Vì tiếng Việt là một công cụ giao tiếp và dung ñể học tập các môn học khác nữa cho nên, ñể ñảm bảo việc dạy và học không thể không quan tâm ñến các lỗi trong khi nói và viết của học sinh
Trang 1Khảo sát lỗi sai về phụ âm ñầu: tr/ch, s/x, r/d/gi của học sinh Trung học cơ
sở xã Lãng Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn ñề tài
Thời ñại ngày nay ñất nước ta ñang ñứng trước những vận hội và thách
thức lớn, sự nghiệp xây dựng một ñất nước ngày càng giàu và ñẹp ñòi hỏi phải
có tri thức Đặc biệt, bước vào thế kỉ XXI, khi mà công nghiệp hóa hiện ñại hóa
ñất nước ñược chú trọng ñẩy mạnh, ngành giáo dục-ngành có vai trò hang ñầu
trong việc cải thiện dân trí…càng phải ñược nâng cao hơn nữa Thực hiện chính
sách giáo dục của Đảng và nhà nước ta, chương trình phổ cập giáo dục ñã ñược
thực hiện Ngay từ khi Cách mạng tháng 8 thành công, Bộ Quốc gia giáo dục
(nay là bộ GD-ĐT) ñã có chỉ thị :”Từ nay các khóa học ñều dạy bằng Tiếng
Việt” Và cho ñến hôm nay, từ lúc 3-4 tuổi các em ñều ñược làm quen dần với
các chữ cái và con số Việc học chữ của các em bắt ñầu từ lớp vỡ lòng và ban
ñầu chỉ dừng lại ở việc nhớ và viết một số chữ cái Khi lên lớp 1, 2, 3…tức là ở
bậc tiểu học, trung học cơ sở …yêu cầu việc học tiếng viêt của các em cao hơn
Bậc tiểu học ban ñầu cung cấp kiến thức ban ñầu cho học sinh với mục
tiêu là rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt Lớp 4, 5 các em có thể viết nhanh
và nhớ, làm quen ñược với lượng chữ khá lớn biểu hiện bằng những bài văn mà
các em tự làm Sang lớp 6, 7, bắt ñầu chương trình học của bậc trung học cơ sở
làm quen dần với cách học mỗi môn một thầy cô giáo giảng dậy, các em có thể
biết ñược tất cả các chữ cái và các quy tắc viết chữ thông qua giờ Văn-Tiếng
Việt trong nhà trường Vì tiếng Việt là một công cụ giao tiếp và dung ñể học tập
các môn học khác nữa cho nên, ñể ñảm bảo việc dạy và học không thể không
quan tâm ñến các lỗi trong khi nói và viết của học sinh, từ ñó ñưa ra cách khắc
phục lỗi chính tả ñó ñể giúp các em nói và dung tiếng Việt tốt hơn Tình trạng
học sinh THCS viết sai chính tả hiện nay là khá phổ biến, lí do có thể do các em
còn bỡ ngỡ, mới bước vào cách học mới ñó là thầy cô giáo giảng học sinh dưới
Trang 2ghi bài và cũng có thể là do tính trẻ con không tập trung học tập
Năm thứ 3, ñầu kì học thứ II, chúng tôi có dịp ñi thực tập tại xã Lãng Sơn,
huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang trong một khoảng thời gian là 10 ngày( từ
ngày 18/02/2008 ñến ngày 28/02/2008) với sự hướng dẫn của Th.s Võ Thị Minh
Hà Chính vì thế ñể tìm hiểu kĩ về vấn ñề viết chính tả của học sinh và xem xét
mức ñộ sai về chính tả, trong ñợt thực tập này chúng tôi ñã ñi tìm hiểu khảo sát
các lỗi sai chính tả của học sinh THCS ở tỉnh Bắc Giang Do thời gian thực tập
có hạn nên chúng tôi mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát các lỗi sai về phụ âm ñầu
tr/ch, s/x, r/d/gi chứ chưa thể nghiên cứu ñược các lỗi sai theo các âm ñầu khác,
âm chính, âm cuối và thanh ñiệu Đề tài thực hiện của chúng tôi là” Khảo sát lỗi
chính tả về phụ âm ñầu tr/ch, s/x, r/d/gi của học sinh THCS xã Lãng Sơn, huyện
Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” tuy không mới nhưng nó vẫn là một vấn ñề nhức
nhối bới ngay cả khi học lên cao hơn nữa lỗi chính tả vẫn bị mắc phải
2 Mục ñích của bài báo cáo thực tập
Mục ñích của báo cáo là ñưa ra các dạng lỗi sai về phụ âm ñầu của học
sinh sau ñó phân tích, nhận xét và xem rằng liệu có thể ñưa ra một cách khắc
phục nào ñó hay không ñối với vấn ñề lỗi chính tả Vì thời gian không nhiều
nên giới hạn ñề tài của chúng tôi là khá hẹp Vì vậy chúng tôi thông qua bản
báo cáo thực tập này muốn ghóp phần rất nhỏ bé của mình vào việc khắc phục,
sửa chữa các lỗi chính tả thường gặp của học sinh hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ngoài phần lí luận cơ sở chúng tôi ñã ñi khảo sát
thực tế ở trường THCS Lãng Sơn,Yên Dũng, Bắc Giang Đối tượng là học sinh
cấp II, cụ thể là học sinh lớp 6, 7 của trường
Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi khảo sát thực tế việc mắc lỗi chính tả về
phụ âm ñầu của học sinh THCS bằng cách: Đọc chính tả cho các em viết và phát
phiếu bài tập phù hợp với trình ñộ của cả hai khối lớp cho các em làm ñể khảo
sát các lỗi
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc ñi thực tế ñể hoàn thành bài báo cáo này chúng tôi sử dụng
Trang 3Phương pháp thống kê: Dựa vào bài chép chính tả và phiếu bài tập của
các em ñể thống kê tất cả các lỗi sai về phụ âm ñầu tr/ch, s/x, r/d/gi Từ kết quả
thống kê ñó chúng tôi phân tích và ñưa ra nhận xét
Phương pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng phương pháp này so sánh lỗi sai
giữa bài chép chính tả và bài làm trong phiếu bài tập sau ñó là so sánh tỉ lệ mắc
lỗi giữa hai khối 6 và 7 của trường, giữa học sinh hai trường tiểu học và THCS
Lãng Sơn
Trang 4I Chữ viết Tiếng Việt và ñặc ñiểm chữ viết tiếng Việt
Chữ viết là hệ thống các ký hiệu ñể ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản, là
sự miêu tả ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các ký hiệu hay các biểu tượng Nó
phân biệt với sự minh họa như các phác họa trong hang ñộng hay các tranh vẽ,
ñây là các dạng ghi lại ngôn ngữ theo các phương tiện truyền ñạt phi văn bản, ví
dụ như các băng từ tính trong các ñĩa âm thanh Chữ viết có quan hệ mật thiết
với ngôn ngữ nhưng không ñồng nhất với ngôn ngữ Người ta có thể không biết
chữ nhưng vẫn có ngôn ngữ ñể giao tiếp Nhiều dân tộc có ngôn ngữ riêng
nhưng vẫn chưa có chữ viết
Đối với lịch sử phát triển của xã hội loài người, chữ viết có một vai trò rất
to lớn Chữ viết là phương tiện ghi lại thông tin, không có chữ viết thì không thể
có sách, các phát minh, các thành tựu không thể truyền lại
Âm thanh hay lời nói là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ vẫn có những hạn
chế nhất ñịnh, có giới hạn, không thể truyền ñạt rộng rãi và chính xác, lưu giữ
lâu dài như chữ viết Âm thanh bị hạn chế về khoảng cách và thời gian theo kiểu
"tam sao thất bản" Chữ viết khắc phục ñược những ñiểm trên là phương tiện
hoàn hảo ñể truyền ñạt thông tin, lưu giữ thông tin, kích thích sự sáng tạo, là
thành quả kỳ diệu, vĩ ñại của loài người
Hiện nay, tiếng Việt dùng hệ chữ viết như ký tự Latin gọi là chữ Quốc
