---***--- HOÀNG ĐĂNG BÌNH ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI, THỜI GIAN CHIẾU SÁNG ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG Trachinotus blochii Lacepède, 1801 ƯƠNG TỪ CÁ HƯƠN
Trang 1-*** -
HOÀNG ĐĂNG BÌNH
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI, THỜI GIAN CHIẾU SÁNG ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG
(Trachinotus blochii Lacepède, 1801) ƯƠNG TỪ CÁ
HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG TRONG HỆ THỐNG BỂ
LỌC SINH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN - 2015
Trang 2-*** -
HOÀNG ĐĂNG BÌNH
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI, THỜI GIAN CHIẾU SÁNG ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG
CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii Lacepède,
1801) ƯƠNG TỪ CÁ HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG TRONG HỆ
THỐNG BỂ LỌC SINH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của mật độ nuôi, thời gian chiếu sáng đến tỉ
lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii
Lacebede,1801) ương từ cá hương lên cá giống trong hệ thống lọc sinh học” tại Nghệ An, chuyên ngành Nuôi trồng thuỷ sản là của riêng tôi, luận văn đã sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn được trích rõ nguồn gốc Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã có được trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ bất cứ học vị nào, mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này điều trích rõ nguồn gốc
Tác giả
Hoàng Đăng Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân Từ đáy lòng mình, tôi xin trân trọng cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó:
Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Lãnh đạo Trường Đại Hoc Vinh, Phòng sau Đại hoc, Khoa nông nghiệp và đào tạo của Trường đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học này
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới TS Lê Văn Khôi, người hướng dẫn khoa học,
đã định hướng trong nghiên cứu, từ việc lập đề cương đến triển khai các thí nghiệm và hoàn thiện bản luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ, nhân viên của Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, vật liệu và giúp đỡ tôi trong việc triển khai thí nghiệm theo yêu cầu đề ra
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai thí nghiệm nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
ANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của cá chim vây vàng 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái ngoài 3
1.1.3 Sự phân bố 4
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng 6
1.1.5 Đặc điểm sinh sản 7
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8
1.2.1 Nghiên cứu sản xuất giống 8
1.2.2 Nghiên cứu nuôi thương phẩm 9
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.3.1 Nghiên cứu sản xuất giống 12
1.3.2 Nghiên cứu nuôi thương phẩm 14
1.4 Nghiên cứu về thức ăn và dinh dưỡng của cá chim vây vàng 15
1.5 Ảnh hưởng của mật độ và chế độ chiếu sáng lên sinh trưởng và tỷ lệ sống 16
1.5.1 Ảnh hưởng của mật độ 16
1.5.2 Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng 17
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nội dung nghiên cứu 19
2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp thực nghiệm 20
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 20
Trang 62.4.2 Theo dõi một số chỉ tiêu về môi trường trong các lô thí nghiệm 22
2.4.3 Tăng trưởng và tỷ lệ sống 23
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.1.2 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ sống và sinh trưởng cá chim vây vàng 25
3.1.1 Kết quả theo dõi biến động môi trường 25
3.1.2 Tỷ lệ sống của cá chim ở các mật độ nuôi khác nhau 26
3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng về khối lượng cá chim vây vàng 28
3.1.4 Tăng trưởng về chiều dài của cá chim ở các mật độ ương khác nhau 31
3.1.5 Mức độ phân đàn của cá ở các mật độ 34
3.2 Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá chim vây vàng 35
3.2.1 Một số chỉ tiêu môi trường thí nghiệm 35
3.2.2 Tăng trưởng về chiều dài cá chim vây vàng ương ở các chế độ chiếu sáng 36
3.2.3Tăng trưởng về khối lượng cá ở các chế độ chiếu sáng khác nhau 38
3.2.3 Tỷ lệ sống của cá chim ở các chế độ chiếu sáng khác nhau 41
3.2.4 Mức độ phân đàn 42
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 43
Kết luận 43
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Diễn giải
ANOVA So sánh phương sai
CV28 Mức độ phân đàn của cá thí nghiệm ở ngày thứ 28 Mean Giá trị trung bình
Min Giá trị cực tiểu
Max Giá trị cực đại
SGR (%/ngày) Tốc độ sinh trưởng tương đối theo ngày
SR (%) Tỷ lệ sống của cá
TL0 (cm) Chiều dài tổng số của cá ở ngày đầu thí nghiệm
TL28 (cm) Chiều dài tổng số của cá ở ngày thí nghiệm thứ 28
Wt0 (g) Khối lượng của cá ở ngày đầu thí nghiệm
Wt28 (g) Khối lượng của cá ở ngày thí nghiệm thứ 28
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm mật độ 26
Bảng 3.2 Tỷ lệ sống của cá chim ở các mật độ ương 27
Bảng 3.3 Tăng trưởng tích lũy về khối lượng cá chim vây vàng ở các mật độ 29
Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng 29
Bảng 3.5 Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng cá ở các mật độ ương khác nhau 30
