1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)

93 235 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 680 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nhận thức đầy đủ khái niệm, nội hàm, các công cụ của cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và cơ chế quản lý tài chính đối với Bệnh viện Nội tiết tỉ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

TÀI CHÍNH CỦA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG Ở VIỆT NAM (QUA THỰC TẾ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT NGHỆ AN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

TÀI CHÍNH CỦA CÁC BỆNH VIỆN CÔNG Ở VIỆT NAM (QUA THỰC TẾ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT NGHỆ AN)

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60.31.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐINH TRUNG THÀNH

Trang 4

NGHỆ AN - 2015

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy hướng dẫn khoa học Các số liệu và trích dẫn được sử dụng trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc và các đồng nghiệp Bệnh viện Nội tiết Nghệ an đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi được tham gia khóa học và hoàn thành chương trình học tập và thu thập các số liệu, tài liệu phục vụ nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Quí thầy, cô giáo của Trường Đại học Vinh, Phòng Đào tạo sau Đại học, Hội đồng khoa học khoa Kinh tế trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đinh Trung Thành người đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Nghệ An, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG vii

A MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Những đóng góp mới của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 5

B NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TÀI CHÍNH TRONG BỆNH VIỆN 6

1.1 Tài chính công trong các đơn vị sự nghiệp có thu 6

1.1.1 Tài chính 6

1.1.2 Đơn vị sự nghiệp có thu 10

1.1.3 Tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu 17

1.2 Hoạt động tài chính trong các bệnh viện công 20

1.2.1 Các nguồn tài chính cho bệnh viện 20

1.2.2 Nội dung chi của bệnh viện 22

1.3 Nhân tố tác động đến hoạt động tài chính trong các bệnh viện 25

1.3.1 Nhân tố khách quan 25

1.3.2 Nhân tố chủ quan 32

Kết luận chương 1 34

Chương 2 THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH Ở BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH NGHỆ AN 36

Trang 8

2.1 Khái quát về bệnh viện Nội Tiết tỉnh Nghệ An 36

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An 36

2.1.2 Tổ chức bộ máy và biên chế của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An 37

2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An 38

2.2 Thực trạng tài chính tại bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An .41

2.2.1 Thực trạng các nguồn tài chính của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An 41

2.2.2 Thực trạng sử dụng các nguồn tài chính của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An 44

2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý hoạt động tài chính tại bệnh viện nội tiết tỉnh Nghệ An 59

2.3.1 Kết quả đạt được 59

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 60

Kết luận chương 2 61

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH NGHỆ AN 62

3.1 Định hướng phát triển của bệnh viện nội tiết tỉnh Nghệ An 62

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại bệnh viện nội tiết tỉnh Nghệ An 64

3.2.1 Thực hiện khoán biên chế và khoán chi nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của bệnh viện 64

3.2.2 Tăng cường công tác quản lý sử dụng kinh phí cho hoạt động sự nghiệp tại Bệnh viện 68

3.2.3 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát ở tất cả các khâu từ lập, chấp hành và quyết toán chi đến kiểm soát nội bộ và công khai tài chính 69

3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, đưa tiến bộ tin học ứng dụng vào công tác quản lý tài chính 71

3.2.5 Hoàn thiện tổ chức công tác kiểm tra kế toán 72

3.2.6 Xây dựng đội ngũ cán bộ tài chính kế toán chuyên trách có tinh thần trách nhiệm, có nghiệp vụ cao 76

3.3 Một số kiến nghị về phía Nhà nước 77

Kết luận chương 3 78

C KẾT LUẬN 80

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 10

NN : Nhà nước

NSNN : Ngân sách Nhà nướcSNCT : Sự nghiệp có thu

TSCĐ : Tài sản cố định

XDCB : Xây dựng cơ bản

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG

Trang

Sơ đồ:

Sơ đồ 2.1: Quy trình khám chữa bệnh tại Bệnh viện 38

Sơ đồ 2.2: Quy trình thanh quyết toán BHYT 40

Bảng 2.1: Tổng hợp các nguồn thu của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An 42

Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình thu so với dự toán năm 2012 - 2014 43

Bảng 2.3: Tổng hợp dự toán chi theo từng khoản mục 47

50 Sơ đồ 2.1: Quy trình mua sắm TSCĐ 51

Bảng 2.4: Thực chi cho hoạt động sự nghiệp tại Bệnh viện 53

Bảng 2.5: Thực chi cho con người 54

Bảng 2.6: Thực chi mua sắm, sửa chữa TSCĐ 55

Bảng 2.7: Thực chi cho quản lý hành chính 56

Trang 12

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây hệ thống y tế Việt Nam được đánh giá là đã đạt một số thành tựu nhất định Nhiều chỉ số về sức khỏe đã đạt cao hơn so với các nước có cùng mức thu nhập Việt Nam cũng được coi là một Quốc gia có những chính sách tài chính y tế nhằm hỗ trợ người nghèo và các nhóm dễ tổn thương như trẻ em, người già, người dân tộc thiểu số… Mạng lưới cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh được mở rộng

Những thành tựu về chăm sóc sức khỏe của Việt Nam gắn liền với quá trình đổi mới và phát triển đất nước trong hơn 20 năm qua, trong đó có đổi mới hệ thống y tế Có thể nhận định rằng, đổi mới lĩnh vực y tế ở Việt Nam được bắt đầu từ đổi mới các chính sách và cơ chế tài chính trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB), như các chính sách thu một phần viện phí (1989), Pháp lệnh Hành nghề y dược tư nhân (1993 và sửa đổi năm 2003), chính sách về bảo hiểm y tế (1992), chính sách miễn, giảm viện phí cho người có công với nước, người nghèo (1994), chính sách “xã hội hóa” và giao quyền tự chủ về tài chính cho các cơ sở y tế công lập

Thực tế đã chứng tỏ, vấn đề tài chính của các bệnh viện công lập là một vấn đề rất phức tạp, không chỉ có tác động đến các cơ sở cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ, mà còn ảnh hưởng về nhiều mặt đối với cả hệ thống y

tế Thực tiễn đòi hỏi quản lý tài chính bệnh viện trong bối cảnh hiện nay, vừa phải đảm bảo các mục tiêu tài chính vừa đảm bảo tính hiệu quả, công bằng trong chăm sóc sức khoẻ Quản lý tài chính bệnh viện trở thành chìa khoá quyết định sự thành công hay thất bại trong việc quản lý bệnh viện; quyết định sự tụt hậu cũng như phát triển của bệnh viện

