1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ hợp tác giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) tử năm 1991 đến năm 2012

108 384 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNTrong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn “Quan hệ hợp tác giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay Lào với một số huyện miền Tây của Nghệ An Việ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

TS BÙI VĂN HÀO

NGHỆ AN 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn “Quan

hệ hợp tác giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô

giáo, các cấp lãnh đạo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp giúp tôi có những kiến thức và sự trưởng thành, góp phần quan trọng để phục vụ cho quá trình công tác của bản thân sau này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy giáo, cô giáo Khoa

Lịch sử Trường Đại học Vinh, đặc biệt là thầy giáo TS Bùi Văn Hào đã

giành nhiều thời gian, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cơ quan, gia đình, bạn bè và tất cả những người thân đã luôn động viên, khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập và hoàn thành Luận văn của mình

Mặc dù đã có nhiều cố gắng tìm tòi, nghiên cứu để thực hiện các nội dung của Luận văn, nhưng chắc chắn Luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong các thầy giáo, cô giáo, các anh chị, bạn

bè tiếp tục góp ý để Luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Mạc Văn Nguyên

Trang 3

MỤC LỤC

Tổ chức Lễ an táng 84 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia 100 Việt Nam hy sinh tại Lào 100

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

STT TỪ VIẾT TẮT TÊN TIẾNG VIỆT

1 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

2 CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân

3 ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

4 AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

5 AIA Khu vực đầu tư ASEAN

6 UBND Ủy ban nhân dân

7 UBCQ Ủy ban chính quyền

8 T N HH Trách nhiệm hữu hạn

9 VNTP Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

10 VIETTEL Tập đoàn Viễn thông Quân đội

11 VAC Vườn - Ao - Chuồng

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quan niệm của nhân dân các bộ tộc Lào, Việt Nam là “bản cạy, hươn khiêng” (bản kề, nhà cạnh), còn nhân dân Việt Nam coi Lào là “láng giềng thân thiện” Mối quan hệ Lào - Việt Nam là mối quan hệ đặc biệt, thủy chung, đã được tôi luyện trong suốt chiều dài dựng và giữ nước của hai dân tộc

Qua các thời kỳ lịch sử, cùng với sự phát triển của quan hệ giữa hai nước, các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) không ngừng tăng cường hợp tác về mọi mặt Từ “láng giềng thân thiện” trong buổi đầu lịch sử, “tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu” trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung, bước sang thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới, hai bên tiếp tục tăng cường “quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện”

Là những huyện năm liền kề bên nhau, có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hóa, các huyện Khăm Cớt (Bôlykhămxay), Noọng Hét, Mường Moọc (Xiêng Khoảng) và các huyện miền Tây Nghệ An (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương) đóng vai trò quan trọng trong quan hệ hợp các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay và Nghệ An cũng như của hai nước, nhất là trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh và công tác biên giới.Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến đổi, quan hệ giữa hai nước Lào - Việt Nam cũng như giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôykhămxay với Nghệ An không ngừng được tăng cường, sự hợp tác giữa các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) cũng có nhiều thay đổi Sự hợp tác chặt chẽ giữa hai bên góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình an ninh biên giới, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế của hai khu vực giáp biên Vì vậy, đi sâu nghiên cứu cơ sở, thực trạng cũng như những thành tựu và hạn chế trong quan

Trang 5

hệ giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm góp phần tăng cường sự hợp tác giữa hai bên trong các giai đoạn tiếp theo là yêu cầu cần thiết cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.

1.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012 góp phần “giúp các tầng lớp nhân dân, nhất

là thế hệ trẻ, nhận thức sâu sắc về mối quan hệ đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác

toàn diện giữa hai nước”, qua đó, khẳng định sự cần thiết và ý nghĩa to lớn

của việc củng cố, tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai bên trong giai đoạn hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo

Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn nêu trên, chúng tôi

lựa chọn vấn đề: “Quan hệ hợp tác giữa các huyện miền Đông của Xiêng

Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012” làm đề tài Luận văn thạc sỹ Sử

học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Quan hệ giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012 đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu, bài viết về

Trang 6

quan hệ Việt Nam - Lào xũng như quan hệ giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay với Nghệ An Ngoài ra, đã có một số bài viết trực tiếp đề cập đến quan hệ giữa các huyện của hai khu vực.

2.1 Các công trình nghiên cứu, bài viết về Việt Nam, Lào và quan

hệ giữa hai nước đề cập đến quan hệ các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam)

2.1.1 Một số công trình và bài viết của các nhà lãnh đạo, các tướng lĩnh tiền bối cũng như hiện nay ở Việt Nam và Lào.

Các tác phẩm: 25 năm chiến đấu và thắng lợi của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; Về cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Lào cũng như trong

một số bài viết khác, trong khi đề cập đến vấn đề liên quan đến quan hệ Lào - Việt trong cách mạng dân tộc dân chủ và trong những năm đầu của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản đã ít nhiều đề cập đến quan hệ giữa khu vực biên giới của hai nước

Bài viết của Chủ tịch Khămtày Xiphănđon Tình đoàn kết đặc biệt, sự hợp tác toàn diện và liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trong thời kỳ cách mạng mới khẳng định tình đoàn kết đặc biệt, sự hợp tác toàn diện và

liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam là tài sản quí báu của hai dân tộc và là nhân tố quan trọng làm nên những thắng lợi của hai nước trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước

Công trình do Đại tướng Hoàng Văn Thái chủ biên Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Cămpuchia đã khẳng định: liên minh chiến đấu Việt

Nam - Lào - Cămpuchia là cơ sở để sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương đi đến thắng lợi cuối cùng

Bài viết của Tổng Bí thư Đỗ Mười Mãi mãi trân trọng mối quan hệ chí cốt có ý nghĩa chiến lược Việt - Lào phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng

của quan hệ đặc biệt Việt - Lào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng

Trang 7

như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thời kỳ hai nước đang tiến hành sự nghiệp đổi mới.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong bài viết Việt Nam và Lào: chặng đường 30 năm phát triển hợp tác kinh tế và Thủ tướng Bouasone Bouphavanh trong bài viết Gắn bó keo sơn, hỗ trợ vô tư, hợp tác hiệu quả đã

nêu lên phương hướng và một số biện pháp để nâng cao hiệu quả hợp tác giữa hai nước, nhất là hợp tác kinh tế

2.1.2 Một số công trình nghiên cứu và bài viết đăng trên các tạp chí của các nhà nghiên cứu Lào và Việt Nam.

Cơ sở của quan hệ hợp tác Việt - Lào đã được đề cập đến trong một số

bài viết như: Cơ sở khách quan bền vững của mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào; Quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào là yêu cầu khách quan và là nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng mỗi nước của

Nguyễn Tiến Ngọc

Tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào trong sự nghiệp xây dựng, bảo

vệ Tổ quốc được đề cập trong một số công trình nghiên cứu và bài viết tiêu

biểu như: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào (1930 - 2007) của Ban

chỉ đạo nghiên cứu biên soạn lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào (1930 - 2007) và Ban chỉ đạo nghiên cứu biên tập lịch sử quan hệ đặc biệt

Lào - Việt Nam (1930 - 2007); Quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào trong giai đoạn 1954 - 2000 của Lê Đình Chỉnh; Quan hệ Việt Nam - Lào từ 1975 đến 2005 của Nguyễn Thị Phương Nam; Quan hệ Việt Nam - Lào trong thời kỳ cổ trung đại của Nguyễn Hào Hùng; Quan hệ Việt Nam - Lào - Cămpuchia trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp của Đỗ Đình Hãng; Quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt - Lào trong kháng chiến chống Pháp xâm lược: Diễn trình, thành quả và kinh nghiệm của Ngô Đăng Tri - Nguyễn Văn Khánh; Tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ của Xẻng Nuôn Xay Nha Lạt; Quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu tại Lào - Biểu tượng

Trang 8

sinh động nhất của mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào của Trịnh Vương Hồng; Đường Hồ Chí Minh - Biểu tượng của tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc của Nguyễn Văn

Nhật …

2.1.3 Một số bài viết tham gia các Hội thảo khoa học về quan hệ Lào - Việt Nam:

Trong kỷ yếu của các hội thảo khoa học: Quan hệ Việt - Lào, Lào - Việt

(do trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội chủ trì năm 1991 và năm 1993);

Tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào (do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức năm 1995); 40 năm quan hệ Việt Nam - Lào: Nhìn lại và triển vọng

(do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia phối hợp với UBND

tỉnh Nghệ An tổ chức tại Thành phố Vinh, tháng 8 - 2002); Tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu và sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào (do Viện KHXH Việt Nam và Viện KHXHQG Lào tổ chức tại Viêng Chăn, , nhiều bài đã đề cập đến mối quan hệ kinh tế, văn hóa - xã hội giữa

Lào - Việt Nam cũng như các địa phương của hai nước qua các thời kỳ lịch sử

2.2 Các bài viết, công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp đến quan hệ hợp tác giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam)

Quan hệ song phương giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012 đã được đề cập đến trong một số bài viết và một số luận văn Thạc sĩ