Bảng 3.6 Tăng trưởng tích lũy về chiều dài của cá chim vây vàng ở các mật độ 32
Bảng 3.7 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài cá ở các mật độ khác nhau 33
Bảng 3.8 Tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài cá ở các mật độ ương 34
Bảng 3.9 Hệ số phân đàn của cá chim vây vàng trong quá trình thí nghiệm 35
Bảng 3.10 Biến động các yếu tố môi trường thí nghiệm 35
Bảng 3.11 Tăng trưởng chiều dài cá chim theo thời gian nuôi 37
Bảng 3.12 Tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài của cá về các mức chiếu sáng khác nhau 37
Bảng 3.14 Tăng trưởng khối lượng cá chim ở các chế độ chiếu sáng khác nhau 39
Bảng 3.15 tăng trưởng tuyệt đối khối lượng (mg) 40
Bảng 3.16 Tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá chim ở các chế độ chiếu sáng khác nhau 40
Bảng 3.17 Tỷ lệ sống của cá chim ở các chế độ chiếu sáng 41
Bảng 3.18 Hệ số phân đàn (%) 42
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Bể lọc sinh học 20
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 20
Hình 2.3 Thí nghiệm mật độ 21
Hình 2.4 Thí nghiệm chế độ chiếu sáng vào bể nuôi 22
Hình 2.5 Thu hoạch cá thí nghiệm 22
Hình 2.6 Cân và đo cá thí nghiệm 23
Hình 3.1 Kiểm tra NH3 25
Hình 3.2 Tỷ lệ sống (%) của mật độ cá chim vây vàng 27
Hình 3.3 Tăng trưởng khối lượng của cá (g) 28
Hình 3.4 Tăng trưởng về chiều dài cá chim vây vàng 31
Hình 3.5 Tăng trưởng về chiều dài cá chim 36
Hình 3.6 Tăng trưởng về trọng lượng cá chim vây vàng 39
Hình 3.7.Tỷ lệ sống (%) của cá chim ở các thời gian chiếu sáng khác nhau 41
Trang 10MỞ ĐẦU
Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepède, 1801) phân bố tự nhiên
tại 69 quốc gia trên thế giới thuộc vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó
có Việt Nam Đây là loài cá có giá trị kinh tế cao vì tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt thơm ngon và ít xương [28]
Theo Chang (1993), cá chim vây vàng được xem là đối tượng cá biển có tiềm năng lớn trong phát triển nuôi thương phẩm tại một số nước như Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia [13]
Năm 1989, Trung Quốc lần đầu tiên sinh sản thành công cá chim vây vàng
ở quy mô nhỏ và đến năm 1993 đã thành công trong việc sinh sản ở quy mô lớn
và đại trà Sự thành công trong sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng ở quy mô lớn
đã góp phần chủ động nguồn con giống, đáp ứng nhu cầu phát triển nghề nuôi thương phẩm tại Trung Quốc và là động lực cho các nước khác trong khu vực phát triển đối tượng nuôi mới này [13]
Ở Việt Nam, cá chim vây vàng lần đầu tiên được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I thử nghiệm nuôi thương phẩm trong lồng bằng nguồn giống nhập từ Đài Loan, tại vùng biển Cát Bà năm 2003 Năm 2004, thông qua Dự án Nâng cao năng lực Nghiên cứu, Khuyến ngư, Đào tạo cho Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I, do Chính phủ Na Uy tài trợ, cá chim vây vàng tiếp tục được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I di nhập về nuôi trong lồng tại vùng biển Cửa Lò, Nghệ An Cá chim vây vàng lần đầu tiên được sinh sản nhân tạo tại Việt Nam vào năm 2006 theo công nghệ nhập từ Trung Quốc Công nghệ sản xuất giống này sử dụng thức ăn tươi sống nuôi trong ao làm thức ăn cho cá bột và cá ương giống theo hai giai đoạn là ương trong bể đến cỡ 1 – 2 cm rồi chuyển ra ao
Do vậy khó kiểm soát dịch bệnh hoặc môi trường nuôi nên tỷ lệ sống của cá ương từ cá hương lên cá giống không ổn định, đồng thời rất khó áp dụng vào các trại sản xuất giống hải sản khi không có hệ thống ao nuôi thức ăn tươi sống và ương con giống Tỷ lệ sống ương cá còn thấp, cá hương 31,0 – 35,0% và cá giống là 50,0 – 62,5% [2] Trong khi đó, trường Đại học Nha Trang sử dụng công nghệ ương nước xanh cho tỷ lệ sống cá hương lên cá giống 93,86%, song tỷ
Trang 11lệ dị hình ở cá giống còn khá cao (từ 2,88 – 9,09%, trung bình 5,79%) [4] Hiện nay, chưa có nghiên cứu ương cá chim vây vàng từ cá hương lên các giống trong
hệ thống lọc bể sinh học tuần hoàn
Mật độ ương và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng Chu Chí Thiết (2013) khi ương cá chim vây vàng ở các mật độ 1,0; 1,5 và 2,0 con/l trong 9 bể hình trụ thể tích 200 lít, trong thời gian 28 ngày cho thấy cá ương mật độ 1,0 và 1,5 con/m2 có tốc độ sinh trưởng cao hơn ở mật độ 2,0 con/lít Mật độ ương từ 1,0 đến 2,0 con/l không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá [7] Hơn nữa, cá chim vây vàng là loài vận động và bắt mồi liên tục, do đó thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng đến thời gian bắt mồi và sinh trưởng của cá chim[21] Trên cơ sở các nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng mật độ, thời gian chiếu sáng đến tỷ lệ sống
và tốc độ tăng trưởng của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepide, 1801)
ương từ giai đoạn cá hương lên cá giống trong hệ thống bể lọc sinh học”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được mật độ nuôi, chế độ chiếu sáng phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá chim vây vàng giai đoạn từ cá hương lên cá giống trong hệ thống bể lọc sinh học
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của cá chim vây vàng
1.1.1 Vị trí phân loại
Cá chim vây vàng được phân loại như sau:
Ngành: Vertebrata
