DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂUBảng 2.1 : Nhận thức về tầm quan trọng của công tác giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên...56 Bảng 2.2: Các bạn có thích giảng viên lồng ghép việc giáo dục g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THƯƠNG UYÊN
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THƯƠNG UYÊN
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 06.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Minh Duệ
NGHỆ AN, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực hiện đề tài: “Giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên trường Đại
học Kinh tế Nghệ An trong giai đoạn hiện nay”, lời đầu tiên, cho phép tôi xin
được tỏ bày sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Đoàn Minh Duệ
-người hướng dẫn khoa học cho tôi đầy nhiệt tình và trách nhiệm đã giúp đỡ tôitrong suốt quá trình nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Giáodục Chính trị- Trường Đại học Vinh; Phòng Quản lý nghiên cứu khoa học,Phòng Công tác Học sinh sinh viên; Đoàn trường - Trường Đại học Kinh tếNghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thựchiện đề tài
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn cơ quan, gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đãtạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên, giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi về mọi mặt để tôihoàn thành khoá học và luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài khoahọc nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong nhậnđược sự nhận xét, góp ý của quý thầy cô và các bạn
Cuối cùng xin kính chúc quý thầy cô, người thân, bạn bè lời chúc sức khoẻ
và hạnh phúc
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 09 năm 2015.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thương Uyên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
A MỞ ĐẦU 5
B NỘI DUNG 12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG 12
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 12
1.2 Những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam cần giáo dục cho sinh viên 21
1.3 Tính tất yếu của việc giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên 33
Kết luận chương 1 43
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN 45
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến việc giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Nghệ An hiện nay 45
2.2 Khái quát về Trường Đại học Kinh tế Nghệ An 51
2.3 Công tác giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An thời gian qua 55
Kết luận chương 2 73
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 75
3.1 Phương hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An 75
3.2 Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An trong giai đoạn hiện nay 81
Kết luận chương 3 100
C KẾT LUẬN 102
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
E DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 108
F PHẦN PHỤ LỤC: (MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA) 109
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
GD- ĐT : Giáo dục đào tạo
HS- SV : Học sinh – Sinh viên
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 : Nhận thức về tầm quan trọng của công tác giáo dục giá trị
truyền thống cho sinh viên 56
Bảng 2.2: Các bạn có thích giảng viên lồng ghép việc giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên cùng chung với các môn lý luận chính trị không? 60
Bảng 2.3: Bảng đánh giá phương pháp dạy học tại trường 61
Đại học Kinh tế Nghệ An 61
Bảng 2.4: Đánh giá về hình thức giáo dục giá trị truyền thống 62
Bảng 2.5 : Đánh giá của sinh viên về công tác giáo dục giá trị truyền thống của nhà trường hiện nay 64
Bảng 2.6: Trong năm vừa qua bạn được tham gia bao nhiêu buổi học giáo dục giá trị truyền thống? 68
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Quátrình đó đã rèn luyện và hun đúc nên những thế hệ con người Việt Nam giàulòng yêu nước, sẵn sàng xả thân để cứu nước, thương yêu con người, thương yêuđồng loại, có tinh thần chịu đựng gian khổ, khó khăn Những đức tính đó đã trởthành truyền thống mà hàng ngàn đời nay, những thế hệ con người Việt Nam đãnâng niu, gìn giữ, đó là những giá trị tinh thần, tư tưởng, tâm lý như lòng yêunước, tính cần cù, óc sáng tạo, hài hước, trọng nhân nghĩa, kính thầy, ham học,
… những giá trị tốt đẹp đó có tác dụng củng cố, phát triển quan hệ xã hội, tạo rasức mạnh cho con người vượt qua khó khăn trong cuộc sống hiện tại để pháttriển xã hội và hoàn thiện nhân cách
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, trước xu thế toàn cầu hóa vàhội nhập kinh tế quốc tế, sinh viên Việt Nam luôn kiên định lý tưởng xã hội chủnghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công vun trồng Họ đã và đangchứng tỏ bản lĩnh, sức trẻ, sự sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm của mình
Họ đang ra sức tu dưỡng, học tập và rèn luyện về mọi phương diện, tích cực laođộng sản xuất, tiến vào khoa học - công nghệ, để cùng với toàn Đảng, toàn dânthực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằmxây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh Rất nhiều phong trào thi đua, như: thanh niên tình nguyện, thanh niên lậpnghiệp, tuổi trẻ học đường được đông đảo sinh viên hưởng ứng, thực hiện.Đảng, Nhà nước và xã hội đã có nhiều hình thức ghi nhận và tôn vinh nhữngsinh viên tiêu biểu, xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Có thể nói, sinh viên Việt Nam ngày nay vẫnxứng đáng với niềm tin yêu, sự khen ngợi và kỳ vọng của Chủ tịch Hồ ChíMinh
Trang 8Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũngnhư của xu thế toàn cầu hóa, và đặc biệt, do không nghiêm túc trong rèn luyện,phấn đấu, một bộ sinh viên ở nước ta đang có những biểu hiện tiêu cực đáng longại, như phai nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống buông thả, lười học tập và tudưỡng đạo đức, thích hưởng thụ, ngại lao động, chuộng những sinh hoạt thiếulành mạnh hoặc phản văn hóa, nghiện ngập, thậm chí vi phạm pháp luật làmảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếuniên, nhất là khi chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này Nhữnghiện tượng đó, trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản thân họ, đồngthời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội
ta hiện nay Mặt khác, cũng cần nói rằng, các thế lực thù địch đang “chờ đợi” và
sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những hiện tượng đó để tiến hành chiến lược “diễnbiến hòa bình” hòng chống phá và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng ViệtNam
Trong bối cảnh đó, việc bảo vệ các giá trị truyền thống là vấn đề cần phảinhìn nhận nghiêm túc và có sự quan tâm đặc biệt cùng với quá trình xây dựng vàphát triển kinh tế thị trường ở nước ta Vì vậy, kế thừa và phát huy truyền thốngdân tộc sẽ giúp chúng ta ý thức được truyền thống dân tộc lịch sử vẻ vang củadân tộc Từ đó, làm cho mỗi con người, nhất là những thế hệ trẻ học sinh- sinhviên ngày càng giàu lòng yêu quê hương đất nước Việc đẩy mạnh và nâng caogiáo dục giá trị truyền thống hết sức quan trọng đối với các trường đại học, caođẳng và các cấp, ngành từ trung ương đến địa phương trên đất nước Việt Nam
Đối với trường Đại học Kinh tế Nghệ An, công tác giáo dục các giá trịtruyền thống cho sinh viên vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn, quan tâm nghiêncứu, tìm hiểu một cách kỹ hơn Trong những năm vừa qua, các cấp, ngành vànhất là ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế Nghệ An cùng với đoàn thanhniên, hội sinh viên…đã có nhiều quan tâm, nhưng công tác giáo dục giá trịtruyền thống cho sinh viên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, còn nhiều tồntại và hạn chế Đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về vấn
Trang 9đề này ở trường Vì vậy, để nhìn nhận, khắc phục những hạn chế, tồn tại và pháthuy sức mạnh của những giá trị truyền thống của dân tộc, chúng tôi chọn vấn
đề: “Giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế
Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ
Vấn đề truyền thống và giáo dục giá trị truyền thống luôn thu hút sự quantâm của các nhà lãnh đạo, quản lý, giáo dục, của giới lý luận trong đất nước ViệtNam và ở ngoài nước
Nước Việt Nam qua các thời kỳ luôn chú trọng và phát huy các giá trịtruyền thống của dân tộc và đã tạo được sức mạnh to lớn trong sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng CNXH Nhiều chủ trương
và đường lối nhằm phát huy giá trị truyền thống của dân tộc đã được thực hiện
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình chuyên khảo nghiên cứu về truyềnthống và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, đi sâu phân tích, làm rõ kháiniệm truyền thống, giá trị truyền thống và giá trị truyền thống của Việt Namtrong công cuộc đổi mới và sự nghiệp CNH – HĐH, đã đi sâu vào việc phân tíchnhững cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với việc giữ gìn, phát huy cácgiá trị truyền thống Đồng thời nhiều công trình đã đề cập đến các giải pháp giữgìn, phát huy các giá trị truyền thống trước xu thế toàn cầu hóa Trong đó tiêu
biểu là các công trình: “Giá trị tinh thần truyền thống của con người Việt Nam” (1980) do Trần Văn Giàu chủ biên; “Giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên
hiện nay” (2004) của Phạm Đình Nghiệp, Nxb Thanh niên; “Phát triển lý tưởng
xã hội chủ nghĩa cho thanh niên Việt Nam hiện nay” (2005) của Nguyễn Đức
Tiến, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; “Công tác giáo dục lý luận cho sinh viên
Việt Nam hiện nay”(2010) do Trần Thị Anh Đào ( chủ biên), Nxb Chính trị
Quốc gia Hà Nội; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên” (2008) của Đoàn Nam Đàn, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; “Vấn đề khai thác các giá trị
truyền thống vì mục tiêu phát triển” của Nguyễn Trọng Chuẩn; "Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường" của Trần Nguyên Việt; "Quan hệ biện chứng giữa truyền thống
Trang 10và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay", Luận án
tiến sĩ Triết học của Lê Thị Hoài Thanh, 2002.