Trang 13

Trong thời gian qua, bên cạnh những thành tựu đạt được, vấn đề tài chính của các bệnh viện công lập còn nhiều tổn thất cần giải quyết Trong bối cảnh

đó, đề tài “Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại

bệnh viện Nội tiết Nghệ An)” có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tuy rằng thực tiễn quản lý đã đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cần làm rõ hoặc cần tổng kết thực tiễn, song, nhưng về mặt lý luận các nghiên cứu có thể đáp ứng được nhu cầu này cũng không nhiều, tập trung chủ yếu vào các đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ Tài chính Từ 2001 đến nay, có rất ít đề tài nghiên cứu về vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn

vị sự nghiệp có thu, bao gồm những đề tài sau:

Đề tài cấp Bộ của Bộ Tài chính năm 2004 “Các giải pháp tài chính thúc đẩy các tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu triển khai chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp”, do PGS TS Phạm Ngọc Ánh làm chủ nhiệm đã tập trung nghiên cứu đề xuất giải pháp chuyển các tổ chức KH&CN sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu của đề tài dừng ở mức độ đề xuất tích cực thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP; đề tài cũng có đưa ra một số biện pháp tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy các tổ chức KH&CN chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp Đề tài này không nghiên cứu về cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu công lập

Đề tài cấp Bộ của Bộ Tài chính năm 2010 “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo đại học và cao đẳng công lập”, do TS Lê Xuân Trường, Học viện Tài chính làm chủ nhiệm Đề tài

đã tập trung phân tích những vấn đề cơ bản về mô hình tổ chức cung cấp dịch

vụ giáo dục đại học và cao đẳng và cơ chế quản lý tài chính đối với mô hình này; đã phân tích nội dung cơ bản của cơ chế tự chủ tài chính áp dụng đối với

Trang 14

các đơn vị sự nghiệp giáo dục đại học Tuy nhiên, đề tài còn chưa làm rõ được các vấn đề lý luận cần thiết liên quan đến khu vực sự nghiệp công như khái niệm, đặc điểm của khu vực này Đề tài cũng chưa làm rõ được khái niệm cơ bản thế nào là cơ chế tự chủ và nội hàm của cơ chế tự chủ tài chính, chưa nghiên cứu cụ thể các vấn đề liên quan đến các nội dung giá phí dịch vụ công, quản lý theo kết quả đầu ra…

Đề tài cấp Bộ của Bộ Tài chính năm 2010 “Tăng cường công tác quản

lý tài chính công ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay”, do PGS TS Trần Xuân Hải, Học viện Tài chính làm chủ nhiệm Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tài chính công ở Việt Nam; trong đó, tập trung chủ yếu vào các vấn đề nghiên cứu như phân cấp NSNN, quản lý thu, chi NSNN, tình hình thâm hụt NSNN và quản lý nợ công Các giải pháp đề xuất cũng tập trung vào những vấn đề vĩ mô của NSNN, không đi sâu nghiên cứu cơ chế tài chính áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp có thu

Đề tài “Cải cách thủ tục hành chính tài chính, các kết quả và định hướng giai đoạn 2011 - 2015” và đề tài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện thể chế tài chính giai đoạn 2011 - 2020” là hai đề tài cấp Bộ của

Bộ Tài chính năm 2010 do ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Vụ Pháp chế - Bộ Tài chính làm chủ nhiệm Hai đề tài này đã nghiên cứu các vấn đề liên quan một cách vĩ mô đến cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu, kết quả nghiên cứu của hai đề tài này được sử dụng như tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp bổ sung, hỗ trợ cho việc thực hiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu

Việc nhận thức đầy đủ khái niệm, nội hàm, các công cụ của cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và cơ chế quản lý tài chính đối với Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An nói riêng hiện đang

là vấn đề bức xúc, cần được nghiên cứu, tổng kết, cả lý luận và thực tiễn

Trang 15

nhằm hệ thống hóa và củng cố lại các vấn đề mang tính học thuật căn bản, giúp tạo dựng cơ sở lý luận không những cho nhận thức đúng đắn về cơ chế quản lý tài chính mà còn tạo nền tảng lý luận cho những nghiên cứu đối mới, hoàn thiện cơ chế.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn tài chính ở các bệnh viện công (Qua thực tế Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An), đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài chính ở các bệnh viện công

- Phân tích đúng thực trạng tài chính ở Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính ở Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là nâng cao hiệu quả quản lý tài chính ở các bệnh viện công nói chung và Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ khảo sát Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An Thời gian khảo sát chủ yếu tập trung trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, luận văn sử dụng tổng hợp một số phương pháp như: phân tích, thống kê, so sánh, dựa trên cơ sở vận dụng và quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tài chính và quản lý tài

Trang 16

chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu Đồng thời, kế thừa các công trình nghiên cứu có liên quan đã được công bố của một số tác giả viết về cơ sở lý luận và thực tiễn hiện nay của một số cơ sở y tế trong nước.

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về tài chính ở các bệnh viện công trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Khảo sát, phân tích làm rõ thực trạng tài chính ở Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An trên cơ sở chế độ quản lý của Nhà nước hiện hành

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính ở Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Trang 17

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TÀI CHÍNH TRONG BỆNH VIỆN

1.1 Tài chính công trong các đơn vị sự nghiệp có thu

Trong kinh tế thị trường, thuật ngữ tài chính còn được mô tả theo nghĩa là vốn dưới hình thức tiền tệ, được thể hiện dưới dạng các nguồn vốn đầu tư, cho vay hoặc đi vay thông qua thị trường tài chính hay định chế, tổ chức tài chính

Như vậy, tài chính được quan niệm như là nguồn tiền bạc, thu nhập hay tài sản; là cách thức, hay sự huy động, phân phối, cấp phát, trợ giúp, chi tiêu, sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể để thực hiện các lợi ích kinh tế của mình

Kế thừa những nghiên cứu khác nhau về khái niệm tài chính, có thể xem xét tiếp cận phạm trù này dưới hai giác độ sau:

Về hình thức: Tài chính là sự vận động của các dòng tiền tệ gắn liền với

quyền sở hữu hoặc chiếm dụng của mỗi chủ thể trong những khoảng thời gian nhất định Sự vận động của các dòng tiền thuộc mỗi chủ thể được nhìn nhận rõ nét nhất thông qua hai mặt hoạt động thu, chi quỹ tiền tệ của chính mỗi chủ thể đó

Về nội dung: Tài chính là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình

phân phối giá trị của cải xã hội giữa các chủ thể trong những không gian, thời gian nhất định

Trang 18

Hợp nhất cả hình thức và nội dung, theo quan điểm của tác giả, khái

niệm tài chính có thể hiểu như sau: Tài chính là sự vận động của các dòng

tiền thuộc các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế Nó phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối giá trị của cải xã hội trong những không gian, thời gian cụ thể.

