Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và nhà nước đối với người lao động.. Ngay sau khi giành được độc lập tháng 8 / 1945 mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn nh
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Công cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong gần 20 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế Nền kinh tế của Việt Nam
đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao, sự phát triển của nền kinh tế đã tạo ra cơ
sở để cải thiện nhiều mặt về xã hội Duy trì trật tự xã hội là một trong những cái đích quan trọng mà bất kỳ một thể chế chính trị, một giai cấp hay một quốc gia nào muốn tồn tại đều phải đạt được Việc duy trì trật tự xã hội đòi hỏi có sự đóng góp không nhỏ của các giải pháp, các chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và nhà nước đối với người lao động
Ngay sau khi giành được độc lập (tháng 8 / 1945) mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng Đảng và nhà nước hết sức quan tâm đến chính sách Bảo hiểm xã hội, quyền lợi của người lao động được hưởng Bảo hiểm xã hội
đã được ghi trong các Hiến pháp 1946, 1980, 1992 Để cụ thể hoá các chính sách Bảo hiểm xã hội, chính phủ đã ban hành các văn bản pháp luật về lĩnh vực Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã được chính thức ban hành và phát triển từ năm 1961, nhưng phải đến gần đây khi phải thực hiện các quy định của Bộ luật lao động và điều lệ Bảo hiểm xã hội được ban hành kèm theo nghị định số 12/ CP ngày 26 / 1 / 1995 của chính phủ, chính sách Bảo hiểm xã hội mới thực sự được chuyển biến
Việc thực hiện tốt các chính sách Bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo sự công bằng giữa những người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau Đó cũng là quyền lợi chính đáng mà họ cần được hưởng từ nhà nước và xã hội Tuy
Trang 2nhiên, hiện nay do chưa hiểu hết về Bảo hiểm xã hội nên còn nhiều các doanh nghiệp luôn tìm cách né tránh đóng Bảo hiểm xã hội Do vậy, quyền bình đẳng trong việc hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội của người lao động đã
bị chủ sử dụng lao động huỷ bỏ, làm ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp nói riêng và của xã hội nói chung
Với những nhận thức trên cùng với những kiến thức đã học em đã
chọn đề tài “Nội dung và ý nghĩa của chế độ Bảo hiểm xã hội ” Trong bài
tiểu luận này, em xin đề cập tới tình hình thi hành chế độ Bảo hiểm xã hội ở công ty Xi măng CHINFON Hải Phòng để làm ví dụ thực tế
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bài tiểu luận gồm có 4 phần chính:
II Tầm quan trọng của Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp.
măng Chinfon Hải Phòng.
IV Một số kiến nghị với nhà nước.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Luật đã giúp em hoàn thành bài tiểu luận này
Sinh viên
Lê Thu Trang
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I Những nhận thức cơ bản về Bảo hiểm xã hội
1 Khái niêm chung về Bảo hiểm xã hội
a Khái niêm :
Cùng với sự vận động của xã hội, nhân loại đã trải qua 5 hình thái kinh tế đã lần lượt thay thế từ hình thức xã hội phát triển thấp – công xã nguyên thuỷ, đến hình thức xã hội cao hơn là cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn quá độ là chủ nghĩa xã hội Nhưng dù tồn tại dưới hình thức nào đi chăng nữa thì nhu cầu đảm bảo cuộc sống con người cũng không thể thiếu được Đặc biệt trước những rủi ro, những biến cố mà bản thân người lao động không thể hoặc khó khắc phục như: ốm đau, thai sản, bệnh tật, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, … vậy chúng ta phải giải quyết, khắc phục, đối phó như thế nào?