Trong những cuốn sách này, các tác giả đã nghiên cứu những truyền thốngtốt đẹp của con người Việt Nam và vai trò của việc giáo dục các giá trị truyềnthống cho thế hệ trẻ
Ngoài ra, trong một số công trình, luận văn, luận án, sách đã nghiên cứu về
đề tài này cụ thể như: “Giáo dục ý thức chính trị cho sinh viên trong bối cảnh
Việt Nam hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, số 12 (2008) “Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên tỉnh Nghệ An”, TS.Đoàn Minh Duệ
(chủ biên) (2004), Nxb Nghệ An “Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo
dục truyền thống cho sinh viên Đại học Vinh”, TS Đinh Thế Định (2005), Đề tài
khoa học cấp bộ “Sinh viên với việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh trong thời kỳ
hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thống, Học viện Chính
trị- hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh- Học viện báo chí và tuyên truyền, Số 5(2009)…
Các công trình nghiên cứu, bài viết trên đã đi sâu phân tích, làm rõ kháiniệm, giá trị của truyền thống dân tộc Việt nam trong giai đoạn hiện nay Đồngthời, nhiều công trình đã đề cập đến các giải pháp giữ gìn, phát huy, giáo dục giátrị truyền thống cho thế hệ trẻ sinh viên trước thử thách toàn cầu hóa của đấtnước Các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều có ý nghĩa to lớn đối với việc
kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống hiện nay ở nước ta
Đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách trực tiếp, đầy đủ vàchuyên sâu đến việc giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên trường Đại họcKinh tế Nghệ An trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, những công trình nghiêncứu trước đây là điều kiện thuận lợi và nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôithực hiện đề tài này trên cơ sở kế thừa và phát triển
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục các giá trị truyền thống cho
sinh viên Trường Đại học Kinh tế Nghệ An trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục các giá trị truyền thống cho sinhviên các trường đại học
- Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác giáo dục giá trị truyềnthống cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáodục giá trị truyền thống cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An tronggiai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên rất rộng, đa dạng,phong phú và cũng là vấn đề cấp bách Song, trong giới hạn luận văn này, tácgiả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu về các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộcViệt Nam, đánh giá thực trạng công tác giáo dục giá trị truyền thống cho sinhviên ở trựờng Đại học Kinh tế Nghệ An và đề ra phương hướng, các giải pháp
cơ bản để thực hiện tốt vấn đề đó trong giai đoạn hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Truyền thống có nhiều cấp độ khác nhau, vì vậy trong phạm vi nghiêncứu của đề tài chỉ dừng lại ở việc giáo dục giá trị truyền thống tốt đẹp của dântộc cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An
- Đề tài được điều tra trực tiếp tại trường Đại học Kinh tế Nghệ An với 400phiếu điều tra ở 2 đối tượng:
+ 50 phiếu điều tra dành cho cán bộ công nhân viên Trường Đại học Kinh
tế Nghệ An
+ 350 phiếu điều tra dành cho sinh viên: trong đó 157 phiếu điều tra các lớp
hệ Cao đẳng với các ngành: Kế toán K9- 02 là 18 phiếu, Kế toán K9- 03 là 18
Trang 12phiếu, Kế toán K9- 04 là 15 phiếu, Khoa học cây trồng K9 là 7 phiếu, Chăn nuôithú y là 13 phiếu, Tài chính ngân hàng K9-01 là 11 phiếu, Kế toán K10-01 là 25phiếu, Kế toán K 10-02 là 32 phiếu, Kế toán K10-03 là 18 phiếu và 193 phiếuđiều tra cho hệ Đại học các ngành: Kế toán K1 ở 4 lớp Kế toán K1-01 là 41phiếu, Kế toán K1-02 là 46 phiếu, Kế toán K1-03 là 33 phiếu, Kế toán K1-04 là
35 phiếu; Kinh tế K1 là 10 phiếu và Chăn nuôi thú y K1 là 28 phiếu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Tác giả thực hiện luận văn này dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về các giá trị truyền thống của dân tộc, của BộGiáo dục&Đào tạo về công tác giáo dục truyền thống; đồng thời có dựa trên cácnghị quyết của Tỉnh ủy Nghệ An về vấn đề này Ngoài ra, tác giả luận văn còn
kế thừa các thành tựu lý luận của các công trình nghiên cứu đã được công bố cóliên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khi nghiên cứu đề tàinhư: phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch;phương pháp so sánh, thống kê, điều tra ( bằng phiếu điều tra, phỏng vấn, điềutra qua tài liệu); sử dụng phương pháp tiếp cận và nghiên cứu hệ thống, phươngpháp quan sát…
6 Đóng góp của luận văn
Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ đặt ra, luận văn có ý nghĩa sâu sắc cả vềmặt lý luận và thực tiễn Luận văn góp phần làm rõ những nội dung cơ bản củagiá trị truyền thống dân tộc,định hướng tư tưởng cho sinh viên, đánh giá thựctrạng công tác giáo dục truyền thống cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ
An, đề ra phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tácgiáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An
Trang 13trong giai đoạn hiện nay Từ đó tạo ra những cơ sở vững chắc để triển khai mởrộng ra nhiều trường khác.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, tìm hiểu về những nội dungcủa giá trị truyền thống dân tộc và công tác giáo dục giá trị truyền thống chosinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương, 7 tiết
Trang 14
B NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Truyền thống
Truyền thống vốn là một vấn đề luôn được đề cập đến rất nhiều trong xãhội Việt Nam Vì thế, khi bàn đến khái niệm truyền thống lại có nhiều cách nhìnnhận khác nhau và nhiều định nghĩa khác nhau Nhưng tựu chung định nghĩamang tính phổ thông và được nhiều người chấp nhận nhất đó là: Truyền thống lànhững thói quen hình thành lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại
từ thế hệ này sang thế hệ khác
Dựa trên cơ sở định nghĩa chung nhất về truyền thống, thì các nhà khoa học
đã khái quát khái niệm này ở nhiều cấp độ khác nhau trong từng lĩnh vực chuyênmôn Cụ thể, GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn quan niệm: “Nói đến truyền thống lànói đến phức hợp của những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, nhữngphong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí…của một cộng đồng người đã hìnhthành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệkhác” [7, tr.11] Trong định nghĩa này GS, TS Nguyễn Trọng Chuẩn đã cụ thểhóa khái niệm truyền thống được hình thành ở nhiều cấp độ khác nhau, đó là
“phức hợp của những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen, những phong tục,lối sống, cách ứng xử….” của con người đã được hình thành trong lịch sử và cótính bền vững, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trong sách “Bàn về văn hóa Việt Nam” thì GS, Vũ Khiêu lại có định nghĩakhác: “Truyền thống là những thói quen lâu đời đã được hình thành trong nếpsống, suy nghĩ và hành động của một dân tộc, một gia đình, một dòng họ, mộtlàng xã , một tập đoàn lịch sử” [25, tr.536]
Trang 15Khi nghiên cứu về “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa”, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã đưa ra địnhnghĩa: “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những tập quán,thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định,được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác” [7, tr.11].