Lớp: Osteichthys Bộ: Perciformes
Họ: Carangidea Giống: Trachinotus
Loài: Trachinotus blochii (Lacepède, 1801)
Tên tiếng Việt: cá chim vây vàng, cá sòng mũi hếch Tên tiếng Anh: Snubnose pompano
Hình 1.1 Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepède, 1801)
1.1.2 Đặc điểm hình thái ngoài
Cá chim vây vàng có thân hình trứng, hơi dẹp, chính giữa lưng hình cung;
cơ thể có màu sắc sáng bạc, nhưng thông thường được phủ lớp vàng cam, đặc biệt đối với những cá thể kích thước lớn hơn; vây hậu môn màu cam tối và mép thuỳ đuôi có màu hơi nâu; đầu tròn ở phía trước, miệng nhỏ xiên, xương hàm trên lồi ra, hàm trên và hàm dưới có răng nhỏ hình lông, răng phía sau dần thoái hoá; lưỡi không có răng, rìa phía trước xương nắp mang hình cung tương đối to,
Trang 13rìa sau cong Đường kính mắt dài hơn môi 1,2 - 1,6 lần Mắt vị trí về phía trước nhỏ, màng mỡ mắt không phát triển, lỗ mũi môi bên 2 cái gần nhau, lỗ mũi trước nhỏ hình tròn, lỗ mũi sau to hình bầu dục
Cá giống giữa các gai có màng liền nhau, cá trưởng thành màng thoái hoá thành những gai tách rời nhau, vây lưng thứ 2 có 1 gai và 19 - 20 tia vây, phần trước của vây kéo dài hình như lưỡi liềm Tia vây dài nhất gấp chiều dài của đầu 1,2 - 1,3 lần, vây hậu môn có 1 gai và 17 - 18 tia vây, phía trước có 2 gai ngắn, vây hậu môn và vây lưng thứ 2 hình dạng như nhau, trong đó tia vây dài nhất gấp 1,1 - 1,2 chiều dài của đầu Vây ngực tương đối ngắn, ngắn hơn chiều dài của đầu, vây đuôi hình trăng lưỡi liềm [28]
1.1.3 Sự phân bố
- Phân bố theo vùng địa lý
Cá chim vây vàng là loài cá nước ấm sống ở tầng giữa và tầng trên là loài
cá hồi lưu Chúng phân bố ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, thuộc vùng biển Ấn độ - Tây Thái Bình Dương, từ bờ biển đỏ, đông Nam châu Phi đến đảo Marshall và Samoa, miền Bắc tới miền Nam Nhật Bản, phía Nam Australia và rất phổ biến ở biển Đài Loan [28] (Hình 1.2) Giai đoạn nhỏ, chúng sống tập trung thành nhóm ở các dải cát ven bờ hoặc các vịnh đáy bùn gần cửa sông Khi trưởng thành, cá chim vây vàng thường sống đơn độc và di chuyển tới các rạn đá hoặc san hô [27]
- Phân bố theo nhiệt độ và độ mặn
Cá chim vây vàng thuộc loài cá rộng muối, chúng có thể sống ở mức độ mặn từ 2 ‰ đến 45 ‰ Ở dưới mức độ mặn 20 ‰, cá sinh trưởng nhanh; trong điều kiện độ mặn cao, tốc độ sinh trưởng của cá chậm hơn [11] Ở giai đoạn trưởng thành, cá chim thường bắt gặp ở vùng nước có độ mặn trong khoảng 30
‰ đến 37 ‰ Nhưng ở giai đoạn nhỏ, chúng xuất hiện ở những vùng có khoảng dao động độ mặn rộng hơn, từ 9 ‰ đến 50 ‰
Trang 14Hình 1.2 Bản đồ phân bố của cá chim vây vàng (những điểm màu vàng)
( www.google.com )
Một vài nghiên cứu đã được tiến hành liên quan đến ngưỡng chịu độ mặn của cá chim Florida giai đoạn giống Nồng độ mặn gây chết 50% cá chim được đánh bắt ở độ mặn 23 ‰ sau 72 giờ là 3,5 ‰ Nồng độ mặn gây chết 50% cá chim đánh bắt ở cùng điều kiện trên được thuần hoá trong 12 ngày ở 5 ‰ là 1 ‰ [11] Allen và ctv (1970) cũng chỉ ra rằng cá chim giai đoạn giống có khả năng sinh trưởng ở độ mặn 5 ‰ [11, 23] Ở nhiệt độ từ 22 – 27oC và độ mặn ban đầu trong khoảng 32-33 ‰, cá chim giống có khả năng chịu đựng được độ mặn dưới
2 ‰ và cao đến 45 ‰ [23]
Theo Moe (1968), cá chim Florida có khả năng thích nghi với nước ngọt bằng cách thuần hóa độ mặn từ từ, sự thay đổi độ mặn đột ngột sẽ gây cá chết hàng loạt Những biến động độ mặn mà diễn ra trong môi trường nhân tạo, trừ khi quá nhanh, sẽ không gây hại cá chim Weirich (2006) đã tiến hành nuôi cá chim Florida trong hệ thống tuần hoàn ở độ mặn 5‰ trong thời gian 110 ngày, nhiệt độ dao động từ 27,0 đến 28,5 o
C [34] Kết quả cho thấy, khối lượng cá chim tăng lên 312,7 g (2,8 g/ngày), từ 259±3,0 g lên 570,0 g
Theo Watanabe (1994) cá chim là loài phân bố ở vùng nước ấm, thông thường chúng được bắt gặp ở vùng nước có nhiệt độ dao động từ 25 đến 32 oC,
Trang 15một số ít loài cá chim tìm thấy ở vùng nước có nhiệt độ dưới 17 oC [33] Theo Cheng (1990), ở mức nhiệt độ từ 16 đến 36 oC cá vẫn phát triển bình thường, nhưng sinh trưởng tốt nhất trong khoảng 22 oC đến 28 oC [14] Trong khoảng nhiệt độ từ 15-28 oC, hệ số bắt mồi của cá chim và đạt cực đại ở 27,2-28,2 o
C (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Quan hệ giữa hệ số bắt mồi của cá chim vây vàng và sự thay đổi nhiệt
sự giảm nhiệt độ từ 29oC xuống 9oC ở độ mặn 33 ‰ [23] Ở cùng độ mặn 33 ‰
và nhiệt độ ban đầu 29 oC, cá chim có khả năng chịu được sự gia tăng nhiệt độ từ 36,5 đến 39,5 oC Ở khoảng độ mặn từ 15 đến 20 ‰, cá chim giống có thể chịu đựng được sự giảm nhiệt độ từ 26,8 – 28 oC đến 19 – 21 oC Như vậy, nhiệt độ và
độ mặn có ảnh hưởng đồng thời lên khả năng chịu đựng sự biến động của độ mặn của cá chim Florida
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
Cá chim vây vàng là loài cá ăn thịt, đầu tù, miệng ở phía trước bành ra 2 bên Cá hương có răng nhỏ, cá trưởng thành răng thoái hóa Cuống mang ngắn và thưa đặc điểm này khiến cá có thể dùng đầu tìm kiếm thức ăn ở trong cát, cá trưởng thành có thể bắt mồi sinh vật vỏ cứng như ngao, cua, vỏ ốc Thức ăn của
cá khác nhau ở từng giai đoạn phát triển và loại thức ăn sẵn có ở nơi mà chúng phân bố Ở giai đoạn cá bột và cá hương, cá chim vây vàng phân bố ở vùng nước cạn ven bờ, nên thức ăn tự nhiên là các loài động vật phù du và động vật đáy, bao