Đặc điểm của tài chính

 Tính chất tiền tệ của tài chính

Khái niệm tài chính gắn liền mật thiết với tiền tệ và các quan hệ hàng hóa - tiền tệ Tài chính nảy sinh trong điều kiện tồn tại nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ Nhà nước huy động, tập trung các nguồn lực tài chính để phân phối, sử dụng cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm

 Tính chất phân phối

Lĩnh vực nảy sinh và hoạt động của tài chính chính là quá trình diễn ra

sự phân phối giá trị sản phẩm xã hội giữa các chủ thể hoặc ngay trong từng chủ thể của mỗi hoạt động kinh tế Bởi vậy, dấu hiệu quan trọng của tài chính

là tính chất phân phối của các quan hệ tài chính

 Tài chính luôn gắn liền với sự vận động của các quỹ tiền tệ

Sự phân phối của tài chính nhất định phải kèm theo sự vận động của

vốn tiền tệ và có hình thức biểu hiện đặc biệt là các nguồn tài chính Các

nguồn tài chính đó được hình thành ở các chủ thể kinh tế và nhà nước nhờ các dạng vận động khác nhau của thu nhập, tích lũy, thanh toán, trích nộp dưới

Trang 19

hình thức tiền tệ và được sử dụng vào những mục đích nhất định để đáp ứng nhu cầu của mình Các nguồn tài chính là sự biểu hiện vật chất hóa của các quan hệ tài chính Việc sử dụng các nguồn tài chính được thực hiện về cơ bản thông qua các quỹ tiền tệ có những mục đích nhất định.

Bởi vậy, dấu hiệu đặc biệt quan trọng của tài chính, khác biệt với các phạm trù phân phối khác là ở chỗ, các quan hệ tài chính luôn luôn gắn liền với

sự hình thành các quỹ tiền tệ nhất định

 Tính chủ thể

Quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với các chủ thể của nền kinh tế, như: Nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình, các ngân hàng và các công ty tài chính Chính các chủ thể đó đã tham gia trực tiếp vào quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền của các chủ thể hình thành các quỹ tiền tệ nhất định gắn liền với sự sở hữu của từng chủ thể trong nền kinh tế

 Tính mục đích

Việc hình thành các quỹ tiền tệ kể trên của các chủ thể trong nền kinh

tế là nhằm thõa mãn các nhu cầu khác nhau của từng chủ thể Đối với nhà nước, tài chính được sử dụng để huy động các nguồn thu cho Chính phủ và chi tiêu để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Các doanh nghiệp huy động các nguồn thu tài chính để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hay dịch vụ để tạo ra thu nhập tăng thêm Các hộ gia định cũng cần các thu nhập tài chính để thõa mãn nhu cầu tiêu dùng về vật chất và tinh thần Như vậy, có thể thấy tài chính là cánh thức phân bổ nguồn lực vốn khan hiếm của các chủ thể trong nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu

1.1.1.2 Khái niệm nguồn lực tài chính

Nguồn lực là hệ thống những yếu tố tự nhiên, xã hội có ích đối với sự phát triển của xã hội loài người, thông qua việc khai thác, sử dụng chúng mà con người có thể tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình

Trang 20

Tùy theo trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội, các nguồn lực được khai thác nhằm phục vụ cho nhu cầu của con người rất khác nhau Do đó, vị trí, vai trò của các nguồn lực là rất khác nhau Thậm chí, đối với các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau, các nguồn lực cũng phát huy tác dụng không giống nhau.

Nguồn lực phát triển kinh tế có thể phân theo ngành, theo lĩnh vực, Theo nhận thức phổ biến hiện nay, các nguồn lực bao gồm: nguồn lực con người, nguồn lực đất đai, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học công nghệ, hay cách hiểu tương tự là vốn, lao động, đất đai, tri thức,

Nguồn lực tài chính là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ được hình thành trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong phân phối nhằm đáp ứng các yêu cầu chi tiêu bằng tiền để thực hiện quá trình tái sản xuất các mặt hoạt động của các chủ thể trong xã hội

Như vậy, bản chất của nguồn lực tài chính là phạm trù phân phối; đó là

sự phân phối bằng giá trị chứ không phải bằng hiện vật và thông qua hiện vật

Nguồn lực tài chính được biểu hiện rất khác nhau, tùy theo nguồn gốc hình thành mà chủ thể có thể thực hiện để có được các quỹ tiền tệ Thông qua các nguồn lực tài chính mà những chủ thể trong xã hội có được hệ thống các quỹ tiền

tệ tập trung và không tập trung vận động độc lập với các chức năng cất trữ hay phương tiện thanh toán Nguồn lực tài chính là sự vận động của tiền tệ

Với cách hiểu như vậy, để hình thành nguồn tài chính hay các quỹ tiền

tệ vận động tập trung, các chủ thể trong xã hội có thể khai thác từ nhiều nguồn lực khác nhau

Tài chính và nguồn lực tài chính phản ánh mặt quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội cụ thể là biểu hiện của quan hệ phân phối, song vì đó là sự phân phối giá trị cho nên quan hệ đó chỉ được thực hiện trong nền kinh tế hàng hóa

Trang 21

Tuy nhiên, biểu hiện rõ nhất của mặt phân phối và thực hiện giá trị từ các nguồn lực là trong nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao hay KTTT

Vì KTTT mới có khả năng biến mọi nguồn lực trở thành hàng hóa và biến các hàng hóa đó trở thành những biểu hiện của giá trị, mặc dù có thể chúng không phải do lao động làm ra

Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Nguồn tài chính là khả năng tài

chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình Nguồn tài chính có thể tồn tại dưới dạng tiền hoặc tài sản vật chất và phi vật chất Sự vận động của các nguồn tài chính phản ánh

sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ)

Nguồn tài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định Trong nền kinh tế thị trường, mỗi chủ thể trong xã hội khi đã nắm trong tay những nguồn tài chính nhất định là nắm trong tay một sức mua để có thể nắm được những nguồn vật lực hay sử dụng được những nguồn nhân lực nhất định phục vụ cho mục đích tích lũy hay tiêu dùng của mình

1.1.2 Đơn vị sự nghiệp có thu

1.1.2.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam

Trong nền kinh tế-xã hội, để thực hiện các hoạt động sự nghiệp cần có các tổ chức tiến hành các hoạt động đó, các tổ chức này được gọi là đơn vị

sự nghiệp (ĐVSN) Tuy nhiên, theo ngôn ngữ quen dùng ở Việt Nam, ĐVSN

thường phải là các cơ quan của Nhà nước

“Chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2004-2005”, ban hành theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định: ĐVSN là một loại hình đơn vị được Nhà nước ra quyết định thành lập, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao trên lĩnh vực quản lý,

Trang 22

thực hiện các hoạt động sự nghiệp Đó là đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, thông tin, nghiên cứu khoa học, y tế, không theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh.