Các bài viết: Nghệ An kề vai sát cánh với các địa phương Lào của Phan Đình Trạc; Mong muốn đẩy mạnh hợp tác kinh tế với các tỉnh Việt Nam của Phankham Viphavan; Có nhiều tiềm năng để hợp tác của Khampane Phivavông; Quan hệ giữa tỉnh Nghệ An của Việt Nam với một

số tỉnh của Lào là bằng chứng sinh động nhằm phát triển tình đoàn kết và

Trang 9

sự hợp tác toàn diện giữa hai nước của Nguyễn Văn Hành, đã điểm lại

những thành tựu quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa Nghệ An với một

số tỉnh của Lào trong thời kỳ đổi mới, đồng thời đi sâu phân tích những điều kiện chủ quan và khách quan để hai bên tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác trong các giai đoạn tiếp theo

Các công trình nghiên cứu và bài viết: Hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế giữa Nghệ An (Việt Nam) với các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) (Sách chuyên khảo); Quá trình hoạch định tuyến biên giới Việt Nam - Lào khu vực do tỉnh Nghệ An và tỉnh Xiêng Khoảng quản lý; Hợp tác giáo dục - đào tạo giữa tỉnh Nghệ An của Việt Nam với các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào từ năm 1976 đến năm 2010; Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp giữa tỉnh Nghệ An của Việt Nam với tỉnh Xiêng Khoảng của Lào từ năm 1976 đến năm 2009; Hợp tác thương mại giữa Nghệ An của Việt Nam với Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào

từ năm 1991 đến năm 2010 của Bùi Văn Hào đã đề cập đến sự hợp tác

giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một

số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) trong thời kỳ hai nước thực

hiện công cuộc đổi mới.

Ngoài ra, quan hệ song phương giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt

Nam) còn được đề cập trong các công trình: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An; Biên niên sự kiện Hợp tác và Hữu nghị Nghệ An - Xiêng Khoảng của Trần Kim Đôn và một số luận văn Thạc sỹ Sử học như: Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Nghệ An (Việt Nam) và Xiêng Khoảng (Lào) của Đậu Quỳnh Mai; Quan hệ hợp tác Nghệ An (CHXHCN Việt Nam) - Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (CHDCND Lào) trong việc giải quyết vấn đề biên giới của Nguyễn Thị Hồng Vui; Quan hệ hợp tác về văn hóa, giáo dục và y

tế giữa các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào với Nghệ An của Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2011 của Ngô Thị Thu Hiền

Trang 10

Mặc dù cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cơ sở, thực trạng, những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm của quan hệ hợp tác giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) trong thời kỳ Việt Nam và Lào thực hiện đường lối đổi mới, tuy nhiên, các công trình, bài viết trên là cơ sở quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài này.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan hệ hợp tác toàn diện giữa các

huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Đề tài nghiên cứu sự hợp tác giữa các huyện miền Đông

của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của

Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012 trên các lĩnh vực: chính trị, quốc phòng - an ninh, công tác biên giới, kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế, công tác xã hội - nhân đạo.

- Thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa các

huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012

- Không gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa các huyện các huyện Noọng Hét, Mường Moọc và Khăm Cớt - là những huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) với các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế phong, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương - là các huyện miền Tây Nghệ An có chung đường biên giới các huyện Noọng Hét, Mường Moọc và Khăm Cớt).

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu:

4.1 Nguồn tư liệu

- Đề tài được xây dựng trên cơ sở các nguồn tư liệu gốc sau:

Trang 11

+ Văn kiện của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Việt Nam và các bài viết, bài phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ hai nước Lào và Việt Nam.

+ Văn kiện của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Nghệ An và các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay

+ Văn kiện của Đảng bộ và chính quyền các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Thanh Chương, Quế Phong, Anh Sơn, Con Cuông, Thanh Chương

từ năm 1991 đến năm 2012

+ Các Hiệp ước, Hiệp định, Nghị định thư, Thoả thuận hợp tác giữa nước CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam và các Biên bản ghi nhớ, Biên bản hội đàm, Biên bản làm việc giữa các tỉnh, huyện của hai khu vực từ năm 1991 đến năm 2012

+ Số liệu thống kê của Tổng cục thống kê và Chi cục thống kê tỉnh và các huyện miền Tây Nghệ An

+ Các Báo cáo sơ kết, tổng kết công tác hợp tác với các tỉnh Lào của Tỉnh uỷ, UBND, các Ban, ngành và các địa phương miền Tây Nghệ An từ năm 1991 đến năm 2012

- Ngoài ra, các sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu chuyên khảo

và một số luận án Tiến sĩ Lịch sử, luận văn Thạc sĩ về quan hệ Lào - Việt Nam và quan hệ hệ giữa các tỉnh của Lào với Nghệ An đã được khảo cứu

để góp phần giải quyết những nội dung của luận văn

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp luận Mác - Lê nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại của Đảng Để thực hiện đề tài này,

chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra,

còn sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp… để giải quyết các vấn đề khoa học đặt ra trong luận văn

Trang 12

5 Đóng góp của Luận văn:

- Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về mối quan hệ giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một

số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012 trên các lĩnh vực: chính trị, quốc phòng - an ninh, công tác biên giới, kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế, công tác xã hội - nhân đạo Đồng thời, rút

ra một số nhận xét, đánh giá về thành tựu, hạn chế và khả năng phát triển của mối quan hệ này

- Luận văn sẽ là một nguồn tư liệu quan trọng trong nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Lào; quan hệ Nghệ An với Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay và sự hợp tác giữa một số huyện miền Đông của các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôykhămxay với các huyện miền Tây Nghệ An

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để Đảng, Chính quyền tỉnh Nghệ An và các huyện miền Tây Nghệ An có thể tham khảo trong việc hoạch định chính sách hợp tác với các địa phương của Lào

6 Bố cục Luận văn:

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của

Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở hợp tác giữa các huyện miền Đông của Xiêng

Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012

Chương 2: Hợp tác giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng,

Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012

Chương 3: Một số nhận xét về sự hợp tác giữa các huyện miền Đông

của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 2012

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ HỢP TÁC GIỮA CÁC HUYỆN MIỀN ĐÔNG CỦA XIÊNG KHOẢNG, BÔLYKHĂMXAY (LÀO) VỚI MỘT SỐ HUYỆN MIỀN TÂY CỦA NGHỆ AN

(VIỆT NAM) TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2012

1.1 Cơ sở địa - chính trị, kinh tế và văn hoá

1.1.1 Cơ sở địa - chính trị và kinh tế

Các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay của Lào có vị trí địa lý liền kề với Nghệ An của Việt Nam Giữa hai khu vực có chung hơn 300 km đường biên giới

Tỉnh Xiêng Khoảng thuộc khu vực Đông - Bắc Lào, phía Tây giáp tỉnh Luông Phrabăng, phía Tây - Nam giáp Viêng Chăn, phía Nam giáp tỉnh Bôlykhămxay, phía Đông có chung 136 km đường biên giới với các huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) Trong số 9 huyện thị của Xiêng Khoảng, các huyện Noọng Hét (Nonghed), Mường Moọc (Morkmay) tiếp giáp với các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương của Nghệ An Địa hình các huyện Noọng Hét (Nonghed), Mường Moọc (Morkmay) chủ yếu là đồi núi,

độ cao bình quân so với mặt nước biển từ 1.500 m đến 1.800 m (cao nhất là đỉnh núi Phu Bia với 2.820 m)

Tỉnh Bôlykhămxay thuộc khu vực Bắc - Trung Lào, phía Nam giáp Khăm Muộn, phía Tây - Bắc giáp Viêng Chăn, phía Tây - Nam giáp tỉnh Nakhonphanôm của Thái Lan và phía Đông giáp Nghệ An, Hà Tĩnh của Việt Nam Huyện Khăm Cớt (Khamkheuth) của tỉnh Bôlykhămxay giáp giới với các huyện Anh Sơn, Con Cuông và Thanh Chương của Nghệ An Cũng giống như các huyện Noọng Hét, Mường Moọc của tỉnh Xiêng Khoảng, địa hình huyện Khăm Cớt chủ yếu là đồi núi, nghiêng dần theo hướng từ Đông sang Tây, từ dãy Phu Luông thấp dần xuống lưu vực sông

Mê Kông, từ độ cao từ 3000m giảm dần xuống 700m

Trang 14

Tỉnh Nghệ An thuộc khu vực Bắc Trung bộ của Việt Nam, phía Bắc giáp Thanh Hoá, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp 3 tỉnh của Lào là Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bôlykhămxay Các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương của miền Tây Nghệ An giáp các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) Địa hình miền Tây Nghệ An chủ yếu là đồi núi, bị chia cắt bởi nhiều sông, suối, nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam Núi và trung du chiếm 95% diện tích của các huyện miền Tây Nghệ An.