Trang 16gồm giun nhiều tơ, nhuyễn thể nhỏ, ấu trùng giáp xác đến giai đoạn trưởng thành, cá di chuyển dần ra vùng nước sâu, xa bờ, sinh sống ở các vùng rạn đá, san hô, thức ăn của chúng chủ yếu là các loài động vật đáy như nhuyễn thể, giun
và loài động vật không xương sống khác [12] Các loại nhuyễn thể, giáp xác và
cá nhỏ là thức ăn được lựa chọn đối với cá chim trưởng thành [6]
Cá chim vây vàng có kích thước tương đối lớn, nhìn chung chiều dài có thể đạt 45 – 60 cm Cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi bình thường một năm có thể đạt quy cách cá thương phẩm cỡ 0,5 – 0,7 kg Từ năm thứ hai trở đi mỗi năm trọng lượng tuyệt đối tăng là 1 kg, Trương Bang Kiệt (2001) thực nghiệm nuôi ở ao với cá 0+ tuổi thời kỳ đầu sinh trưởng chậm cá dài 2,6 cm trọng lượng 0,52 g qua 192 ngày nuôi cá dài 9,9 cm, trọng lượng 20,53 g bình quân ngày trọng lượng tăng 0,6 g, hệ số tăng trưởng ngày 1,04% [6]
1.1.5 Đặc điểm sinh sản
Giống với các loài cá phân bố ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới khác,
cá chim vây vàng sinh sản bắt đầu mùa vụ sinh sản vào đầu mùa hè và duy trì tới cuối mùa thu Trong tự nhiên, cá bắt đầu tham gia sinh sản lần đầu tiên từ 3 đến 4 năm tuổi và chỉ sinh sản 1 lần trong năm Cá chim vây vàng sinh sản ở độ mặn cao (33-35 ‰), sức sinh sản tuyệt đối từ 40 đến 60 vạn trứng/cá thể Trứng sau khi phóng thích ra môi trường ngoài, được thụ tinh và nổi theo dòng nước và nở thành ấu trùng [2] Cá chim vây vàng đẻ không theo tuần trăng Trong điều kiện nuôi nhốt, cá không sinh sản tự nhiên mà phải sử dụng hormon sinh dục để kích thích sinh sản [22]
Theo Ngô Vĩnh Hạnh (2008) cá chim vây vàng được nuôi vỗ trong điều kiện: ôxy hoà tan dao động từ 5-7 mg/l, pH từ 7,6 – 8,4, độ mặn từ 27 – 30 ‰, nhiệt độ nước 27-33 oC [2] Thức ăn là tôm, mực, cá tạp và bổ sung vitamine E với lượng 100 – 150 mg/kg thức ăn, cho ăn 2 lần/ngày, với khẩu phần ăn từ 8 đến 10% khối lượng quần thể cá Kết quả cho thấy cá thành thục đạt tỷ lệ trung bình 84,7% Cá chim vây vàng có thể nuôi tái phát dục được trong điều kiện nhân tạo, nếu chúng được chăm sóc và quản lý tốt điều này khác với kết luận của Lê Tổ Phúc (2005) khi cho rằng cá chim vây vàng chỉ sinh sản 1 lần trong năm [6]
Trang 171.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cá chim vây vàng là một trong những đối tượng nuôi quan trọng ở các nước như Singapore, đài Loan, Trung Quốc, Malaysia [31] Thời gian gần đây, chúng là đối tượng được lựa chọn nuôi thương phẩm tại Indonesia [22] Thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, Đài Loan, với giá bán cá phi lê dao động từ 25 – 35 USD/kg [31]
1.2.1 Nghiên cứu sản xuất giống
Năm 1986, Lâm Liệt Đường đã thu gom 126 con cá chim vây vàng loại nhỏ, loại vừa và lớn nuôi chung với nhau Năm 1989 bắt đầu thực nghiệm cho sinh sản nhân tạo tại Đài Loan, qua 5 lần tiêm kích dục tố trong đó 4 lần cho đẻ trứng thụ tinh thành công, thu được trên 900 vạn trứng số trứng thụ tinh trên 500 vạn trứng, qua nhiều hình thức thực nghiệm ương nuôi cuối cùng thu được 38,6 vạn giống kích cỡ 2 – 3 cm Đây là lần đầu tiên sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng thành công, năm 1991 tăng thêm đàn cá bố mẹ cho tiến hành sinh sản nhân tạo [6]
Tại Trung Quốc năm 1989, kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng đã được nghiên cứu hoàn thiện bởi một trại sản xuất giống tư nhân Qua đó,
cá chim giống được sinh sản nhân tạo đại trà trong ao trong thời gian từ mùa xuân đến mùa hè Con giống sản xuất trong mùa thu được ương nuôi trong trại sản xuất qua mùa đông cho vụ nuôi năm sau Thức ăn ban đầu cho ấu trùng là luân trùng (rôtifer), copepoda và thức ăn tổng hợp [13, 14] Năm 1993, nước này
đã có 20 trại sản xuất giống cá chim vây vàng, sản xuất được 38 triệu con giống, giá bán tại thời điểm đó dao động từ 0,04-0,09 USD/con [13]
Ở Indonesia, trước đây cá chim vây vàng được nhập giống từ Đài Loan về nuôi Từ nguồn cá nuôi thương phẩm này, Trung tâm phát triển nuôi biển Battam
đã tuyển chọn được đàn cá bố mẹ và nuôi vỗ với tỷ lệ đực/cái là: 1/1 trong lồng bằng thức ăn là cá tạp kết hợp với mực, thức ăn công nghiệp có bổ sung vitamin E,C,B…cho ăn từ 3-5% trọng lượng thân, hiện đã cho sinh sản nhân tạo thành công bằng cách tiêm kích dục tố HCG 250 IU/kg kết hợp với Fibrogen 50 IU/kg,
tỷ lệ nở của trứng từ 60 – 70% Cá bột được đưa vào ương trong các bể xi măng
Trang 18có thể tích 10m3 với mật độ 10 -15 ấu trùng/lít, thức ăn sử dụng là tảo đơn bào
(Nanochloropsis sp), luân trùng, ấu trùng Artemia và thức ăn tổng hợp Sau 35
ngày ương cá đạt cỡ 3,0 – 3,5 cm, tỉ lệ sống từ 20 – 25%, và vấn đề khó khăn hiện nay là mật độ ương thấp và tỉ lệ dị hình ở cá giống vẫn cao (5%) [22]
Theo Groat (2002), cá chim giai đoạn giống cho ăn đến no sinh trưởng tốt hơn cho ăn với tỷ lệ 5% khối lượng cơ thể/ngày Cá cho ăn đến no ước tỷ lệ thức
ăn khoảng 8 – 9% khối lượng cơ thể cá/ngày Cá chim cho ăn tới no thường tốt hơn về sinh trưởng với sự gia tăng về số lần cho ăn trong ngày [19] Tuy nhiên,
để có một tần suất cho cá chim ăn phù hợp cho cá sinh trưởng, lại không được tác giả xác định được Như vậy, cho cá ăn với lượng cố định 5% khối lượng cơ thể/ngày với tần suất 2 lần/ngày được xác định là phù hợp đối với sản xuất giống