ĐVSN thuộc khu vực phi lợi nhuận, sự chi tiêu của các đơn vị này, theo con mắt của các nhà quản lý tài chính nhà nước, mất đi, không thu hồi lại được vốn gốc, mặc dù các đơn vị này vẫn tính khấu hao tài sản cố định Trong quá trình hoạt động, các ĐVSN được Nhà nước trang trải kinh phí đáp ứng nhu cầu chi tiêu từ ngân sách nhà nước hoặc được bổ sung từ các nguồn khác

Đặc điểm hoạt động của các ĐVSN là rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Mục đích hoạt động của các ĐVSN là phục vụ lợi ích cộng đồng, xã hội, đất nước Trong quá trình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cho xã hội, các ĐVSN được phép tạo lập nguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ do Nhà nước quy định để trang trải các khoản chi tiêu Quản lý tài chính ĐVSN phải tuân thủ theo những quy định pháp lý của Nhà nước Tùy theo đặc điểm tạo lập nguồn thu của các ĐVSN, Nhà nước áp dụng cơ chế tài chính thích hợp để các ĐVSN thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Phù hợp với xu hướng cải cách khu vực công trong bối cảnh hội nhập, Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các ĐVSN theo hướng nâng cao quyền tự chủ tài chính nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ xã hội

ĐVSN có những đặc điểm khác với cơ quan hành chính Cơ quan hành chính là những tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mình Các dịch vụ hành chính công được cung cấp theo luật định, với chất lượng đồng nhất cho mọi người tiêu dùng và được chi trả trực tiếp bằng ngân sách nhà nước Dịch

vụ hành chính công là chức năng của cơ quan hành chính Nhà nước, là trách

Trang 23

nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nước với nhân dân và chỉ có Nhà nước (chứ không có một tổ chức tư nhân nào khác) có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó Nhà nước với tư cách là một tổ chức công quyền phải có nghĩa

vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn người dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước dưới hình thức thuế Như vậy, quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trường, mà phản ánh quan hệ nghĩa vụ của Nhà nước và phương tiện thực hiện nghĩa vụ do xã hội công dân cung cấp Người sử dụng dịch vụ có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó, nhưng phải đóng thuế để chi trả cho chúng Chính vì vậy cơ quan hành chính chỉ được tự chủ tài chính trong phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp (cơ chế khoán chi), không được tự do mở rộng dịch vụ và nguồn thu Dịch vụ và nguồn thu là cố định theo luật.Trong khi đó, dịch vụ của ĐVSN cung ứng có thể cạnh tranh với khu vực tư nhân và cung ứng theo nhu cầu nên các đơn vị này được phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình Đặc điểm khác biệt này cho phép ĐVSN có thể hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính

ĐVSN có những điểm khác với loại hình doanh nghiệp Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc hạch toán kinh doanh, hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tự bù đắp đủ chi phí và có lãi Doanh nghiệp phải hoạt động theo quy luật thị trường ĐVSN không hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường và không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mình

Lĩnh vực sự nghiệp tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục

vụ chính trị-xã hội, vừa mang tính hàng hóa đòi hỏi phải bù đắp chi phí Với chức năng phục vụ xã hội, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp không thể đo bằng giá trị tiền tệ hữu hình Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và càng không hạch toán được lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức

Trang 24

năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội Mặt khác, mỗi sản phẩm này đều mang trong nó giá trị đã hao phí để tạo ra nó Để tái sản xuất giản đơn, các ĐVSN phải thu lại từ ngân sách nhà nước và từ chi trả của người hưởng thụ.

Hiệu quả hoạt động của ĐVSN không đơn thuần đo đếm bằng tiền, mà thường được tính bằng các giá trị phi tiền tệ Chính vì thế, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ĐVSN thường khó khăn

1.1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp có thu (SNCT) là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động có thu thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm,…

Đơn vị sự nghiệp có thu được xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau:

- Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương

- Được Nhà nước cung cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo chế độ nhà nước quy định

- Có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ nhà nước quy định

- Có mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để ký gửi các khoản thu, chi tài chính

Đặc điểm đơn vị sự nghiệp có thu

Thứ nhất, đơn vị sự nghiệp có thu là một tổ chức hoạt động theo

nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời.

Trang 25

Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội.Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường Nhờ đó, sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân.

Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp có thu là sản phẩm mang

lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần

Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội,… Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị sự nghiệp là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định mà những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa, truyền tiếp

Mặt khác, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp chủ yếu tạo ra các

“hàng hóa công cộng” ở dạng vật chất và phi vật chất, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội Cũng như các hàng hóa khác, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp có giá trị và giá trị sử dụng nhưng có điểm khác biệt là nó có giá trị xã hội cao, điều đó đồng nghĩa là người cùng sử dụng,

Trang 26

dùng rồi có thể dùng lại được trên phạm vi rộng Vì vậy, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là các “hàng hóa công cộng” Hàng hóa công cộng có hai đặc điểm là “không loại trừ” và “không tranh giành” Nói cách khác, đó là những hàng hóa mà không ai có thể loại trừ những người tiêu dùng khác ra khỏi việc sử dụng nó và tiêu dùng của người này không loại trừ việc tiêu dùng của người khác.

