1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu

91 814 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 460,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu, Một số phương pháp phong ngừa và hạn chế rủi ro đầu tư cổ phiếu

Trang 1

2.1 Hoạt động đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam hiện nay iii

2.2 Các tác nhân gây rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam iv

3.1 Những định hướng và mục tiêu cơ bản phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020 viii

1.1 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu 3

2.1 Hoạt động đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam hiện nay 11

2.2 Các tác nhân gây rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam 17

3.1 Những định hướng và mục tiêu cơ bản phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020 55

Trang 2

CTCK:

Thị trường chứng khoánCông ty chứng khoánSGDCK: Sở giao dịch chứng khoán

NHNN: Ngân hàng nhà nước

NHTƯ: Ngân hàng trung ương

UBCKNN: Ủy ban chứng khoán nhà nước

CPI: Chỉ số giá tiêu dùng

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

Trang 3

1.1 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu i

2.1 Hoạt động đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam hiện nay iii

2.2 Các tác nhân gây rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam iv

3.1 Những định hướng và mục tiêu cơ bản phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020 viii

1.1 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu 3

2.1 Hoạt động đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam hiện nay 11

2.2 Các tác nhân gây rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam 17

3.1 Những định hướng và mục tiêu cơ bản phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020 55

Trang 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RỦI RO VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU

1.1 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu

1.1.1 Khái niệm rủi ro cổ phiếu

Trong đầu tư cổ phiếu, rủi ro chính là sự thay đổi liên tục của giá cổ phiếu Nói cách khác khi đầu tư vào TTCK, nhà đầu tư không thể chắc chắn

về lợi nhuận thu được

1.1.2 Phân loại rủi ro

1.1.3 Đo lường rủi ro trong đầu tư cổ phiếu

Rủi ro đối với một cổ phiếu riêng lẻ:

- Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư

- Phương sai của danh mục đầu tư hai cổ phiếu

- Độ lêch chuẩn của danh mục đầu tư

- Hệ số beta (β)

Trang 5

1.2 Sự cần thiết phải hạn chế rủi ro trong đầu tư cổ phiếu

- Hạn chế rủi ro để đầu tư bền vững và nâng cao lợi nhuận là chiến lược quan trọng của mỗi nhà đầu tư khi tham gia thị trường chứng khoán

- Quản lý rủi ro tốt chính là một trong những phương pháp đầu tư tạo ra giá trị, góp phần tạo ra chiến lược đầu tư hiệu quả hơn

- Một số giải pháp hạn chế rủi ro được sử dụng phổ biến là: đa dạng hóa danh mục đầu tư, quản trị rủi ro, quản lý danh mục đầu tư, xây dựng chiến lược đầu tư, sử dụng công cụ chứng khoán phái sinh

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ

CỔ PHIẾU TẠI VIỆT NAM 2.1 Hoạt động đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam hiện nay

Tháng 7/2000 khi mở cửa Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh với 02 công ty niêm yết ban đầu Giai đoạn 5 năm phát triển tiếp theo từ năm 2006-1010, TTCK Việt Nam đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ Tính đến 31/12/2010 có 649 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết tại cả hai SGDCK, với tổng giá trị niêm yết đạt hơn 200.000 nghìn tỷ đồng, tăng gấp nhiều lần so với số 4,94 nghìn tỷ đồng cuối năm 2005 Tổng giá trị vốn hoá thị trường là 726.000 tỷ đồng, tương đương 39% GDP năm 2010

Những tồn tại của thị trường :

- Khuôn khổ pháp lý chưa thực sự đồng bộ và khó bao quát được thực tiễn hoạt động của thị trường

- Hệ thống kiểm toán còn hạn chế, các quy định về kế toán tài chính doanh nghiệp và chế độ kế toán doanh nghiệp còn đang trong quá trình hoàn thiện

- Số lượng các nhà đầu tư tham gia thị trường chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế

- Các nhà đầu tư cá nhân có nhiều hạn chế về mặt kiến thức và kinh nghiệm đầu tư Các giao dịch trên thị trường diễn ra theo theo xu hướng số đông Diễn biến giao dịch không phản ánh đúng các quy luật của Thị trường

- Giao dịch OTC chưa được quản lý, tự phát, thiếu thông tin, không minh bạch, làm ảnh hưởng đến quyền lợi các nhà đầu tư

- Vai trò của các CTCK trong hoạt động môi giới còn hạn chế trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mới, tư vấn đầu tư cho khách hàng Cơ

sở hạ tầng phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán còn chưa đồng bộ

Trang 7

- Hoạt động của các tổ chức trung gian được mở rộng nhưng vấn đề quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, nhất là trong việc đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán.

- Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm còn chưa mạnh, mức độ răn đe còn hạn chế, còn có nhiều vi phạm xảy ra

2.2 Các tác nhân gây rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam

2.2.1 Tác động từ nền kinh tế thế giới

Bất ổn vĩ mô

Sự mất cân bằng kéo dài trong khu vực tài chính và khu vực tài khóa tại các nền kinh tế phát triển gây ra những bất ổn về kinh tế vĩ mô và hoạt động tài chính-ngân hàng toàn cầu; giá dầu tăng cao làm tăng chi phí đầu vào và tình trạng thất nghiệp tại các nước phát triển vẫn chưa được cải thiện nhiều; nguy cơ khủng hoảng nợ công lan rộng sang nhiều nước tại khu vực châu Âu gây rủi ro đối với hệ thống tài chính khu vực và toàn cầu; trong khi đó nhiều quốc gia đang phát triển và mới nổi lại đang bước vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế nóng với áp lực lạm phát cao là dấu hiệu của việc kinh tế có thể tăng trưởng chậm lại

Diễn biến thị trường tài chính - tiền tệ và hoạt động ngân hàng

- Đô la giảm giá, vàng tăng giá

- Tăng lãi suất để ứng phó

Trang 8

- Thâm hụt ngân sách và nợ công tiếp tục diễn biến xấu.

- Vốn đầu tư trực tiếp tăng, gián tiếp giảm

2.2.2 Tác động từ nền kinh tế trong nước

- Thâm hụt ngân sách vẫn là gánh nặng

- Vốn đầu tư FDI có dấu hiệu suy yếu, nhưng cơ cấu có dịch chuyển tích cực

- Chỉ số giá tiêu dùng vẫn duy trì ở mức cao

- Tỷ giá USD/VND vẫn chịu sức ép lớn vào cuối năm

- Chính sách tiền tệ dự báo sẽ tiếp tục thắt chặt để kiềm chế lạm phát

2.2.3 Hạn chế về thông tin

- Hệ thống thu thập, lưu giữ, xử lý và phổ biến thông tin còn nhiều bất cập

- Chất lượng thông tin

- Năng lực phân tích thông tin và phổ biến thông tin còn hạn chế

2.2.4 Hạn chế về phía nhà đầu tư

Có thể nói là các quyết định của người đầu tư mang nặng cảm tính và tâm lý đám đông, hàm lượng tri thức đầu tư trong đó còn rất thấp Dễ dàng nhận thấy điều đó qua hành vi đổ xô vào mua lấy được, rồi sau ít tháng lại thi nhau bán ra trong sự hoảng loạn thất vọng mà không có một lý giải nào thỏa đáng (tham lam và sợ hãi chi phối quá mạnh) Chính tình hình này là một tác nhân tiêu cực dẫn đến những biến động của TTCK

2.2.5 Rủi ro từ các quy định và chất lượng dịch vụ của các sàn, sở giao dịch và công ty chứng khoán

- Hình thức khớp lệnh định kỳ gây rủi ro cho nhà đầu tư vì không thể hủy ngang lệnh đã đặt mua hàng bán trước khi kết thúc phiên khớp lệnh, dễ gây tình trạng cung – cầu ảo trên thị trường và cả tình trạng nghẽn mạch, quá tải

Trang 9

- Khớp lệnh liên tục có thể gây rủi ro cho nhà đầu tư theo 2 cách:

+ Rủi ro vì lệnh mua – bán bị nhập vào hệ thống chậm hơn so với các nhà đầu tư khác

+ Rủi ro vì phải mua – bán bằng hết các chứng khoán đã đặt lệnh theo mức giá thị trường thời điểm hiện hành cao

- Rủi ro gắn với sự điều chỉnh quy định về số lượng giao dịch cổ phiếu thực hiện:

+ Không thể xé nhỏ các khoản đầu tư như trước, vì đã “bỏ hết trứng vào một giỏ”

+ Không có cơ hội mua chứng khoán tốt vì chỉ được giao dịch theo lô lớn

2.2.6 Rủi ro đến từ các thị trường khác

Với một thị trường tiền tệ kém phát triển, những thay đổi trong tương quan cung – cầu vốn được phản ánh rất chậm trong biến động lãi suất, và càng chậm trong giá cả của các công cụ tài chính Thiếu các hàng hóa trên thị trường vốn ngắn hạn, gánh nặng cung cấp dịch vụ cho vay (kể cả dài hạn) đổ lên hệ thống ngân hàng Trong điều kiện còn chịu nhiều áp lực hành chính trong việc thực hiện các khoản cho vay, tình trạng này càng làm tăng thêm sự bóp méo về giá cả, lợi nhuận