Mặt khác, nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển đã làm xuất hiện việc thuê mướn nhân công, hình thành quan hệ chủ – thợ Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động nhưng về sau đã phải cam kết cả việc đảm bảo cho người lao động có một thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu cần thiết như: ốm đau, tai nạn, tuổi già, … nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra nên người chủ không phải bỏ một đồng nào, nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc người chủ phải bỏ ra những khoản tiền lớn mà họ không muốn, việc tranh chấp quyền lợi giữa hai bên chủ – thợ trở nên gay gắt Lúc này đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước Nhà nước sẽ đứng ra tổ chức một hệ thống trung gian nhằm đảm bảo lợi ích cho người lao
Trang 4gian cũng như những hoạt động và mối quan hệ chặt chẽ đó gọi là Bảo hiểm
xã hội Từ đó ta có thể rút ra khái niệm:
“Bảo hiểm xã hội là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ sự đóng góp của người lao động, sử dụng lao động (nếu có), sự tài trợ của nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp các rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nan lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc tử vong.”
b Các loại Bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc: đây là loại hình mang tính chất cưỡng chế bắt buộc các bên chủ – thợ phải thực hiện, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người lao động, người sử dụng lao động nếu đã đủ điều kiện trong các văn bản pháp luật của nhà nước về Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội tự nguyện: là loại hình Bảo hiểm xã hội mà việc tham gia bảo hiểm hay không tuỳ thuộc vào ý nguyện chủ quan của người lao động, pháp luật không cưỡng chế người lao động phải tham gia
c Vai trò của Bảo hiểm xã hội đối với kinh tế xã hội
Trong bất cứ hệ thống Bảo hiểm xã hội nào thì mục đích của nó cũng mang tính xã hội Thông qua việc chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội, xã hội
ổn định hơn và có điều kiện tốt hơn để phát triển Vai trò của Bảo hiểm xã hội được thể hiện qua những khía cạnh cơ bản sau:
Trang 5- Về đời sống kinh tế, Bảo hiểm xã hội chính là sự phân phối lại thu nhập cho người lao động, nhờ đó người lao động và gia đình của họ luôn được đảm bảo tước mọi bất trắc rủi ro
- Về mặt xã hội, Bảo hiểm xã hội mang tính cộng đồng rất cao Nhờ kỹ thuật “san sẻ rủi ro”, người lao động chỉ phải đóng góp một phần trong thu nhập của mình cho quỹ Bảo hiểm xã hội, nhưng xã hội có một lượng vật chất đủ lớn để trang trải những rủi ro xảy ra đối với người tham gia Bảo hiểm xã hội
- Bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng trong chính sách đảm bảo
xã hội, nên Bảo hiểm xã hội phải góp phần đảm bảo an toàn xã hội
- Bảo hiểm xã hội gắn bó giữa người lao động và người sử dụng lao động và nhà nước
2 Nội dung của Bảo hiểm xã hội.
a Các chế đô Bảo hiểm xã hội:
Các chế độ Bảo hiểm xã hội là hệ thống các quy định về mức hưởng
và thời hạn hưởng cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi chế độ (ốm đau, thai sản, hưu trí, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, … ) Có thể nói hệ thống các chế độ là nội dung cốt lõi nhất của Bảo hiểm xã hội, nó thể hiện được vai trò của Bảo hiểm xã hội đối với người lao động khi tham gia Bảo hiểm xã hội
b Trợ cấp Bảo hiểm xã hội.
Trang 6- Trợ cấp Bảo hiểm xã hội là khoản tiền từ quỹ Bảo hiểm xã hội được bên Bảo hiểm xã hội (cơ quan Bảo hiểm xã hội ) chi trả cho người được Bảo hiểm xã hội khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập, bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm và có đủ các điều kiện quy định
- Trợ cấp Bảo hiểm xã hội có nhiều loại: trợ cấp một lần và trợ cấp thường xuyên hàng tháng, trợ cấp ngắn hạn (thai sản, ốm đau) và trợ cấp dài hạn (hưu trí, tuổi già, bệnh nghề nghiệp), trợ cấp thay thế tiền lương (tiền công) và trợ cấp có tính hỗ trợ thêm tương ứng với mức suy giảm khả năng lao động Người lao động được hưởng loại trợ cấp nào với mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng bao nhiêu là do tính chất của hiện tượng phải bảo hiểm phát sinh, mức suy giảm hoặc mất khả năng lao động và thời gian đóng góp của tất cả mọi người tham gia Bảo hiểm xã hội nhưng chưa gặp khó khăn nên chưa được trợ cấp
và phần tăng thêm (dù là nhỏ) do cơ quan bảo hiểm xã hội đưa vào
hoạt động sinh lợi
c Quỹ Bảo hiểm xã hội.