Việc sử dụng những “hàng hóa công cộng” do hoạt động sự nghiệp tạo

ra làm cho quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao Hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao đem lại tri thức và đảm bảo sức khỏe cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho lao động có chất lượng ngày càng tốt hơn Hoạt động sự nghiệp khoa học, văn học, văn hóa thông tin mang lại hiểu biết cho con người về tự nhiên, xã hội tạo ra những công việc mới phục vụ sản xuất và đời sống, Vì vậy, hoạt động sự nghiệp luôn gắn bó hữu cơ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội

Thứ ba, hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp có thu luôn gắn

liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước

Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình xóa mù chữ, chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, chương trình phòng chống AIDS, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình phủ phát thanh truyền hình,… Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, nếu để tư nhân thực hiện, mục tiêu lợi nhuận

sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp, từ đó kìm hãm sự phát triển của xã hội

Trang 27

1.1.2.3 Vai trò của đơn vị sự nghiệp có thu

Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Trong thời gian qua, các đơn vị sự nghiệp công đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thể hiện:

Thứ nhất, cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể

thao… có chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

Thứ hai, thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như: đào tạo và

cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao; khám chữa bệnh, bảo

vệ sức khỏe người dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ; cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật… phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thứ ba, đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp

công lập đều có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề

án, chương trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Thứ tư, thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của nhà nước

đã góp phần tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động sự nghiệp của nhà nước, trong thời gian qua các đơn vị sự nghiệp ở tất cả các lĩnh vực đã tích cực mở rộng các loại hình, phương thức hoạt động, một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Đồng thời qua đó cũng thực hiện xã hội hóa bằng cách thu hút sự đóng góp của nhân dân đầu tư cho

sự phát triển của hoạt động sự nghiệp

1.1.2.4 Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu

Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động

Thứ nhất, đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực văn hóa

nghệ thuật

Trang 28

Thứ hai, đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào

tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân

Thứ ba, đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu

khoa học

Thứ tư, đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao Thứ năm, đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực y tế.

Thứ sáu, đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực xã hội.

Thứ bảy, đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế.

Ngoài các đơn vị sự nghiệp có thu ở các lĩnh vực nêu trên còn có các đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc các tổng công ty, tổ chức chính trị, tổ chức

1.1.3 Tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu

1.1.3.1 Nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu

Nguồn tài chính cơ bản của đa số các đơn vị sự nghiệp là nguồn từ NSNN nhằm thực hiện chức năng kinh tế - xã hội mà đơn vị đảm nhiệm (giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hóa, thông tin, bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, biển, cây, con,…) Tuy nhiên,

Trang 29

với sự đa dạng của hoạt động sự nghiệp trong nhiều lĩnh vực, các đơn vị sự nghiệp được nhà nước cho phép khai thác mọi nguồn thu cho các đơn vị và đảm bảo cho các đơn vị tự chủ trong hoạt động chi tiêu Như vậy, nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm: nguồn NSNN cấp, nguồn thu

sự nghiệp của đơn vị và nguồn thu khác

Nguồn NSNN cấp

Đối với cả hai loại đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí và đơn vị tự đảm bảo một chi phí, NSNN cấp:

- Kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp

bộ, ngành; chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp có thẩm quyền giao

- Kinh phí Nhà nước thanh toán cho đơn vị theo chế độ đặt hàng để thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước giao, theo giá hoặc khung giá do Nhà nước quy định (điều tra, quy hoạch, khảo sát,…)

- Kinh phí cấp để tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định đối với số lao động trong biên chế dôi ra

- Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm, vốn đối ứng cho các

dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Riêng đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí: NSNN cấp kinh phí hoạt động thường xuyên Mức kinh phí NSNN cấp được ổn định theo định kỳ 3 năm và hàng năm được tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định Hết thời hạn 3 năm, mức NSNN bảo đảm sẽ được xác định lại cho phù hợp

Nguồn thu sự nghiệp của đơn vị

- Tiền thu phí, lệ phí thuộc NSNN (phần được để lại đơn vị thu theo quy định) Mức thu phí, lệ phí, tỷ lệ nguồn thu được để lại đơn vị sử dụng và nội dung chi thực hiện theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với từng loại phí, lệ phí

Trang 30

- Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ Mức thu từ các hoạt động này do thủ trưởng đơn vị quyết định, theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy.

- Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật (nếu có)

Đối với lĩnh vực y tế, dân số - kế hoạch hóa gia đình, nguồn thu chủ

yếu bao gồm:

- Thu từ dịch vụ khám, chữa bệnh, thực hiện các biện pháp tránh thai

- Bán các sản phẩm dịch vụ ứng dụng khoa học sản xuất để phục vụ phòng chữa bệnh: viêm gan, bại liệt, viêm não,…

- Lệ phí cấp giấy hành nghề y, dược tư nhân

- Lệ phí đăng ký kinh doanh mục thuốc lưu hành

Ngoài ra, các cơ sở y tế còn có nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, như: Thu từ các dự án viện trợ, quà biếu tặng, vay tín dụng; Thu khác

1.1.3.2 Nội dung chi của các đơn vị sự nghiệp có thu

Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao và chi cho các hoạt động có thu sự nghiệp, bao gồm:

- Chi cho người lao động: chi tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định

- Chi phí quản lý hành chính: vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng, thông tin liên lạc, công tác phí, hội nghị phí,…

- Chi các hoạt động nghiệp vụ

- Chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ: vật tư, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ (kể cả chi nộp thuế, trích khấu hao tài sản cố định)

- Chi hoạt động tổ chức thu phí, lệ phí

- Chi mua sắm tài sản, công cụ thiết bị văn phòng (không bao gồm đầu

tư xây dựng cơ bản), sửa chữa thường xuyên cơ sở vật chất; nhà cửa, máy móc thiết bị

Trang 31

- Các khoản khác theo quy định của pháp luật.

Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành; chương trình mục tiêu quốc gia, chi thực hiện nhiệm vụ đặt hàng của Nhà nước; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo quy định

Chi thực hiện tinh giản biên chế do nhà nước quy định

Chi đầu tư phát triển, bao gồm: chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản, chi thực hiện các dự án đầu tư theo quy định

Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao

- Các khoản chi khác (nếu có)

1.2 Hoạt động tài chính trong các bệnh viện công

1.2.1 Các nguồn tài chính cho bệnh viện

Các nguồn tài chính chủ yếu cho các bệnh viện công lập bao gồm: ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp của bệnh viện (từ quỹ BHYT và viện phí trực tiếp của người bệnh, thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động sự nghiệp khác), thu viện trợ, thu khác Trong đó, thu từ ngân sách nhà nước, viện phí và bảo hiểm y tế là nguồn thu chủ yếu

 Ngân sách nhà nước

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân sách nhà nước cấp cho bệnh viện ở Việt Nam Nhìn chung, các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thông qua kênh phân bổ của Chính phủ được coi là ngân sách nhà nước cấp cho bệnh viện Theo đó, ngân sách cho bệnh viện có thể bao gồm chi sự nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, chi từ bảo hiểm y

tế, thu viện phí và viện trợ nước ngoài,… Tuy nhiên nguồn ngân sách nhà nước cấp cho bệnh viện ở đây được định nghĩa là khoản chi cho bệnh viện từ ngân sách nhà nước cấp cho sự nghiệp y tế, cân đối từ nguồn thuế trực thu và gián thu Bao gồm các khoản chi đầu tư, chi vận hành hệ thống

Trang 32

Đối với các nước đang phát triển, nguồn ngân sách nhà nước là nguồn tài chính quan trọng nhất cho hoạt động của bệnh viện Ở Việt Nam, cho đến nay, hàng năm các bệnh viện công nhận được một khoản kinh phí được cấp từ ngân sách của chính phủ căn cứ theo định mức tính cho một đầu giường bệnh/năm nhân với số giường bệnh kế hoạch của bệnh viện Số kinh phí này thường đáp ứng được từ 20 - 45% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của bệnh viện.

 Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế

Theo quy định của Bộ tài chính, nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý

và sử dụng để đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế thường đảm bảo được từ 30 - 45% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của các bệnh viện công

Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam, các cơ sở khám, chữa bệnh trong

hệ thống y tế Nhà nước chỉ được phép thu một phần viện phí Một phần viện phí là một phần trong tổng chi phí cho việc khám chữa bệnh Một phần viện phí chỉ tính tiền thuốc, dịch truyền, máu, hóa chất, xét nghiệm, phim X quang, vật tư tiêu hao thiết yếu và dịch vụ khám chữa bệnh; không tính khấu hao tài sản cố định, chi phí hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn

Hiện nay, giá viện phí do Chính quyền cấp tỉnh của từng địa phương quy định dựa trên một khung giá tối đa - tối thiểu đã được Bộ Y tế và Bộ Tài chính phê duyêt Đối với người bệnh ngoại trú, biểu giá thu viện phí được tính theo lần khám bệnh và các dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh trực tiếp sử dụng Đối với người bệnh nội trú, biểu giá thu một phần viện phí được tính theo ngày giường nội trú của từng chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh Đối với khám chữa bệnh theo yêu cầu thì mức thu được tính trên cơ sở mức đầu tư của bệnh viện

Trang 33

và cũng phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt Đối với người có thẻ Bảo hiểm y tế thì cơ quan bảo hiểm thanh toán viện phí của bệnh nhân cho bệnh viện Tuy nhiên ở Việt Nam mới chỉ phổ biến loại hình bảo hiểm y tế bắt buộc áp dụng cho các đối tượng công nhân viên chức làm công ăn lương trong các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp Các loại hình bảo hiểm khác chưa được triển khai một các phổ biến.

Hiện nay, với chủ trương xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe của Đảng và Nhà nước, các loại hình bệnh viện và cơ sở y tế bán công ngoài công lập ra đời với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế

 Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác

Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác cũng được nhà nước quy định là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của nhà nước giao cho bệnh viện quản lý

và sử dụng được hạch toán theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp Khi bệnh viện tiếp nhận tiền, hàng viện trợ phải làm các thủ tục xác nhận viện trợ theo quy định Các loại tài sản được viện trợ phải hạch toán tăng nguồn vốn

và quản lý theo quy định như các tài sản được mua bằng nguồn vốn sự nghiệp

do nhà nước cấp Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo định hướng những nội dung đã định từ phía nhà tài trợ Nguồn kinh phí này đáp ứng khoảng 20 - 30% chi tối thiểu của bệnh viện

1.2.2 Nội dung chi của bệnh viện

 Chi cho con người

Bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp lương (được tính theo chế độ hiện hành, kể cả nâng bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp) và các khoản phải nộp theo lương: bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Đây là khoản bù dắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên ủa bệnh viện Theo

Trang 34

quy định trước đây, nhóm này tương đối ổn định, chiếm khoảng 20% tổng kinh phí và chỉ thay đổi nếu biên chế được phép thay đổi.

 Chi quản lý hành chính

Bao gồm các khoản chi: tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, hội nghị, khánh tiết, xăng xe,…Nhóm này mang tính gián tiếp nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy quản lý của bệnh viện Do vậy, các khoản chi này đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ, kịp thời và cần sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả Tỷ lệ nhóm chi này nên nằm trong khoảng từ 10 - 15% tổng kinh phí

Trước đây nhóm chi này bị khống chế bởi quy định của Nhà nước với định mức chỉ nhìn chung rất hạn hẹp và bất hợp lý Tuy nhiên, trong cơ chế mới đơn vị chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của bệnh viện, đồng thời tăng cường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm vi nguồn tài chính của mình

Cùng với việc chủ động đưa ra định mức chi, đơn vị cần xây dựng chính sách tiết kiệm và quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu Quản lý tốt nhóm này sẽ tạo điều kiện tiết kiệm, tăng thêm kinh phí cho các nhóm khác

 Chi nghiệp vụ chuyên môn

Bao gồm chi mua hàng hóa, vật tư dùng cho công tác điều trị và khám bệnh; trang thiết bị kỹ thuât; sách, tài liệu chuyên môn y tế,… Nhóm này phụ thuộc vào cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của bệnh viện Có thể nói đây

là nhóm quan trọng, chiếm 50% tổng số kinh phí và đòi hỏi nhiều công sức về quản lý Đây là nhóm thiết yếu nhất, thực hiện theo yêu cầu thực tế nên nhà nước ít khống chế việc sử dụng kinh phí nhóm này Nhóm chi nghiệp vụ chuyên môn có liên hệ chặt chẽ với chất lượng chăm sóc bệnh nhân và mục tiêu phát triển của bệnh viện

Trang 35

Vấn đề đặt ra trong việc quản lý nhóm chi này là do những quy định không quá khắt khe đòi hỏi các nhà quản lý phải biết sử dụng đúng mức và thích hợp, tránh làm mất cân đối thu chi đặc biệt là thuốc nhưng vẫn giữ được chât lượng điều trị và nhất là tiết kiệm được kinh phí, tránh lãng phí: chi thuốc không quá 50% nhóm chi chuyên môn.

 Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định

Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định dùng cho hoạt động chuyên môn cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã xuống cấp Có thể nói đây là nhóm chi mà các bệnh viện đều quan tâm vì nhóm này có thể làm thay đổi bộ mặt của bệnh viện và thay đổi công nghệ chăm sóc bệnh nhân theo hướng phát triển từng giai đoạn

Tỷ lệ nhóm này nên ở mức trên 20% với bốn mục tiêu chính: Duy trì và phát triển cơ sở vật chất; Duy trì và phát triển tiện nghi làm việc; Duy trì và phát triển trang thiết bị; Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng nhân viên

- Về sửa chữa

Nhìn chung các bệnh viện của Việt Nam đều xuống cấp và đòi hỏi phải sửa chữa, nâng cấp, mở rộng đặc biệt là trong tình trạng quá tải bệnh nhân như hiện nay Nhưng đây là nhóm được quy định rất chặt chẽ trong từng phần: sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn Vấn đề đặt ra là phải sửa chữa đúng mức, đầy đủ, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh; đòi hỏi phát huy năng lực quản lý trong nhóm chi này nhằm bảo toàn trị giá vốn trong sửa chữa để có kết quả tốt trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn bỏ ra

- Về việc mua sắm tài sản cố định

Bao gồm tiện nghi làm việc và trang thiết bị phục vụ chuyên môn Do tác động của các mạng khoa học kỹ thuật, trang thiết bị cho khám chữa bệnh trong bệnh viện càng hiện đại, sử dụng kỹ thuật ngày càng cao Nhưng hầu

Trang 36

hết các trang thiết bị này được sản xuất ở nước ngoài, giá cả tương đối cao.Vấn đề đặt ra là việc mua sắm phải tính đến giá cả/hiệu quả.“Liệu cơm gắp mắm” là phương châm mua sắm trang thiết bị cho các bệnh viện Việc mua sắm phải tuân thủ theo các quy định của nhà nước đồng thời bệnh viện phải có chiến lược quản lý và sử dụng công nghệ để đạt hiệu quả.

 Chi đầu tư phát triển

Đây là khoản chi để lập các quỹ của đơn vị thực hiện khoản chi bao gồm các quỹ: quỹ dự phòng ổn định trách nhiệm, quỹ phúc lợi của đơn vị sự nghiệp, quỹ khen thưởng của đơn vị sự nghiệp và quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Tỷ lệ chi cho hoạt động này được trích từ nguồn thu bảo hiểm y tế, viện phí,… mà bệnh viện được giữ lại và nó chiếm đến 40% của tổng nguồn thu này

1.3 Nhân tố tác động đến hoạt động tài chính trong các bệnh viện

1.3.1 Nhân tố khách quan

 Về kinh tế

Trong những năm gần đây, mức độ tăng trưởng kinh tế của nước ta hàng năm tương đối cao bình quân 6%, cơ sở hạ tầng phát triển mạnh mẽ; Lạm phát được kiềm chế Vì vậy, đầu tư của NN cho các lĩnh vực kinh tế xã hội tăng nhiều, tổng chi phí cho y tế của cả nước chiếm 6,4% GDP, chi phí cho y tế bình quân đầu người là 1,1 triệu đồng (khoảng 60 USD)/người/năm Đây là nguồn kinh phí chủ yếu hiện nay cho hoạt động của bệnh viện Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng tăng cao, nguồn thu viện phí cũng tăng do nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng lên, số lượt người đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh tăng vọt so với trước Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế là

sự phân hoá giàu nghèo trong tầng lớp dân cư Từ đó phát sinh nhu cầu khám chữa bệnh cao cấp, nhu cầu tiếp cận với dịch vụ y tế nước ngoài của nhiều người thu nhập cao để chữa trị những bệnh mà bệnh viện trong nước chưa có

Trang 37

điều kiện chữa trị tốt hoặc muốn tìm đến những dịch vụ khám chữa bệnh tiện nghi hơn Đa số những người có điều kiện về kinh tế thường chọn giải pháp ra nước ngoài khám chữa bệnh vì các bệnh viện nước ngoài có một số thành tựu lớn trong quá trình khám chữa bệnh, điều kiện phục vụ tốt và tạo được uy tính mang tầm quốc tế, các văn phòng đại diện của các bệnh viện nước ngoài đặt tại Việt Nam sẽ hướng dẫn, hoặc làm thay người bệnh mọi thủ tục và một số phòng khám cũng sẵn sàng kết nối, chuyển bệnh nhân sang Singapore, Thái lan, Trung Quốc, các nước châu Âu điều trị.

Để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở Việt Nam thì ngành y tế cần phải đáp ứng những yêu cầu sau: Hội nhập quốc tế về y tế xã hội; tăng tính cạnh tranh trong kinh tế y tế; xây dựng các chuẩn mực về khám chữa bệnh

 Về chính trị

Việt Nam có nền chính trị ổn định Chính sách ngoại giao “mở cửa” giúp Việt Nam từng bước hội nhập với khu vực và thế giới, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng Những đổi mới về chính trị này tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh viện hợp tác quốc tế, thu hút nguồn viện trợ nước ngoài cũng như tiếp cận các tiến bộ của khoa học kỹ thuật Trong môi trường mở cửa, việc hợp tác với các tổ chức y tế thế giới cũng như nhận các khoản viện trợ của bệnh viện có nhiều thuận lợi và không ngừng tăng

 Môi trường pháp lý

Nhà nước đầu tư phát triển văn hoá xã hội nhằm từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, cố gắng thực hiện công bằng xã hội Với chính sách “xã hội hoá, đa dạng hoá” đã tạo điều kiện tăng các nguồn lực để phát triển các mặt xã hội Chính sách này cho phép các bệnh viện đa dạng hoá việc khai thác các nguồn tài chính phục vụ cho công tác KCB của mình

Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành vào ngày 25 tháng 4 năm 2006, Quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp

Trang 38

công lập Việc chủ động về mặt tài chính đã tạo thuận lợi cho các bệnh viện trong việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực nhằm phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân Chủ động nguồn thu (Viện phí, hoạt động dịch vụ ) để có thêm nguồn kinh phí cho hoạt động khám chữa bệnh Từ năm 1989 Nhà nước đã ban hành chính sách thu một phần viện phí Chính sách này đã tăng nguồn ngân sách cho hoạt động của các bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Viện phí cũng là một chính sách tăng cường sự tham gia đóng góp của cộng đồng nhất là các đối tượng có khả năng chi trả từ đó có thêm nguồn thu và cũng là chính sách thúc đẩy sự tham gia mua bảo hiểm y tế toàn dân.

Ngày 14 tháng 2 năm 2015 Chính phủ ký ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong đó có quy định chi tiết về vấn đề tự chủ tài chính của loại hình đơn vị này

Nghị định 16 quy định về tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên nguyên tắc đơn vị tự chủ cao về nguồn tài chính thì được tự chủ cao về quản lý, sử dụng các kết quả tài chính và ngược lại Theo đó, Nghị định quy định tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp theo 4 mức độ chính:

Thứ nhất, tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên

và chi đầu tư;

Thứ hai, tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; Thứ ba, tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường

xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí);

Thứ tư, tự chủ tài chính đối với đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi

thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp)

Trang 39

Quy định này nhằm khuyến khích các đơn vị tự chủ thấp phấn đấu tăng nguồn thu để được mức tự chủ cao hơn.