2.2.7 Những rủi ro tiềm ẩn trong đầu tư cổ phiếu

- Nguy cơ đầu cơ, lũng đoạn thị trường: Giá cổ phiếu giảm không phải

do cung cổ phiếu tăng mà phụ thuộc vào sự điểu chỉnh của nhà đầu cơ Dù không muốn, họ cũng sẽ điều chỉnh theo hướng duy trì giá thấp của các bluechip (những cổ phiếu dẫn đầu thị trường) không chỉ vì lợi nhuận và còn vì khả năng tài chính của họ

- Sự quá phụ thuộc vào luồng vốn quốc tế, dẫn đến tình trạng lệ thuộc kinh tế và thậm chí là chính trị Khi tham gia vào quá trình hội nhập, TTCK

Trang 10

Việt Nam cũng có nguy cơ đối đầu với sự biến dạng của yếu tố này nếu không

có những biện pháp phòng ngừa hợp lý

2.3 Thực trạng hạn chế rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam

- Nhà đầu tư chưa thực sự quan tâm đến việc phòng ngừa và hạn chế rủi

ro Đầu tư chủ yếu theo số đông

Thông tin kinh tế vĩ mô, thông tin về tình hình kinh doanh hoặc nội bộ

doanh nghiệp tác động lớn đến hoạt động đầu tư ngay cả khi là những thông

tin thiếu căn cứ, bị đồn thổi

- Giải pháp phòng ngừa rủi ro được nhà đầu tư sử dụng nhiều nhất là đa

dạng hóa danh mục đầu tư nhưng việc đa dạng hóa chưa thực sự hiệu quả

- Việc đầu tư hiện nay hầu như trong ngắn hạn, chưa có sự đầu tư thực

sự mà chủ yếu là đầu cơ khiến nguy cơ rủi ro càng cao

Trang 11

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO

TRONG ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU

3.1 Những định hướng và mục tiêu cơ bản phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2020

3.2 Một số giải pháp hạn chế rủi ro đối với nhà đầu tư cá nhân 3.2.1 Quản trị rủi ro

Bước 1: Nhận dạng rủi ro

Bước 2: Ước tính, định lượng rủi ro

Bước 3: Đánh giá tác động của rủi ro

Bước 4: Đánh giá năng lực của người thực hiện chương trình bảo hiểm rủi ro

Bước 5: Lựa chọn công cụ và quản lý rủi ro thích hợp

3.2.2 Xây dựng chiến lược đầu tư hiệu quả

- Bước 1: Xác định nhóm các công cụ đầu tư Thông thường có 3 loại công cụ chính là: cổ phiếu, trái phiếu và các khoản đầu tư ngắn hạn dễ chuyển thành tiền mặt

- Bước 2: Xác định tỷ lệ đầu tư cho mỗi nhóm công cụ Tỷ lệ đầu tiên được xác định dựa vào mục tiêu đầu tư và các điều kiện của nền kinh tế như lãi suất, lạm phát…

- Bước 3: Xác định các loại cổ phiếu cụ thể cho mỗi công cụ đầu tư, đồng thời xác định tỷ lệ cho từng chứng khoán đã lựa chọn

3.3 Một số kiến nghị đối với ủy ban chứng khoán và các cơ quan chức năng có liên quan

3.3.1 Gia tăng chất lượng và chủng loại hàng hóa

- Đưa các công ty lớn, có khả năng chi phối lớn tới nền kinh tế vào niêm yết

Trang 12

- Gia tăng loại hình quỹ đầu tư.

- Cho ra đời các loại công cụ phái sinh

3.3.2 Đa dạng hóa các loại hình giao dịch

Đưa vào thị trường các loại giao dịch: giao dịch lô lẻ, giao dịch lô lớn, giao dịch đấu thầu, quyền mua cổ phiếu, chứng quyền của tổ chức phát hành

3.3.3 Cung cấp thông tin đầy đủ

Hệ thống thông tin được tổ chức một cách bài bản, hệ thống, với những

dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn được đưa ra có tính khoa học và có sức thuyết phục thì không những nó có tính giáo dục rất cao, khuyến khích những người đầu tư tiềm năng đang thực sự quan tâm tới việc bỏ vốn dài hạn

3.3.4 Phát triển chế độ thanh toán không dùng tiền mặt

Nhà đầu tư sẽ e ngại khi đưa số tiền của mình vào tài khoản và chịu sự giám sát quản lý của các cơ quan quản lý thị trường trong khi đó nếu họ không mở tài khoản họ có thể dùng số tiền mặt đó để giao dịch tùy ý mà không chịu sự giám sát của cơ quan nào, hơn nữa lại có thể bớt được một khoản phí khi mở tài khoản Do đó, để các nhà đầu tư mạnh dạn hơn trong việc thực hiện các giao dịch trên SGD, hạn chế hoạt động của TTCK ngầm, và cũng nhằm nâng cao khả năng quản lý của cơ quan quản lý, phải đẩy mạnh việc sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt

3.3.5 Điều chỉnh các chuẩn mức kế toán gần với các chuẩn mực quốc tế

Sớm ban hành đầy đủ các chuẩn mực kế toán phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế là một giải pháp không thể thiếu để các nhà đầu tư có thể quản lý được các khoản đầu tư của mình một cách hiệu quả

Trang 13

3.3.6 Chủ động chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới của thị trường

Năng lực cạnh tranh trong tương lai của doanh nghiệp phải được xem xét như là một yếu tố hàng đầu cho một khoản đầu tư an toàn và dài hạn thực trạng và hành vi của doanh nghiệp cần được năm bắt và phân tích đầy đủ trong bối cảnh những điều chỉnh chính sách hướng tới hội nhập của Chính phủ

3.4 Một số kiến nghị đối với Chính phủ

3.4.1 Tạo dựng sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp

- Tạo môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp như là một biện pháp để nang cao hiệu quả quản lý rủi ro trên TTCK

- Sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước theo định hướng đã đề ra, cũng cần xác định lại quan niệm về độc quyền Nhà nước

3.4.2 Hoàn thiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và tăng cường quản lý giám sát thị trường

- Nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống giao dịch và giám sát thị trường của SGD;

- Tổ chức và hoàn thiện các hoạt động theo dõi, kiểm tra, thanh tra các hoạt động trên thị trường

3.4.3 Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế lĩnh vực chứng khoán và TTCK

Tư vấn xây dựng các chính sách phát triển và quản lý thị trường, xây dựng khuôn khổ pháp luật chứng khoán, đào tạo đội ngũ cán bộ; từng bước

mở cửa và hội nhập với các TTCK trên thế giới theo lộ trình đã cam kết

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tháng 7 năm 2000, TTCK Việt Nam ra đời, là sự kiện quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới của nền kinh tế đất nước Sau gần 11 năm đi vào hoạt động, TTCK Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, được đánh giá là một trong những thị trường phát triển nhanh nhất thế giới Tới nay, TTCK đã là điểm đến quen thuộc của giới đầu tư Tuy có những bước trưởng thành nhất định nhưng một thực trạng đáng chú ý là chứng khoán vẫn là lĩnh vực mới mẻ và chứa đựng nhiều rủi ro Một số nhà đầu tư bắt đầu trang bị cho mình kiến thức chứng khoán nhưng không ít người đổ xô vào chứng khoán với tâm lý “chơi

là được” mà không lường hết những rủi ro có thể gặp phải Trước tình hình

ấy, chúng ta cần nghiên cứu về rủi ro trong đầu tư cổ phiếu một cách có hệ thống, để các nhà đầu tư có những quyết định đầu tư đúng đắn hiệu quả mà vẫn giảm thiểu được rủi ro

2 Mục đích của đề tài

Với đề tài “Hạn chế rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam”, dựa trên

hệ thống lý thuyết về thị trường tài chính và thực trạng đầu tư trên TTCK Việt Nam từ năm 2000 đến nay, luận văn cố gắng tìm hiểu bản chất và những nguyên nhân gây rủi ro chứng khoán, từ đó nêu ra một số kiến nghị và giải pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu:

- Khái nhiệm rủi ro trong đầu tư cổ phiếu và sự cần thiết phải hạn chế rủi

ro trong đầu tư cổ phiếu

- Tìm hiểu thực trạng hạn chế rủi ro đối với các nhà đầu tư cá nhân trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam

- Các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro

Trang 15

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu được tiến hành bằng cách:

- Theo dõi và thu thập thông tin về thực trạng hoạt động của TTCK Việt Nam, trong đó tập trung vào cổ phiếu

- Lập bảng hỏi và tiến hành khảo sát với 300 nhà đầu tư thường xuyên giao dịch cổ phiếu, tham gia đầu tư cổ phiếu trong vòng từ 3 năm đến thời điểm khảo sát để tìm hiểu thực trạng hạn chế rủi ro cổ phiếu tại Việt Nam hiện nay

- Dựa trên thực trạng hạn chế rủi ro của các nhà đầu tư cá nhân hiện nay

để đề xuất một số biện pháp phòng chống, hạn chế rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam

5 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hạn chế rủi ro trong đầu

tư cổ phiếu

- Phân tích thực trạng rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại TTCK bằng việc phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro

- Đánh giá thực trạng hạn chế rủi ro của các nhà đầu tư cá nhân

- Đề xuất một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong đầu tư cổ phiếu

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề chung về rủi ro và hạn chế rủi ro trong đầu tư

Trang 16

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ

RỦI RO VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU

1.1 Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu

1.1.1 Khái niệm rủi ro cổ phiếu

Rủi ro (Risk): Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi

ro Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn: Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến

Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp

Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai

Trong đầu tư cổ phiếu, rủi ro chính là sự thay đổi liên tục của giá cổ phiếu Nói cách khác khi đầu tư vào TTCK, nhà đầu tư không thể chắc chắn

về lợi nhuận thu được.