Ngữ Theo tài liệu của những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lúc trước, chữ Quốc
Ngữ phát triển từ thế kỷ thứ 17, do công của một nhà truyền giáo người Pháp tên
là Alexandre de Rhodes (1591–1660) Sau cuộc xâm lăng của người Pháp giữa
thế kỷ thứ 19, chữ Quốc Ngữ trở nên thịnh hành và hầu như tất cả các văn bản
viết ñều dùng nó Trước ñó, người Việt dùng hai loại chữ viết là chữ Nho (chữ
Hán ñọc theo cách Việt Nam – ngôn ngữ hành chính) và chữ Nôm (mô phỏng
chữ Nho ñể viết chữ thuần Việt – ngôn ngữ dân gian).Ngày nay, chữ Nho và chữ
Nôm không còn thông dụng ở Việt Nam; chữ Nôm ñã bị mai một nhiều
Trang 5Chữ viết tiếng Việt là chữ viết ghi âm, mỗi một tiếng hay một âm tiết, một
hình vị ñược ghi thành một chữ rời, ranh giới ñể nhận diện các chữ là khoảng
trống (space) giữa các tiếng (âm tiết, hình vị)
Chú ý phân biệt chữ, với cách hiểu là tập hợp chữ viết của một âm tiết
(hay một tiếng) như vừa nói ở trên, ví dụ: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài",
với chữ ñược hiểu là ñơn vị kí hiệu trong một hệ thống chữ (con chữ, chữ cái),
ví dụ chữ "a, b, c " và chữ ñược hiểu là hệ thống kí hiệu bằng ñường nét ñược
ñặt ra ñể ghi lại tiếng nói của con người, ví dụ: chữ quốc ngữ, chữ Nôm, chữ
A-rập, chữ Hán, chữ Latinh
Tiếng Việt có 41 âm vị: 23 âm vị phụ âm và 16 âm vị nguyên âm, 2 âm vị
bán nguyên âm Để ghi lại 41 âm vị này, tiếng Việt dùng 29 chữ cái (con chữ)
sau (xếp theo trật tự abc ):
a, ă, â, b, c, d, ñ, e, ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, ơ, p, q, r, s, t, u, ư, v, x, y
Ngoài ra, tiếng Việt du nhập thêm 4 chữ cái f, j, w, z ñể viết các từ ngữ
mượn của tiếng nước ngoài bằng phiên âm, và ñặc biệt là ñể viết các thuật ngữ
khoa học Ví dụ: Flôbe (Flaubert), flo-rua (fluorur), juñô (judo), xe jip (jeep),
jun (joule), watt, wolfram, Môza (Moza), zero, Zn, v.v
II Chính tả và chuẩn chính tả
1 Chính tả
Khái niệm chính tả là một khái niệm ñược rất nhiều sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu.Chính tả” hiểu theo nghĩa thông thường là “ Phép viết
ñúng” Chính tả là sự chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ Đó là một hệ
thống các quy tắc về các âm vị, âm tiết, từ, cách dung dấu câu, cách viết hoa
Như vậy có thể nói rằng: Chính tả bao gồm nhiều vấn ñề cụ thể, từ cách
viết các âm vị, âm tiết ñến cách viết các ñơn vị từ, cách dùng lối viết hoa các
dấu câu…
Chính tả là cách viết chữ ñược coi là chuẩn, nó có tính chất bắt buộc ñối
với toàn thể cộng ñồng ngôn ngữ Sự thống nhất chính tả biểu hiện tính thống
nhất của một ngôn ngữ Chuẩn chính tả, cũng như mọi chuẩn ngôn ngữ khác,
không phải là cái gì nhất thành, bất biến Có những chuẩn cũ ñã trở thành lỗi
Trang 6thời, nhường chỗ cho những chuẩn mới ra ñời hoặc thay thế nếu nó ñáp ứng nhu
cầu của ñời sống, phù hợp với sự phát triển của ngôn ngữ và ñược xã hội chấp
nhận Chính tả tiếng Việt cũng không nằm ngoài cái quy luật ñó
Do phát âm của tiếng Việt không thống nhất trong cả nước, phát âm của
các miền, các ñịa phương có những mâu thuẫn khác nhau với chính tả, tạo ra
những vấn ñề chính tả khác nhau như vấn ñề hỏi/ngã ñối với miền Nam và phần