GS, TS Trần Đình Sử khi nghiên cứu về truyền thống dân tộc và tính hiệnđại của truyền thống lại cho rằng: “Truyền thống là mối liên hệ của lịch sử, màmột đầu là những giá trị văn hóa được sáng tạo trong quá khứ lịch sử dân tộc vàmột đầu là sự thẩm định, xác lập và phát huy của người hiện đại” [39, tr.45].Như vậy, khi định nghĩa khái niệm truyền thống tuy các nhà khoa học có nhữngcách biểu đạt khác nhau, nhưng về cơ bản đều thống nhất ở chỗ coi: Truyềnthống là những tập tục, thói quen và nói chung là những kinh nghiệm xã hộiđược hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ của con người, đượctruyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác
Các nhà triết học tiêu biểu của Chủ nghĩa duy vật Mác xít cũng ít nhiềuthông qua các tác phẩm của mình đã thể hiện quan điểm về truyền thống Trongtác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và Ph Ăngghen viết: “Lịch sử chẳng quachỉ là nối tiếp của các thế hệ riêng rẽ, trong đó mỗi thế hệ đều khai thác nhữngvật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả các thế hệ trước đó đểlại, do đó mỗi thế hệ một mặt tiếp tục phương thức hoạt động được truyền lại,nhưng trong mỗi hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và mặt khác lại biến đổinhững hoàn cảnh cũ một hoạt động hoàn toàn thay đổi” [31, tr.65]
Khi tiếp cận truyền thống dưới góc độ Triết học, thì TS Nguyễn LươngBằng thông qua luận án tiến sĩ triết học “Kết hợp truyền thống và hiện đại trongquá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay”, đã đưa ra địnhnghĩa: “Truyền thống là một khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng như tínhcách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, thói quen trong tư duy, tâm lý, lối ứngxử… được hình thành trên cơ sở những điều kiện địa lý- tự nhiên, kinh tế- xã
Trang 16hội cũng như hoạt động của con người trong qúa trình lịch sử và được lưu truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một cộng đồng người nhất định” [2, tr.18].Tóm lại, khi nghiên cứu về truyền thống thì các nhà khoa học đã có nhữnggóc nhìn khác nhau,vì thế đã có những định nghĩa khác nhau về cùng một vấn
đề Tuy nhiên, điểm chung nhất ở họ khi nghiên cứu là đều dựa trên thế giớiquan khoa học và phương pháp luận biện chứng Vì thế, những định nghĩa đãnêu trên đều chứa đựng những nhân tố hợp lý của nó
* Những đặc trưng cơ bản của truyền thống
Trên cơ sở sự nghiên cứu của các nhà khoa học về truyền thống thì từ đó ta
có thể khái quát thành 4 đặc trưng cơ bản của truyền thống như sau:
1 Truyền thống là kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con ngườitrong quá khứ biểu hiện ở tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, tập quán,thói quen trong tư duy, lối ứng xử, tâm lý, đạo đức…
2 Truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng người (thịtộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, gia đình, làng xã ), là bản sắc của các cộng đồngngười
3 Truyền thống đã được hình thành trong lịch sử do tác động của môitrường tự nhiên và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao động sản xuất
và kết cấu kinh tế xã hội, tác động thường xuyên của lịch sử, tác động của môitrường văn hóa khu vực và thế giới
4 Truyền thống có tính kế tục từ lớp người trước sang lớp người sau, nó ănsâu vào tâm lý, vào phong tục tập quán, vào nếp nghĩ…của con người Tuynhiên, trước và sau không hoàn toàn giống nhau, đồng nhất với nhau nhưng vềcăn bản thì không khác biệt
Như vậy, đặc trưng của truyền thống là có tính cộng đồng, tính ổn định vàlưu truyền Những đặc trưng này có tính độc lập tương đối vì khi những cơ sở,điều kiện hình thành truyền thống thay đổi thì nó cũng dần dần biến đổi cho phùhợp với hoàn cảnh mới hoặc có thể truyền thống mới sẽ xuất hiện Truyền thống
có tính hai mặt đối lập nhau đó là truyền thống tốt và truyền thống xấu Truyền
Trang 17thống tốt có tác dụng hình thành nên những phẩm chất tốt ở con người và hànhđộng của con người góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Ngược lại, truyền thốngxấu sẽ kìm hãm sự phát triển của con người và xã hội Hai mặt này của truyềnthống luôn tồn tại tạo thành mâu thuẫn biện chứng trong quá trình lịch sử.
*Truyền thống có nhiều cấp độ khác nhau: Có truyền thống gia đình,
truyền thống của từng địa phương, đơn vị, truyền thống cách mạng, truyền thốngdân tộc
* Nguyên tắc chung của việc giữ gìn và phát huy truyền thống là phải
bảo đảm sự kế thừa biện chứng với 4 nội dung:
+ Một là, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, phản tiến bộ của quá khứ (tập tụclạc hậu, tàn dư tư tưởng phong kiến, tâm lý sản xuất nhỏ )
+ Hai là, giữ lại những yếu tố tích cực, tiến bộ (tinh thần yêu nước, laođộng cần cù sáng tạo, tinh thần nhân đạo cao cả )
+ Ba là, ngay các yếu tố tích cực, tiến bộ đó cũng không giữ lại nguyên xi,
mà phải được cải biến cho phù hợp với điều kiện mới, hoàn cảnh mới
+ Bốn là, các thế hệ mới phải sáng tạo ra những yếu tố hoàn toàn mới màcác thế hệ cha anh hoặc không có khả năng, hoặc không có điều kiện để thựchiện
Truyền thống tốt đẹp của một cộng đồng được hình thành trong quá trìnhlịch sử gắn với các giá trị chân, thiện, mỹ phù hợp với chuẩn mực của đời sống
xã hội, thúc đẩy sự phát triển, thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tớimục tiêu cao quý Những truyền thống tốt đẹp đó hình thành hệ giá trị truyềnthống của một cộng đồng, được giữ gìn và phát huy trong mọi quá trình lịch sử
Trang 18Do vậy, khi đề cập đến giá trị truyền thống là chỉ nói đến những truyền thống tốtđẹp của một cộng đồng, không tính đến những truyền thống tiêu cực.
GS Trần Văn Giàu quan niệm: “Chỉ có cái tốt mà thôi, bởi vì chỉ có nhữngcái gì tốt đều được gọi là giá trị Tuy nhiên, không phải mọi cái gì tốt đều đượcgọi là giá trị mà phải là những cái tốt phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tíchcực cho đạo đức, luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn sự nhận định và hướng dẫn
sự hành động thì mới được mang danh là giá trị truyền thống” [21, tr.50] Vớicách nhìn nhận như vậy, GS Trần Văn Giàu đã hướng con người khi tiếp thunhững giá trị truyền thống của dân tộc thì phải luôn biết chọn lựa những “cáitốt” và những “cái tốt” đó phải là cái phổ biến, có tác dụng tích cực cho đạo đức,hướng hành động con người theo xu hướng tích cực
GS Phan Huy Lê đã khẳng định: “Khi nói đến giá trị truyền thống là đãhàm ý tuyển chọn và phân biệt, chỉ nói đến những truyền thống tốt đẹp” [27,tr.4] Quan niệm của GS Phan Huy Lê khi nói về giá trị truyền thống cũng đồngquan điểm với cách nhìn nhận của GS Trần Văn Giàu Thực tế khi nói đếntruyền thống dân tộc lại có nhiều truyền thống, trong đó có truyền thống tốt vàtruyền thống không tốt Vậy, những truyền thống được coi là cơ giá trị và cầnlưu giữ, phát huy đó phải là truyền thống tốt, có như vậy mới giúp hình thành vàlàm cho xã hội Việt Nam ngày càng tốt đẹp
GS Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: “Khi nói đến giá trị truyền thống thìhàm ý đã muốn nói tới những giá trị tương đối ổn định, tới những gì tốt đẹp, làtích cực, là tiêu biểu cho bản sắc văn hóa dân tộc có khả năng truyền lại quakhông gian và thời gian” [8, tr.18]
Nói một cách ngắn gọn, giá trị truyền thống của một cộng đồng ngườichính là tổng hợp những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng người đó Là tất cảnhững gì cần được giữ gìn Phát huy và phát triển cho phù hợp với xã hội hiệnđại
Giá trị truyền thống dân tộc là sự tổng hòa các giá trị về tâm lý, ý thức,phong tục tập quán, lối sống…của tất cả các cá nhân, các dân tộc, các địa
Trang 19phương Là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa dân tộc: ước mơ, lý tưởng, trình độ nănglực, ý chí, bản lĩnh, phong cách tư duy, phương pháp hành động…thực hiện mụcđích cao cả của các cộng đồng người.
