quan trực thuộc BHXH tỉnh đặt tại huyện nằm trong hệ thống tổ chức của BHXH Việt Nam BHXH huyện chịu
Trang 30sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc BHXH tỉnh, chịu sự quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ của UBND huyện
Năm 1998, số cán bộ, công chức, lao động hợp đồng của BHXH tỉnh
Hà Nam có 66 người, đến tháng 9 năm 2007 tổng số cán bộ, công chức, lao động hợp đồng của BHXH tỉnh Hà Nam là 149 người, trong đó cán bộ là đảng viên là 91 người
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
+ Trên đại học: 3 người chiếm tỷ lệ 2%
+ Đại học: 91 người chiếm tỷ lệ 61%
+ Cao đẳng: 11 người chiếm tỷ lệ 7,4%
+ Trung cấp, sơ cấp: 44 người chiếm tỷ lệ 29,6%
- Trình độ chính trị:
+ Cử nhân, cao cấp lý luận 10 người
+ Trung cấp lý luận và tương đương: 40 người
Qua mười năm hoạt động từ năm 1998 đến 2007 ta thấy số lượng cán bộ, công chức tăng hơn 200% điều này chứng tỏ nhu cầu về nguồn nhân lực của ngành BHXH tỉnh Hà Nam ngày một tăng để đáp ứng kịp với tốc độ phát triển của ngành
II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU BHXH TẠI BHXH HÀ NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2003 – 2007.
1 Tổ chức thu BHXH tại tỉnh.
Tổ chức công tác thu BHXH tại tỉnh được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Lập và giao kế hoạch thu:
Kế hoạch thu là cơ sở để triển khai công tác thu BHXH ở từng đơn vị Căn cứ vào số liệu thực thu của năm trước và tình hình phát triển kinh tế của địa phương, cơ quan BHXH tỉnh sẽ đưa ra chỉ tiêu cụ thể cho các cơ quan BHXH quận, huyện trực thuộc Chỉ tiêu này càng sát với thực tế và phù hợp