Nếu như ví phía Bắc của dãy Trường Sơn là một nóc nhà thì mái phía Đông là địa phận miền Tây của tỉnh Nghệ An (Việt Nam), còn mái phía Tây

là địa phận các huyện Noọng Hét, Mường Moọc (Xiêng Khoảng), Khăm Cớt (Bôlykhămxay) Không chỉ gần gũi về địa lý, các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) còn có một số điểm tương đồng về tự nhiên Phần lớn diện tích đất tự nhiên của hai khu vực là núi và trung du Núi và trung du chiếm khoảng hơn 90% diện tích đất tự nhiên của miền Tây Nghệ An và 95% diện tích các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) Hai khu vực đều nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới, có nhiệt độ trung bình và độ ẩm tương đối cao Nhiệt độ trung bình hàng năm của hai khu vực từ 24oC đến 36oC, độ ẩm khoảng 83% đến 85% Lượng mưa trung bình hàng năm khá lớn, của miền Tây Nghệ An là từ 1.800 đến 2.400mm, của các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) là 1.450mm Với khí hậu nóng lắm, mưa nhiều kết hợp với địa hình đồi núi có độ dốc cao, hai khu vực có điều kiện thuận lợi

để phát triển kinh tế lâm nghiệp, nhưng đồng thời phải thường xuyên đối mặt với thiên tai như hạn hán, bão, lụt và lũ quét… Các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) đều nằm trong dãy đất badan hoá, rất thuận lợi để phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, chè, đồng thời có nhiều đồng cỏ để phát triển chăn nuôi gia súc

Trang 15

Sự gần gũi về địa lý kết hợp với những điểm tương đồng về địa hình, khí hậu, đất đai giữa hai khu vực là tiền đề để nhân dân các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) sớm xác lập mối quan hệ “láng giềng thân thiện” trong lao động sản xuất, sinh hoạt tinh thần cũng như trong các cuộc đấu tranh để bảo vệ quê hương, đất nước.

Các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) là những khu vực có vị trí địa - chiến lược Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược của hai dân tộc, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hai khu vực giữ vị trí hết sức quan trọng Mọi diễn biến của hai bên đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và quan hệ hai nước Việt Nam - Lào.Tỉnh Nghệ An được ví như “điểm giữa của chiếc đòn gánh”, gánh hai đầu đất nước Việt Nam Đây là khu vực đất rộng, người đông, có địa thế hiểm trở Trong thời kỳ phong kiến, Nguyễn Trãi coi “Nghệ An là phên dậu thứ ba ở phương Nam” [54; tr13], nhà sử học Phan Huy Chú đánh giá là “đất hiểm yếu như thành đồng, ao nóng của nước nhà và là then khoá của các triều đại” [54; tr17], Quốc sử quán Triều Nguyễn nhận xét “Nghệ An địa thế rộng rãi, chính là đất xung yếu giữa Nam và Bắc… núi cao, sông sâu, thực là một tỉnh lớn có địa thế hiểm yếu” [54; tr22]

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, nhân dân miền Tây Nghệ An không chỉ góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hậu phương cho tiền tuyến miền Nam, mà còn là đầu cầu tiếp viện cho chiến trường Lào Mặc cho mưa bom, bão đạn, quân và dân các huyện miền Tây Nghệ An với quyết tâm “xe chưa qua, ta chưa về” đã anh dũng chiến đấu, giữ vững mạch máu giao thông để chi viện sức người, sức của cho chiến trường Lào

Trang 16

Từ các huyện miền Tây Nghệ An có thể thông thương, đi lại với các nước trong khu vực Đông Nam Á lục địa, nhất là với Lào Quốc lộ 7A nối liền miền Tây Nghệ An với các huyện miền Đông của tỉnh Xiêng Khoảng thông qua cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn (huyện Noọng Hét) - Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn), tuyến đường 46 qua cửa khẩu Quốc gia Nậm On (huyện Khăm Cớt) - Thanh Thuỷ (Thanh Chương) nối liền huyện Thanh Chương (Nghệ An) với huyện Khăm Cớt (Bôlykhămxay) Tuyến đường 48 nối liền huyện Quế Phong (Nghệ An) với huyện Sâm Tớ (Hủa Phăn) qua cửa khẩu Sốp Pèn (Sầm Tớ) - Thông Thụ (Quế Phong) Ngoài ra, còn có hàng chục con đường mòn nối liền các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay với các huyện miền Tây Nghệ An Mạng lưới giao thông đường bộ nối liền hai bên đã khắc phục hạn chế do địa hình tạo ra, góp phần tạo nên vị trí chiến lược quan trọng cho cả hai khu vực.

Không chỉ có vị trí địa - chiến lược, các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) còn là những khu vực có nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế.Mặc dù núi và trung du chiếm khoảng 95% diện tích đất tự nhiên, không thuận lợi trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nhưng các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) lại có nguồn tài nguyên rừng, khoáng sản rất phong phú và tiềm năng lớn về thuỷ năng, du lịch

Các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay có những cánh rừng bạt ngàn với nhiều loại gỗ quí như đinh hương, pơ mu, sa mu, lim, sến, cánh kiến trắng, cánh kiến đỏ… có thể khai thác hàng triệu m3

gỗ/năm để phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu; có nhiều loại động vật quí hiếm như voi, hổ, sao la… và nhiều loại dược liệu quí hiếm để chế biến đông dược

Không chỉ giàu tài nguyên rừng, các huyện Noọng Hét, Mường Moọc (Xiêng Khoảng), Khăm Cớt (Bôlykhămxay) còn có nguồn tài nguyên

Trang 17

khoáng sản rất phong phú Các mỏ vàng, thiếc, chì… ở Mường Moọc (tỉnh Xiêng Khoảng), sắt, bô xít, thạch cao, kaly… ở các huyện Khăm Cớt (tỉnh Bôlykhămxay) là những tiềm năng to lớn để khu vực phát triển ngành công nghiệp khai khoáng Ngoài ra, khu vực này còn có nguồn đá vôi dồi dào để sản xuất vật liệu xây dựng.

Hệ thống sông, suối ngắn và dốc ở các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay thường gây ra những trận lũ quét nguy hiểm, nhưng mặt khác lại tạo cho khu vực này tiềm năng lớn để xây dựng các công trình thuỷ điện Thượng nguồn sông Cả (tỉnh Xiêng Khoảng) hay các con sông Nậm Ngạt, Nậm Ngừm, Nậm Mộ đều có các thác nước với độ dốc cao, có thể xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ để sản xuất điện năng phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu

Ngoài ra, còn phải kể tới tiềm năng phát triển du lịch tại miền Đông các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay Suối nước nóng Bò Nhảy (suối lớn)

và Bò Nọi (suối bé) ở Mường Moọc, các di tích lịch sử - văn hóa ở Lạc Xao (Khăm Cớt) là những tiềm năng du lịch tự nhiên và tiềm năng du lịch nhân văn

Miền Tây Nghệ An có thế mạnh rừng để phát triển lâm nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, khai khoáng, khai thác nguồn thủy năng và phát triển du lịch Ngoài ra, miền Tây có rất có điều kiện để phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, chè

Những tiềm năng sẵn có của các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) là điều kiện thuận lợi để hai bên đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực kinh tế

1.1.2 Cơ sở văn hóa

Mối quan hệ các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) không chỉ bắt nguồn

từ sự gần gũi về địa lý, những nét tương đồng về điều kiện tự nhiên cũng

Trang 18

như vị trí chiến lược và tiềm năng kinh tế của mỗi khu vực, mà còn xuất phát từ những điểm tương đồng về văn hóa - xã hội.

Trên địa bàn các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) có nhiều tộc người chung sống Tuy khác nhau về nguồn gốc và lịch sử cư trú, nhưng thông qua lao động sản xuất, trao đổi hàng hoá và sinh hoạt tinh thần, giữa các tộc người dần dần đã có mối quan hệ gần gũi, thân thiết

Các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) là địa bàn

cư trú của người Lào Lùm (cư dân nói tiếng Thái, chủ yếu sống ở vùng đồng bằng và ven sông suối), Lào Thơng (cư dân bản địa, chủ yếu sống ở vùng trung du) và Lào Xủng (cư dân nói tiếng H’Mông - Dao, chủ yếu sống trên vùng núi cao) Ngoài ra, ở đây còn có một số kiều bào, chủ yếu là Việt kiều (chiếm khoảng 0,5% dân số) Theo số liệu điều tra năm 2009, tỉnh Xiêng Khoảng có 228.882 người (trong đó người Lào Lùm chiếm 57%, người Lào Xủng chiếm 34%, người Lào Thơng chiếm 8,5%); tỉnh Bôlykhămxay có 214.900 người (trong đó có 78% người Lào Lùm, 13,5% người Lào Xủng và 8% người Lào Thơng) [51, tr.56] Cũng giống như ở Nghệ An, quá trình định cư của các tộc người tại khu vực này diễn ra không đồng nhất Người Lào Thơng là cư dân bản địa, người Lào Lùm có mặt muộn hơn, từ khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII, XIV Người Lào Xủng có mặt vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, muộn hơn rất nhiều so với người Lào Thơng và người Lào Lùm Còn Việt kiều và Hoa kiều có mặt ở khu vực này với nhiều lý do và bằng nhiều con đường khác nhau

Ở miền Tây Nghệ An, cùng chung sống với người Việt có các tộc người Thái, Thổ, Mường, Ơ Đu, Tày, Khơ Mú, H’Mông,… Quá trình định

cư của các tộc người ở Nghệ An của Việt Nam diễn ra không đồng nhất Trong khi người Việt, chủ nhân của nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc, có mặt ở đây từ rất sớm, thì các tộc người khác lại có mặt muộn hơn nhiều

Trang 19

Mặc dù vậy, thông qua lao động sản xuất, sinh hoạt tinh thần và nhất là thông qua các cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, các tộc người ở khu vực này đã sớm đoàn kết gắn bó với nhau.