Với vị trí và cấu trúc như vậy, giá trị truyền thống dân tộc chứa đựng tiềmnăng và bền vững, là sức mạnh vốn có của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng người
Nó vừa có tính ổn định, vừa có tính biến động do sự bổ sung, chuyển hóa vàphát triển ngày càng phong phú để phù hợp với yêu cầu của thời đại Với sứcmạnh, sự trường tồn bền vững, sự tiếp nối giá trị truyền thống dân tộc sẽ là cơ sởvững chắc cho sự phát triển của đất nước
Những giá trị truyền thống của một dân tộc được cô đúc, thử thách và táitạo qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau theo những bước thăng trầm của lịch sử, trong
sự giao lưu, tiếp xúc với nền văn hóa của các dân tộc khác Theo nghĩa đó, giátrị truyền thống dân tộc như là sự rút gọn lịch sử và là sự cô đặc văn hóa của mỗidân tộc Vì vậy, có thể nói rằng giá trị truyền thống dân tộc là cái thể hiện bảnchất đặc trưng nhất cốt lõi văn hóa dân tộc Và nếu quan niệm bản sắc dân tộc làtoàn bộ tâm hồn, khí phách sâu xa nhất của dân tộc, nơi hội tụ các phẩm chấtđặc sắc của văn hóa cộng đồng, là cốt lõi bên trong như là căn cước của mỗi dântộc, thì giá trị truyền thống dân tộc là những khía cạnh, những nét độc đáo củabản sắc văn hóa dân tộc Hay nói cách khác, giá trị truyền thống dân tộc lànhững thành tố cấu thành bản sắc dân tộc
Giá trị truyền thống dân tộc không phải là quà tặng của thượng đế mà nóđược nảy sinh trên mảnh đất hiện thực Nó được hình thành và phát triển do sựtác động của nhiều nhân tố, song những nhân tố cơ bản là:
+ Môi trường tự nhiên và điều kiện địa lý
+ Quá trình lao động sản xuất
+ Tác động thường xuyên của hoàn cảnh lịch sử
+ Tác động của môi trường khu vực và thế giới
Trang 201.1.3 Khái niệm giáo dục giá trị truyền thống
1.1.3.1 Khái niệm giáo dục
Trong tiếng Anh, từ “Giáo dục” được biết đến với từ “Education”, đây làmột từ gốc La tinh được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” - “Ex-ducere” cónghĩa là “làm bộc lộ ra” hoặc dẫn con người vượt ra khỏi hiện tại của họ đểvươn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn Có thể hiểu “Giáodục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của ngườiđược giáo dục” [36, tr.6]
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáodục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hộikinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người.” [36, tr.19] Định nghĩanày nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu
tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùngcủa việc đó
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là: quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách,được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động vàquan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếmlĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) được hiểu là: một bộ phận của quá trình giáo dụctổng thể, là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ,những nét tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội,thuộc các lĩnh vực đạo đức, lao động, tư tưởng, chính trị, thẩm mỹ…
Do đó, khái niệm Giáo dục được hiểu đầy đủ là quá trình được tổ chức có ýthức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm,thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phầnhoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài,góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội.Hay nói cách khác quá trình giáo dục là quá trình mà dưới sự tổ chức, lãnhđạo có mục đích các loại hoạt động phong phú, các mối quan hệ nhiều mặt của
Trang 21người được giáo dục đối với người khác, với thế giới xung quanh, các dạng giaolưu đa dạng giữa họ với nhau và giữa họ với những người lớn tuổi khác, nhằmhình thành cho con người được giáo dục quan điểm, niềm tin, định hướng giá trị,
lý tưởng, động cơ, thái độ, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen ứng xử đúng đắn trongcác quan hệ đạo đức, chính trị, pháp luật, thẩm mỹ, lao động, vệ sinh…thuộc cáclĩnh vực đời sống xã hội
Giáo dục gồm việc dạy và học, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như làquá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyềnthụ sự hiểu biết Giáo dục là nền tảng cho sự truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế
hệ này đến thế hệ khác Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khảnăng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người
Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệgiữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần, và làm chủ được cácmặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, cách ứng xử trong xã hội
Như vậy, quá trình giáo dục là quá trình tác động của rất nhiều nhân tố:bao gồm cả nhân tố khách quan và chủ quan, bên ngoài và bên trong…Đó lànhững ảnh hưởng của các sự kiện kinh tế, chính trị, pháp chế - hành chính, tưtưởng – văn hóa, tâm lý – tập quán…của xã hội; các ảnh hưởng của hoạt độnggiáo dục của nhà trường, gia đình, các đoàn thể…từng ngày, từng giờ tác độngđến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh, của người học
1.1.3.2 Giáo dục giá trị truyền thống
Giáo dục giá trị truyền thống có thể được hiểu là quá trình được tổ chức có
ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tìnhcảm, thái độ của người học theo hướng tiếp thu những giá trị truyền thống tốtđẹp của dân tộc Từ đây góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng nhữngtác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và pháttriển của con người trong xã hội
Giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên nhằm mục đích giúp sinh viênhiểu biết sâu sắc quá khứ gian khổ, đau thương nhưng anh dũng và vinh quang
Trang 22của dân tộc, của Đảng để sinh viên tự hào, tin tưởng, nhận rõ giá trị của cuộcsống hiện tại, nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tếchân chính, xây dựng thái độ lao động mới, ý thức tự lực tự cường, có tráchnhiệm với xã hội, với tương lai của dân tộc, tiếp tục sự nghiệp của các thế hệ chaanh đi trước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổquốc xã hội chủ nghĩa Giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ còn nhằm bảo đảm
sự kế tục và thống nhất giữa các thế hệ cách mạng Việt Nam
Vì thế, sinh viên Việt Nam dù ở hoàn cảnh nào cũng phải nỗ lực hoànthành tốt nhiệm vụ của mình, thực hiện tốt nghĩa vụ và trách nhiệm công dân,phấn đấu góp phần đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, từng bước vươnlên theo kịp các nước trong khu vực và thế giới Điều này được thể hiện ở sựxung kích, sáng tạo trong phát triển kinh tế: năng động, nhạy bén “đi tắt đónđầu” trong nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ Và đặc biệttrong tình yêu quê hương đất nước, luôn tin tường vào sự lãnh đạo của Đảng vàcon đường mà Bác Hồ, Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn đó là Chủ nghĩa xã hội
và Chủ nghĩa Cộng sản
Nói tóm lại, trong thời kỳ mới, những giá trị truyền thống của dân tộc đượcbiểu hiện dưới nhiều nội dung và hình thức đa dạng, phong phú hơn Vấn đề cốtyếu của việc giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên trong thời đại ngày naychính là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp hài hòa chủ nghĩaquốc tế vô sản chân chính, là đem hết nhiệt tình, trí tuệ, tài năng để xây dựng đấtnước theo định hướng XHCN, trước mắt là xây dựng xã hội dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trên tinh thần hòa bình, hữu nghị và hộinhập, cùng nhau phát triển Để từ đó vừa bảo tồn và phát huy những giá trịtruyền thống tốt đẹp của dân tộc vừa từng bước nâng cao vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế
Trang 231.2 Những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam cần giáo dục cho sinh viên
Mỗi dân tộc có những truyền thống riêng trong quá trình phát triển và xâydựng đất nước Trải qua hơn bốn nghìn năm xây dựng và bảo vệ đất nước, dântộc Việt Nam đã hình thành một hệ những giá trị truyền thống, đó là chủ nghĩayêu nước và tinh thần dân tộc; tình đoàn kết, tương thân tương ái lẫn nhau;truyền thống hiếu học, hiếu nghĩa; là những giá trị về gia đình, văn hóa, phongtục tập quán…và rất nhiều những hệ giá trị quý báu mà cha ông ta đã đúc rút vàtruyền lại cho thế hệ sau Trải qua một thời gian dài như vậy, những giá trịtruyền thống của dân tộc vẫn không hề bị mất đi mà ngược lại nó càng được bảotồn và phát huy trong đời sống của nhân dân Khi bàn về các giá trị truyền thốngcủa dân tộc thì hầu hết các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đều nhất trí vớiquan điểm của GS Trần Văn Giàu về giá trị tinh thần truyền thống cơ bản củadân tộc Việt Nam là: “Yêu nước, đoàn kết, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan,thương người, vì nghĩa…” [22, tr.94] Trong đó, yêu nước là bậc thang giá trịcao nhất, là giá trị cốt lõi định hướng cho mọi giá trị khác
1.2.1 Giáo dục truyền thống yêu nước cho sinh viên
Yêu nước là tình cảm phổ biến của mọi quốc gia, dân tộc nhưng do điềukiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở mỗi nước mà nó có sự khúc xạ khác nhau Đốivới dân tộc Việt Nam, yêu nước là tình cảm thiêng liêng, cao quý nhất, là “sợi
chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại” “Yêu nước”
là một khái niệm được hình thành từ hai khái niệm “yêu” và “nước” “Yêu” theonghĩa chung nhất, là trạng thái tình cảm của chủ thể này đối với một chủ thểkhác ở mức cao hơn sự thích thú và phải nảy sinh ý muốn được gắn kết với chủthể đó ở một khía cạnh hay mức độ nhất định “Yêu” không chỉ thể hiện qua lờinói, ý thức mà còn thể hiện bằng hành động “Nước” ở đây có nghĩa là đất nước,quê hương, Tổ quốc, quốc gia, non sông [24, tr.10]
Theo từ điển Bách khoa mở thì Chủ nghĩa yêu nước được hiểu chính
là biểu hiện quan điểm tích cực về quê hương của một cá nhân hay tập thể, trong
Trang 24đó quê hương có thể là một vùng, một thành phố nhưng thường gắn với kháiniệm quốc gia Nó gồm những quan điểm như: tự hào về thành tựu hay vănhóa của quê hương, mong muốn bảo vệ những đặc điểm đó, đồng hóa mọi thànhviên của quốc gia Chủ nghĩa yêu nước rất gần với chủ nghĩa dân tộc, vì thếchúng hay được dùng như những từ đồng nghĩa Nếu xét cặn kẽ thì chủ nghĩadân tộc liên quan tới các học thuyết và phong trào chính trị hơn, trong khi chủnghĩa yêu nước liên quan tới quan niệm nhiều hơn
Yêu nước là một tình cảm, một trạng thái tâm lý tự nhiên của con ngườinhư tình yêu quê hương, xứ sở, sự gắn bó với ngôn ngữ và niềm tự hào vềtruyền thống…Yêu nước là một tình cảm xã hội, mà nội dung là tình yêu vàlòng trung thành đối với Tổ quốc, lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổquốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc Yêu nước cũng có quá trình pháttriển cùng với lịch sử phát triển của quốc gia dân tộc, theo quá trình đó thì tìnhcảm yêu nước có tính chất cảm tính ấy dần dần trở thành lý tính có nội dung tưtưởng, lý luận
Việt Nam có vị trí địa lý và đặc điểm về địa hình, tài nguyên, sinh tháithuận lợi, khí hậu nhiệt đới gió mùa phong phú, đa dạng Với vị trí và đặc điểm
ấy, Việt Nam đã chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn nhưng cũng đặt ra không ítthử thách đối với con người Vì thế, qúa trình hình thành và phát triển của dântộc Việt Nam gắn liền với qúa trình thống nhất quốc gia Điều đó đã tác độngsâu sắc đến sự phát triển của ý thức dân tộc, tạo nên sự cố kết cộng đồng Tinhthần yêu nước được thể hiện qua ý thức cộng đồng và phát triển trong qúa trìnhxây dựng và bảo vệ đất nước Nó là sản phẩm riêng của dân tộc Việt Nam
Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước Có xâydựng đất nước vững mạnh mới có thể ngăn chặn được họa ngoại xâm, Ngượclại, có bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ quốc gia mới tạo tiền đề cho việc xâydựng đất nước Yêu nước đối với nhân dân ta trước hết là chăm lo phát triển đấtnước trên mọi phương diện như kinh tế, văn hóa, chính trị, từ đó đảm bảo sứcmạnh nội sinh cho sự bảo tồn của dân tộc Đặc trưng của chủ nghĩa yêu nước
Trang 25Việt Nam là: xuất hiện rất sớm và luôn luôn được củng cố, đối mặt bởi vô sốnhững cuộc khởi nghĩa chống đô hộ và nhiều cuộc kháng chiến chống ngoạixâm, thành một thứ vũ khí tinh thần cực kỳ sắc bén Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳlịch sử khác nhau, chủ nghĩa yêu nước có những biểu hiện khác nhau.