cá chim
Cá chim vây vàng bắt đầu sinh sản khi kích thước cơ thể đạt tối thiểu 2,5
kg đối với con đực và 1,5 kg đối với con cái Sức sinh sản của chúng dao động khoảng 500.000-700.000 trứng/cá thể Trứng thụ tinh được ấp ở mật độ 10 – 20
tế bào/l [20] Ấu trùng sau đó được ương trong bể 12 m3 Thức ăn cho cá bột, cá
hương thường được sử dụng trong ương nuôi là luân trùng (Brachionus sp.), ấu trùng artemia (Artemia salina) và thức ăn chế biến Mật độ luân trùng được duy
trì 10 con/l, kéo dài đến ngày thứ 30 Bổ sung artemia vào ngày 15, cho ăn thức
ăn chế biến từ ngày 20 Trong quá trình ương, nước được thay từ 10 đến 30% sau ngày 12 đến ngày 30 Sau 30 ngày tiến hành thay 100% nước Cá hương ở ngày thứ 30 nên được lọc phân cỡ đồng đều, để chúng sinh trưởng tốt Khi ăn thành thạo thức ăn chế biến, cá được chuyển qua hệ thống ương có sục khí và nước chảy để ương thành cá giống kích thước 7-8 cm trong thời gian 60 ngày [20]
1.2.2 Nghiên cứu nuôi thương phẩm
Cá chim Trachinotus sp được nghiên cứu nuôi thương phẩm bằng nhiều
hình thức khác nhau như nuôi trong ao đất, nuôi trong lồng, nuôi trong bể và nuôi ghép với tôm Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu được công bố chủ yếu tập trung trên đối tượng cá chim Florida, đối với loài cá chim vây vàng ít được công bố
hơn Ở Mỹ, cá chim T carolinus được nuôi từ năm 1952 trong ao đất với năng
Trang 19suất 270 – 438 kg/ha sau 133 ngày nuôi Thức ăn sử dụng chủ yếu là cá tạp [16, 33] Theo Tatum (1973), cá chim vây vàng Florida đã được thử nghiệm nuôi bằng lồng hình trụ được đặt trong ao nước lợ ở Alabama, Mỹ Cá giống có khối lượng trung bình là 12 g/con và được nuôi với mật độ từ 263 đến 657 con/m3
, thức ăn sử dụng là thức ăn viên cho cá hồi (40% protein) Kết quả sau 103 ngày nuôi, năng suất cá dao động từ 27,8 - 46,1 kg/m3, tỷ lệ sống đạt 80 – 88% và hệ
số FCR là 2,7 - 3,6 [32]
Tại Đài Loan, Năm 1994, cá chim vây vàng được nuôi ở trong ao với mật
độ 2 - 3 con/m2, sử dụng thức ăn công nghiệp Sau 7 – 12 tháng nuôi, cá đạt kích
cỡ thương phẩm 400 – 600 g/con, hệ số thức ăn 1,6 - 2,0, năng suất 10 - 15 tấn/ha Đến năm 1997, Đài Loan có 20 trại sản xuất giống cá chim vây vàng với sản lượng giống hàng năm đạt 38 triệu con cỡ 2 – 3 cm để phục vụ cho nhu cầu nuôi trong nước và xuất khẩu, giá con giống từ 0,04 – 0,06 USD/con [26, 36] Cremer và ctv (2002), đã ương giống cá chim vây vàng cỡ 5 g/con bằng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi chứa 47% protein thô và 15% chất béo thô; khi đạt cỡ 25 g/con, chúng được chuyển sang nuôi bằng thức ăn chứa 43% protein thô và 12% chất béo thô Sau 144 ngày nuôi cá đạt khối lượng 207,5 g/con với FCR kết hợp là 1,92, tỷ lệ sống là 65,8% và năng suất trung bình đạt 34 kg/m3 [15]
McMaster (2003) thí nghiệm nuôi cá chim vây vàng ở nồng độ muối 19 ‰,
cá được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp Aquafeed (Protein: 43%, lipid: 10%), sau 4 tháng nuôi từ cỡ cá giống 10 g/con đạt khối lượng 110 g/con [29]
Lan và ctv (2007) đã thử nghiệm ương giống cá chim vây vàng cỡ 4,9 – 6,7 g/con bằng lồng trên biển với mật độ 222 con/m3, sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng protein 47% và lipid 15% Kết quả sau 30 ngày ương, cá đạt cỡ 14,4 – 26,5 g/con, tỷ lệ sống 90%, năng suất 2,8 – 5,3 kg cá giống/m3
, hệ
số FCR từ 0,89 – 1,86 [24] Tiếp tục nghiên cứu nuôi thương phẩm đàn cá này với cỡ giống dao động từ 19 – 26 g/con, nuôi trong lồng có thể tích 100 m3 với mật độ 96 con/m3, cho ăn bằng thức ăn công nghiệp (protein 43% và lipid 12%) Sau 146 ngày nuôi cá đạt cỡ từ 577 – 640 g/con, tỷ lệ sống 99,2 – 99,5%, năng
Trang 20suất đạt 54,6 – 61,3 kg/m3, hệ số FCR từ 2,43 – 2,76
Cá chim Florida cũng được Groat (2002), tiến hành nuôi thử nghiệm trong
hệ thống bể tuần hoàn với nhiều giai đoạn khác nhau Kết quả cho thấy, cá giống
cỡ 17 g được nuôi ở mật độ 0,9 kg/m3, sau 38 ngày đạt cỡ 61 g, tỷ lệ sống đạt 95% Cá từ cỡ 74 g được nuôi đến cỡ 200 g trong 54 ngày với tỷ lệ sống trên 95%, ở các mật độ 1,3 kg/m3 và 2,6 kg/m3 Từ cỡ 215 g lên 527,2 g trong 63 ngày, với mật độ 1,6 kg/m3, tỷ lệ sống hơn 93% và lên cỡ 722,8 g trong 133 ngày với tỷ lệ sống 93% [19]
Một thí nghiệm khác của Groat (2002) cũng đã tiến hành trên cá chim Florida nuôi trong hệ thống bể tuần hoàn ở hai mật độ khác nhau: 6,5 và 13,0 kg/m3, tương đương 200 và 400 cá/bể Cá được cho ăn thức ăn nổi kích cỡ 4 – 7
mm (50% protein, 14% lipid) 2 lần/ngày với tỷ lệ 3% khối lượng tươi của cá/ngày ngay sau thời gian thí nghiệm và 10% quần thể ở 3 tuần sau đó Cá nuôi trong 110 ngày, ở độ mặn 5‰, nhiệt độ trong khoảng 27,0 đến 28,5oC Kết quả thí nghiệm cho thấy, khối lượng của cá và khối lượng cá tăng thêm khác nhau ở ngày 87 và ngày 110 đối với 2 mật độ nuôi Ở mật độ thấp, khối lượng cá cuối cùng 632,3 g, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với cá nuôi ở mật độ cao (570,0 g) Khối lượng tăng thêm của cá ở mật độ thấp là 371,5 g và 312,7 g ở mật độ cao cũng khác nhau có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, tỷ lệ sống của cá lần lượt là 87,3
và 91,2%, sai khác không có ý nghĩa thống kê giữa hai mật độ Như vậy, cá chim