Tự chủ trong chi đầu tư và chi thường xuyên

Các đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính được giao tự chủ, bao gồm nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công (kể cả nguồn ngân sách nhà nước đấu thầu, đặt hàng), nguồn thu phí theo quy định được để lại chi và nguồn thu hợp pháp khác, để chi thường xuyên

Đối với đơn vị tự chủ tài chính cao: Đối với các nội dung chi đã có

định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo mức độ được tự chủ tài chính của từng loại đơn vị sự nghiệp công lập và theo quy chế chi tiêu nội bộ

Các đơn vị tự chủ tài chính thấp: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và

khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước

Để tạo điều kiện khuyến khích các đơn vị tự chủ toàn diện về chi thường xuyên và chi đầu tư, Nghị định bổ sung quy định các đơn vị này căn

Trang 40

cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự án đầu tư, bao gồm các nội dung về quy mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Đơn vị sự nghiệp công được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang triển khai, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền

Về chi tiền lương và thu nhập tăng thêm

Nghị định quy định các đơn vị sự nghiệp chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn

vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương cơ sở, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên phải tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; NSNN không cấp bổ sung; đối với đơn vị chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, chi tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, bao gồm cả nguồn NSNN cấp bổ sung (nếu thiếu)

Đối với phần thu nhập tăng thêm, các đơn vị được chủ động sử dụng Quỹ bổ sung thu nhập để thực hiện hiện phân chia cho người lao động trên cơ

sở quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác của người lao động Tuy nhiên, để đảm bảo mức chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ quản lý không quá chênh lệch so với người lao động, Nghị định mới quy định, khi phân bổ thu nhập tăng thêm, thì

hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị

Ngày đăng: 23/01/2016, 22:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Ánh (2004), Các giải pháp tài chính thúc đẩy các tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu triển khai chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, Đề tài cấp Bộ - Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp tài chính thúc đẩy các tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu triển khai chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp
Tác giả: Phạm Ngọc Ánh
Năm: 2004
2. TS. Mai Văn Bưu, TS Phạm Kim Chiến (2001), Quản lý nhà nước về kinh tế, giáo trình sau đại học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về kinh tế, giáo trình sau đại học
Tác giả: TS. Mai Văn Bưu, TS Phạm Kim Chiến
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2001
3. Bộ Tài chính (2006), Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 09/6/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/NĐ−CP của Chính Phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiện công lập , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 09/6/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/NĐ−CP của Chính Phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiện công lập
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
4. Bộ Tài chính (2006), Thông tư 81/2006/TT-BTC ngày 06/9/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 81/2006/TT-BTC ngày 06/9/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
7. Chính phủ (2006), Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
13. Trần Xuân Hải (2010), Tăng cường công tác quản lý tài chính công ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Đề tài cấp Bộ - Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác quản lý tài chính công ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Tác giả: Trần Xuân Hải
Năm: 2010
14. Học viện Hành chính (2007), Giáo trình quản lý nhà nước về tài chính, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý nhà nước về tài chính
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2007
15. PGS.TS Lê Chi Mai (2003), Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Lê Chi Mai
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16. Nguyễn Trọng Nghĩa (2010), Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện thể chế tài chính giai đoạn 2011 - 2020, đề tài cấp Bộ - Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện thể chế tài chính giai đoạn 2011 - 2020
Tác giả: Nguyễn Trọng Nghĩa
Năm: 2010
17. Nguyễn Trọng Nghĩa (2010), Cải cách thủ tục hành chính tài chính, các kết quả và định hướng giai đoạn 2011 - 2015, đề tài cấp Bộ - Bộ Tài chính 18. Lê Xuân Trường (2010), Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với cácđơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo đại học và cao đẳng công lập, Đề tài cấp Bộ - Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục hành chính tài chính, các kết quả và định hướng giai đoạn 2011 - 2015," đề tài cấp Bộ - Bộ Tài chính18. Lê Xuân Trường (2010), "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các "đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo đại học và cao đẳng công lập
Tác giả: Nguyễn Trọng Nghĩa (2010), Cải cách thủ tục hành chính tài chính, các kết quả và định hướng giai đoạn 2011 - 2015, đề tài cấp Bộ - Bộ Tài chính 18. Lê Xuân Trường
Năm: 2010
19. Thủ tướng Chính phủ (2015), Chỉ thị số 05/CT-TTg về tăng cường thực hiện chính sách BHXH, BHYT, Hà Nội ngày 2-4-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 05/CT-TTg về tăng cường thực hiện chính sách BHXH, BHYT
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2015
20. PGS.TS Trần Đình Ty (2003), Quản lý tài chính công, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính công
Tác giả: PGS.TS Trần Đình Ty
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
8. Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Quy trình khám chữa bệnh tại Bệnh viện - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Sơ đồ 2.1 Quy trình khám chữa bệnh tại Bệnh viện (Trang 49)
Sơ đồ 2.2: Quy trình thanh quyết toán BHYT - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Sơ đồ 2.2 Quy trình thanh quyết toán BHYT (Trang 51)
Bảng 2.1: Tổng hợp các nguồn thu của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Bảng 2.1 Tổng hợp các nguồn thu của Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An (Trang 53)
Bảng 2.1. Tổng hợp tình hình thu so với dự toán năm 2012 - 2014 - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Bảng 2.1. Tổng hợp tình hình thu so với dự toán năm 2012 - 2014 (Trang 54)
Bảng 2.3: Tổng hợp dự toán chi theo từng khoản mục - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Bảng 2.3 Tổng hợp dự toán chi theo từng khoản mục (Trang 58)
Sơ đồ 2.1: Quy trình mua sắm TSCĐ - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Sơ đồ 2.1 Quy trình mua sắm TSCĐ (Trang 62)
Bảng 2.4: Thực chi cho hoạt động sự nghiệp tại Bệnh viện - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Bảng 2.4 Thực chi cho hoạt động sự nghiệp tại Bệnh viện (Trang 64)
Bảng 2.5: Thực chi cho con người - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Bảng 2.5 Thực chi cho con người (Trang 65)
Bảng 2.6: Thực chi mua sắm, sửa chữa TSCĐ - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Bảng 2.6 Thực chi mua sắm, sửa chữa TSCĐ (Trang 66)
Bảng 2.7: Thực chi cho quản lý hành chính - Tài chính của các bệnh viện công ở Việt Nam (Qua thực tế tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An)
Bảng 2.7 Thực chi cho quản lý hành chính (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w