Dân tộc nào cũng có tinh thần yêu nước nhưng mức độ sâu đậm là khácnhau do hoàn cảnh lịch sử tạo ra Cái độc đáo chủ yếu trong hoàn cảnh lịch sửdân tộc Việt Nam là phải chống giặc ngoại xâm liên tục trong nhiều nghìn năm,nhiều thời đại với nhiều đế quốc lớn hùng mạnh hơn ta gấp nhiều lần Chính vìvậy, lòng yêu nước đã trở thành một động lực lớn thôi thúc nhân dân Việt Nam
đứng lên đấu tranh để dành độc lập tự do
Yêu nước là giá trị truyền thống hàng đầu, chủ đạo trong bản sắc văn hóadân tộc Việt Nam, là "Sợi chỉ đỏ xuyên suốt" toàn bộ lịch sử Việt Nam từ thời
cổ đại đến hiện đại Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh quancủa người Việt Nam và nếu dùng từ "đạo" với nguyên nghĩa của nó là "đường",
là hướng đi, thì chủ nghĩa yêu nước đích thực là đạo Việt Nam" [22, tr.30].Chủ nghĩa yêu nước bắt nguồn và phát triển từ thời vua Hùng dựng nước,thể hiện trong tinh thần quật khởi "đền nợ nước, trả thù nhà" của Hai Bà Trưng,
ý chí quật cường "không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người" của Bà Triệu,
ở ý chí giải phóng dân tộc của nhân dân ta suốt nghìn năm Bắc thuộc Chủ nghĩayêu nước Việt Nam được nhân lên gấp bội, sau khi Ngô Quyền đánh thắng quanNam Hán trên sông Bặch Đằng mở ra thời kỳ lịch sử mới trong lịch sử dân tộc
Lòng yêu nước đó được khẳng định trong bài thơ "Thần" của Lý Thường Kiệt, trong "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi, ở lòng tự tôn dân tộc cao cả của
người anh hùng dân tộc áo vải Nguyễn Huệ, trong tinh thần kiên cường bấtkhuất của bao thế hệ người dân Việt Nam gần một thế kỷ đánh đuổi thực dânPháp xâm lược Khắp đất nước ta có nhiều đền thờ các anh hùng dân tộc, nhữngngười đã có công, đã xả thân vì nước Dân tộc ta coi Hùng Vương, Trần HưngĐạo, Hồ Chí Minh là những vị thánh, đó là điều ít có ở các dân tộc khác
Trang 26Đặc biệt chủ nghĩa yêu nước còn được biểu hiện ở sự quý trọng nền vănhóa dân tộc cũng như sắc thái văn hóa của các địa phương, của các dân tộc (tộcngười) trong nước Đó là ý thức dân tộc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổcủa đất nước Việt Nam Tinh thần dân tộc đóng vai trò chủ yếu trong việc bảo
vệ dân tộc khỏi bị họa diệt vong, bảo vệ nền văn hóa dân tộc giữ được sắc tháiriêng, không bị hòa trộn với các nền văn hóa khác
Có thể nói rằng lịch sử dân tộc ta từ khi dựng nước đến nay là lịch sử đấutranh chống ngoại xâm Cho nên yêu nước tập trung trước hết ở tinh thần chốnggiặc ngoại xâm, tinh thần "nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nôlệ", thực hiện chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!"
Yêu nước là sức mạnh tinh thần, nguyên khí của dân tộc, đưa dân tộc giànhđược những thắng lợi vẻ vang trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Đúng nhưnhận xét của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dân tộc ta có truyền thống nồng nàn yêunước, đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xa tới nay mỗi khi Tổ quốc bịxâm lăng thì tinh thần yêu nước ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vôcùng mạnh mẽ to lớn nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất
cả lũ bán nước và lũ cướp nước" [35, tr.572]
Chủ nghĩa yêu nước không những đưa dân tộc ta giành chiến thắng trongcác cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm mà còn giành thắng lợi trước âmmưu đồng hóa của kẻ thù trong suốt nghìn năm đô hộ và nhiều lần hội nhậpquốc tế, giữ gìn bản sắc dân tộc và không ngừng làm giàu thêm kho tàng giá trịtruyền thống của dân tộc mình
Trong công cuộc CNH- HĐH đất nước sức mạnh của chủ nghĩa yêu nướcđang là động lực nội sinh tạo nên ý chí, quyết tâm, nghị lực và trí tuệ để đưa đấtnước ta nhanh chóng vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, tiến kịp văn minh của thờiđại Chủ nghĩa yêu nước còn là nhân tố cơ bản của bản lĩnh dân tộc, bảo đảmgiữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình giao lưu và hội nhậpquốc tế
Trang 271.2.2 Giáo dục tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng cho sinh viên
Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng được coi là một nét đẹp trong giá trịtruyền thống của dân tộc Dân tộc ta là một cộng đồng nhỏ sinh cơ lập nghiệpbên các cộng đồng lớn, bởi vậy nguy cơ bị thôn tính về lãnh thổ, bị đồng hóa vềvăn hóa là thường trực Để tồn tại và phát triển cư dân ở đây đã gắn bó với nhauthành một khối thống nhất một cách tự nguyện và bình đẳng Mặt khác đất nước
ta giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng lắm cam go, thử thách, đe dọa sự sinhtồn của con người Khí hậu nhiệt đới gió mùa thường xuyên gây mưa nhiều, bãolụt, áp thấp, hạn hán Đấu tranh chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiênđòi hỏi con người cần phải đóng góp công sức, phải chung lưng đấu cật cùngnhau
Công cuộc lao động vất vả, gian khổ và yêu cầu phải hợp quần đã tạo nên
sự gắn bó mật thiết giữa các cư dân trong một gia đình, một làng, một nước Sựtồn tại của mỗi cá nhân phụ thuộc vào sự tồn tại của cộng đồng và ngược lại, đãdần dần hình thành truyền thống đoàn kết, tính cộng đồng gắn bó cá nhân- giađình- làng- nước Hệ thống cấu trúc nhà - làng - nước không những là một cơchế bảo tồn và phát triển tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng chặt chẽ mà còn là
cơ sở hình thành luư giữ và nuôi dưỡng các giá trị truyền thống của dân tộc CốThủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: "Tính cộng đồng gồm ba cái trục giađình (nhà)- làng và nước; xu thế nhân văn hướng về con người và cộng đồngcon người, tìm thấy ở con người những tiềm lực của đức tính biết bao tốt đẹp"[19, tr.19]
Quá trình đấu tranh cải tạo, chinh phục thiên nhiên, chống lại địch họa vànguy cơ đồng hóa vì sự tồn vong của dân tộc vì độc lập tự do của Tổ quốc trongquá trình lịch sử đã sớm tạo lập cho dân tộc ta tinh thần ta đoàn kết ý thức cộngđồng chặt chẽ Ngược lại tinh thần đoàn kết và tính cộng đồng bền vững lànguồn năng lượng vĩnh cửu tạo nên sức mạnh cho dân tộc ta Tinh thần đoànkết, tính cộng đồng đã trở thành tình cảm cao đẹp và đạo lý làm người của dântộc Việt nam Truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long quân đẻ ra "bọc trăm trứng" thể
Trang 28hiện rõ tinh thần cùng chung Tổ quốc và tình nghĩa đồng bào Thực tế lịch sửtồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam đã thể hiện được tinh thần đó, đấtkhông của riêng ai, nhà không của riêng ai mà tổng hòa nhà - làng - nước, "lụtthì lút cả làng", ''một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ" Truyền thống cố kết cộngđồng đã gắn chặt vân mệnh cá nhân vào vận mệnh xã hội, gắn hạnh phúc củamỗi người vào sự tồn vinh và phát triển của dân tộc Truyền thống tốt đẹp đócủa dân tộc ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết thành chân lý:
"Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công"
Đó là mối quan hệ vận động khách quan của lịch sử nước ta từ khi dựng ước cho tới nay, là một trong những bài học quý giá, sẽ được tiếp tục phát huy
n-có hiệu quả trong điều kiện lịch sử mới Dù trong hoàn cảnh nào, ở đâu, mỗingười Việt Nam đều là con Lạc, cháu Hồng có chung nguồn gốc tổ tiên, cùngtình nghĩa đồng bào không gì thay thế được Có thể nói ý thức cộng đồng củangười Việt Nam, dân tộc Việt Nam là yếu tố xuyên suốt toàn bộ tiến trình pháttriển của lịch sử dân tộc, là cội nguồn mọi sức mạnh của dân tộc Việt Nam
1.2.3 Giáo dục cho sinh viên đức nhân nghĩa, tinh thần tương thân tương ái
Nhân nghĩa, tương thân tương ái là một trong những giá trị phẩm chất vôcùng cao quý của con người Việt Nam Thực tế lịch sử đã cho thấy trong suốtbốn ngàn năm đựng nước và giữ nước,dân tộc Việt Nam chúng ta đã từng gánhchịu biết bao hậu quả của chiến tranh cũng như là thiên tai, dịch họa vô cùng ácliệt Phép lạ nào đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, gian khổ ấy để đứngvững cùng bè bạn năm châu? Phải chăng ngoài sức mạnh của tinh thần đoàn kếtchính là tinh thần tương thân tương ái? Lấy nhân nghĩa để cảm hóa lòng người
mà đặc biệt là cảm hóa chính cả kẻ thù