lớn miền Trung, vấn ñề ch-/tr-, s-/x- ñối với miền Bắc, v.v
2 Chuẩn chính tả
Như chúng ta ñã biết,chính tả ñã ñược bàn bạc khá nhiều, song cho ñến
nay tình trạng không thống nhất về chính tả vẫn còn tồn tại trong nhà trường,
trên báo chí và toàn xã hội Vấn ñề ñặt ra là muốn thống nhất chính tả thì phải có
chuẩn chính tả và phải ñược quy ñịnh rõ ràng
Đặc ñiểm chính của chuẩn chính tả:
- Đặc ñiểm ñầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt
ñối của nó Đặc ñiểm này ñòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết ñúng chính
tả Chữ viết có thể chưa hợp lí nhưng khi ñã ñược thừa nhận là chuẩn chính tả
thì người cầm bút không ñược tự ý viết khác ñi Ai cũng biết rằng viết "ghế",
"ghen" không hợp lí và tiết kiệm bằng "gế", "gen" nhưng chỉ có cách viết thứ
nhất mới ñược coi là ñúng chính tả Vì vậy nói ñến chuẩn chính tả là nói ñến
tính chất pháp lệnh Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lí – không hợp lí,
hay – dở mà chỉ có sự phân biệt ñúng – sai, không lỗi – lỗi Đối với chính tả,
yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất, thống nhất trong mọi văn bản, mọi
người, mọi ñịa phương
- Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt ñối cho nên nó ít
bị thay ñổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (như chuẩn ngữ âm, chuẩn từ
vựng, chuẩn ngữ pháp) Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn ñịnh, tính
chất cố hữu khá rõ Sự tồn tại nhất nhất hàng thế kỉ của nó ñã tạo nên ấn tượng
về một cái gì "bất di bất dịch", một tâm lí rất bảo thủ Chính vì thế mặc dù biết
rằng cách viết "iên ngỉ" hợp lí hơn nhưng ñối với chúng ta nó rất "gai mắt", khó
chịu vì trái với cách viết từ bao ñời nay Mặt khác, do tính chất "trường tồn" này
Trang 7mà chính tả thường lạc hậu so với sự phát triển của ngữ âm Sự mâu thuẫn giữa
ngữ âm "hiện ñại" và chính tả "cổ hủ" là một trong những nguyên nhân chính
làm cho chính tả trở nên rắc rối
- Ngữ âm phát triển, chính tả không thể giữ mãi tính chất cố hữu của mình
mà dần dần cũng có một sự biến ñộng nhất ñịnh Do ñó, bên cạnh chuẩn mực
chính tả hiện có lại có thể xuất hiện một cách viết mới tồn tại song song với nó,
ví dụ: "phẩm zá", "anh zũng" bên cạnh "phẩm giá", "anh dũng", "trau dồi" bên
cạnh "trau giồi", "dòng nước" bên cạnh "giòng nước", v.v tình trạng có nhiều
cách viết như vậy ñòi hỏi phải tiến hành chuẩn hoá chính tả
Trang 8S/X, R/D/GI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
I Khái quát chung về ñịa bàn thực tập
1 Huyện Yên Dũng- Bắc Giang
a) Về ñịa lý, Yên Dũng có núi Nham Biền chạy theo hướng Đông-Tây
Phía Nam giáp tỉnh Bắc Ninh với ranh giới là sông Cầu, phía Đông giáp tỉnh Hải
Dương với ranh giới là sông Lục Đầu, phía Bắc giáp huyện Lục Nam và phía
Tây giáp thành phố Bắc Giang Chảy xuyên qua huyện Yên Dũng là con sông
Thương uốn lượn cung cấp phù sa cho các xã Tân Tiến, Xuân Phú, Tân Liễu
Tỉnh Bắc Giang nối tiếng với ba con sông lớn chạy xuyên qua tỉnh là sông Lục
Nam, sông Thương, và sông Cầu Cả ba con sông này ñều chảy qua huyện Yên
Dũng và hội tụ tại Kiếp Bạc, Hải Dương
Huyện Yên Dũng nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Giang Tổng diện