Trang 17

Rủi ro xảy ra ngay cả khi con người ta không quyết định đầu tư mà dùng số tiền mình có thể tiết kiệm Ví dụ khi cất tiền trong nhà thì vẫn xảy ra khả năng mất trắng do nhà bị cháy; hoặc khi gửi tiền vào ngân hàng thì người gửi có thể đối đầu với khả năng sức mua của cộng đồng đô la bị giảm do ảnh hưởng của lạm phát khiến giá trị thực tế của đồng đô la nhận được thấp hơn khi gửi tiền Khi đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hoặc quỹ tương hỗ cũng có những rủi ro ở nhiều mức độ khác nhau.

Đại đa số các nhà đầu tư đều mong muốn kiếm được càng nhiều tiền càng tốt trên khoản đầu tư của họ Tuy nhiên, hầu như tất cả các khoản đầu tư đều mang theo một sự không chắc chắn Một thực tế mà người đầu tư phải chấp nhận khi đầu tư cổ phiếu, đó là sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Không có gì ngạc nhiên khi những khoản đầu tư tiết kiệm ít rủi ro hơn những ngược lịa tiền lãi nhận được không đáng kể

Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu là không thể tránh khỏi, nhưng vẫn có thể kiểm soát nó Kiểm soát rủi ro tức là việc có thể tăng lợi nhuận tối đa trong khi vẫn giảm thiểu được rủi ro Làm được như vậy nghĩa là người đầu tư đã có một lợi nhuận hợp lý với mức rủi ro có thể chấp nhận được

Mỗi nhà đầu tư có thái độ khác nhau đối với rủi ro, nhưng có ba loại thái độ phổ biến là ưa thích rủi ro (risk seeker), trung dung với rủi ro (risk neutral), và không thích rủi ro (risk a verse)

1.1.2 Phân loại rủi ro

Rủi ro trong đầu tư cổ phiếu nói chung là rất đa dạng nhưng xét ở phạm

vi rộng có thể phân làm hai loại là rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống

Rủi ro hệ thống

Rủi ro hệ thống do toàn bộ thị trường quyết định và người đầu tư không thể tác động lên rủi ro này Nó bao gồm những rủi ro nằm ngoài công ty, không thể kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi Nhưng thay đổi về kinh

Trang 18

tế, chính trị, xã hội là nguồn của rủi hệ thống Tác động của nó khiến cho đa

số các loại cổ phiếu riêng lẻ dao động theo cùng một hướng Bình quân khoảng một nửa tổng sổ rủi ro của cổ phiếu phổ thông là rủi ro hệ thống Những công ty chịu ảnh hưởng lớn của rủi ro hệ thống là những công ty mà doanh số, lợi nhuận, giá cả chứng khoán theo sát các diễn biến kinh tế và những diễn biến trên TTCK; và thường là các công ty trong các ngành công nghiệp cơ bản và khai khoáng

Một số rủi ro chính trong rủi ro hệ thống:

Rủi ro không hệ thống bao gồm một số rủi ro chính như sau:

- Rủi do kinh doanh

- Rủi ro tài chính

Ngoài ra, rủi ro không hệ thống còn có thể tính đến rủi ro hoạt động phi pháp, tức khả năng chủ sở hữu, người quản lý, nhân viên công ty chứng khoán hay các công ty niêm yết hoặc khách hàng cố ý vi phạm các quy định về ngăn ngừa các giao dịch không công bằng, hoạt động lừa đảo dẫn đến các khoản lỗ cho người đầu tư, hay công bố những thông tin không đầy đủ và chính xác trái với quy định gây hiểu lầm cho người đầu tư

Trang 19

1.1.3 Đo lường rủi ro trong đầu tư cổ phiếu

Các nhà đầu tư khi đầu tư vào chứng khoán đều muốn đạt tới mức lợi nhuận cao nhất với mức rủi ro thấp nhất Muốn làm được điều này nhà đầu tư cần phải nắm được một số hệ số thông dụng để đánh giá mức độ an toàn của chứng khoán

Đối với cổ phiếu, có rất nhiều chỉ số tài chính đánh giá mức độ rủi ro cũng như cơ hội đầu tư cổ phiếu Ở đây, chúng ta chỉ tập trung vào các phép

đo lường rủi ro cổ phiếu riêng lẻ và danh mục cổ phiếu và các chỉ số như beta…

Phép đo lường rủi ro cổ phiếu bao gồm: Rủi ro đối với một cổ phiếu riêng lẻ, thông qua lợi nhuận kỳ vọng, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến đổi; và rủi ro đối với một danh mục cổ phiếu

Rủi ro đối với một cổ phiếu riêng lẻ:

Phương sai (δ2) là thước đo độ phân tán trong đó phản ánh những

khoản chênh lệch giữa những mức lợi nhuận có thể nhận được với mức lợi nhuận kỳ vọng Dải các mức lợi nhuận có thể nhận được càng rộng, hay độ phân tán các ước tính xác suất càng lớn thì giá trị của phương sai sẽ càng lớn Một khoản đầu tư có phương sai bằng 0 thì chỉ có một khả năng lợi nhuận, một lợi nhuận chắc chắn, và không có rủi ro Bất kỳ một giá trị phương sai nào khác (phương sai luôn là số dương) cũng đều hàm ý một mức độ rủi ro nhất định; phương sai càng lớn thì rủi ro cũng càng lớn

Độ lệch chuẩn (δ) cũng là một thước đo hay được sử dụng, đơn giản là

căn bậc hai của phương sai Nó không chứa đựng nhiều thông tin hơn phương sai, nhưng nó cho phép xác định những ước tính xác suất về những sự kiện trong tương lai Cần phải tính độ lệch chuẩn để tính toán được hệ số biến đổi

Hệ số biến đổi (C) hay còn gọi là hệ số độ lệch chuẩn (δ ratio) là hệ so

sánh độ lệch chuẩn để so sánh khi hai cổ phiếu có lợi nhuận kỳ vọng bằng

Trang 20

nhau Trong thực tế ít có trường hợp như vậy nên sử dụng hệ số biến đổi đem lại cái nhìn chính xác hơn.

Cần lưu ý rằng cho dù rủi ro của các cổ phiếu riêng lẻ có lớn đến đâu đi nữa, song nếu kết hợp các cổ phiếu lại với nhau trong một danh mục đầu tư theo một cách nào đó, thì rủi ro tổng thể của danh mục giảm đi những lợi nhuận kỳ vọng thì không nhất thiết giảm Để tìm hiểu vấn đề này chúng ta cần xem xét cách lượng hóa rủi ro với một danh mục cổ phiếu

Rủi ro đối với một danh mục cổ phiếu:

Hệ số tích sai (Covariance) được tính bằng cách cộng tất cả tích của hai

độ lệch chuẩn của hai cổ phiếu trong từng tình trạng khác nhau của nền kinh

tế và chia trung bình Trong đó độ lệch chuẩn bằng căn bậc hai của phương sai, và phương sai từng cổ phiếu là trung bình của tổng bình phương các độ lệch Nếu hệ số tích sai dương, điều đó có nghĩa là hai cổ phiếu có mối quan

hệ cùng chiều và trong cùng một tình trạng kinh tế, lợi nhuận của hai cổ phiếu đều cùng cao hơn hoặc thấp hơn lợi nhuận kỳ vọng Còn nếu hệ số tích sai

âm, lợi nhuận của hai cổ phiếu có mối quan hệ ngược chiều và trong cùng một tình trạng kinh tế nếu lợi nhuận của cổ phiếu này trên mức lợi nhuận kỳ vọng thì lợi nhuận của cổ phiếu kia sẽ thấp hơn lợi nhuận kỳ vọng Tuy nhiên, hệ số tích sai chưa chỉ ra được mức độ liên hệ theo một chuẩn mực dễ hình dung nên chúng ta tính thêm hệ số tương thích

Hệ số tương thích (Correlation) được tính bằng cách chia hệ số tích sai

cho tích hai độ lêch chuẩn của hai cổ phiếu; và lúc đó, thước đo được giới hạn

từ -1 đến +1 Hệ số tường thích dương thể hiện lợi nhuận hai cổ phiếu có quan

hệ cùng chiều nhau, và hệ số tương thích dương càng lớn thì hai cổ phiếu đó càng có dao động giống nhau, bằng +1 tức là hai cổ phiếu hoàn toàn có dao động giống nhau Hệ số tương thích âm chỉ sự dao động ngược chiều và càng lớn thì dao động ngược chiều đó càng nhiều