Chính vì đề cao tính cộng đồng cho nên người Việt đặc biệt coi trọng tìnhnghĩa coi thường tiền tài, đối xử với nhau "có tình có nghĩa" Sự coi trọng tìnhnghĩa được hình thành trong quá trình quan hệ giao tiếp ở các làng xã cổ truyền
Trang 29và được tồn tại qua hàng nghìn năm cùng với biến thiên của lịch sử dân tộc.Người Việt coi trọng tình nghĩa hơn mọi của cải khác:
Sông sâu nước chảy đá mòn
Của kia ăn hết nghĩa còn ghi xươngNghèo nhân, nghèo nghĩa thì lo
Nghèo tiền, nghèo bạc chẳng cho là nghèo
Đối với người Việt Nam thì tình trước lý sau, tình sâu nghĩa nặng "Vì tình
vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy" Đó là sự lựa chọn thích hợp nhất, là phương thức ứng
xử tối ưu trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộngđồng xã hội Tình cha con:
Công cha như núi Thái sơn,Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha,Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con"
Tình vợ chồng ''đầu gối, tay ấp", tình bạn thủy chung "dầu đợm bấc dài",tình làng nghĩa xóm "sớm khuya tắt lửa tối đèn có nhau"; Tình thầy trò "khôngthầy đố mày làm nên"; Tình đồng bào "nhiễu điều phủ lấy giá gương"; Tình dântộc chung một ngày "giỗ Tổ" Ngày Hội đền Hùng được xem "Quốc giỗ" củadân tộc Việt Nam Vì tình mà sinh ra nghĩa, bao giờ cũng trọn nghĩa vẹn tình.Người Việt Nam thường chê trách những kẻ "Cạn tàu giáo máng"; "ăn cháo đábát", khinh ghét những ai phụ nghĩa bạc tình, đổi trắng thay đen
Sự tôn trọng tình nghĩa đã trở thành đạo lý, nguyên tắc sống của nhân dân
ta Họ thông cảm với nhau đến mức sẵn sàng "nhường cơm xẻ áo"; "chia ngọt xẻbùi cho nhau", "thương người như thể thương thân"
Trong mỗi người Việt Nam yêu thương con người và yêu nước hòa quyệnvới nhau làm một Bởi vì nước không có độc lập thì dân không có tự do, "Nướcmất thì nhà tan"
Một sự thể hiện cao đẹp của tấm lòng nhân ái, đó là đức tính khoan dung
độ lượng của người Việt Nam Triết lý sống của người Việt Nam là "đánh kẻ
Trang 30chạy đi không ai đánh người chạy lại" và luôn mở lòng hiếu sinh Với bạn bè,anh em, hàng xóm họ sẵn sàng tha thứ cho nhau lỗi lầm, bày vẽ cho nhau cáchsống, cách làm ăn, cùng chia sẻ đói no, vui buồn, ấm lạnh… Đối với kẻ thù xâmlược chà đạp lên quyền tự do, hạnh phúc của họ thì họ kiên quyết đấu tranh và
hy sinh đến giọt máu cuối cùng
Truyền thống tôn trọng tình nghĩa đã làm cho ngời Việt Nam luôn hướngtới mục tiêu Chân - Thiện - Mĩ, những giá trị tinh thần cao quý đó luôn luôn làtiêu chuẩn rèn dũa con người, vượt lên trên hết sự cuốn hút của những giá trị vậtchất tầm thường Có thể nói tình nghĩa vừa là đạo lý, vừa là nếp sống của conngười Việt Nam Điều đó làm cho con người Việt Nam gắn bó với lịch sử, vớitruyền thống, với xóm làng, Tổ quốc Người Việt Nam trọng tình nghĩa màkhông cố chấp, giữ nguyên tắc mà vẫn linh hoạt Tình nghĩa là một quan hệ, mộtthái độ sống trên cơ sở kết hợp giữa lý trí và tình cảm, giữa quyết định và tựnguyện, hiện tại gắn bó với quá khứ Tình nghĩa không chấp nhận sự tàn nhẫn,
sự bất nhất, thái độ cá nhân ích kỷ và thực dụng
1.2.4 Giáo dục cho sinh viên đức tính cần cù, sáng tạo
Cần cù, sáng tạo là một giá trị đạo đức có từ bao đời của nhân dân ta ViệtNam là quê hương của nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, theo các nhàkhảo cổ học, người Việt chuyển từ nền kinh tế hái lượm sang nền kinh tế trồngtrọt cách ngày nay hàng vạn năm Gia đình người nông dân (gia đình tiểu nông)trở thành một đơn vị sản xuất Công việc nhà nông bao gồm nhiều khâu, nhiềuviệc nên cần một sự hợp tác, phân công chặt chẽ giữa đàn ông, đàn bà như cadao đã phản ánh: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, chồng cày, vợ cấy, con trâu đibừa” (Ca dao)
Cần cù, sáng tạo là đức tính quý báu của dân tộc Việt Nam Đức tính đóđược hình hình thành do chính hoàn cảnh sống mang lại Từ ngàn xưa sốngtrong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, ông cha ta đã phải lấy sức người,sức trí làm chính để có được miếng cơm, manh áo Có được đồng bằng sôngHồng, đồng bằng sông Cửu long, có được đất đai để canh tác, ông cha ta đã phải
Trang 31đổ bao mồi hôi, nước mắt, phải lấn rừng, lấn biển, phải khai hoang phục hóa đểbiến đầm lầy sâu trũng thành đồng ruộng Sống trong điều kiện khí hậu khắcnghiệt, người Việt Nam phải thường xuyên chống chọi với hạn hán, bão lụt…chống chọi với mọi thiếu thốn gian khổ, một nắng hai sương để sản xuất, phải
"đổ mồi hôi, sôi nước mắt", "sống ngâm da, chết ngâm xương", "vắt đất ra nướcthay trời làm mưa" Những câu chuyện cổ tích như: Sơn tinh, Thủy tinh; ThầnTrụ Trời… đều tượng trưng cho sức lao động cần cù của người Việt Nam thờithượng cổ để chinh phục thiên nhiên giành cuộc sống
Lao động cần cù đẻ ra sáng tạo Sáng tạo là một trong những đức tính lớncủa người Việt Nam được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Sáng tạo
là yêu cầu của cuộc sống để bảo vệ đất nước và duy trì nòi giống Đức tính sángtạo của người Việt thể hiện rõ nhất trên hai lĩnh vực văn hóa và quân sự Tronglĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, bên cạnh những tác phẩm cổ điển lớn là một khotàng văn học dân gian, ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, truyện cười… Đó lànhững hòn ngọc quý do quần chúng sáng tạo ra Các làn điệu dân ca, câu hò, câuhát vang lên trên các cánh đồng quê, hay các vở tuồng, chèo, tiếng đàn, tiếngsáo… tạo thành một nền nghệ thuật dân gian giản dị, đơn sơ, không đòi hỏinhiều công sức, tiền của mà đậm đà bản sắc dân tộc
Lĩnh vực quân sự là nơi mà nhân dân Việt Nam thể hiện sự sáng tạo nhấtbởi vì lịch sử dân tộc Việt Nam là một chuỗi dài các cuộc đấu tranh chống giặcngoại xâm Trước những kẻ thù mạnh hơn ta gấp bội, chỉ có lòng dũng cảmkhông thôi thì chưa đủ mà cần phải có mưu trí, có óc sáng tạo, lấy yếu chốngmạnh, lấy ít địch nhiều thì mới có thể giành thắng lợi Những chiến công lẫylừng của dân tộc Việt Nam như: ba lần chiến thắng giặc Nguyên- Mông; đánhđuổi thực dân Pháp; đế quốc Mỹ xâm lược chứng tỏ kẻ thù mạnh hơn ta gấpnhiều lần về quân sự, về tiềm lực kinh tế cũng không thể thắng nổi tinh thần, ýchí bền bỉ, sáng tạo tuyệt vời của dân tộc Việt Nam Thành công đó không phải
do may mắn, tình cờ mà nó là kết quả tất yếu của lịch sử, của sức sáng tạo độcđáo của người Việt
Trang 32Trong điều kiện lịch sử mới, tinh thần sáng tạo của dân tộc Việt Nam vẫnkhông ngừng được giữ vững và phát huy, là cơ sở đưa lại những thành tựu đáng
kể trong sự nghiệp đổi mới, CNH - HĐH đất nước
1.2.5 Giáo dục cho sinh viên tinh thần lạc quan, yêu đời
Người Việt Nam luôn có tinh thần lạc quan, yêu đời bởi họ có lòng tinmãnh liệt vào chính bản thân mình Không có tinh thần lạc quan thì không thể
có đức tính kiên trì trong suốt lịch sử chiến đấu chống quân xâm lược cũng nhưtrong quá trình cải tạo thiên nhiên, xây dựng đất nước
Lạc quan trước hết phải trên cơ sở hiểu được thực tế khách quan Lạc quankhông phải là dối mình, dối người, áp đặt cái chủ quan tươi đẹp lên mọi vật.Chính trong tình thế khó khăn nhất người ta vẫn tin tưởng vào một tương lai tốtđẹp và cố gắng vươn lên Lạc quan có một sức mạnh tinh thần to lớn: “nó đỡdậy những té ngã; nó khích lệ những ai nản lòng; nó củng cố niềm tin ở nơi nàolòng tin dao động; nó tìm thấy và chỉ ra cái ánh sáng của hy vọng trong bóngđêm của đau khổ” [21, tr.226]
Ngay từ thời Văn Lang, đã có không ít những câu chuyện thần thoại, truyềnthuyết thể hiện tư tưởng lạc quan sâu sắc Chẳng hạn như trong chiến đấu, nhândân ta luôn vững tin vào chiến thắng của chính nghĩa, tiêu diệt các thế lực bạotàn (Thánh Gióng) Trong lao động, con người Việt Nam cũng thể hiện sự lạcquan, tin tưởng vào bàn tay, khối óc của mình có thể chinh phục được tự nhiên,làm nên tất cả (Sơn Tinh- Thủy Tinh; Thần Trụ Trời…)
Tư tưởng lạc quan thể hiện lòng tin mãnh liệt vào chính nghĩa, không camchịu thất bại Mặc dù trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, cha ông ta vẫn kiên cườngđứng lên khới nghĩa Qua những thăng trầm của lịch sử, tinh thần lạc quan tintưởng vào tương lai tươi sáng vẫn nhen nhóm trong mỗi con người Việt Nam.Tinh thần lạc quan đã góp phần làm nên những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa,Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh… ghi vào trang sử Việt Nam nhữngmốc son chói lọi Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, tư tưởng lạc