tích tự nhiên của huyện là 21.337,68 ha Toàn huyện có 23 xã và 02 thị trấn
Dân số ñến năm 2006 là 165.631 người Ngoài tiềm năng phát triển nông
nghiệp, thủy sản, với vị trí nằm liền kề với khu tam giác kinh tế phía Bắc và gần
các trung tâm ñô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long (Quảng Ninh), Thái
Nguyên, thành phố Bắc Giang, Bắc Ninh; trên tuyến hành lang kinh tế Nam
Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng, huyện Yên Dũng ñược xác ñịnh là một
trong 04 huyện, thành phố trọng ñiểm của tỉnh Bắc Giang trong qui hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội ñến năm 2020 Trên ñịa bàn huyện có 01 khu công
nghiệp của tỉnh là KCN Song Khê – Nội Hoàng và một số cụm công nghiệp
Trên ñịa bàn huyện còn có di tích văn hóa nổi tiếng là chùa Vĩnh Nghiêm (chùa
Đức La) ñược xây dựng từ cuối thế kỷ XIII
b, Về giáo dục
Tỉ lệ học sinh ñỗ ñại học cao ñẳng:
Năm 2007: 51 em học ñại học cao ñẳng chính quy
Năm 2000 trường tiểu học ñược công nhận chuẩn mức một
Trang 9Năm 2007 trường tiểu học được cơng nhận chuẩn mức hai
Các cấp ủy chính quyền luơn quan tâm sâu sắc đến giáo dục
c, Về văn hĩa- xã hội
Năm 2007 Yên Dũng đã làm tốt phong trào tồn dân đồn kết xây dựng
khu dân cư văn hĩa và được Bộ Văn Hĩa- Thơng Tin du lịch tặng cờ thi đua
Hiện nay Yên Dũng đã và đang đẩy mạnh thi đua xây dựng làng văn hĩa
xanh, sạch, đẹp
Ở Yên Dũng đã cĩ trên 50 làng đã cĩ số ngõ, số nhà Nổi bật là làng
Đơng Thượng( Đơng Loan xưa) trên 10 năm đạt làng văn hĩa cấp tỉnh
Là xã thuần nơng với 480 ha đất sản xuất nơng nghiệp
Đặc điểm khác biệt: Lãng Sơn là một trong ba xã thuộc vùng đồng chiêm
trũng, nằm ngồi đê, chịu ảnh hưởng của thời tiết nên chỉ làm được một vụ lúa,
cịn lại là ngập trong nước nhưng nhân dân luơn khắc phục khĩ khăn thi đua lao
động sản xuất, phát triển kinh tế Đời sống văn hĩa tinh thần được ổn định, bộ
mặt nơng thơn được đổi mới
Ngày nay cơng cuộc đổi mới của Đảng thực hiện chủ trương phát triển
kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, xĩa bỏ cơ chế quản lí quan liêu
bao cấp Sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương luơn đạt được những
bước tăng trưởng vượt bậc, khai thác được nhiều tiềm năng sẵn cĩ
* Về nơng nghiệp:
- Thu nhập từ nơng nghiệp chiếm 50%
- Hệ số sử dụng đất nơng nghiệp được nâng lên, đa dạng hĩa cây trồng,
đổi mới cây con giống mới cĩ năng suất cao, chất lượng tốt hơn, các trang trại ra
Trang 10Khôi phục và phát triển làng nghề mộc truyền thống với hơn 200 lao
ñộng Năm 2005 nhà nước ñầu tư 5,1 tỉ ñồng ñể phát triển làng nghề
b, Cơ sở hạ tầng: không ngừng ñược mở rộng, củng cố, ñổi mới
- 9 thôn ñã ñược xây dựng làng văn hóa
8 trong 9 thôn ñã xây dựng ñường bê tông
6 km ñường chính ñược nhựa hóa, bê tông hóa
- Toàn dân sử dụng ñiện, nước hợp vệ sinh
- Trường, lớp học, trạm y tế kiên cố
- Các thiết chế văn hóa, phục vụ ñời sống văn hóa- tinh thần của nhân dân
ñược xây dựng mới
Tỉ lệ hộ nghèo hàng năm giảm từ 5 ñến 10%, tỉ lệ hộ khá giả tăng nhanh
An ninh trật tự trong xã ổn ñịnh Đời sống kinh tế- văn hóa, tinh thần của
nhân dân ñược nâng cao ñáng kể: 8/9 làng là làng văn hóa cấp huyện, 2/9 làng là