Trang 21

Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là trung bình trọng số của lợi

nhuận kỳ vọng của các cổ phiếu riêng lẻ nằm trong danh mục

Phương sai của danh mục đầu tư hai cổ phiếu bao gồm phương sai của

từng cổ phiếu và hệ số tích sai giữa hai cổ phiếu Nếu hệ số tích sai dương, phương sai của toàn danh mục sẽ tăng lên; ngược lại, nếu hệ số tích sai âm, phương sai của toàn danh mục sẽ giảm

Độ lêch chuẩn của danh mục đầu tư được tính bằng cách lấy căn bậc

hai của phương sai danh mục đầu tư

Hệ số beta (β)

Rủi ro đầu tư cổ phiếu đó là sự bất ổn, sự biến thiên có khả năng của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng Thông thường để đo lường rủi ro người ta dùng phân phối xác suất với các tham số đo lường phổ biến là phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên Tuy nhiên, luận vănnày đề cập đến một chỉ tiêu đánh giá rủi ro đầu tư cổ phiếu được sử dụng phổ biến, đó là

hệ số beta (β)

Hệ số beta được định nghĩa như là hệ số đo lường mức độ biến động lợi nhuận cổ phiếu cá biệt so với mức độ biến động lợi nhuận danh mục cổ phiếu thị trường

Ý nghĩa của hệ số β

β được định nghĩa là hệ số đo lường sự biến động của lợi Cho nên, β được

xem như hệ số đo lường rủi ro đầu tư cổ phiếu Do đó, lợi nhuận kỳ vọng của

một loại chứng khoán có hệ dương với số β của nó.

Mặt khác, hệ số β cũng có thể hiện so với rủi ro thị trường.

Lợi nhuận của chứng khoán có quan hệ cùng chiều với rủi ro đầu tư cổ phiếu, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng chứng khoán có lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại

Trang 22

1.2 Sự cần thiết của việc hạn chế rủi ro trong đầu tư cổ phiếu

Trong thực trạng nền kinh tế phát triển nhanh như ở Việt Nam những năm từ thập niên 90 đến năm 2007, khi mà tình hình thị trường diễn biến khá thuận lợi, rất nhiều cơ hội, giao dịch kinh tế được thực hiện một cách dễ dàng

và có lợi cho các bên… thì phần lớn nhà đầu tư đều đầu tư thành công, dù ở cấp độ nhiều hay ít, mà không tính đến dài hạn hay ngắn hạn Các rủi ro khi

đó được giảm thiểu một cách khách quan từ thị trường và do đó bị xem nhẹ một cách đáng tiếc Tuy nhiên, khi nền kinh tế có dấu hiệu chững lại và kém thuận lợi, bắt đầu từ lạm phát cao, cạnh tranh ngày càng gay gắt, đến việc khan hiếm nguồn lực tài chính cùng áp lực lãi suất cao và gần nhất là tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhà đầu tư sẽ phải đương đầu với mặt trái của các biến động - các rủi ro kinh doanh Một yếu tố

có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thành công, khả năng vượt qua tình trạng khó khăn hiện nay, thậm chí khả năng tồn tại của các nhà đầu tư chính là việc

họ có hay không một cơ chế nhận diện, kiểm soát và hạn chế rủi ro Nếu làm tốt điều này, nhiều nhà đầu tư có thể biến rủi ro thành cơ hội cho mình

Hạn chế rủi ro để đầu tư bền vững và nâng cao lợi nhuận là chiến lược quan trọng của mỗi nhà đầu tư khi tham gia thị trường chứng khoán

Nhà đầu tư muốn thu được lợi suất cao thì phải quản lý được những rủi

ro có thể xảy ra với mình Một trong những vấn đề nhà đầu tư cần quan tâm là quản lý rủi ro trong việc hoạch định chiến lược và lập kế hoạch đầu tư Các mục tiêu chiến lược và kế hoạch đầu tư phải phù hợp với khả năng tài chính

và xu hướng phát triển của thị trường, thích nghi được với những thay đổi bất ngờ hoặc với những thay đổi mang chiều hướng xấu của thị trường hoặc bản thân doanh nghiệp Nhà đầu tư cần lựa chọn chiến lược, xem xét những ảnh hưởng của chúng và phân bổ tỷ lệ đầu tư, có tính đến mức độ rủi ro có thể chấp nhận được nhằm đạt được lợi nhuận mong muốn từ các khoản đầu tư

Trang 23

Đồng thời, đối với các sự kiện và rủi ro khi xảy ra sẽ có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện chiến lược hoặc việc đạt được các mục tiêu Các sự kiện có tác động tích cực được coi là cơ hội, các sự kiện có ít khả năng xảy ra sẽ vẫn được xem xét nếu chúng có tác động lớn đến việc đạt được mục tiêu lợi nhuận

Do đó mỗi nhà đầu tư nhất thiết phải thực hiện việc quản lý rủi ro, đó là một quy trình và biện pháp để đạt mục đích chứ bản thân nó không phải là mục đích Theo đó rủi ro được xem như là điều không mong muốn nhà đầu tư phải chấp nhận Tuy nhiên, thực tiễn đó chỉ ra rằng, quản lý rủi ro tốt chính là một trong những phương pháp đầu tư tạo ra giá trị, góp phần tạo ra chiến lược đầu tư hiệu quả hơn

Một số giải pháp hạn chế rủi ro được sử dụng phổ biến là: đa dạng hóa danh mục đầu tư, quản trị rủi ro, quản lý danh mục đầu tư, xây dựng chiến lược đầu tư, sử dụng công cụ chứng khoán phái sinh

Trang 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ

CỔ PHIẾU TẠI VIỆT NAM

2.1 Hoạt động đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam hiện nay

Quy mô TTCK đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc Trong thời kỳ 5 năm đầu mở cửa thị trường từ 2000-2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 43% vào năm 2007 Năm 2010 tương đương khoảng 39% GDP

Hoạt động phát hành chứng khoán huy động vốn trên TTCK chỉ thực sự khởi động từ năm 2006 Trong năm 2006, có 44 công ty cổ phần thực hiện việc chào bán hơn 203 triệu cổ phiếu và đến năm 2007, hoạt động này gia tăng mạnh, khi có gần 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương mại được đăng ký với UBCKNN với tổng lượng vốn huy động đạt gần 40.000 tỷ VND Trong năm 2008, do sự suy giảm của TTCK, tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng thông qua hơn 100 đợt chào bán chứng khoán ra công chúng Thị trường hồi phục vào năm 2009 đã tạo điều kiện cho hoạt động phát hành qua TTCK, đặc biệt là phát hành cổ phiếu Tổng số vốn huy động qua phát hành cổ phiếu năm 2009 đã tăng hơn 50% so với 2008, đạt 21.724 tỷ đồng Trong năm 2010, tổng mức huy động trên TTCK thông qua phát hành cổ phiếu, đấu giá cổ phần hóa và đấu thầu trái phiếu chính phủ đạt 109.000 tỷ VNĐ, cụ thể: UBCKNN đã cấp giấy chứng nhận chào bán chứng khoán cho 247 tổ chức phát hành với tổng số 7,7 tỷ cổ phiếu, tương đương hơn 77.000 tỷ VNĐ (tính theo mệnh giá); Tổ chức 55 phiên đấu giá tại 2 SGDCK với tổng giá trị chào bán đạt gần 4.400 tỷ VNĐ (số liệu từ đầu năm đến 30/11); tổ chức 34 đợt đấu thầu trái phiếu chính phủ với tỏng gia trị trúng thầu đạt 28.000 tỷ đồng

Trang 25

Hoạt động niêm yết và giao dịch chứng khoán tại các Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK):

Tháng 7/2000 khi mở cửa Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh với 02 công ty niêm yết ban đầu, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa khan hiếm, chỉ số VN Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày 25/6/2001 Sau đó, thị trường

đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau đó, trước khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003 Năm 2005, khi tiếp tục đưa Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội vào hoạt động, tổng số các công ty niêm yết trên cả hai thị trường là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng

Giai đoạn 5 năm phát triển tiếp theo từ năm 2006-1010, TTCK Việt Nam đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng công ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch Tính đến 31/12/2010 có 649 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết tại cả hai SGDCK, với tổng giá trị niêm yết đạt hơn 200.000 nghìn tỷ đồng, tăng gấp nhiều lần so với số 4,94 nghìn tỷ đồng cuối năm 2005 Tổng giá trị vốn hoá thị trường là 726.000 tỷ đồng, tương đương 39% GDP năm 2010

Bên cạnh tính thanh khoản của thị trường cũng được cải thiện rõ rệt Nếu như năm 2005, bình quân có 667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên 2,6 triệu đơn vị (tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu trong hai năm sau đó Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng trong các năm tsau đó từ 0.43 lần (năm 2006) lên 0.64 lần (năm 2007), 0.68 lần (năm 2008) Giai đoạn này cũng ghi nhận các chỉ số chứng khoán trên TTCK Việt Nam đạt được mức cao nhất VNIndex đạt mức 1,170.67 điểm và HASTC-Index (nay đã được đổi thành HNX-Index) đạt 459.36 điểm

Trang 26

Cùng với việc không ngừng mở rộng của các thị trường chính thức (đăng ký niêm yết chứng khoán tại các SGDCK) để thu hút số lượng lớn các doanh nghiệp tham gia niêm yết trên thị trường, tháng 6/2009 hệ thống giao dịch UpCom trên SGDCK Hà Nội (hệ thống giao dịch cho các chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết) cũng đã được đưa vào vận hành Đến cuối 2010, đã có 108 cổ phiếu được giao dịch trên hệ thống UpCoM với tổng giá trị giao dịch đạt hơn 2.800 tỷ đồng (so với tổng giá trị niêm yết hơn 11.600 tỷ đồng).