có thể nuôi thương phầm (từ giống) trong hệ thống nuôi tuần hoàn ở độ mặn thấp (5‰), nhiệt độ 27,0 – 28,5oC, mật độ nuôi ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của
cá chim Florida
Nuôi ghép cá chim trong bể với tôm Penaeus brasiliensis được thực hiện
ở Venezuela [17] Cá chim Florida giống và tôm được nuôi giữ trong bể 28 m3, mật độ 10 con/m3 Thức ăn viên chứa 60% protein thô được sử dụng Kết quả cho thấy khối lượng cá chim sau 75 ngày trung bình đạt 45 g Tỷ lệ sống thấp, đạt 17% và FCR quá cao, đạt 6,6 Trong thí nghiệm kế tiếp, cá chim được nuôi ở mật độ 5 con/m3 và tôm 10 con/m3 Thức ăn sử dụng được tự chế biến có chứa 43% protein thô Kết quả thu được sau 75 ngày với tỷ lệ sống 64%, hệ số chuyển
Trang 21đổi thức ăn 3,1
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu sản xuất giống
Nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng bắt đầu được đề cập từ năm 2003-2004 bằng việc nhập đàn cá hậu bị từ Đài Loan về nuôi tại Cát Bà và Nghệ An của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I Tuy nhiên, cá chim vây vàng mới được sinh sản nhân tạo thành công tại Việt Nam năm 2006, thông qua
dự án tiếp nhận công nghệ với sự phối hợp giữa Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, Trường Cao đẳng Thủy sản đơn vị chuyển giao công nghệ là Trung tâm chuyển giao công nghệ Trường đại học Trung Sơn Trung Quốc [2]
Cá chim vây vàng giai đoạn bột được tiến hành ương trong các bể xi măng
12 m3, 30 m3 và bể composite 2 m3 Bể được bố trí từ 1 đến 2 đá khí, duy trì sục khí 24/24 giờ Mật độ cá ương khác nhau giữa các đợt sản xuất, dao động từ 12 đến 27 con/lít Nước biển được lọc sạch qua hệ thống lọc sinh học, cấp vào bể
ương cá bột khoảng 60 cm ở những ngày đầu Tảo Chlorella và nước mới được
cấp bổ sung trong qúa trình ương Thức ăn cho cá bột là tảo Chlorella (2-4x105
tế bào/ml), luân trùng (6-8 con/ml), copepda (8-10 con/ml), artemia (1-2 con/ml), cho ăn 2 lần/ngày Một số yếu tố môi trường được theo dõi trong quá trình ương là: ôxy hoà tan dao động từ 5 đến 7 mg/l, pH dao động trong khoảng 7,6 đến 8,8,
độ mặn dao động từ 20 đến 32 ‰, nhiệt độ nước dao động từ 26 đến 33 oC Kết quả cho thấy, sau 28 ngày ương nuôi, cá bột sinh trưởng từ 2,40±0,04 lên 26,03±1,51 mm Tỷ lệ sống từ giai đoạn bột lên hương đạt từ 30,1 đến 35% [2]
Giai đoạn từ cá hương lên cá giống, dự án cũng đã triển khai ương trong
bể xi măng và trong ao đất đối với trong bể xi măng (8 và 30 m3), mật độ ương dao động từ 0,3 đến 0,8 con/lít Các thông số môi trường được theo dõi là ôxy hoà tan dao động từ 5 đến 7 mg/l, pH dao động từ 7,5 đến 8,6, độ mặn dao động
từ 18 đến 30 ‰, nhiệt độ nước dao động từ 20 đến 34oC Thức ăn cho cá là cá tạp nghiền nhỏ, thức ăn công nghiệp dạng nổi, cho ăn 2 lần/ngày Nước trong bể ương được thay 100 đến 200 %/ngày Sau 30 ngày ương nuôi, kết quả qua các
Trang 22đợt ương cho thấy, tỷ lệ sống trung bình đạt 61,5%, kích thước trung bình của cá qua các đợt ương sau 30 ngày (58 ngày tuổi) dao động đạt từ 43,90±4,63 đến 53,03±5,08 mm đối với cá hương ương trong ao đáy cát (5000 m2), mật độ dao động từ 16 đến 17 con/m2 Thức ăn là cá tạp xay nhỏ, cho ăn 2 lần/ngày, cá ăn đến no Các yếu tố môi trường trong ao đo được là: ôxy hoà tan dao động từ 4 đến 6 mg/l, độ mặn từ 18 đến 26 ‰, pH từ 7,8 đến 8,6 và nhiệt độ 18 đến 35 oC Kết quả sau 30 ngày ương cho thấy tỷ lệ sống trung bình của cá đạt 51,3% Kích thước cá đo được tại thời điểm thu hoạch dao động từ 58,33±5,87 đến 61,50±6,50 mm Như vậy, kích thước cá ương trong ao lớn hơn cá ương trong bể, sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [2] Sau 2 năm thực hiện, dự án đã hoàn thành với kết quả cao, đáp ứng với yêu cầu đề ra, cụ thể: tỷ lệ thành thục của cá
bố mẹ đạt 84,7%; tỷ lệ rụng trứng đạt 86,58%; tỷ lệ nở từ trứng thụ tinh đạt 83,46%; tỷ lệ sống từ cá bột lên các hương (cỡ 2cm) đạt 32,42%; tỷ lệ sống từ cá hương lên cá giống 50 – 62,5% Sản lượng cá hương đạt 310.660 con, sản lượng
cá giống đạt 165.040 con [2]
Từ năm 2008 đến nay, Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ, thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I cũng đã nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công đối với cá chim vây vàng, trên đàn cá hậu bị nuôi từ năm 2004 Kết quả thu được tương đương với kết quả tiếp nhận công nghệ của Trường Cao đẳng Thuỷ sản, đó là 2008 sản xuất được 10.000 con, tỷ lệ sống ước đạt 20%; năm 2009, sản lượng giống sản xuất được 150.000 con giống, tỷ lệ sống đạt khoảng 25%; năm 2010, sản lượng giống đạt khoảng 150.000 con, tỷ lệ sống đạt 35% Công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng cũng đang được hoàn thiện
và ổn định tại Nghệ An Thực tế sản xuất cho thấy, cá chim vây vàng sinh sản tại Nghệ An vào đầu mùa hè, khi nhiệt độ nước đạt khoảng 28 oC, nhưng chúng thường chỉ sinh sản từ 2 đến 3 đợt, kéo dài khoảng 3 tháng (tháng 5 đến 7)
Kết quả nghiên cứu của Lại Văn Hùng và ctv (2011) trong giai đoạn từ năm
2009 – 2011 về “Thử nghiệm sản xuất giống cá chim vây vàng (Trachinotus
blochii Lacepede, 1801) tại Khánh Hòa” và “Hoàn thiện qui trình và chuyển giao
công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede,
