1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh

61 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ cá thể không xác định được giới tính giảm trong mùa sinh sản và ngược lại.[8] Theo Trương Quốc Phú 1998, quá trình phát triển của tuyến sinh dục của ngao được phân biện theo các gi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VĂN ĐỨC

ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH CỠ VÀ MẬT ĐỘ THẢ, DÒNG CHẢY LÊN TỶ LỆ SỐNG, TĂNG TRƯỞNG

CỦA NGAO (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) GIỐNG

ƯƠNG TRONG AO ĐẤT Ở CẨM XUYÊN, HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

NGHỆ AN, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VĂN ĐỨC

ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH CỠ VÀ MẬT ĐỘ THẢ, DÒNG CHẢY LÊN TỶ LỆ SỐNG, TĂNG TRƯỞNG

CỦA NGAO (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) GIỐNG

ƯƠNG TRONG AO ĐẤT Ở CẨM XUYÊN, HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản

Mã số: 60 62 03 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quang Huy

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn thạc sỹ “ ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ

lệ sống và tăng trưởng của ngao (Meretrix lyrata, Sowerby 1851) giống ương

trong ao đất ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh” là của riêng cá nhân tôi Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn được trích dẫn rõ nguồn gốc

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

Nghệ An, ngày 08 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Văn Đức

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân Từ đáy lòng mình, tôi xin trân trọng cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó:

Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn tới Lãnh đạo khoa Nông Lâm Ngư, Phòng đào tạo sau Đại học của Trường Đại học Vinh, Ban Lãnh đạo Phân Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học

Xin trân trọng cảm ơn Dự án “Sử dụng hợp lý nguồn dinh dưỡng để phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững ở Miền Trung Việt Nam trong bối cảnh biến đổi Khí hậu”, tài trợ bởi Bộ Ngoại giao Đan Mạch, đã hỗ trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu này

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới TS Nguyễn Quang Huy, người hướng dẫn khoa học, đã định hướng trong nghiên cứu, từ việc lập đề cương đến triển khai các thí nghiệm và hoàn thiện bản luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai thí nghiệm nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn

Nghệ An, ngày 08 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Văn Đức

Trang 5

MỤC LỤC

MỤCLỤC III

DANHMỤCBẢNGBIỂU VI

DANHMỤCHÌNH VII

ĐẶTVẤNĐỀ 1

Lý do chọn đề tài 1

Mục tiêu nghiên cứu 2

Ý nghĩa khoa học, thực tiến của đề tài 2

1.1 Đặc điểm sinh học của ngao 3

1.1.1 Hình thái cấu tạo và vị trí phân loại 3

1.1.2 Đặc điểm phân bố 5

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5

1.1.4 Đặc điểm sinh sản 6

1.2 Tình hình nghiên cứu sinh sản nhân tạo giống ngao trong và ngoài nước 9

1.2.1 Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống động vật thân mềm hai mảnh vỏ và ngao trên thế giới 9

1.2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống ngao tại Việt Nam 19

CHƯƠNG 2.NỘIDUNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 22

2.1 Nội dung nghiên cứu 22

2.2 Phạm vi nghiên cứu 22

2.3 Vật liệu nghiên cứu 22

2.4 Phương pháp thực nghiệm 22

2.4.1 Phương pha ́ p bố trí thí nghiệm 22

2.4.2 Chỉ tiêu và phương pháp thu thập số liệu: 26

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 28

2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3.KẾTQUẢNGHIÊNCỨUVÀTHẢOLUẬN 29

3.1 Ảnh hưởng của kích cỡ giống và mật độ thả đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ngao giống 29

3.1.1 Một số chỉ tiêu môi trường thí nghiệm 29

Trang 6

3.1.2 Tỷ lệ sống của ngao giống thí nghiệm 30

3.1.3 Tăng trưởng chiều cao của ngao giống ở các kích cỡ và mật độ thả 32

3.1.4 Mức độ phân đàn của ngao giống ở các nghiệm thức thí nghiệm 39

3.2 Ảnh hưởng của dòng chảy (chảy ngược) đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ngao giống 41