Trang 33quan lại càng có cơ sở khoa học Lòng tin vào sức mạnh của nhân dân, vào tiền
đồ của dân tộc càng vững chắc hơn bao giờ hết
Tư tưởng lạc quan không chỉ thể hiện trong kháng chiến mà còn thể hiện rõtrong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Một dântộc đã từng lập nên những kỳ tích trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm thìtrong thời bình ắt sẽ thành công trong việc đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn,lạc hậu Trong quá trình xây dựng đất nước, tinh thần lạc quan được kích thíchbởi lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tạo nên động lực tinh thần to lớn để xây dựngđất nước Việt Nam ngày càng lớn mạnh, sánh vai cùng các cường quốc trên thếgiới như mong muốn của Bác Hồ kính yêu lúc sinh thời
1.2.6 Giáo dục cho sinh viên truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo
Hiếu học, tôn sư trọng đạo là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Làmột quốc gia sống chủ yếu dựa vào sản phẩm ít ỏi của nền nông nghiệp truyềnthống, nhân dân ta vẫn luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các thế hệ con cái theođuổi con dường học hành, thi cử Trong thời kỳ đất nước bị xâm lăng, sự họccủa người Việt Nam không chỉ được thực hiện trong các chùa chiền, trường học
do chính quyền đô hộ lập ra, hay các trường lớp của nhà nước phong kiến màphần lớn được tiến hành trong các trường lớp do làng xã xây dựng hoặc do cácgia đình tự mời thầy giáo về nhà trực tiếp dạy học Sau cách mạng tháng Támnăm 1945 thành công, Nhà nước mới đã thực hiện chính sách giáo dục toàn dân,
và chỉ sau một thời gian ngắn đã hoàn thành việc xóa nạn mù chữ, Nhà nước, địaphương và nhiều dòng họ đã có cơ chế thích hợp để khuyến khích việc học hành
và thi cử cho các thành viên Tinh thần hiếu học của dân tộc ta với nhiều vùngđất học nổi tiếng đã sản sinh ra nhiều danh nhân văn hóa, nhiều học giả uyênbác
Truyền thống hiếu học đã khẳng định vị thế độc lập của nước ta trong quátrình giao lưu và hội nhập quốc tế, Nó thực sự là một cứu cánh của dân tộc trongbất kỳ giai đoạn lịch sử nào
Trang 34Tôn sư trọng đạo vừa là truyền thống, vừa là đạo lý sống tốt đẹp của conngười Việt Nam, dân tộc Việt Nam Truyền thống tôn sư trọng đạo có từ ngànxưa Ở thời học chữ Hán, trước khi cho con đi học, cha mẹ sắm một mâm lễ báilạy tổ tiên, mong con học hành sáng dạ, đỗ đạt Sau đó, gia đình lại có một “lễmọn”, thể hiện “lòng thành” dâng lên thầy mà con mình sẽ theo học Tỏ lòngthành kính “tôn sư trọng đạo”, nhiều gia đình còn gửi gắm con ở luôn bên nhàthầy Đạo trò xưa không chỉ tôn kính người thầy của mình, mà còn có tráchnhiệm, nghĩa vụ rất lớn lao đối với thầy Khi ra đường, gặp thầy, học trò phảingả mũ nón và vòng tay chào; lúc thầy già yếu, các đồng môn phải lo sắm cỗ thọđường (áo quan)…
Người thầy vô cùng quan trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người,nhờ có thầy chúng ta mới biết chữ, hiểu nghĩa, hiểu được đạo lý làm người, biếtkính trên nhường dưới, nhờ có thầy, cô giáo, chúng ta mới hiểu biết tri thứckhoa học, kiến thức về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, nhân dân ta rất tôn vinhngười thầy nên có câu: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”
"Sang sông phải bắc cầu kiềuMuốn con hay chữ phải yêu lấy thầy"
Kế tục phát huy truyền thống tốt đẹp đó, sau ngày cách mạng Tháng 8
-1945 đến nay, sự nghiệp giáo dục và đào tạo được quan tâm đặc biệt của Đảng,Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu nên công tác dạy và học ngày càngphát triển, nâng cao
Vị trí người thầy luôn được tôn vinh trong xã hội, trong nhân dân ta, Đảng
và Nhà nước ta đã thường xuyên tạo điều kiện vật chất và tinh thần đối với các
nhà giáo, luôn đề cao công lao to lớn trong "sự nghiệp trồng người"
Ngày nay truyền thống tôn sư trọng đạo đang được kế thừa, phát huy, nókhông bị ràng buộc bởi những lễ giáo cổ xưa mà xuất phát từ cái tâm, tình cảmcủa lớp lớp học trò hướng về thầy cô giáo của mình Vào dịp 20/11 và đầu nămmới, các thế hệ học trò lại nô nức bảo nhau tới chúc tết, thăm hỏi gia đình thầy
cô giáo của mình Đây chính là nguồn tình cảm xã hội dành cho các thầy cô
Trang 35giáo mà không thể nào đánh đổi được bằng vật chất, để các thầy cô giáo thêm
yêu nghề, yêu người, đem hết tài năng, nghị lực của mình cống hiến vào sựnghiệp chung của đất nước
Trên đây là một số giá trị truyền thống cơ bản, nổi bật trong hệ giá trịtruyền thống của dân tộc Việt Nam Giá trị truyền thống đó được kết tinh từ tâmhồn khí phách ngàn đời của dân tộc ta Nó là chất keo gắn kết mọi thế hệ ngườiViệt Nam, là nguồn gốc của sức mạnh Việt Nam Chủ nghĩa Mác- Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối đúng đắn của Đảng sẽ là kim chỉ nam cho việcgiữ gìn, kế thừa và phát triển giá trị truyền thống của dân tộc trong giai đoạn lịch
sử mới
1.3 Tính tất yếu của việc giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên
1.3.1 Những đặc điểm chủ yếu của sinh viên
Sinh viên là tầng lớp xã hội đặc thù, có học thức, nhạy cảm với cái mới,năng động, ham học hỏi, thích tìm tòi và sáng tạo, là nguồn bổ sung chủ yếu chođội ngũ trí thức trong tương lai, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triểnkinh tế- xã hội của các quốc gia, dân tộc Sinh viên là những thanh niên tiên tiến,tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 tuổi đến 25 tuổi, có trình độ học vấn cao, có tưduy năng động, sáng tạo, có ước mơ, hoài bão lớn, có ý chí và nghị lực trongcuộc sống, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, luôn tintưởng vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Họ là độiquân đi tiên phong trong mọi lĩnh vực, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn Sinh viên
là lớp người ở lứa tuổi sung sức, ham hiểu biết, thích khám phá, tự thể nghiệmmình, nhạy cảm với cái mới, cái đẹp Bên cạnh đó, sinh viên còn thiếu kinhnghiệm trong cuộc sống do tuổi đời ít, chưa từng trải Chính vì vậy, nếu đượcgiáo dục tốt, phù hợp với tính cách, tâm lý, tạo ra sự say mê nghề nghiệp, say
mê với lý tưởng sống cao đẹp thì sinh viên sẽ phát huy được tính năng động,sáng tạo của mình và sẽ có đóng góp xứng đáng đối với sự nghiệp cách mạngcủa Đảng, của dân tộc
Trang 36Sinh viên là những tri thức trẻ tương lai, hơn ai hết chính họ là nhữngngười đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc CNH - HĐH đất nước Thế kỷXXI, là thế kỷ của văn minh trí tuệ, của khoa học công nghệ nên rất cần cónhững con người trẻ tuổi, có trình độ và năng lực sáng tạo, có khả năng tiếpnhận và vận dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại vàothực tiễn đời sống Cơ chế thị trường, xu thế giao lưu và hội nhập quốc tế ngàycàng rộng lớn đang mở ra những cơ hội lớn cho tất cả mọi quốc gia, dân tộc,mọi người trong quá trình phát triển trong đó thanh niên, sinh viên Sinh viênhôm nay không chỉ được trang bị những kiến thức chuyên môn, lý luận mà cònđược trang bị những kiến thức tin học, ngoại ngữ… với sự hỗ trợ của cácphương tiện truyền thông hiện đại Và việc mở rộng, đa dạng hoá tiến trình giaolưu, hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác động tích cực này đã mở
ra một dòng chảy mới trong qúa trình hội nhập, xích lại gần nhau trong một tinhthần cảm thông, cởi mở Có thể thấy những biểu hiện của nó trong các quanniệm đạo đức có liên quan đến lĩnh vực đặc trưng của tuổi trẻ như tình bạn, tìnhyêu, hôn nhân và gia đình…Các quan niệm đạo đức của mỗi cộng đồng, bêncạnh cái riêng của mình, đang xuất hiện những cái chung hoà nhập cùng thếgiới, mở ra những cơ hội để mỗi người giao lưu, học hỏi, tăng cường sự hiểubiết lẫn nhau Có thể dự đoán về một xu hướng đạo đức được quốc tế hoá, vừatrên cơ sở thống nhất những quy tắc đạo đức chung của con người, vừa giữ đượctruyền thống tốt đẹp của dân tộc Những quan niệm về tốt, xấu, công bằng, bìnhđẳng… cũng đang có sự chuyển dịch nhất định Những dịch chuyển này tạo ramột sự giải phóng về mặt tư tưởng, hướng sinh viên đến sự chuẩn bị cho nhữnghành động có tính hiệu quả sau này khi hội nhập thị trường nguồn nhân lực.Những quy tắc ứng xử vì thế cũng biến đổi, điều chỉnh theo nguyên tắc thiếtthực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thời đại công nghiệp Những rào cảnđạo đức nào không còn phù hợp trong việc điều chỉnh hành vi sẽ bị vượt qua thểhiện rõ nét ở sinh viên nói chung, sinh viên trường Đại học Kinh tế Nghệ An nóiriêng