Trang 231801) tại Khánh Hòa” đã xây dựng thành công quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng tại Khánh Hòa và chủ động trong việc sản xuất và cung cấp nguồn cá giống ổn định, chất lượng cho người nuôi [4] Kết quả nghiên cứu của đề tài đã tuyển chọn được đàn cá bố mẹ với 80 con cái và 49 con đực Sau 2 năm nuôi vỗ, tỷ lệ sống của cá bố mẹ đạt từ 90,0 – 92,0%, tỷ lệ thành thục
từ 57,14 – 95,00%, trung bình là 80,32% Qua 20 đợt kích thích sinh sản bằng hormon HCG, liều lượng 1000 IU kết hợp với 20 µg LRHa thu được 31.320.000 trứng, sức sinh sản trung bình 73.922 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh trung bình 70,53%, tỷ lệ nở 75,3% Sau 16 đợt ương giống thu được 404.777 con cá giống
cỡ 4 – 5 cm/con, với tỷ lệ sống trung bình từ giai đoạn cá bột lên cá hương là 10,64%, tỷ lệ sống từ cá hương lên cá giống là 93,86% [4] Nguồn cá giống này cung cấp cho người nuôi thuộc các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu và Kiên Giang
1.3.2 Nghiên cứu nuôi thương phẩm
Như đã đề cập, cá chim vây vàng bắt đầu được nghiên cứu tại Việt Nam từ năm 2003, thông qua một số chương trình thử nghiệm nhập đàn cá hậu bị từ Đài Loan của Viện nghiên cứu thủy sản I đến năm 2005, cũng đã thực hiện đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật nuôi thương phẩm và tạo đàn cá hậu bị của 5 loài cá biển kinh tế” trong đó có nghiên cứu, thử nghiệm nuôi cá chim vây vàng [10] Kết quả của đề tài cho thấy sau 6 tháng nuôi, cho ăn bằng thức ăn Proconco và cá tạp, cá chim vây vàng sinh trưởng từ 22 g lên 450 g Sau khi đạt
120 g, cá cho ăn thức ăn tổng hợp Proconco có xu thế sinh trưởng chậm hơn so với cá ăn cá tạp [10]
Năm 2008, Trường Cao đẳng Thuỷ sản đã thực hiện đề tài nghiên cứu quy trình công nghệ nuôi thâm canh cá chim vây vàng trong ao bằng thức ăn công nghiệp tại Quảng Ninh Cá được nuôi trong ao với hai mật độ 1,5 và 2,5 con/m2
, bằng thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein chiếm 43%, lipit chiếm 10% Cá giống có khối lượng trung bình 21,1±1,7 g và chiều dài 9,8±2,1 cm Ao nuôi có
độ mặn trung bình 18 ‰, pH= 7,6, hàm lượng ôxy hoà tan 4,7 mg/l, nhiệt độ nước 28,3 oC Sau 12 tháng, cá nuôi ở mật độ 1,5 con/m2
chiều dài đạt
Trang 2432,63±0,12 cm, khối lượng đạt 621,23±2,55 g và ở mật độ 2,5 con/m2, cá có chiều dài trung bình đạt 29,24±0,142 cm, khối lượng đạt 593,37±2,6 g Kết quả ban đầu cho thấy không có sự khác biệt về sinh trưởng và tỷ lệ sống giữa hai mật
độ nuôi (p>0,05) Cá chim vây vàng phàm ăn, sống thành bầy đàn trong ao, sinh trưởng nhanh, ít bị bệnh và tỷ lệ sống cao [1]
1.4 Nghiên cứu về thức ăn và dinh dưỡng của cá chim vây vàng
Cá chim vây vàng là loài cá ăn thịt trong tự nhiên, do đó thức ăn của chúng đòi hòi hàm lượng đạm cao Các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của cá chim vây vàng hiện chưa có nhiều, một số nghiên cứu chỉ ra nhu cầu đạm của cá chim vây vàng dao động từ 40 -55%, lipid tối thiểu 12% [30] Hiện nay, trong nuôi thương phẩm cá chim vây vàng, hệ số thức ăn FCR thường dao động từ 2,0-2,5
Các nghiên cứu về dinh dưỡng mới chỉ tập trung trên cá chim Florida
(Trachinotus carolinus) Nghiên cứu của Lazo và ctv (1989) đã xác định hàm
lượng protein tối thiểu cho cá chim Florida ở 3 mức khác nhau: 30, 35 và 45% và kết luận rằng hàm lượng protein thích hợp cho cá chim là 45% [25] Kết quả này cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của Lan và ctv (2007) khi tác giả này cho
rằng hàm lượng protein tối thiểu cho cá chim Trachinotus ovatus sinh trưởng tốt
nhất là 45% [24] Ngược lại, kết quả nghiên cứu của William và ctv (1985) cho thấy, tốc độ sinh trưởng của cá chim vây vàng Florida là tốt nhất khi sử dụng thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein là 34% và lipid là 4% hoặc 8% [35]
Lan và ctv (2007) sử dụng thức ăn trong những thử nghiệm nuôi cá chim thương phẩm Thời gian đầu thức ăn chủ yếu gồm cá tạp nghiền nhỏ, thức ăn viên cá da trơn, cá hồi hoặc một hỗn hợp gồm cả hai Thức ăn cá hồi có 40% protein bổ sung thêm cá tạp được chứng minh là có hiệu quả hơn so với thức ăn
là cá tạp trộn với bột đậu nành [24] Tuy nhiên, những nghiên cứu khởi đầu đều chưa đạt được kết quả như mong nuốn về cả sinh trưởng của cá và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) Có thể những loại thức ăn trên không đáp ứng được nhu cầu
về dinh dưỡng cho loài cá biển này
Năm 2007, Hiệp hội đậu tương Hoa Kỳ cũng đã thử nghiệm hai loại thức
ăn viên để nuôi thương phẩm cá chim vây vàng Một loại thức ăn chứa 45%
Trang 25protein được cung cấp từ bột cá, một loại thức ăn khác (ASA-IM 43/12) có giá trị dinh dưỡng tương đương nhưng bột đậu nành và protein đậu nành là thành phần protein chính, bột cá chỉ cung cấp 16% protein Kết quả thí nghiệm cho thấy không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p≥0,05) về sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng cho ăn bằng 2 loại thức ăn trên [24] Cá cho ăn bằng thức
ăn ASA-IM 43/12 tăng từ 19 g tới 608 g trong 146 ngày với tỷ lệ sống >99%, trong khi cá ăn thức ăn đậu nành tăng từ 26 g tới 610 g trong 146 ngày với tỷ lệ sống >99% FCR tương ứng là 2,51:1 và 2,59:1
Năm 2010, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang đã thực hiện đề tài khảo nghiệm nuôi thương phẩm cá chim vây vàng bằng lồng tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa bằng 3 loại thức ăn công nghiệp khác nhau: thức