Trong số các tộc người cùng chung sống tại các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam), có một số tộc người là đồng tộc như người Thái, người

H’Mông Có thể là “do nhu cầu đi tìm những vùng đất mới để định cư; sự trốn chạy ách áp bức nặng nề; tập quán sống du canh du cư; sự tranh chấp giữa các tập đoàn thống trị”, cũng có thể là “do giặc giã” [39; tr179], nên từ vùng Tây - Nam Trung Quốc người Thái đã di cư thành từng đợt xuống khu vực Đông Nam Á lục địa Hiện nay, trong tổng số hơn 1,5 triệu người Thái sống trên đất nước Việt Nam, có khoảng 300 nghìn người định cư tại miền Tây Nghệ An [39; tr224] và trong số hơn 500.000 dân của các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay có khoảng hơn 350.000 người Thái (Lào Thay hay Lào Lùm) Yếu tố đồng tộc cùng với việc bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống của người Thái là sợi dây vô hình kết nối người Thái

ở miền Tây Nghệ An với người Lào Thay ở các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay Cũng giống như người Thái, yếu tố dòng họ chi phối cuộc sống và sinh hoạt của người H’Mông rất sâu sắc Dù ở bên này hay biên kia biên giới, họ vẫn duy trì quan hệ chặt chẽ với nhau Người

H’Mông ở miền Tây Nghệ An vẫn coi Noọng Hét (Xiêng Khoảng) là quê hương bản quán của mình

Trong hoạt động kinh tế, hầu hết các tộc người của hai khu vực đều làm nghề nông, lâm nghiệp là chính Dựa vào đặc điểm địa hình của khu vực, người Việt, người Thái ở miền Tây Nghệ An và người Lào Lùm ở các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay chủ yếu canh tác nương rẫy Họ duy trì khá lâu dài lối sống du canh du cư với phương thức hoả canh là chính Cùng với hoạt động sản xuất nông nghiệp, các tộc người ở hai khu vực đã sớm phát triển một số nghề thủ công như đan lát, mộc, rèn,

Trang 20

quay tơ, dệt vải… Họ sớm biết khai thác các nguồn lâm sản như gỗ, song, mây, tre để làm nhà cửa, sản xuất dụng cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt gia đình, săn bắn các loài thú rừng để làm thực phẩm, khai thác các loại dược liệu để chữa bệnh, trồng bông, trồng dâu nuôi tằm để quay tơ, dệt vải…

Về văn hoá vật chất, kiến trúc nhà cửa và trang phục (nhất là nữ giới) của một số tộc người ở hai khu vực có nhiều nét tương đồng Nhà sàn là một trong những đặc trưng của văn hoá kiến trúc khu vực Đông Nam Á Đây cũng là loại hình kiến trúc nhà cửa truyền thống của các tộc người thiểu số ở hai khu vực này Theo một số nhà nghiên cứu, ngôi nhà sàn của người Thái ở miền Tây Nghệ An có nhiều nét khác biệt so với ngôi nhà sàn của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, nhưng lại có nhiều điểm giống với ngôi nhà sàn của người Lào ở Xiêng Khoảng: “Người Thái ở Tây Bắc thích trang trí hai đầu hồi của nóc nhà các kiểu “khâu cút” (sừng cụt), còn một số địa phương của Nghệ Tĩnh, người Thái có cách trang trí gần giống với người Phù Thay ở Lào, được gọi là “huống chạng” (vòi voi)” [39; tr183] Nhà sàn thường được lợp bằng các loại lá cọ hay cỏ tranh, vách thưng bằng tre, nứa hay ván gỗ, hướng nhà thường ngoảnh ra các cánh đồng hoặc khe suối, mặt sau tựa vào núi Hình dáng ngôi nhà sàn của người Thái ở miền Tây Nghệ An cho ta liên tưởng tới hình bóng của một con trâu, là con vật

có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của các tộc người ở khu vực này [39; tr185]

Một số tộc người, nhất là người Lào Lùm ở các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay và người Thái ở miền Tây Nghệ An không chỉ có trang phục giống nhau, mà ngay cả nghệ thuật trang trí trên sản phẩm dệt của họ cũng có nhiều nét tương đồng Phụ nữ Thái có thói quen mặc váy với nhiều kiểu dáng Đó là những sản phẩm do chính bàn tay họ làm ra, từ khâu trồng bông, trồng dâu nuôi tằm, cán bông, bật bông, kéo sợi, quay tơ, dệt vải cho đến hấp nhuộm Một số nghệ thuật trang trí trên

Trang 21

sản phẩm dệt hiện nay của người Thái ở miền Tây Nghệ An, được tiếp thu

từ nghệ thuật trang trí của người Lào như cách trang trí các tấm “khít” (chăn Lào), cạp váy, chân váy, cũng như các loại túi thổ cẩm… Có thể nói

“rất khó phân biệt một cách rành mạch trong số những sản phẩm này đâu là của người Thái, đâu là của người Lào, bởi vì từ xa xưa hai nền văn hoá này

đã có sự giao lưu và tiếp thu ảnh hưởng của nhau một cách sâu sắc” [39; tr191]

Trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, cư dân các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam)

có mối liên hệ khá bền chặt Phong tục tập quán trong các dịp lễ, tết hay cưới hỏi, ma chay vẫn được bảo lưu các yếu tố truyền thống, đồng thời có

sự tiếp thu và chịu ảnh hưởng của các tộc người xung quanh Một người đi săn được một con thú cả bản cùng được hưởng, một nhà có việc vui hay buồn cả bản cùng chung tay lo liệu Đó là những nét đẹp văn hoá luôn được các tộc người của hai khu vực duy trì Ngay cả một số tập tục lạc hậu, như chữa bệnh bằng cách mời thầy mo về làm lễ đuổi tà ma, hay tục “bắt vợ”,

“ở rể” hiện vẫn được nhiều tộc người của hai khu vực, nhất là các tộc người định cư dọc hai bên biên giới duy trì Người bên này hay bên kia biên giới sang thăm viếng lẫn nhau, cùng chung vui trong các ngày lễ hội, cùng xẻ chia công việc trong những lúc tang gia, hoạn nạn, hay dựng vợ gả chồng Ngay cả hiện nay, khi đường biên giới giữa hai nước đã được hoạch định, cắm mốc Quốc giới, việc qua lại thăm thân giữa các tộc người vẫn diễn ra khá phổ biến Một số trò chơi dân gian, một số làn điệu dân ca vốn là của một tộc người bên này hay bên kia biên giới, dần dần đã trở thành các trò chơi, các làn điệu được nhiều tộc người ưa thích Tín ngưỡng của các tộc người ở khu vực giáp biên có nhiều điểm tương đồng Cùng với việc lưu giữ các tín ngưỡng dân gian như thờ cúng Trời, Đất, Thần linh, Thành Hoàng, các tộc người ở đây đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Phật giáo, họ

Trang 22

sống chân thành, mộc mạc, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau, sẵn sàng giúp

đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau trong cuộc sống cũng như trong sinh hoạt

Sự giao lưu, tiếp thu văn hoá giữa các tộc người ở các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) chính là sợi dây vô hình kết nối họ với nhau, giúp họ đoàn kết gắn bó cùng nhau trong lao động sản xuất, sinh hoạt cũng như trong các cuộc đấu tranh để bảo vệ quê hương đất nước qua các thời kỳ lịch sử

1.2 Truyền thống lịch sử

1.2.1 Quan hệ giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) trước năm 1976.

Theo ghi chép của các thư tịch cổ, ngay trong thời kỳ Bắc thuộc, mối quan hệ kinh tế, văn hoá và quân sự giữa cư dân các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) đã hình thành và phát triển [54; tr34] Trong thời kỳ này, nhiều thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa đã dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân Ai Lao để lập căn cứ chống giặc hoặc mua sắm lương thực, thực phẩm và vũ khí

Trong thời kỳ trung đại, Nghệ An được coi là khu vực phên dậu phía Tây - Nam của nhà nước phong kiến Đại Việt Vùng đất này tuy không có nhiều dấu ấn trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc nhưng có thể coi là tấm gương phản chiếu quan hệ thăng trầm của Đại Việt đối với Vương quốc Lan Xang qua các thời kỳ lịch sử Ngoài mối quan hệ giao lưu trao đổi thường nhật của cư dân dọc hai bên biên giới, vùng đất này còn để lại nhiều dấu ấn về sự nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau của cộng đồng cư dân hai bên Nhiều thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa đã dựa vào địa thế hiểm trở vùng giáp ranh giữa Nghệ An và các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay để xây dựng và phát triển lực lượng Trong buổi đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (thế kỷ XV), Lê Lợi dựa vào nhân dân miền Tây Thanh Hoá, Nghệ An và nhân dân Lào (dọc biên giới với khu

Trang 23

vực Thanh - Nghệ) để đảm bảo công tác hậu cần Năm 1696, khi triều đình Lan Xang có biến, Hoàng tử Triều Phúc đã cùng triều thần đến lánh nạn ở miền Tây Thanh - Nghệ Đầu thế kỷ XIX, không cam chịu ách đô hộ của phong kiến Xiêm, Chậu A Nụ đã tập hợp lực lượng đứng lên khởi nghĩa Mỗi khi thất thế, ông đều rút quân về vùng Trấn Ninh - Trịnh Cao - Quì Hợp (miền Tây Nghệ An) để bảo tồn và củng cố lực lượng Có thể nói, ngay từ thời kỳ cổ trung đại, trong con mắt của người Việt cũng như người Lào, miền Tây Nghệ An (Việt Nam) với các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) là những khu vực có địa thế hết sức quan trọng để mưu nghiệp lớn.