Trang 37Sinh viên dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo.Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội,đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt.
Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sựchi phối của hoạt động chủ đạo Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọngnhất ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ có tự ý thứcphát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân
để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xãhội Chẳng hạn sinh viên đang học ở các trường cao đẳng, đại học, họ nhận thức
rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặcđiểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêuhọc tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lênlớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học Nhờ khả năng tự đánh giá pháttriển mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quảhọc tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tậpcủa họ
Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giávấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thứctương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở đạihọc là cơ hội tốt để sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rấtthích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh củabản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đốimặt với thử thách để khẳng định mình
Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinhviên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp họ họctập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghềlựa chọn
Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ làlớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát
Trang 38triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống vàcách thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được pháttriển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều nàyphụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên Bêncạnh đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từnhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế về mặttâm lý của sinh viên.
Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình độnhất định, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanhniên Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việctiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc
tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta cónhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả vănhoá phương Đông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, vănhoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm,ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm củathanh niên, do đó, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phùhợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợicho bản thân họ
Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ
so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có nănglực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khámphá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dámđối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng
có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tácđộng chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên
Đối với sinh viên nước ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn raqúa trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: Tác động của cơ chế thị trườngdẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ sinh
Trang 39viên chênh lệch lớn ngay từ đầu vào Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đónhững đặc điểm tương đồng dưới đây.
Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựachọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinhnghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thíchnhững công việc đem lại thu nhập cao, v.v Nói chung là tính mục đích tronghành động và suy nghĩ rất rõ
Tính năng động: Nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thờigian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành
tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công tyngay khi đang còn là sinh viên), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phongtrào tình nguyện) Nhiều sinh viên cùng một lúc học hai trường đại học
Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắnliền với sự định hướng cụ thể Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: sinh viênhôm nay sống có lý tưởng không? lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởngcủa cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không? Có thể khẳng định là
có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắnliền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể Lý tưởng hôm nay không phải
là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể,gắn liền với lợi ích cá nhân
Từ những đặc điểm trên đây, muốn phát huy tài năng, sáng tạo của sinhviên đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, một mặt cần coi trọngcông tác giáo dục tri thức, kỹ năng sống, mặt khác cần tăng cường giáo dục giátrị truyền thống, tạo cho họ “bộ lọc” tốt để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhânloại
1.3.2 Giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên là một tất yếu
Xã hội càng phát triển thì truyền thống dân tộc càng được củng cố và pháthuy Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề phát huygiá trị truyền thống dân tộc, coi đây là một trong những công tác nghiên cứu và
Trang 40là một nhiệm vụ chính trị mà Đảng và nhân dân cùng tiến hành để khơi dậy tinhthần yêu nước, tinh thần đoàn kết sức mạnh, làm cho truyền thống dân tộc đượccủng cố vững mạnh.
Hiện nay, những giá trị truyền thống dân tộc, bên cạnh sự giữ gìn, củng cố
và phát triển thì cùng với quá trình CNH – HĐH, và xu thế toàn cầu về kinh tế
-xã hội, những giá trị truyền thống của dân tộc ta đang bị đe dọa và bị làm xấu đi
Vì vậy làm sao phát triển những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam theođịnh hướng XHCN, phù hợp với sự phát triển của con người – xã hôi Việt Nam,tính quy luật chung đó có những biểu hiện đặc thù tùy theo từng lĩnh vực và điềukiện lịch sử - cụ thể của từng dân tộc
Ngày nay, chúng ta không thể phủ nhận những ảnh hưởng tích cực mà nềnkinh tế thị trường đem lại: đó là sự năng động, sáng tạo trong quá trình lao độngsản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, hiện đại hoá đời sống xã hội…Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường có những tác động tiêu cực, những tác độngnày nếu không có biện pháp khắc phục sẽ đưa lại những hậu quả nghiêm trọngcho xã hội, phá hoại cả những thành quả đạt được trong kinh tế: đó là lối sốngthực dụng, hưởng thụ, sùng bái đồng tiền, tiếp thu ồ ạt cả những yếu tố phản vănhóa từ bên ngoài tràn vào… Chính những tác động tiêu cực của nến kinh tế thịtrường đang hàng ngày, hàng giờ làm suy thoái đạo đức, lối sống của không ítngười Việt Nam trong đó có giới trẻ, thanh niên, sinh viên nói chung, sinh viênTrường Đại học Kinh tế Nghệ An nói riêng Bởi vậy, hơn bao giờ hết cần quantâm đến công tác giáo dục giá trị truyền thống cho cho tất cả mọi người đặc biệt
là thanh niên, sinh viên
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, trước hết là toàn cầu hóa về kinh tế,
đã làm đảo lộn nhiều giá trị đã từng được xem là chuẩn mực trong đời sống cộngđồng Tuy nhiên, nhiều người không ý thức được rằng; các giá trị văn hóa củamỗi dân tộc đều có sức sống riêng, tạo nên bản sắc, tính đa dạng và sự khác biệtcủa chính dân tộc ấy, chính vì vậy mà người ta tiếp thu các tư tưởng văn hóangoại bang một cách ồ ạt, không có chọn lọc, không biết “gạn đục, khơi trong”