ăn cá mú (protein 46%, lipid 10%), thức ăn thử nghiệm cho cá chim vây vàng (protein 44 – 46%, lipid 10% do Khoa NTTS và Công ty Uni- President sản xuất)
và cá tạp (cá cơm và cá nục) Kết quả nghiên cứu cho thấy, từ cỡ cá thả 70,5 g/con, sau 155 ngày nuôi, ở nghiệm thức cá được cho ăn thức ăn cá mú đạt khối lượng 716,7 g/con, tỷ lệ sống đạt 46%, FCR = 3,2, giá thành cá thương phẩm 97.025 đồng/kg; Ở nghiệm thức cá được cho ăn bằng thức ăn thử nghiệm cho cá chim vây vàng, cá đạt khối lượng 706,3 g/con, tỷ lệ sống đạt 45%, FCR = 3,0, giá thành 95.285 đồng/kg; cá cho ăn thức ăn cá tạp đạt 389,1 g/con, tỷ lệ sống đạt 43%, FCR = 13,1, giá thành 187.431 đồng/kg [4]
1.5 Ảnh hưởng của mật độ và chế độ chiếu sáng lên sinh trưởng và tỷ
Trang 26tạo giống cá chim vây vàng cũng đã nghiên cứu thành công tại Indonesia Thành công này đã góp phần giảm áp lực nhập khẩu nguồn giống từ nước ngoài vào nước này [22]
Lê Xân (2007) cũng đã tiến hành thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng, thí nghiệm được tiến hành trong lồng thể tích 20 m3, mật độ lần lượt là 17, 23 và 30 con/m3 Kết quả cho thấy mật độ nuôi càng cao thì tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng thấp và tỷ lệ phân đàn cao Tỷ lệ sống và khối lượng của cá tương ứng với mật độ thả ở trên là 68,2%, 470,2 g; 64,8%, 468,8 g và 58,6%, 461,2 g [9] Nguyên nhân có thể là do
cá chim vây vàng vận động nhanh và không bắt mồi khi mồi đã chìm xuống đáy, nên mật độ cao cá bắt mồi càng ít dẫn đến cá phân đàn lớn
Nghiên cứu của Chu Chí Thiết (2010) nhận thấy rằng tỷ lệ sống cá chim
vây vàng (T blochii) ở giai đoạn cá hương không bị ảnh hưởng khi ương ở các
mật độ từ 1,0 đến 2,0 con/l ; và mật độ ương 1,5 con/lít là phù hợp nhất trong việc ương cá chim vây vàng từ hương lên giống trong điều kiện ương cá có thay nước [7]
1.5.2 Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng
Hiện tại chưa có nhiều công bố về ảnh hưởng của các yếu tố như môi trường nuôi vỗ (dòng chảy), các yếu tố vật lý (nhiệt độ, ánh sáng) và dinh dưỡng đến thời gian sinh sản của cá chim vây ngắn Hoff và công sự (1972) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và chế độ chiếu sáng đến khả năng phát dục
của cá chim, Trachinotus carolinus, trong phòng kín có sử dụng hệ thống điều
hòa nhiệt trong trong thời gian không phải là mùa sinh sản trong tự nhiên Trong nghiên cứu này các tác giả đã nuôi vỗ cá chim trong 02 bể hình tròn (2m x1m) và các bể được gắn với hệ thống lọc sinh học, trong đó 1 bể đáy trơ và 1 bể đáy có các ống PVC và phủ cát ở đáy Chế độ nhiệt độ và thời gian chiếu sáng kế tiếp nhau như sau: nhiệt độ18 o
C và thời gian chiếu sáng 10 trong 26 ngày; nhiệt độ
23 oC và thời gian chiếu sang 13h trong 21 ngày và cuối cùng ở nhiệt độ 28oC, 15
h chiếu sáng trong thời gian 25-33 ngày Kết quả là cá chim đã sinh sản sau khi được tiêm hoocmon sinh dục HCG với liều lượng 1900 IU/kg [21]
Trang 27Gần đây, Gopakumar và ctv (2012) tiến hành nghiên cứu việc điều khiển
thời gian chiếu sáng đến khả năng phát dục của cá chim vây vàng, Trachinotus
blochii trong điều kiện nuôi nhốt Cá được điều chỉnh thời gian chiếu sáng 14h
sáng/ngày trong thời gian nuôi 2 tháng ở nhiệt độ từ 26,5-29,0oC Cá được nuôi trong các bể 10 m3 và chế độ nước chảy (2m3/h) với mật độ là 4 cái: 3đực, khi đường kính trứng đạt 500μm, cá được tiêm kích duc tố 350 IU/kg cho cả cá đực
và cái Kết quả cho thấy thời gian hiệu ứng là 30-36h và tỷ lệ thụ tinh dao động
từ 75-95% [18] Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu về điều chỉnh thời gian chiếu sáng và nhiệt độ đến khả năng phát dục của cá chim vây ngắn ở thời điểm ngoài thời gian sinh sản trong tự nhiên
Trang 28Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của Mật độ nuôi đến tỷ lệ sống và sinh trưởng và mức độ phân đàn của cá chim vây vàng từ giai đoạn cá Hương lên cá Giống trong hệ thống bể lọc sinh học
- Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá chim vây vàng giai đoạn từ cá hương lên cá giống trong hệ thống bể lọc sinh học
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành ở qui mô trại sản xuất trong các bể nhỏ Cá thí nghiệm có nguồn gốc sinh sản nhân tạo và được ương đến 21-23 ngày tuổi Các
bể thí nghiệm được gắn vào hệ thống bể lọc sinh học
2.3 Vật liệu nghiên cứu
- Bể thí nghiệm hình chóp nhọn có thể tích 100-200 L Các bể thí nghiệm được gắn vào hệ thống bể lọc sinh học tuần hoàn
- Các loại máy móc chuyên dùng như: máy đo Oxy, độ mặn, máy bơm nước, máy phát điện, máy sục khí…
- Thức ăn công nghiêp có kích cỡ khác nhau để đảm bảo từng giai đoạn phát triển, có độ đạm tối thiểu 42%,
- Dụng cụ thí nghiệm sử dụng trong vợt, xô, chậu,bóng đèn điện, nhiêt độ hay nhiệt kế, ca, kính hiển vi,thước,bút,sổ nhật ký,cân …
- Hệ thống lọc sinh học tuần hoàn: Hệ thống lọc bể sinh học được thiết kết trong bể compposite 5 m3, bể được chia các ô 1,2 m3 Nước thải của hệ thống nuôi sẽ được chuyển vào ô lọc cát, sau đó chảy sang ô có chứa các giá thể vi sinh dạng tổ ong và tiếp đó là ô có chứa hạt lọc động (Kaldnes Moving Bed) và cuối cùng chuyển về ô chứa Nước từ ô chứa được cấp cho các bể nuôi qua máy bơm Nước thải được thu gom từ các bể nuôi qua hệ thống ống đường kính 49mm