Bên cạnh những ghi chép về quan hệ quân sự - chính trị, một số thư tịch cổ của Việt Nam cũng đã ít nhiều phản ánh quan hệ kinh tế, văn hoá -

xã hội giữa cư dân các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) Theo ghi chép của Lê Quí Đôn, phía Tây trấn Nghệ An là nơi người Lào thường mang trâu, bò và các sản vật đến để bán, đổi cho người Việt để lấy đồ sắt và các vật dụng khác

Từ cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp lần lượt tiến hành xâm lược Việt Nam, Cămpuchia và Lào, lập ra Đông Dương thuộc Pháp Từ đây, nhân dân Đông Dương cùng chung một kẻ thù Chính sách cai trị và bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp đã làm cho nhân dân Đông Dương bị bần cùng hoá nặng nề, kinh tế - xã hội biến đổi sâu sắc, nhưng vô hình chung đã tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam - Lào xích lại gần nhau hơn

Hòa trong phong trào chống xâm lược, giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Dương, mối quan hệ giữa nhân dân các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) tiếp tục phát triển Trước tình trạng bế tắc về đường lối cứu nước, một số sĩ phu văn thân có tinh thần yêu nước chủ trương cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường dân chủ tư sản Tiêu biểu cho xu hướng mới trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX là Phan Bội Châu với “xu hướng bạo

Trang 24

động” và Phan Chu Trinh với “xu hướng cải lương” Đi theo xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, nhiều thanh niên yêu nước Nghệ An đã bí mật vượt biên sang Lào, rồi từ đó sang Thái Lan, Trung Quốc để hoạt động:

“Đối với phong trào Phan Bội Châu, con đường sang Lào có một vai trò đặc biệt quan trọng” Tiếp sau phong trào xuất dương tìm đường cứu nước theo tư tưởng của Phan Bội Châu, nhiều thanh niên yêu nước khác ở Nghệ

An tiếp tục chọn con đường vượt biên sang Lào để tìm đường cứu nước theo tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc Trong quá trình hoạt động tại Lào, họ

đã được nhân dân Lào đùm bọc, che chở

Đảng Cộng sản Đông Dương (năm 1930) đã tạo ra bước ngoặt trong lịch sử cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Cămpuchia Ngay sau khi Đảng ra đời, ngọn lửa Xô viết Nghệ - Tĩnh đã bùng lên mạnh mẽ Trong phong trào Xô viết Nghệ -Tĩnh, các cuộc đấu tranh diễn ra ở Thanh Chương, Anh Sơn và các huyện khác của miền Tây đã thể hiện tinh thần quật khởi của nhân dân ta Sau khi Xô viết Nghệ Tĩnh bị thất bại, thực dân Pháp đã thực thi chính sách “khủng bố trắng” Để bảo toàn lực lượng và tiếp tục hoạt động cách mạng, nhiều người đã trốn sang các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay Tại đây, họ được nhân dân Lào hết lòng giúp đỡ.Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện, nhân dân Việt Nam đã chớp thời cơ, tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vào ngày 2/9/1945 Cũng trong thời gian này, nhân dân Lào đã vùng lên khởi nghĩa Ngày 12/10/1945, Chính phủ Lào Ixala đã tuyên bố độc lập Trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào, các chiến sĩ cách mạng người Việt đang hoạt động trên đất Lào và một số bà con Việt kiều đã tích cực tham gia, nhất là tại các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng

Ngay sau khi vừa giành được độc lập, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào lại tiếp tục kề vai sát cánh bên nhau tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Theo phương châm: “toàn dân, toàn diện, trường

Trang 25

kỳ và dựa vào sức mình là chính” của Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra, quân và dân hai nước Việt Nam - Lào đã từng bước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân dân các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, vừa tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị của Pathét Lào hoạt động trong thời gian đóng ở miền Tây Nghệ An

Sự phối hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu của quân và dân hai khu vực diễn ra ngay sau khi Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam và Khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào giành thắng lợi Trong khi nhân dân các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) đang hân hoan mừng thắng lợi của cách mạng, số tàn quân Pháp đã đánh chiếm các vị trí quan trọng án ngữ trên các trục đường giao thông nối liền hai khu vực, nhằm làm bàn đạp để tiến về phía Tây lẫn phía Đông Mặc dù còn rất nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng Chi đội quân giải phóng Đội Cung tỉnh Nghệ An cùng lực lượng tự vệ các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông đã phối hợp với quân và dân tỉnh Xiêng Khoảng tập kích quân Pháp ở đồn Noọng Hét, mở đầu cho quá trình đoàn kết chiến đấu giữa hai bên trong cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp

Cuối năm 1946, dưới sự chỉ đạo của Trung ương và Tỉnh ủy, các huyện miền Tây Nghệ An đã cử nhiều đội xung phong, đội quân Tây tiến, lập các đơn vị liên quân Việt - Lào sang xây dựng cơ sở kháng chiến tại các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào)

Năm 1947, các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) đã tích cực chuẩn bị hậu cứ cho các cơ quan Đảng, chính quyền, quân đội các cấp của Pathét Lào hoạt động, đồng thời, tạo điều kiện cho nhân dân các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) sang sơ tán để tránh giặc Với sự giúp đỡ của chính quyền và nhân dân Nghệ An, Pathét Lào tổ chức thành công Đại hội

Trang 26

thành lập Uỷ ban vận động độc lập Lào phương Đông (Uỷ ban giải phóng Đông Lào) tại huyện Kỳ Sơn.

Năm 1948, các huyện miền Tây tỉnh Nghệ An tiếp tục cử thêm nhiều đội vũ trang sang hoạt động, gây dựng cơ sở tại Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) Cũng trong giai đoạn này, trên cơ sở huy động nhân lực và vật lực tại Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Ban cán sự Đảng và Trung đoàn Trung Lào được thành lập Trung đoàn này đã nhanh chóng trở thành lực lượng nòng cốt trong các cuộc chiến đấu trên chiến trường Lào.Tháng 5/1950, Liên khu uỷ IV đã tổ chức hội nghị bàn các biện pháp tăng cường giúp đỡ cách mạng Lào Hội nghị đã thống nhất tập trung lực lượng khống chế các đường giao thông nối liền hai nước, tích cực chuẩn bị

về mọi mặt cho bộ đội chủ lực đi sâu vào hoạt động tại các tỉnh của Lào, khẩn trương đào tạo cán bộ và phát triển các cơ sở Đảng tại Lào [52; tr88] Với phương châm “chính trị và quân sự đi đôi với nhau”, tỉnh Nghệ An được giao nhiệm vụ huy động nhân lực, vật lực cho các đơn vị chủ lực sang hoạt động và chiến đấu tại Xiêng Khoảng, Khăm Muộn, đồng thời tạo mọi điều kiện giúp đỡ Uỷ ban Đông Lào xây dựng và củng cố chính quyền các cấp từ tỉnh (khét), huyện (coóng) đến các xã, bản (tàxẻng)

Lo sợ trước sự lớn mạnh của lực lượng kháng chiến Lào và Việt Nam, thực dân Pháp đã tập trung lực lượng để phòng thủ Thượng Lào Âm mưu của thực dân Pháp là “biến Thượng Lào thành một cứ điểm quân sự mạnh

để vừa ngăn chặn sự phối hợp hoạt động giữa Việt Nam và Lào, khống chế cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, vừa tạo thế uy hiếp thường xuyên vùng phía Tây của khu vực hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh” [52; tr90] Thực hiện âm mưu đó, thực dân Pháp đã xây dựng Sầm Nưa thành một cứ điểm mạnh Để đập tan âm mưu của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến của hai nước đi đến thắng lợi, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam quyết định phối hợp cùng quân giải phóng Pathét Lào mở chiến dịch Thượng Lào Công tác hậu cần cho chiến dịch “Trung ương giao cho

Trang 27

Thanh Hoá, Nghệ An và một số tỉnh khác như Hoà Bình, Sơn La chịu trách nhiệm ” [52, tr.91].