- Quỹ Bảo hiểm xã hội là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia Bảo hiểm xã hội hình thành một quy tiền tệ tập trung
để chi trả cho những người được Bảo hiểm xã hội và gia đình họ khi
họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc
bị mất việc làm
- Như vậy quỹ Bảo hiểm xã hội là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao
và là điều kiện hay cở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ
hệ thống Bảo hiểm xã hội tồn tại và phát triển Quỹ Bảo hiểm xã hội
Trang 7hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia, giúp giảm thiệt hại kinh tế cho người
sử dụng lao động, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước và của gia đình
d Phí Bảo hiểm xã hội.
- Phí Bảo hiểm xã hội là khảon tiền đóng góp hàng tháng của những người tham gia Bảo hiểm xã hội cho quỹ Bảo hiểm xã hội Phí Bảo hiểm xã hội có nhiều loại tuỳ theo cách phân loại cụ thể Nếu theo kết cấu của các chế độ Bảo hiểm xã hội thì mỗi chế độ có một loại phí tương ứng, đồng thời có phí Bảo hiểm xã hội tổng hợp chung cho tất
cả các chế độ Nếu theo kết cấu nội tại của phí bảo hiểm xã hội thì có phí thuần tuý và phí toàn phần
- Có thể hình dung phí bảo hiểm thuần tuý giống như phần chi phí vật chất trong giá thành sản phẩm Để chuyển từ chỗ có thể được hưởng thành hiện thực chắc chắn được hưởng thì còn phải cộng thêm một số chi phí cần thiết khác nữa như chi phí quản lý Đây là phí Bảo hiểm xã hội toàn phần
e Tổ chức quản lý thực hiện Bảo hiểm xã hội.
- Quản lý Bảo hiểm xã hội cho ta thấy phương thức quản lý Bảo hiểm
xã hội và các cơ quan chức năng có nhiệm vụ quản lý Bảo hiểm xã hội để từ đó có kế hoạch tổ chức quản lý Bảo hiểm xã hội được chặt chẽ, có hiệu quả
- Ngoài ra trong nội dung của Bảo hiểm xã hội con quy định về quyền hạn và trách nhiệm giữa các bên tham gia, việc giải quyết tranh chấp
và xử lý các vi phạm về Bảo hiểm xã hội
Trang 83 Sự cần thiết phải có hệ thống Bảo hiểm xã hội.
Trong thực tế cuộc sống không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khoẻ, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động Ngược lại, không mấy ai tránh khỏi những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, thai sản, tai nạn, già yếu, chết, … để khắc phục những rủi ro bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân, người lao động phải được sự bảo trợ của cộng đồng tập thể các cơ quan nhà nước và xã hội
Qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề của giới chủ và thợ, chỉ đến khi có sự ra đời của Bảo hiểm xã hội thì những tranh chấp cũng như những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất Sự xuất hiện Bảo hiểm xã hội là một tất yếu khách quan, khi
mà mọi người trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống Bảo hiểm xã hội vầ sự cần thiết phải tiến hành bảo hiểm cho người lao động Bảo hiểm xã hội đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động, một trong những nhu cầu tất yếu khách quan của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội Liên hợp quốc thông qua ngày 10/ 12 / 1948
đã nêu: “tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền
hưởng Bảo hiểm xã hội ”
II Tầm quan trọng của Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp.