Số lượng nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng kể Từ khoảng gần 3.000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới

mở cửa thị trường, tính đến nay đã có hơn 1 triệu tài khoản, trong đó có khoảng 15.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài

Diễn biến thị trường cổ phiếu 9 tháng đầu năm 2011:

9 tháng đầu năm 2011 đã qua đi, nhìn chung giảm điểm vẫn là xu hướng chính của TTCK trong suốt thời gian vừa qua Mặc dù có được hai đợt hồi phục vào cuối tháng 5 và khoảng giữa tháng 8 nhưng so sánh với thời điểm cuối năm ngoái, VN Index vẫn để mất 11,77% trong khi đó với HNX Index thì mức giảm thậm chí còn sâu hơn, lên đến 37,55%, chốt phiên 30/09, hai chỉ số này lần lượt đóng cửa ở 427,60 và 71,34 điểm Nếu tính chỉ riêng trong quý 3 vừa qua, có thể xem ngoài thời điểm khởi sắc nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm nay tính đến thời điểm hiện tại, gồm một đợt tăng điểm khá dài của TTCK kéo dài khoảng 1 tháng từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9, thì cả hai sàn vẫn mất điểm khi VN Index và HNX Index lần lượt giảm 3,32% và 5,23% Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này trước hết đến từ phía các vấn đề vĩ mô cơ bản trong nước Lạm phát đã dần trở nên ổn định và được kiểm soát nhưng nếu so với năm ngoái thì vẫn ở mức cao, mặt bằng lãi suất đã hạ nhiệt sau một loạt các biện pháp mạnh mẽ và

Trang 27

quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhưng chưa thực sự thấp, thêm vào đó một số vấn đề mới lại nảy sinh, đặc biệt là áp lực tỷ giá Không chỉ có vậy, trong thời gian qua TTCK Việt Nam còn chịu ảnh hưởng bởi những thông tin tiêu cực trên thị trường thế giới mà nổi bật nhất là vấn đề nợ công ở Châu Âu vẫn chưa được giải quyết và khả năng suy thoái kép của nền kinh tế toàn cầu

Trong tháng 7, dư âm từ đợt hồi phục cuối tháng 5 đầu tháng 6 lúc này

đã gần như không còn, TTCK Việt Nam theo đó càng giao dịch càng đi xuống, xu thế giằng co và giảm nhẹ là kịch bản chính của thị trường trong tháng này Cả hai sàn giao dịch đều hầu như không tìm được một điểm tựa nào để có thể phục hồi, thông tin hỗ trợ trong nước hoàn toàn thiếu vắng khi mà mức tăng CPI của tháng 7 vẫn ở trên 1%, trong khi đó tình hình kinh

tế thế giới cũng khá u ám với nguy cơ vỡ nợ của Mỹ nếu nước này không đạt được thỏa thuận nâng trần nợ công đúng hạn và sự bế tắc trong việc giải quyết vấn đề nợ công ở Châu Âu Tâm lý của các nhà đầu tư theo đó liên tục

bị thử thách và bào mòn dần, TTCK cũng vì thế mà không chỉ sụt giảm về điểm số mà còn suy kiệt cả về tính thanh khoản một cách đáng báo động

Bước sang tháng 8, đây có thể nói là một tháng giao dịch khá ảm đạm Trong nửa đầu của tháng này, TTCK Việt Nam tiếp tục chiều hướng xuống trong bối cảnh thiếu vắng thông tin hỗ trợ VN Index lập đáy vào 12/08 với con số 383,92 điểm còn đáy của HNX Index lại được thiết lập sau đó 1 phiên giao dịch với con số thấp kỷ lục 65,78 điểm Tuy nhiên khoảng thời gian còn lại của tháng lại là khoảng thời gian mà TTCK bắt đầu ghi nhận sự hồi phục mạnh mẽ Trước đây nếu như những khó khăn từ phía vĩ mô trong nước là nguyên nhân chính làm thị trường sụt giảm thì đến thời điểm này khi những vấn đề đó đã có dấu hiệu chuyển biến tích cực hơn thì cũng là lúc thị trường bứt phá

Trang 28

Đầu tiên phải kể đến việc lạm phát đã dần được kiềm chế và ổn định hơn với thông tin mức tăng CPI trong tháng 8 của cả nước chỉ chưa đến 1%, với con số 0,93% Không dừng lại ở đó, thị trường còn nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ kỳ vọng mặt bằng lãi suất sẽ được hạ nhiệt vào đầu tháng 9 sau khẳng định khá chắc chắn của NHNN Tổ chức này tuyên bố sẽ đưa ra những biện pháp cứng rắn và quyết liệt thể hiện quyết tâm cao đảm bảo thực hiện mục tiêu kể trên Kết quả là niềm tin vào thị trường dần được phục hồi, giao dịch ngày càng trở nên sôi động hơn qua từng phiên, dòng tiền có dấu hiệu trở lại TTCK trong sự hứng khởi của các nhà đầu tư Tính thanh khoản tăng lên dẫn đến sự gia tăng của VN Index và HNX Index Đà phục hồi kể trên của thị trường tiếp tục kéo dài thêm trong tháng 9 Đáng chú ý là trước đó vào cuối tháng 8, giá xăng dầu trong nước đã được điều chỉnh giảm lần đầu tiên trong năm 2011, mặc dù chưa nhiều nhưng cũng tạo kỳ vọng vào khả năng kiềm chế

và ổn định lạm phát và là cơ sở quan trọng để có thể thực hiện mục tiêu hạ nhiệt lãi suất Không những thế, niềm tin của các nhà đầu tư vào điều này lại thêm được củng cố sau một loạt những biện pháp mạnh mẽ của NHNN, đặc biệt đáng chú ý là quyết định áp trần lãi suất huy động 14% vào ngày 07/09, sau đó nhiều ngân hàng công bố hạ lãi suất cho vay về từ 17% đến 19% Khi niềm tin dần trở thành hiện thực thì TTCK Việt Nam đã có đủ lý do để tiếp tục bay cao, thu hút dòng tiền đổ mạnh vào hai sàn giao dịch Trong đợt hồi phục này VN Index đã ghi nhận một chuỗi tăng điểm liên tiếp lên đến 13 phiên Chỉ số này chạm đến đỉnh vào ngày 15/09 với con số 470,67 điểm còn HNX Index thiết lập mức cao nhất trước đó 2 ngày, hôm 13/09, với con số 79,25 điểm Cũng cần phải lưu ý thêm, vào ngày 14/09, bóng dáng của một phiên phân phối đỉnh đã xuất hiện khi giá trị giao dịch trên cả hai sàn đồng loạt đạt trên 1.000 tỷ đồng Với đợt hồi phục kéo dài khoảng 1 tháng, áp lực điều chỉnh của thị trường đang khá lớn, ngoài ra mặt bằng giá cổ phiếu đã ở

Trang 29

mức cao, cản trở lực cầu Ngoài ra, thị trường từ giữa tháng 9 trở đi còn chịu tác động tiêu cực từ cả yếu tố trong nước và thế giới cụ thể là những vấn đề nảy sinh sau khi hạ lãi suất mà đặc biệt là vấn đề tỷ giá, cũng như diễn biến xấu trong việc giải quyết vấn đề nợ công ở Châu Âu mà kéo theo đó là triển vọng yếu kém của nền kinh tế toàn cầu

Nhà đầu tư nước ngoài thu hẹp mua ròng, tiếp tục giữ thái độ thận trọng với TTCK Việt Nam do chịu tác động từ cả yếu tố vĩ mô trong nước lẫn thế giới Hoạt động mua ròng của các nhà đầu tư nước ngoài đã dần co hẹp với một mức đáng kể sau quyết định thay đổi tỷ giá hồi cuối tháng 2 Bước sang đến quý 3 thì xu hướng bán ròng trở nên ngày một rõ nét hơn và là xu hướng chính của khối ngoại Động thái bán ròng này của khối ngoại đặc biệt mạnh vào tháng 9, nhất là sau khi thị trường đạt đỉnh, các nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán ra rất mạnh, thậm chí có tuần khối ngoại liên tục bán ròng trên sàn Hồ Chí Minh trong cả 5 phiên giao dịch với giá trị bán ròng trung bình mỗi phiên trên 100 tỷ đồng

Điểm đáng lưu ý là các nhà đầu tư nướcngoài vẫn chỉ tập trung phần lớn sự ưu ái của mình cho nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn Trong danh sách 10 cổ phiếu được mua ròng nhiều nhất cũng như bị bán ròng mạnh nhất của khối ngoại thì phần đông đều thuộc nhóm cổ phiếu này

Những tồn tại của thị trường:

Bên cạnh những thành công, hoạt động của thị trường cổ phiếu Việt Nam trong thời gian qua cũng bộc lộ nhiều vấn đề tồn tại:

- Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của thị trường ngày càng hoàn thiện hơn nhưng chưa thực sự đồng bộ và khó bao quát được thực tiễn hoạt động của thị trường, có nhiều vấn đề mới phát sinh nhưng vẫn chưa có văn bản pháp luật điều chỉnh cụ thể

Trang 30

- Hoạt động phát hành huy động vốn và niêm yết chứng khoán phát triển mạnh Tuy nhiên, hệ thống kiểm toán còn hạn chế, các quy định về kế toán tài chính doanh nghiệp và chế độ kế toán doanh nghiệp còn đang trong quá trình hoàn thiện

- Số lượng các nhà đầu tư tham gia thị trường tuy có những bước tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian gần đây những vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế

- Hệ thống nhà đầu tư của chúng ta chưa đa dạng, cấu trúc cầu đầu tư hiện tại chưa bảo đảm sự tăng trưởng một cách bền vững Hệ thống nhà đầu tư

tổ chức chưa phát triển làm hạn chế sự phát triển của

- Các nhà đầu tư cá nhân có nhiều hạn chế về mặt kiến thức và kinh nghiệm đầu tư Các giao dịch trên thị trường diễn ra theo theo xu hướng số đông Diễn biến giao dịch không phản ánh đúng các quy luật của Thị trường

- Giao dịch OTC chưa được quản lý, tự phát, thiếu thông tin, không minh bạch làm ảnh hưởng đến quyền lợi các nhà đầu tư

- Vai trò của các CTCK trong hoạt động môi giới còn hạn chế trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mới, tư vấn đầu tư cho khách hàng Cơ

sở hạ tầng phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán còn chưa đồng bộ

- Hoạt động của các tổ chức trung gian được mở rộng nhưng vấn đề quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, nhất là trong việc đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán

- Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm còn chưa mạnh, mức độ răn đe còn hạn chế, còn có nhiều vi phạm xảy ra

2.2 Các tác nhân gây rủi ro trong đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam

2.2.1 Tác động từ nền kinh tế thế giới

Môi trường kinh tế quốc tế là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển của nghành Trong một nền kinh tế đang suy thoái thì các doanh

Trang 31

nghiệp sẽ khó thành công hơn rất nhiều so với trong một nền kinh tế khởi sắc TTCK, một thị trường được xem là “phong vuc biểu của nên kinh tế một quốc gia” không thể nằm ngoài những ảnh hưởng này.

Trên thực tế, môi trường toàn cầu mang theo những rủi ro chính trị có quy nô lớn hơn nhiều so với những gì gặp phải ở tầm nội địa, tác động hoặc tiêu cực hoặc tích cực đến TTCK của một quốc gia Ví dụ, thị trường cổ phiếu Hồng Kông cực kỳ nhạy cảm với sự chuyển giao quyền lực về Trung Quốc năm 1997 Năm 1992 và 1993, thị trường cổ phiếu Mehico đã có phản ứng hết sức ấn tượng trước những thay đổi trong đánh giá về triền vọng thông qua hiệp ước thương mại tự do Bắc Mĩ

Mặt khác, diễn biến của các TTCK phát triển như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Hồng Kông … cũng như tác động mạnh đến các chỉ số chứng khoán của các quốc gia khác Khi chỉ số DowJone hoặc S & P 500 sụt giảm, thị trhwowngf chứng khoán các nước sẽ phản ứng ngay tức thì Sự phản ứng dây chuyền này

là rất bình thường khi xu thế toàn cầu hóa và liên kết giữa các quốc gia ngày càng trở nên mạnh mẽ, đặc biệt là TTCK

Kinh tế thế giới 6 tháng đầu năm 2011 vẫn tiếp tục đà phục hồi nhưng không đồng đều giữa các khu vực và các quốc gia Tại nhiều nền kinh tế phát triển tăng trưởng vẫn còn yếu trong khi các quốc gia đang phát triển và mới nổi tiếp tục đà phục hồi kinh tế mạnh mẽ, đóng vai trò là động lực tăng trưởng toàn cầu Tuy nhiên, những rủi ro đang ngày càng tăng lên cùng với những nguy cơ, thách thức mới phát sinh có thể làm chậm quá trình phục hồi của các quốc gia

Hiện nay nền kinh tế thế giới còn tồn tại các vấn đề sau:

- Bất ổn vĩ mô

Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới (WEO) tháng 6-2011 của Quỹ Tiền

tệ quốc tế (IMF) đã điều chỉnh giảm các số liệu dự báo về tốc độ tăng trưởng

Trang 32

kinh tế của các nước phát triển cũng như mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2011 so với dự báo mà tổ chức này đưa ra tại WEO tháng 4/2011 Theo dự báo mới, mặc dù kinh tế thế giới tăng trưởng 4,3% trong quí I-2011, giảm nhẹ trong quí II-2011 và có khả năng tăng nhanh hơn trong 6 tháng cuối năm nhưng dự kiến tốc độ tăng trưởng cả năm 2011 chỉ đạt 4,3% (điều chỉnh giảm 0,1%) Tăng trưởng GDP của các nước phát triển trong năm 2011 dự kiến đạt 2,2% (điều chỉnh giảm 0,1%); trong đó kinh tế Mỹ, khu vực Euro và Nhật Bản dự báo tăng trưởng lần lượt ở mức 2,5%, 2,0% và âm 0,7% Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển và mới nổi tiếp tục đà phục hồi kinh tế mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng dự báo ở mức cao, đạt 6,6% (điều chỉnh tăng 0,1 %); Trung Quốc, Ấn Độ được dự báo tăng trưởng lần lượt là 9,6% và 8,2%

Các rủi ro chính đe dọa tiến trình phục hồi tăng trưởng kinh tế cũng như

sự ổn định kinh tế vĩ mô toàn cầu năm 2011 bao gồm: sự mất cân bằng kéo dài trong khu vực tài chính và khu vực tài khóa tại các nền kinh tế phát triển gây ra những bất ổn về kinh tế vĩ mô và hoạt động tài chính-ngân hàng toàn cầu; giá dầu tăng cao làm tăng chi phí đầu vào và tình trạng thất nghiệp tại các nước phát triển vẫn chưa được cải thiện nhiều; nguy cơ khủng hoảng nợ công lan rộng sang nhiều nước tại khu vực châu Âu gây rủi ro đối với hệ thống tài chính khu vực và toàn cầu; trong khi đó nhiều quốc gia đang phát triển và mới nổi lại đang bước vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế nóng với áp lực lạm phát cao là dấu hiệu của việc kinh tế có thể tăng trưởng chậm lại

- Nguy cơ lạm phát

Lạm phát - mối quan tâm lớn nhất hiện nay - đã tăng lên mức cao và đe dọa cản trở tốc độ phục hồi kinh tế thế giới cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô của các nước Lạm phát ở các quốc gia phát triển có dấu hiệu tăng nhanh hơn các quốc gia đang phát triển Mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) so với

Trang 33

cùng kỳ năm trước tính đến cuối tháng 5-2011 tại Mỹ là 3,6%, cao nhất kể từ tháng 7/2008, tại Anh là 4,5%, Singapore là 4,48%, Canada là 3,7%; tính đến cuối tháng 6-2011 tại khu vực Eurozone là 2,7% và tại Hàn Quốc là 4,4% so với cùng kỳ năm ngoái

Trong khi đó tại Trung Quốc, bất chấp rất nhiều các biện pháp thắt chặt tiền tệ như liên tiếp tăng các mức lãi suất chính sách, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc nhưng CPI của nước này tính đến cuối tháng 6-2011 vẫn tăng ở mức kỷ lục 6,4% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng cao nhất trong vòng ba năm trở lại đây Các nước đang phát triển khác như Nga, Ấn Độ, cũng có tốc độ tăng CPI tính đến cuối tháng 5 ở mức cao, lần lượt là 9,6%, 8,9% so với cùng kỳ năm ngoái

Lạm phát tăng lên mức cao có thể xuất phát từ những bất ổn nội tại của từng quốc gia và cũng có phần chịu ảnh hưởng từ sự biến động của hoạt động kinh tế toàn cầu

Diễn biến thị trường tài chính - tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Đô la giảm giá, vàng tăng giá

Trong 6 tháng đầu năm 2011, đồng đô la Mỹ liên tục giảm giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt trên thế giới ngoại trừ đợt phục hồi nhẹ trong tháng 5-2011 Theo số liệu do Reuters thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2011, đồng đô la Mỹ giảm giá nhiều nhất so với đồng euro (-7,77%), đô la Úc (-4,8%), bảng Anh (-2,79%) và các đồng tiền khu vực châu Á như đô la Singapore (-4,27%), đồng won Hàn Quốc (-4,84%)…so với cuối năm 2010 Nguyên nhân chủ yếu khiến đồng đô la Mỹ giảm giá là: (1) Nền kinh tế Mỹ phục hồi chậm chạp và tiếp tục đối mặt với những vấn đề kinh niên như tình trạng thất nghiệp cao, thâm hụt ngân sách lớn, nợ công đã vượt quá mức trần được Quốc hội Mỹ cho phép; (2) Những cam kết về gói cứu trợ thứ 2 dành cho Hy Lạp trị giá khoảng 100 tỉ euro và việc thành lập quỹ cứu trợ thường

Trang 34

trực mới trị giá khoảng 500 tỉ euro được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh

EU đã giúp khôi phục niềm tin của các nhà đầu tư đối với sự ổn định của khu vực châu Âu trong tháng 6/2011, giúp cho các đồng tiền khu vực này lấy lại

xu hướng tăng giá so với đô la Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2011

Giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới có xu hướng tăng cao: vàng thiết lập mức giá cao nhất là 1.563,6 đô la Mỹ/ounce vào ngày 29-4-

2011 và liên tục duy trì ở mức trên 1.500 đô la Mỹ/ounce trong tháng 5 và tháng 6-2011 Tính đến ngày 30-6-2011, giá vàng giao ngay đạt mức 1.499,6

đô la Mỹ/ounce, tăng 5,65% so với cuối năm 2010 và tăng 20,8% so với cùng

kỳ năm ngoái Các chuyên gia kinh tế dự báo giá vàng thế giới có thể chạm mức 1.700 đô la Mỹ/ounce vào cuối năm nay Nguyên nhân giá vàng tăng cao chủ yếu là do cầu về vàng tăng lên trước động thái các ngân hàng trung ương (NHTƯ) tích cực sử dụng vàng trong cơ cấu dự trữ quốc gia, nhu cầu về vàng vật chất tại các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc tăng trong khi nguồn cung

bị hạn chế trước những bất ổn chính trị tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi

Tăng lãi suất để ứng phó

NHTƯ nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, đều đang điều chỉnh lãi suất chính sách theo chiều hướng tăng dần nhằm đối phó với áp lực lạm phát Trong 6 tháng đầu năm 2011, NHTƯ Trung Quốc đã 3 lần tăng lãi suất chính sách lên đến mức hiện tại là 6,56% và 6 lần tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc với mức tăng 0,25%/lần lên mức hiện tại là 21,5% đối với ngân hàng lớn và 18% đối với ngân hàng nhỏ; NHTƯ Nga cũng nâng lãi suất chính sách từ mức 7,75%/năm lên 8%/năm; NHTƯ Ấn Độ nâng lãi suất từ mức 5,75% lên 6,25%/năm; các NHTƯ trong khu vực ASEAN như NHTƯ Thái Lan đã 3 lần điều chỉnh tăng lãi suất chính sách từ 2% lên mức hiện tại là 3%/năm; NHTƯ Philippines tăng từ 4,25%/năm lên 4,5%/năm, NHTƯ Malaysia tăng từ 2,75%/năm lên 3%/năm

Trang 35

Một số nước phát triển cũng nâng lãi suất chính sách như NHTƯ Hàn Quốc đã hai lần nâng lãi suất chính sách lên mức hiện tại là 3,0%/năm, NHTƯ châu Âu (ECB) hai lần tăng lãi suất từ 1%/năm lên mức hiện tại 1,5%/năm Tuy nhiên, chính phủ một số nước phát triển như Mỹ, Anh, Canada, Thụy Sỹ,

Na Uy và Nhật Bản vẫn tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản thấp như cuối năm

2010 để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Fed duy trì mức lãi suất chính sách thấp 0,25%/năm NHTƯ Anh duy trì mức lãi suất thấp kỷ lục 0,5%/năm từ tháng 3-2009 và chương trình mua trái phiếu trị giá 200 tỉ bảng Anh, NHTƯ Nhật Bản (BOJ) giữ mức lãi suất cơ bản từ 0%-0,1% nhằm kích thích nền kinh tế

0-và tái thiết đất nước sau thảm hoạ động đất, sóng thần Bên cạnh đó, BOJ còn

mở rộng chương trình mua các tài sản rủi ro với tổng trị giá tối đa lên đến 40.000 tỉ yen dự kiến kéo dài đến hết quí 2-2012

Thâm hụt ngân sách và nợ công tiếp tục diễn biến xấu

Tại Mỹ, mặc dù thâm hụt ngân sách tháng 6-2011 của nước này chỉ ở mức 43,08 tỉ đô la Mỹ, giảm 25,3% so với tháng liền trước, nhưng vẫn là tháng thâm hụt thứ 33 liên tiếp kể từ tháng 10-2008 Tính chung thâm hụt ngân sách của Mỹ trong 9 tháng đầu của năm tài khóa 2011 là 970,52 tỉ đô la

Mỹ, giảm 33,5 tỉ đô la Mỹ, tương đương giảm 3,3% so với cùng kỳ của năm tài khóa 2010 Tuy nhiên, theo dự báo của Bộ Tài chính Mỹ, thâm hụt ngân sách liên bang Mỹ trong năm 2011 có thể lên tới 1.650 tỉ đô la Mỹ, đánh dấu năm thứ 3 liên tiếp vượt mức 1.000 tỉ đô la Mỹ Thâm hụt ngân sách liên bang tiếp tục ở mức cao chủ yếu do các chương trình kích thích và hỗ trợ kinh tế lớn, kéo dài

Nợ công của Mỹ tiếp tục tăng cao với tốc độ nhanh Nợ công của Mỹ

đã tăng từ mức 14.025 tỉ đô la Mỹ tại thời điểm cuối năm 2010 lên mức 14.345 tỉ đô la Mỹ vào ngày 16-5-2011, vượt mức trần nợ công theo quy định của Quốc hội Mỹ là 14.300 tỉ đô la Mỹ Tính đến ngày 15-7-2011, nợ công

Trang 36

của Mỹ đã lên đến mức 14.508 tỉ đô la Mỹ, tương đương 90%GDP, trong đó

nợ nước ngoài (chủ yếu là trái phiếu) là 4.489 tỉ đô la Mỹ, chiếm 30,9% tổng

dư nợ Chính phủ Mỹ đang kêu gọi Quốc hội Mỹ nâng mức trần nợ công hiện tại để đảm bảo khả năng chi trả các nguồn như lãi trái phiếu Chính phủ đến hạn vào ngày 2-8-2011 và cho phép Chính phủ Mỹ tiếp tục vay nợ từ nước ngoài bởi nếu không Chính phủ Mỹ có thể đứng trước nguy cơ vỡ nợ Bên cạnh đó, uy tín của Mỹ trên thị trường tài chính cũng đang bị giảm sút do các

tổ chức tín nhiệm Standard & Poor, Fitch Rating và Moody’s cảnh báo sẽ hạ xếp hạng tín nhiệm nợ của Mỹ

Tại khu vực Châu Âu, khủng hoảng nợ công vẫn tiếp tục lan rộng Theo

số liệu do Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) công bố vào tháng 4-2011, tỉ

lệ nợ công so với GDP của khu vực Euro đã tăng từ mức 79,3% trong năm

2009 lên mức 85,1% trong năm 2010, trong đó các quốc gia có tỉ lệ nợ công/GDP trong năm 2010 cao hơn gấp 2 lần so với ngưỡng an toàn 60% GDP mà Hiệp định ổn định Liên minh châu Âu đặt ra gồm có Hy Lạp (142,8%), Italia (119%), Ireland (96,2%), Bồ Đào Nha (93%) Tỉ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP của các quốc gia Ireland, Hy Lạp và Bồ Đào Nha trong năm 2010 cũng ở mức cao nhất khu vực

Tiếp theo Hy Lạp và Ireland, trong tháng 4/2011, Bồ Đào Nha là nền kinh tế thứ ba trong khu vực đồng Euro đề nghị cứu trợ khẩn cấp để thoát khỏi

vỡ nợ.Với gói cứu trợ trị giá khoảng 78 tỉ euro từ EU và IMF, Bồ Đào Nha cam kết cắt giảm thâm hụt ngân sách từ mức 9,1% GDP trong năm 2010 xuống 5,9% GDP năm 2011 và 4,5% GDP năm 2012 Hy Lạp tiếp tục yêu cầu gói cứu trợ thứ hai khoảng 70 tỉ euro (sau gói cứu trợ thứ nhất 110 tỉ euro năm 2010) Ngoài ra, các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế liên tục hạ bậc tín nhiệm nợ của các quốc gia mắc nợ nhiều nhất (Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha) trong khu vực Eurozone Bên cạnh đó, Italia và Tây Ban Nha cũng đang có

Trang 37

dấu hiệu rủi ro về nợ công Lợi suất trái phiếu thời hạn 5 năm do Chính phủ Italia phát hành trong tháng 7-2011 đã lên mức 4,93%/năm, mức cao nhất trong 3 năm qua của nước này.