Thực hiện nhiệm vụ được giao, tháng 2/1953, tỉnh Nghệ An đã huy động 72.940 lượt dân công tại các huyện miền Tây để tu sửa Quốc lộ 7A (bắc hơn 100 cầu tạm, cầu phao, đào đắp hàng nghìn m3 đất đá để mở rộng một số đoạn đường, hạ độ dốc của đèo Cao Sơn, đèo Chó), đồng thời huy động 1.486 xe đạp thồ, 1.066 thuyền, ca nô để vận chuyển lương thực, thực phẩm, đạn dược sang phục vụ chiến dịch Đến tháng 5/1953, Nghệ An tiếp tục huy động 12.700 người chuyên gánh bộ để vận chuyển lương thực, thực phẩm phục vụ chiến dịch Thượng Lào [52; tr93] Miền Tây Nghệ An vừa là một trong những địa bàn tập kết lực lượng đồng thời là một mũi xuất phát tấn công trong chiến dịch Thượng Lào Trong chiến dịch này, “các lực lượng vũ trang Nghệ An đã tham gia đánh địch 10 trận, diệt và bắt sống

103 tên địch, thu 134 khẩu súng, 5 tấn chiến lợi phẩm” [52; tr93]

Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào đã góp phần quan trọng làm phá sản kế hoạch Nava, đưa cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 -

1954 đi đến thắng lợi cuối cùng bằng trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cămpuchia

Từ năm 1945 đến năm 1954, do còn phải tập trung toàn lực cho cuộc kháng chiến nên các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào)

và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) chưa có điều kiện để thực hiện sâu rộng rộng các hoạt động hợp tác kinh tế, văn hoá Mối quan hệ giữa hai bên chủ yếu được thể hiện thông qua các hoạt động chính trị - quân sự Chính trong giai đoạn này, “tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu” giữa hai nước và hai khu vực đã được phát huy cao độ trên tinh thần

“giúp bạn là giúp mình, xây cho bạn là xây cho mình”

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt

Trang 28

Nam) tiếp tục phối hợp chẽ trong lĩnh vực chính trị - quân sự, đồng thời bước đầu hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, nhất là giúp đỡ vùng giải phóng của Lào khôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh để ổn định sản xuất và đời sống cho nhân dân.

Trong bối cảnh của Chiến trạnh lạnh, mặc dù Hiệp định Giơnevơ đã được ký kết, nhưng đế quốc Mỹ vẫn dùng mọi thủ đoạn nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới để ngăn chặn làn sóng cộng sản tràn vào các nước khác ở Đông Nam Á Để thực hiện mục tiêu trên, đi đôi với việc xây dựng chế độ tay sai độc tài ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào Lào, xây dựng lực lượng ngụy Viêng Chăn nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng non trẻ, biến Lào thành thuộc địa kiểu mới, nhằm bao vây và cô lập cách mạng Việt Nam, chuẩn bị tấn công miền Bắc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Nhận thức vị trí quan trọng của các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) trên cục diện chiến trường Đông Dương, Mỹ đã chỉ đạo chính quyền Sài Gòn và chính quyền Viêng Chăn tổ chức các hoạt động gián điệp, biệt kích quấy phá vùng giáp biên giữa hai khu vực Giữa năm 1955, lợi dụng địa hình hiểm trở, trình độ dân trí của nhân dân còn hạn chế, quân đội Sài Gòn và quân đội Viêng Chăn đã bí mật vượt biên giới vào tỉnh Nghệ An, gây bạo loạn ở một số khu vực như Keng Đu, Mường Lống, Nà Ngoi (huyện Kỳ Sơn), A Chốc (huyện Quế Phong) Mặt khác, Mỹ và tay sai nuôi dưỡng các nhóm phỉ của Lê Văn Giáo, “Liên bang Thái tự trị” của Lò Văn Thi nhằm gây chia rẽ giữa các tộc người, nhất là giữa người Việt với người Lào Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An đã phối hợp với lực lượng vũ trang Quân khu IV tổ chức chốt giữ các cửa khẩu sang Lào và tấn công tiêu diệt bọn thổ phỉ Hành động khẩn trương, kiên quyết của quân và dân Nghệ An đã nhanh chóng ổn định được tình hình biên giới phía Tây,

Trang 29

tạo điều kiện cho bà con yên tâm lao động sản xuất, giữ vững khối đoàn kết các dân tộc.

Song song với các hoạt động quấy phá biên giới phía Tây tỉnh Nghệ

An, đế quốc Mỹ chỉ đạo phái cực hữu ở Lào tổ chức các đợt tấn công vào hai tỉnh tập kết của Pathét Lào và thực hiện chiến dịch bắt giam những người có tinh thần yêu nước ở các tỉnh do Vương quốc Lào quản lý Để đập tan âm mưu thâm độc của Mỹ, lực lượng vũ trang Quân khu IV phối hợp với lực lượng vũ trang Nghệ An cử cán bộ quân sự sang Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay trực tiếp giúp các địa phương này phát động phong trào quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, mở rộng căn cứ địa và sẵn sàng phối hợp hành động khi xét thấy cần thiết Với sự hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam, Pathét Lào đã giành nhiều thắng lợi trên chiến trường, góp phần quan trọng làm thất bại âm mưu của Mỹ và chính quyền Viêng Chăn trong cuộc bầu cử bổ sung ngày 4/5/1958 Bị thất bại trong bầu cử, Mỹ và tay sai điên cuồng đẩy mạnh các hoạt động quân sự, quyết tâm tiêu diệt lực lượng chủ lực của cách mạng Lào Tháng 5/1959, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, quân đội Viêng Chăn đã huy động lực lượng bao vây Tiểu đoàn 2 (Tiểu đoàn quân chủ lực của Pathet Lào do đồng chí Thào Tu chỉ huy) ở Cánh đồng Chum Trước tình thế hết sức hiểm nguy của cách mạng Lào, lực lượng vũ trang Quân khu IV phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An đã khẩn trương vượt biên giới đánh địch, giúp Tiểu đoàn 2 phá vây rút về tập kết an toàn tại huyện Tương Dương (tỉnh Nghệ An)

Cuối năm 1960, lực lượng vũ trang Quân khu IV phối hợp với Đoàn

559 mở cuộc tấn công địch ở Noọng Hét, Bản Ban Đây là cuộc tấn công chiến lược nằm trong kế hoạch giải phóng Cánh đồng Chum Các huyện miền Tây Nghệ An được giao nhiệm vụ huy động lực lượng dân công hoả tuyến làm công tác hậu cần và lực lượng vũ trang địa phương làm nhiệm vụ bảo vệ cho quân chủ lực hành quân tham gia chiến dịch Sau 3 ngày chiến

Trang 30

đấu, toàn bộ khu vực Noọng Hét, Bản Ban đã được giải phóng, mở đầu cho thắng lợi của liên quân Lào - Việt tại Cánh đồng Chum.

Từ năm 1965 trở đi, đồng thời với việc thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở Lào, đế quốc Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân Dưới mưa bom, bão đạn của kẻ thù, cùng với quân và dân miền Bắc, nhân dân các huyện miền Tây Nghệ An vừa tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu, làm hậu phương cho chiến trường miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại chiến trường Lào

Năm 1968, trong khi quân và dân miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc Tổng tấn công và nổi dậy, thì trên chiến trường Lào, với sự hỗ trợ của nhân dân các huyện miền Tây Nghệ An, Đoàn 565 đã phối hợp với lực lượng vũ trang Lào tấn công tiêu diệt các cứ điểm địch ở Huội San, Tha Teng, Mường Pín và giải phóng các xã Tài Xiêng, Tham Tác, Khu Khẹ, Tổng Khư (huyện Noọng Hét) Những thắng lợi quan trọng này góp phần làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở Lào

Từ năm 1969, đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào

Để thực hiện chiến lược này, Mỹ đã đã tăng cường viện trợ cho Vàng Pao

vũ khí, tiền bạc xây dựng căn cứ kiên cố ở Mường Moọc (tỉnh Xiêng Khoảng) Căn cứ của Vàng Pao không những cắt đứt thế liên hoàn của vùng giải phóng Bắc và Trung Lào, mà còn uy hiếp trực tiếp miền Tây Nghệ An Chính vì vậy, Quân uỷ Trung ương đã giao cho lực lượng vũ trang Quân khu IV và lực lượng vũ trang Nghệ An phối hợp tấn công tiêu diệt căn cứ này Để thực hiện nhiệm vụ, Tỉnh đội Nghệ An đã huy động lực lượng vũ trang các huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Con Cuông tham gia chiến đấu Ngày 16/2/1969, hai căn cứ quan trọng của Vàng Pao ở Mường Ngát và Tham Tạt đã bị xoá sổ Ngay sau thắng lợi này, lực lượng vũ trang Nghệ An tiếp tục tấn công vào Nâm Mộ, cửa ngõ vào trung tâm Mường

Trang 31

Moọc Để giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào, tháng 7/1969, Mỹ

và lực lượng thân Mỹ đã tập trung binh lực mở chiến dịch “Cù Kiệt” đánh vào cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng Quân dân Xiêng Khoảng đứng trước thử thách mới, một bộ phận lớn nhân dân, cơ quan lãnh đạo, kho tàng phải

sơ tán, yêu cầu nhân dân Nghệ An giúp đỡ Tỉnh ủy Nghệ An xác định:

“đây là nhiệm vụ của tỉnh, ta phải hết sức giúp đỡ cho bạn tiếp tục đưa cách mạng tiến lên” Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, nhân dân miền Tây Nghệ An được giao nhiệm vụ chuẩn bị nơi ăn chốn ở, trường học, bệnh xá, thuốc men, lương thực, thực phẩm để tổ chức sơ tán cho hơn 2 vạn dân Xiêng Khoảng sang tránh địch Hàng ngàn người dân Xiêng Khoảng được các huyện miền Tây Nghệ An cưu mang, đùm bọc Trong khó khăn, nhân dân hai nước chia sẻ từng hạt gạo, hạt muối, cọng rau, ấm tình hữu nghị bạn bè thủy chung [85; tr134] Chiến dịch “Cù Kiệt” diễn ra hết sức quyết liệt, nhưng với sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ của liên quân Lào - Việt nên đã giành thắng lợi, mở ra triển vọng lớn cho cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam

Để cứu vãn tình hình tại Lào, đế quốc Mỹ huy động lực lượng quân đội Sài Gòn phối hợp với quân đội Viêng Chăn, có cố vấn Mỹ đi kèm mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719” vào khu vực Đường 9 - Nam Lào Tham vọng của Mỹ là muốn cắt đứt tuyến đường chiến lược chi viện cho cách mạng miền Nam, tạo ra sự thay đổi tương quan trên chiến trường, giành lại thế mạnh trên bàn đàm phán để “xuống thang” trong danh dự Xác định tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của chiến dịch, Quân uỷ Trung ương đã quyết định mở chiến dịch phản công với tinh thần quyết chiến quyết thắng Lực lượng vũ trang Quân khu IV được giao nhiệm vụ phối hợp chiến đấu

từ Nam Quốc lộ 7A đến Bắc đường 12, thuộc địa bàn hai tỉnh Xiêng Khoảng và Khăm Muộn Quân và dân miền Tây Nghệ An được giao nhiệm

vụ phục vụ hậu cần cho chiến dịch Với tinh thần quyết chiến quyết thắng, các lực lượng tham gia chiến dịch đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ,

Trang 32

hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần vào chiến thắng Đường

9 - Nam Lào

Sau khi Mỹ chấp nhận ký Hiệp định Viêng Chăn, hình thái đấu tranh cách mạng ở Lào đã thay đổi, nhân dân miền Tây Nghệ An chuyển sang giúp nhân dân vùng giải phóng của Lào khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa

Ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi, miền Nam Việt Nam hoàn toàn được giải phóng Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã cổ vũ và tạo điều kiện cho cách mạng Lào giành thắng lợi cuối cùng Bộ chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã phát động toàn dân đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền Lực lượng vũ trang Quân khu

IV đã khẩn trương triển khai kế hoạch hỗ trợ các địa phương Lào nổi dậy đập tan chính quyền phản động, giành chính quyền về tay nhân dân Trong cuộc khởi nghĩa tháng 5/1975, lực lượng vũ trang Quân khu IV đã phối hợp cùng lực lượng vũ trang Lào tiến hành đánh chiếm Sảm Thông - Long Chẹng (thủ phủ của Vàng Pao); giúp đỡ nhân dân Pạc Xế, Thà Khẹc nổi dậy giành chính quyền; truy kích địch bỏ chạy dọc Đường 13… Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào đã mở đường cho sự ra đời nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (2/12/1975) và đưa nước Lào bước vào kỷ nguyên mới

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Lào thắng lợi, trước hết là nhờ vào sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Mặt trận Lào yêu nước và tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm của quân và dân Lào Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân hai nước Việt - Lào Trong thắng lợi vẻ vang đó, có một phần đóng góp không nhỏ cả về sức người lẫn sức của của quân và dân miền Tây Nghệ An

Song song với sự phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các chiến trường, nhân dân miền Tây Nghệ An (Việt Nam) và các huyện miền

Trang 33

Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) đã bước đầu hợp tác trong các lĩnh vực khác Nghệ An đã tích cực hỗ trợ, giúp đỡ vùng giải phóng các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế.

Hội nghị công tác miền Tây Thanh - Nghệ - Tĩnh (tháng 6/1958) tại thành phố Vinh (Nghệ An) do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì đã “đề ra phương hướng, kế hoạch cụ thể để triển khai công tác viện trợ và giúp vùng giải phóng Lào khôi phục, phát triển kinh tế, văn hoá” [19; tr112] Trên tinh thần của Hội nghị, miền Tây tỉnh Nghệ An vừa viện trợ lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, vừa cử các chuyên gia sang giúp đỡ nhân dân vùng giải phóng của Lào ổn định đời sống, phát triển sản xuất

Từ năm 1960 đến năm 1965, các huyện miền Tây Nghệ An đã lần lượt

cử các đội chuyên gia sang giúp nhân dân vùng giải phóng Xiêng Khoảng phát triển sản xuất lúa, ngô và các loại hoa màu để giải quyết khó khăn về lương thực

Từ năm 1965 trở đi, sau khi Chính phủ kháng chiến Lào đã chuyển về Sầm Nưa, vùng giải phóng Lào ngày càng được mở rộng, Đảng Nhân dân Lào quyết định xây dựng khu giải phóng theo mô hình của một quốc gia thu nhỏ, Nghệ An và một số tỉnh khác của Việt Nam đã cử các chuyên gia nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi, văn hoá, giáo dục và y tế sang giúp đỡ kịp thời Tháng 3/1967, Tỉnh uỷ Nghệ An đã quyết định thành lập Ban C (Ban miền Tây) với nhiệm vụ “tham mưu cho Tỉnh uỷ, Ủy ban Hành chính tỉnh các chủ trương, biện pháp vun đắp tình hữu nghị và hợp tác giữa Nghệ

An với các tỉnh của Lào, trước hết là tỉnh Xiêng Khoảng” [19; tr119] Dưới

sự chỉ đạo và điều hành của Ban C, tháng 12/1967, các huyện miền Tây Nghệ An cử đoàn chuyên gia gồm 37 người, chia làm 8 tổ sang giúp đỡ các địa phương tỉnh Xiêng Khoảng, sang năm 1968, có thêm 12 chuyên gia được cử sang công tác ở Noọng Hét và Mường Mọoc [19; tr120 - 121]

Trang 34

Trong những năm từ 1969 đến 1975, quan hệ kinh tế, văn hóa, giáo dục giữa các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) ngày càng được tăng cường Các huyện miền Tây Nghệ An đã cử 12 đợt chuyên gia, viện trợ hơn 40 triệu đồng bằng hiện vật (lương thực, mắm muối, đường, sữa, xăng dầu, nông cụ

và chăn, màn, quần áo) giúp nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng ổn định sản xuất

và đời sống [19; tr126] Đây cũng là giai đoạn hợp tác đào tạo giữa hai bên được triển khai thực hiện nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu cán bộ cho các tỉnh của Lào Các huyện miền Tây Nghệ An được giao nhiệm vụ nhận hàng trăm học sinh Lào sang học tập tại các trường dân tộc nội trú để chuẩn bị cho các em bước vào các trường chuyên nghiệp

Với sự hợp tác và giúp đỡ tích cực của nhân dân miền Tây tỉnh Nghệ

An, kinh tế, văn hoá các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) từng bước được phục hồi và phát triển, nhân dân dần dần ổn định sản xuất và đời sống Sự phấn đấu và vươn lên của các vùng giải phóng làm động lực cho cách mạng Lào giành thắng lợi liên tiếp trên chiến trường, đồng thời là cơ sở cho nhân dân Lào bước vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Sự phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên chiến trường cũng như sự hợp tác, giúp đỡ về kinh tế, văn hoá - giáo dục giữa các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) trong những năm chiến tranh là sự tiếp nối truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời giữa hai khu vực, đó là những biểu hiện cụ thể của “tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu” trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, đồng thời là cơ sở quan trọng để hai bên hợp tác toàn diện trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 35

1.2.2 Quan hệ giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây của Nghệ An (Việt Nam) từ năm 1976 đến năm 1991.

Xuất phát từ tình hình đặc điểm các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) trong những năm sau chiến tranh, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An đã khẩn trương triển khai thực hiện tốt Nghị quyết X của Bộ Chính trị Trung -ương Đảng Cộng sản Việt Nam và các chính sách của Chính phủ về việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ và hợp tác toàn diện với các tỉnh của Lào.Thông qua các chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo Huyện uỷ, UBND, các ban, ngành, các tổ chức đoàn thể và các địa phương của các huyện thuộc hai khu vực, quan hệ chính trị, quốc phòng - an ninh giữa hai bên tiếp tục được đẩy mạnh Thành tựu quan trọng nhất trong hợp tác chính trị giữa hai khu vực trong giai đoạn này là sự hỗ trợ và giúp đỡ về mọi mặt của nhân dân các huyện miền Tây Nghệ An dành cho các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay trong việc xây dựng và củng cố chính quyền mới từ cấp huyện đến các xã, bản

Trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh, hai bên đã tích cực hỗ trợ lẫn nhau để kịp thời đập tan âm mưu và hành động gây bạo loạn của các lực lượng phản động trong nước và quốc tế, bảo vệ vững chắc chính quyền nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội

Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Ban Biên giới quốc gia hai nước, các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn và Quế Phong (Nghệ An) đã phối hợp chặt chẽ với các huyện Noọng Hét, Mường Moọc (Xiêng Khoảng) và Khăm Cớt (Bôlykhămxay) khắc phục mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành tốt công tác khảo sát, hoạch định và cắm mốc tuyến biên giới Lào - Việt Nam khu vực do hai bên quản lý trên tinh thần vừa đồng chí, anh em, vừa đảm bảo đúng luật pháp của hai nước

và thông lệ quốc tế

Trang 36

Bước ra khỏi chiến tranh, các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế Với tinh thần “lá lành đùm lá rách” và “giúp bạn

là tự giúp mình”, nhân dân miền Tây Nghệ An đã chung sức cùng nhân dân trong tỉnh và cả nước ưu tiên viện trợ, giúp đỡ cho các tỉnh của Lào bằng nhiều hình thức Thông qua viện trợ kinh phí, vật tư kỹ thuật, công tác chuyên gia, các huyện miền Tây Nghệ An đã tạo điều kiện cho các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định sản xuất và đời sống cho nhân dân Theo số liệu của Ban công tác C tỉnh Nghệ Tĩnh, riêng năm 1982, tỉnh Nghệ An đã viện trợ cho tỉnh Xiêng Khoảng 93 tấn xăng, 3 tấn dầu diezen, 2.000 tấm lợp phibrô xi măng

Các huyện miền Tây Nghệ An cũng đã hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thuốc phòng trừ sâu bệnh và cử chuyên gia sang trực tiếp giúp đỡ các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay Hợp tác nông nghiệp giữa hai bên trong giai đoạn này đã đưa lại những kết quả đáng khích lệ, nhất là trong việc thâm canh tăng năng suất các loại cây lương thực và sản xuất lúa hai vụ với các loại giống mới cho năng suất cao Nhiều công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ đã được hai bên hợp tác xây dựng, tạo điều kiện cho các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay bước đầu phát triển nông nghiệp Công tác qui hoạch, trồng rừng và khai thác lâm thổ sản xuất khẩu

đã được hai bên triển khai thực hiện có hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc khôi phục kinh tế của các tỉnh Lào

Bằng sự viện trợ vật tư, hàng hoá, kỹ các huyện miền Tây Nghệ An đã tạo điều kiện cho các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay phục hồi và phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp Các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa, chế biến nông sản đã bước đầu đáp ứng yêu cầu sản xuất, xây dựng tại các tỉnh của Lào Các huyết mạch giao thông quan trọng nối liền hai khu vực như Quốc lộ 7, đường 48, đường 46 được

Trang 37

hai bên phối hợp duy tu, sửa chữa, nâng cấp đã tạo điều kiện cho hai khu vực và hai nước đẩy mạnh quan hệ hợp tác toàn diện.

Quan hệ thương mại giữa hai khu vực tuy chưa đáp ứng yêu cầu về sản xuất, đời sống và chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của hai bên, nhưng cũng đã góp phần quan trọng tạo điều kiện cho các tỉnh của hai khu vực, nhất là các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) phục hồi và phát triển kinh tế, cải thiện đời sống cho nhân dân

Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục - đào tạo, y tế và công tác xã hội nhân đạo, sự hợp tác giữa các huyện miền Đông Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay (Lào) và các huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) đã đạt một số thành tựu quan trọng Hoạt động giao lưu văn hóa giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) diễn ra khá thường xuyên, nhất là trong dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, góp phần vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai khu vực và hai nước Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An, các huyện miền Tây Nghệ An đã viện trợ kinh phí, vật tư, trang thiết bị và cử chuyên gia giúp đỡ các huyện Noọng Hét, Mường Moọc (Xiêng Khoảng) lắp đặt hệ thống truyền thanh, tổ chức các hoạt động bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống văn hoá mới Cũng trong thời gian này, các huyện miền Tây Nghệ An đã tích cực giúp đỡ các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng trong việc tổ chức xây dựng trường lớp, nhất là cho các bản nằm sát biên giới của hai nước

Hợp tác y tế giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) đã thu được những kết quả quan trọng bước đầu Với sự giúp đỡ và viện trợ của ngành y tế tỉnh cũng như các trung tâm y tế của các huyện miền Tây Nghệ

An, các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay đã dần dần hạn chế được một số bệnh dịch, nhất là bệnh sốt rét

Trang 38

Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là kinh tế, nhưng các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) đã bước đầu triển khai và làm tốt công tác xã hội nhân đạo để “chia bùi sẻ ngọt” cùng nhau trong khó khăn, hoạn nạn, nhất là

để tri ân các liệt sĩ quân tình nguyện, chuyên gia Việt Nam đã anh dũng hy sinh trên đất Lào

Trong các cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ

An (Việt Nam) luôn kề vai sát cánh bên nhau

Bước ra khỏi chiến tranh, các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) đều phải đối mặt với nhiều khó khăn, phức tạp, nhất là khó khăn về kinh tế Nhưng với truyền thống đoàn kết giữa hai dân tộc, hai bên đã giành cho nhau sự quan tâm giúp đỡ đặc biệt trên mọi lĩnh vực Sự phối hợp chặt chẽ giữa các huyện miền Đông của Xiêng Khoảng, Bôykhămxay (Lào) với một

số huyện miền Tây Nghệ An (Việt Nam) đã kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động gây bạo loạn của các lực lượng phản động trong và ngoài nước, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội Hai bên cũng đã hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định sản xuất và đời sống cho nhân dân, đồng thời bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội

Trang 39

Chương 2 HỢP TÁC GIỮA CÁC HUYỆN MIỀN ĐÔNG CỦA XIÊNG KHOẢNG, BÔLYKHĂMXAY (LÀO) VỚI CÁC HUYỆN MIỀN TÂY CỦA NGHỆ AN (VIỆT NAM) TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2012

2.1 Tình hình thế giới, khu vực Đông Nam Á và quan hệ Việt Nam - Lào từ năm 1991 đến năm 2012

2.1.1 Khái quát tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, cùng với sự kết thúc của “Chiến tranh lạnh” kéo dài hơn 40 năm dẫn tới sự giải thể của trật tự thế giới hai cực Ianta Bắt đầu từ đây, trong quan hệ quốc tế đã có sự thay đổi, từ xu thế đối đầu chuyển sang đối thọai hoà bình, hợp tác và phát triển Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX trở đi, đối thoại hoà bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thế chủ đạo, chi phối quan hệ quốc tế trên phạm vi toàn cầu cũng như từng khu vực

Để tồn tại và phát triển, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành cải cách thể chế, đổi mới cơ cấu kinh tế, ứng dụng kịp thời các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, ưu tiên phát triển kinh tế, lấy kinh

tế làm đòn bẩy để phát huy sức mạnh tổng hợp của mình và nhanh chóng tham gia vào quá trình hội nhập khu vực, quốc tế Vì vậy, quá trình toàn cầu hoá đã diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, làm cho bộ mặt kinh tế - xã hội thế giới đã có nhiều thay đổi căn bản

Sự biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới đã tác động trực tiếp đến tình hình khu vực Đông Nam Á Chiến tranh lạnh kết thúc đã làm cho sự đối đầu về hệ tư tưởng không còn mang ý nghĩa chi phối tình hình khu vực,

vì vậy, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đã nhanh chóng được

mở rộng, kết nạp thêm các thành viên mới Tháng 7/1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN Tiếp sau đó là sự gia nhập ASEAN của Lào, Mianma (10/1997) và Cămpuchia (10/1999) Để tạo điều

Trang 40

kiện phát triển kinh tế và để tăng thêm sức cạnh tranh thương mại cho các thành viên, ASEAN đã thông qua Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (AFTA) Với việc trở thành thành viên của ASEAN và tham gia vào

lộ trình AFTA, Việt Nam và Lào đã chính thức tham gia vào lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế

2.1.2 Khái quát tình hình Lào - Việt Nam và quan hệ giữa hai nước

Sự biến đổi của tình thế giới và khu vực Đông Nam Á đã tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của Việt Nam và Lào cũng như quan hệ hợp tác giữa hai nước Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào cũng như giữa các địa phương của hai nước có nhiều cơ hội phát triển, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Chính vì vậy, trong quan hệ hợp tác giữa hai bên, kể cả trên bình diện quốc gia lẫn quan hệ giữa các địa phương đã có sự điều chỉnh cả về nội dung lẫn phương thức

Với việc thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam và Lào đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực Tình hình an ninh chính trị và trật

tự xã hội đã từng bước ổn định Nhiệm vụ phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác có sự phát triển mạnh mẽ.Điểm nổi bật trong quan hệ hợp tác chính trị giữa Việt Nam và Lào giai đoạn này là hai bên tiếp tục duy trì và đẩy mạnh các cuộc tiếp xúc, trao đổi song phương thông qua các chuyến thăm và làm việc của các Đoàn đại biểu cấp cao Bên cạnh các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước, các

Bộ, Ban, Ngành, cùng các tổ chức đoàn thể từ Trung ương cho tới các địa phương đã thường xuyên có các cuộc tiếp xúc, trao đổi nhằm củng cố và phát triển quan hệ hợp tác giữa hai bên: “mỗi năm có khoảng 200 đoàn ở tất cả các cấp của hai bên qua lại thăm nhau, tăng cường sự thông cảm, tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau, góp phần củng cố khối đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước” [20; tr6]

Ngày đăng: 23/01/2016, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w