làng văn hóa cấp tỉnh
3 Trường THCS Lãng Sơn
a, Thành tựu và phát triển: Trường có 17 lớp với 680 học sinh, hàng năm
trường tuyển vào lớp ñạt tỷ lệ từ 99 ñến 100% ñáp ứng ñủ nhu cầu học tập của
con em ñịa phương Đến t háng 12 năm 2002 trường ñã ñạt các tiêu chuẩn về
phổ cập THCS
* Về cơ sở vật chất:
Trường có 14 phòng học trong ñó có 8 phòng cao tầng và 6 phòng cấp 4
• Các công trình khác gồm 1 văn phòng, 1 thư viện và 1 phòng ñồ
dùng
• Diện tích trường là 4000m2
Trang 11* Thành tích nổi bật: 3 năm gần đây (từ 1999 đến 2002) được cơng nhận
là trường tiên tiến
* Các hoạt động phong trào: Hoạt động đồn đội nề nếp, phong trào văn
nghệ - thể dục thể thao thường xuyên sơi nổi
II Kết quả khảo sát, phân tích và nhận xét
Được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên và sự ủng hộ của học sinh chúng
tơi đã thống kê được các lỗi sai chính tả về phụ âm đầu của học sinh qua bài viết
chính tả và phiếu điều tra bài tập Qua thống kê chúng tơi nhận thấy học sinh
cịn viết sai lỗi chính tả khá nhiều Học cùng một thầy cơ giáo nhưng cĩ em viết
sai ít, cĩ em lai viết sai quá nhiều Tuy nhiên do thời gian cĩ hạn nên chúng tơi
chỉ dừng lại ở việc phân tích thống kê lỗi chính tả của học sinh sai về phụ âm
đầu, cụ thể là phụ âm đầu tr/ch, s/x, r/d/gi Sau khi tổng hợp lại tất cả các số liệu
chúng tơi thu được kết quả như sau:
1 Khảo sát lỗi sai trong bài viết chính tả ở lớp
Qua khảo sát chúng tơi thấy thực trạng mắc lỗi chính tả của học sinh
THCS rất đáng quan tâm Chúng tơi chỉ khảo sát lỗi chính tả ở phụ âm đầu
Chúng tơi chọn đối tượng nghiên cứu của mình là lớp 6, 7 với tổng số lớp là 6,
ba lớp khối 6 và ba lớp khối 7( mỗi lớp từ 25 đến 45 học sinh) Số lượng học
sinh khối 6 ít hơn khối 7 Cách thức làm việc của chúng tơi là khảo sát lỗi sai
thơng qua bài chép chính tả của các em Bài chính tả này do chúng tơi tự chọn
bất kì trong chương trình học của các em, cụ thể là một đoạn trong bài “ Sơng
nước Cà Mau”, sách ngữ văn 6, NXB Giáo dục Như vậy tức là đối với các em
lớp 6 bài viết này là khá mới mẻ, chưa được học đến trong khi đĩ các em lớp 7
đã được học trước đĩ 1 năm cĩ như vậy chúng tơi mới cĩ thể tiến hành khảo sát
một phần nào đĩ đảm bảo tính khách quan
Kết quả cho thấy rằng cả hai khối đều mắc nhiều lỗi sai nhưng khối lớp 7
cĩ lỗi sai chính tả ở phụ âm đầu tr/ch, s/x, r/d/gi nhiều hơn so với lớp 6 Theo
chúng tơi lí do cĩ thể là các em khối 6 chưa được học, khối 7 thì đã được biết
Trang 12ñến bài viết ñó Khi học lên lớp cao hơn, các em không còn chịu ảnh hưởng của
môn chính tả ngày học bậc tiểu học Không chỉ thế do học lên lớp cao các em
bắt ñầu phải học theo cách học tự giác ghi bài nên không tập trung vào việc viết
ñúng chính tả mà chỉ chú ý làm sao ghi chép ñược nhiều bài và có hiệu quả
Điều này cho ta thấy một hiện trạng rất ñáng lo ngại Qua khảo sát chúng
tôi thấy không có sự giảm bớt lỗi sai nào ở trên các lớp cao hơn Khối 7 ñáng lẽ
phải ít sai hơn thế nhưng rõ ràng là ở lớp trên tỉ lệ mắc lỗi chính tả không những
không giảm mà lại còn tăng lên Đây chính là vấn ñề mà ngành giáo dục chúng
ta cần phải xem xét lai, cả việc dạy của giáo viên và học của học sinh