1 Các nguyên tắc của Bảo hiểm xã hội.
Trang 9- Nguyên tắc số đông bù số ít của Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội
là một trong những cơ chế an toàn xã hội, trước hết là sự trợ giúp cho người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập tạm thời như ốm đau, tai nạn Trong cả cuộc đời của người lao động thường là thời gian lao động dài hơn thời gian người lao động bị mất khả năng lao động hoặc thời gian từ khi hết tuổi lao động đến lúc chết
Vì vậy, nguyên tắc trước tiên của Bảo hiểm xã hội là lấy số đông bù
số ít, lấy quãng đời lao động có thu nhập để bảo hiểm cho khi giảm hoặc mất khả năng lao động
- Nguyên tắc tổ chức ba bên:
+ Người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội để đảm bảo cho chính mình dựa trên quy luật số đông bù số ít Đây là nguyên tắc thể hiện tính cộng đồng rất cao của con người, tức là một người găp rủi ro sẽ được nhiều người giúp đỡ chia sẻ
+ Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải bảo hiểm cho người lao động mình thuê mướn theo quy định của pháp luật
+ Nhà nước tham gia Bảo hiểm xã hội với hai tư cách : tư cách nhà nước
và tư cách chủ lao động Nhà nước ban hành các luật và có hỗ trợ cần thiết nhằm thúc đẩy hoạt động Bảo hiểm xã hội
- Nguyên tắc đảm bảo tính bắt buộc đồng thời đáp ứng nhu cầu của
tham gia Bảo hiểm xã hội trong trường hợp tự nguyện Bảo hiểm xã hội
áp dụng hình thức bắt buộc là để đảm bảo quy luật số lớn và có hệ số an toàn cao nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động
2.Tầm quan trọng của Bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp.
Trang 10a Đối với người lao động.
Chế độ Bảo hiểm xã hội có ý nghĩa lớn đối với cán bộ, công nhân viên Bởi vì nếu chế độ Bảo hiểm xã hội không được thực hiện thì chủ sử dụng lao động sẽ không bị ràng buộc về trách nhiệm đối với người lao động khi họ bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, … Trong những trường hợp trên, nếu chế độ Bảo hiểm xã hội được thực hiện thì quyền lợi của người lao động sẽ được đảm bảo góp phần ổn định cuộc sống cho họ Trường hợp ngược lại người lao động sẽ không được hưởng quyền lợi chính đáng, hết sức quan trọng đó
b Đối với chủ sử dụng lao động.
Khi người lao động được đảm bảo quyền lợi về Bảo hiểm xã hội họ sẽ yên tâm, phấn khởi lao động, từ đó năng suất lao động tăng, chất lượng sản phẩm được nâng cao, giúp doanh nghiệp có nhiều lợi nhuận hơn Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, việc các nhà doanh nghiệp phải thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ đóng Bảo hiểm xã hội không chỉ nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động mà mà còn đảm bảo quyền bình đẳng trong hoạt động sản xuất giữa các doanh nghiệp
c Đối với Nhà nước và xã hội.
Nền kinh tế đất nước đang phát triển mạnh mẽ theo định hướng đa thành phần kinh tế Thực hiện tốt chế độ Bảo hiểm xã hội trong các doanh
Trang 11nghiệp là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo sự công bằng giữa những người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau Đó là sự công bằng
về nghĩa vụ đóng góp cho đất nước, cho xã hội cũng như công bằng về các quyền lợi mà họ cần được hưởng từ nhà nước, xã hội Chính sự bình đẳng này sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển Nói cách khác, đó là sự thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển lên một trình độ mới cao hơn
Tóm lại, thực hiện chế độ Bảo hiểm xã hội cho người lao động là một
chủ trương, chính sách hết sức đúng đắn của Đảng và nhà nước ta, đồng thời cũng là một nhiệm vụ rất cấp thiết trong tình hình hiện nay
III Tình hình thi hành chế độ Bảo hiểm xã hội tại Công ty Xi măng Chinfon Hải Phòng.
1 Khái quát về công ty.
Công ty xi măng Chinfon Hải Phòng được thành lập theo giấy phép đầu tư số 490/GP ngày 24/2/1992 của Bộ kế hoạch và đầu tư Tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào công ty là 288,3 triệu đôla Mỹ, vốn pháp định 90 triệu đôla Mỹ, trong đó tập đoàn chinfon Đài Loan 70%, bên Việt Nam là thành phố Hải Phòng 15,56% (góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất) và tổng công ty xi măng Việt Nam 14,14% (vốn bằng tiền mặt) Từ năm 1997 công ty chính thức đi vào hoạt động Năm 2002, toàn bộ công ty có gần 700 lao động trong đó chỉ có 13 chuyên gia nước ngoài Cán bộ trình độ đại học
và trên đại học 223 người Trung cấp và kỹ thuật viên là 203 người, còn lại
là 259 người lao động phổ thông