Tại Hội nghị thượng đỉnh EU tháng 6-2011, bộ trưởng tài chính các nước đã thống nhất nguyên tắc giải ngân 12 tỉ euro tiếp theo trong gói cứu trợ khẩn cấp 110 tỉ euro dành cho Hy Lạp năm 2010 và gói cứu trợ thứ hai với trị giá 100 tỉ euro với điều kiện Chính phủ Hy Lạp phải tiết kiệm chi tiêu khoảng

28 tỉ euro trong 5 năm tới Ngoài ra, các nhà lãnh đạo EU đã nhất trí thành lập Quỹ cứu trợ thường trực mới trị giá khoảng 500 tỉ euro, thay thế Quỹ ổn định tài chính châu Âu trị giá 440 tỉ euro

Nguy cơ vỡ nợ luôn thường trực tại khu vực châu Âu nếu chính phủ các quốc gia nặng nợ nói trên không cắt giảm thâm hụt ngân sách và không sử dụng hiệu quả các gói cứu trợ để vực dậy hệ thống ngân hàng và nền kinh tế yếu kém

Vốn đầu tư trực tiếp tăng, gián tiếp giảm

Theo số liệu dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB) trong Dự báo kinh tế toàn cầu (GEP) tháng 6-2011, luồng vốn FDI ròng đổ vào các nước đang phát triển và mới nổi tăng từ 485,4 tỉ đô la Mỹ năm 2010 lên mức dự kiến 555 tỉ đô

la Mỹ năm 2011 và 603,6 tỉ đô la Mỹ trong năm 2012 Trái lại, luồng vốn đầu

tư gián tiếp nước ngoài có xu hướng giảm và tiếp tục bị rút khỏi các nước đang phát triển và mới nổi Luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ròng dự kiến giảm từ mức 147,8 tỉ đô la Mỹ trong năm 2010 xuống còn 119,1 tỉ đô la

Mỹ trong năm 2011

Dòng vốn đầu tư gián tiếp bị giảm là do các nguyên nhân sau: (i) bất

ổn chính trị tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi đã làm ảnh hưởng tâm lý của các nhà đầu tư; (ii) lạm phát tăng cao tại các nước đang phát triển; (iii) các quốc gia đang phát triển kiểm soát chặt chẽ dòng vốn nóng (iv) Lợi nhuận của

Trang 38

các nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu tại các nước này đã bị giảm đáng kể

từ tháng 10-2010 Trong quí I-2011, luồng vốn đầu tư gián tiếp ròng bị rút khỏi các nước đang phát triển khoảng 25 tỉ đô la Mỹ, ngược với dòng vốn chảy vào khoảng 85 tỉ đô la Mỹ trong cùng kỳ năm 2010 Tình hình trên tiếp tục gây khó khăn cho TTCK của các nước này

Nhìn chung, hoạt động kinh tế toàn cầu trong 6 tháng đầu năm 2011 mặc dù vẫn phục hồi nhưng ngày càng bộc lộ nhiều hơn những rủi ro có thể gây bất ổn trên diện rộng như giá cả tăng cao, lạm phát tăng cao, thâm hụt ngân sách và nợ công không được cải thiện nhiều, tình trạng thất nghiệp vẫn ở mức cao tại các nước phát triển, luồng vốn đầu tư giảm Những bất ổn này có thể tiếp tục ảnh hưởng xấu đến các cân đối kinh tế vĩ mô vốn đang bị mất cân bằng trầm trọng trong nội bộ từng khu vực kinh tế và giữa khu vực kinh tế phát triển và đang phát triển Những rủi ro này cũng có thể xói mòn thành quả của sự hồi phục vốn chưa thực sự vững chắc từ sau khủng hoảng tài chính 2008-2009, giai đoạn mà nền kinh tế dễ bị tổn thương từ những cú sốc

Những chính sách kinh tế phù hợp và được thực hiện trên diện rộng, đặc biệt là có sự hợp tác của các nước có nền kin tế dẫn đầu, những xung đột chính trị được giải tỏa có thể là những điều cần thiết để ổn định và thúc đẩy kinh tế tiếp tục tăng trưởng bền vững, hạn chế những rủi ro trên phạm vi toàn cầu

2.2.2 Tác động từ nền kinh tế trong nước

Tính chung 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt gần 70 tỷ USD, tăng 35.4% so với cùng kỳ năm trước; trong khi kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 76.9 tỷ USD, tăng 26.9% so với cùng kỳ năm 2010

Thâm hụt thương mại 9 tháng đầu năm nay ước tính chỉ khoảng 6.9 tỷ USD, bằng 9.8% kim ngạch xuất khẩu Nếu không kể vàng, thâm hụt thương

Trang 39

mại 9 tháng đầu năm 2011 ước tính ở mức 7.7 tỷ USD, so với con số 11.4 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2010

Biểu đồ bên dưới cho thấy thâm hụt thương mại liên tục duy trì ở mức cao kỷ lục trong 5 tháng đầu năm, nhưng bắt đầu có sự giảm tốc đột ngột từ tháng 6 và đỉnh điểm là hiện tượng xuất siêu trong tháng 7

Nguyên nhân của sự khác biệt này chủ yếu đến từ sự gia tăng đột biến kim ngạch xuất khẩu của nhóm Đá quý, kim loại quý và sản phẩm Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu của nhóm này trong tháng 6 là 806 triệu USD và trong tháng 7 là 1,115 triệu USD

Tuy nhiên, trước dấu hiệu đầu cơ ngày càng tăng mạnh trên thị trường vàng, NHNN đã cấp quota nhập vàng để bình ổn giá, và hệ quả là thâm hụt thương mại đã có dấu hiệu tăng trở lại

Hiện NHNN đang nỗ lực đưa ra các biện pháp để kéo giảm hiện tượng đầu cơ trên thị trường vàng Hơn nữa, giá vàng thế giới đã có dấu hiệu chững lại sau một thời gian tăng cao kỷ lục

Lo ngại lớn nhất hiện nay là tình hình sức khỏe kinh tế thế giới Nếu kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong những tháng cuối năm 2011 sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực, và hệ quả là cán cân thương mại có thể bị thâm hụt nghiêm trọng hơn

Thâm hụt thương mại tiếp tục duy trì khoảng 1.3 – 1.6 tỷ USD/tháng,

và tổng thâm hụt thương mại cả năm 2011 vào khoảng 11 – 12 tỷ USD, tức khoảng từ 12.5% – 13.5% so với kim ngạch xuất khẩu; nếu không có biến động quá lớn trong kim ngạch nhập khẩu vàng những tháng cuối năm đề bình

ổn thị trường hàng hóa này

Trang 40

Biểu đồ 2.1: Xuất nhập khẩu và Thâm hụt thương mại theo tháng

Thâm hụt ngân sách vẫn là gánh nặng

Thâm hụt ngân sách trong những năm gần đây liên tục duy trì ở mức cao trên 5% GDP và đỉnh điểm là năm 2009 với mức thâm hụt 6.9% do các gói kích thích kinh tế được thực thi trong năm này

Dự toán năm 2011, tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 595,000

tỷ đồng tương đương 26.2% GDP, chưa kể 10,000 tỷ đồng thu chuyển nguồn năm 2010 sang năm 2011; trong khi đó tổng chi cân đối ngân sách nhà nước

là 725,600 tỷ đồng Như vậy, mức bội chi ngân sách nhà nước dự toán năm

2011 là 120,600 tỷ đồng, tương đương 5.3% GDP

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 9/2011, thâm hụt ngân sách ước đạt 44,500 tỷ đồng, xấp xỉ mức 36.9% dự toán cả năm Như vậy, thâm hụt ngân sách trong 9 tháng chỉ vào khoảng 2.6% GDP, so với con

số 3.47% GDP của cùng kỳ năm ngoái theo số liệu của Bộ Tài chính

Ngày đăng: 24/01/2016, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Christine Stoop, “Hướng dẫn đầu tư vào TTCK /A moneywise guide to investing in the stock market”, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn đầu tư vào TTCK /A moneywise guide to investing in the stock market
3. PGS. TS Trần Thị Thái Hà, Giáo trình “Đầu tư tài chính”, NXB Đại Học Quốc Gia, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư tài chính
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia
4. Ts Ngô Thị Ngọc Huyền, Ths Nguyễn Thị Hồng Thu, Ts. Lê Tấn Bửu, Ths. Bùi Thanh Hùng, “Rủi ro trong kinh doanh”, 2001 - NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro trong kinh doanh
Nhà XB: NXB Thống kê
5. Ths Nguyễn Thế Hùng, Tập bài giảng “Tài chính Doanh Nghiệp”, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính Doanh Nghiệp
6. Ts. Đào Lê Minh, Giáo trình “Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và TTCK”, 2002, NXB Chính Trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và TTCK
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia
7. “Hình thành TTCK ở Việt Nam trong bối cảnh tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á”, 1999 – Trung tâm kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành TTCK ở Việt Nam trong bối cảnh tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á
8. Nguyễn Quang Thu Dịch, “Quản trị rủi ro/Risk managenment and insurance”, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro/Risk managenment and insurance
9. Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, Số liệu thống kê 2011 Khác
10. Tạp chí chứng khoán Việt Nam các số từ năm 2000 đến năm 2011 Khác
11. Website: www.hax.org.vn www.ssc.org.vnwww.tintucvietnam.com www.vietnamnet.com www.vnexpress.com www.vse.org.vn www.worldbank.com Khác
1. Anh/chị có thường xuyên theo dõi thông tin thị trường tài chính và kinh tế vĩ mô qua các phương tiện thông tin đại chúng không:a. Hàng ngàyb. Vài lần trong một tuần c. Vài lần trong một tháng d. Không quan tâm Khác
2. Anh chị có sử dụng phương pháp phân tích cơ bản/phân tích kỹ thuật để đưa ra quyết định đầu tư không?a. Chỉ PTCB b. Chỉ PTKTc. Cả 2 phương phápd. Thỉnh thoảng sử dụng 1 trong 2 PP phân tích trên e. Rất ít sử dụng 1 trong 2 PP phân tích trênf. Không sử dụng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w