Một số ví dụ về lỗi sai chính tả theo phụ âm ñầu tr/ch, s/x, r/d/gi
Viết ñúng Viết sai kênh rạch kênh dạch, kênh giạch bủa giăng bủa răng, bủa dăng màu xanh màu sanh
ñen trũi ñen chũi chung quanh trung quanh v v
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy học sinh THCS mắc khá
nhiều lỗi sai ngoài lỗi sai theo phụ âm ñầu tr/ch, s/x, r/d/gi nh ưng như ñã nói
khá nhiều ở trên, do thời gian không nhiều nên chúng tôi không thể nghiên cứu
một cách toàn diện tất cả các lỗi chính tả theo phụ âm ñầu, âm chính, âm cuối và
thanh ñiệu Tuy nhiên theo nhan xét ban ñầu củ chúng tôi thì các lỗi về phụ âm
ñầu chiếm số lượng nhiều nhất sau ñó mới ñến các lỗi khác Bởi vậy sau khi
thống kê và tập hợp lại chúng tôi ñưa ra bảng tính so sánh lỗi về phụ âm ñầu
tr/ch, s/x, r/d/gi của các lớp và các khối
Trang 13Lớp 7C (37 HS)
Lớp 6A (28 HS)
Lớp 6B (25 HS)
Lớp 6C (29 HS)
Số lỗi
Tỉ
lệ %
Số lỗi
Tỉ lệ
%
Số lỗi
Tỉ lệ
%
Số lỗi
Tỉ lệ
%
Số lỗi
Tỉ lệ
%
Số lỗi
Ta có thể thấy rằng số học sinh của các lớp có sự chênh lệch khá lớn, ñặc
biệt là giữa lớp 6 và 7 Cả hai khối ñều có số lượng nhiều các lỗi chính tả nhưng
cụ thể thì tỉ lệ mắc lỗi của khối các lớp 7 lớn hơn nhiều so với lớp 6 Chẳng hạn
như cùng các lỗi sai về phụ âm ñầu là r/d/gi nhưng số lỗi sai của khối 7 có tới
200 trong khi ñó của khối 6 là 149
Trong bài viết chính tả có những chữ các em có thể viết thành nhiều kiểu
khác nhau Lí do có thể vì người viết cẩu thả, không nghe rõ hoặc cũng có thể
là do không biết quy tắc viết chính tả Trong khi khảo sát chúng tôi nhận thấy
có rất nhiều vấn ñề chung quang vấn ñề chính tả mà các em cùng gặp phải
nhưng ñơn vị khảo sát ở ñây chỉ là sai về phụ âm ñầu và ñây cũng là kiểu sai
thường gặp nhất trong bài tập này
Bảng 2 So sánh số lượng lỗi sai của học sinh hai khối
Lỗi sai phụ
âm ñầu
Tổng số lỗi
Khối 7 Khối 6
Số lỗi Tỉ lệ % Số lỗi Tỉ lệ % Tr/ch 158 92 58.2 66 41.8
r/d/gi 349 200 57.3 149 43.7
Trang 14Trong bài chính tả chúng tôi ñã cố gắng lựa chon ñoạn văn xuất hiện
nhiều từ có phụ âm ñầu là tr/ch, r/d/gi, s/x ñể ñảm bảo tính khách quan.Trong
bài tập này, từ “ bủa giăng” và từ “ñen trũi” là 2 từ ñặc biệt cần phải nói tới.Một
số lượng lớn các em học sinh ñều sai 2 từ này.chẳng hạn như từ “bủa giăng” ở
lớp 7A chỉ có 3/40 em viết ñúng, 37 học sinh còn lại ñều viết từ này thành bủa
răng hay bủa dăng Tuy nhiên bên cạnh những từ như vậy vẫn có một số từ các
em viết ñúng hoàn toan Số các từ còn lại ñều có nhiều em sai Trong bài chính
tả này chỉ có khoảng 7/202 em viết ñúng hết các phụ âm ñầu tr/ch, r/d/gi, s/x
trong cả bài Hầu hết tất cả các em nếu ñúng ñược từ này thì lại sai từ khác
Như vậy có nghĩa là, có tới 96.5% các em học sinh viết sai ít nhất là một lỗi.Bên
cạnh ñó có những chữ như: xanh, xuống, dãy, …các em vẫn viết thành sanh,
suống, dãy,…Trong bài ñọc chính tả này chúng tôi nhận thấy có hiện tượng một
chữ các em viết nhiều lỗi khác nhau Ví dụ:
Rì rào dì rào,dì dào, gì dào, gì rào
Bủa giăng bủa răng, bủa dăng…
Và ñể có thể nhìn một cách toàn diện hơn chúng tôi xin ñưa ra bảng danh
sách các lỗi sai và tỉ lệ phần trăm sai của các lớp cũng như khối