3.2.1 Một số chỉ tiêu môi trường thí nghiệm 41

3.2.2 Tỷ lệ sống của ngao thí nghiệm 42

3.2.3 Tăng trưởng kích thước, khối lượng ngao giống thí nghiệm 43

3.2.4 Mức độ phân đàn của ngao giống 47

KẾTLUẬN,KIẾNNGHỊ 48

Kết luận 48

Kiến nghị 48

Trang 7

DANH MỤC KÍ HIỆU - VIẾT TẮT

ANOVA : Phân tích phương sai

AG : Tăng trưởng tuyệt đối

TB Trung bình Ctv : Cộng tác viên

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Một số yêu cầu trong nuôi vỗ và lưu giữ ngao (M mercenaria) bố mẹ

thành thục 15

Bảng 3.1 Biến động môi trường ao thí nghiệm 29

Bảng 3.2 Tỷ lệ sống của ngao giống ở các nghiệm thức thí nghiệm 30

Bảng 3.3 tăng trưởng tuyệt đối theo ngày của ngao ở các nghiệm thức 34

Bảng 3.4 tăng trưởng chiều cao tương đối (%/ngày) của ngao giống ở các nghiệm thức 36

Bảng 3.5 Tăng trưởng tuyệt đối theo khối lượng ngao giống 37

Bảng 3.7 Hệ số phân đàn ngao giống thí nghiệm 40

Bảng 3.8 Biến động môi trường thí nghiệm chảy ngược 41

Bảng 3.9 Tỷ lệ sống của ngao giống 42

Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối/ngày của ngao giống 44

Bảng 3.11 Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày) ngày ở các nghiệm thức thí nghiệm 44

Bảng 3.12 tăng trưởng tuyệt đối khối lượng ngao giống mg/ngày 46

Bảng 3.13 Tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng của ngao giống 46

Bảng 3.14 Hệ số phân đàn của ngao giống 47

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Ngao Meretrix lyrata, Sowerby (1851) 3

Hình 1.2 Hình thái cấu tạo chung của nhóm ngao thuộc họ Veneridae 4

Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ngao 9

Hình 1.4 Hệ thống thu ấu trùng xuống đáy và ương ngao giống 12

Hình 1.5 Biến động hệ số thành thục của ngao sau 70 ngày nuôi với các mức cho ăn khác nhau 14

Hình 1.6 Ấu trùng ngao M mercenaria ở các giai đoạn biến thái 16

Hình 1.7 Hệ thống ương giống ngao bằng bè và mương nổi 19

Hình 2.1 Bố trí thí nghiệm về mật độ và kích cỡ 23

Hình 2.2 Bản vẽ mô hình hệ thống thí nghiệm (thí nghiệm dòng chảy) 25

Hình 2.3 Hệ thống ương ngao giống nước tĩnh (trái) và nước chảy (phải) 26

Hình 2.4 Cách xác định chiều cao, chiều dài vỏ 26

Hình 2.5 Thước kẹp đo kích thước ngao (hình ảnh từ thí nghiệm) 27

Hình 3.1 Tỷ lệ sống của ngao ở các công thức thí nghiệm 31

Hình 3.2 tăng trưởng chiều cao cỡ giống lớn C1 (2,15 mm) ở các mật độ 32

Hình 3.3 tăng trưởng chiều cao ngao giống cỡ nhỏ (0,96 mm) ở các mật độ 33

Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng (%/ngày) ở các công thức thí nghiệm 35 Hình 3.5 tăng trưởng chiều cao của ngao giống ở các nghiệm thức thí nghiệm 43

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lý do chọn đề tài

Ở Việt Nam, hiện đang sử dụng từ “nghêu Bến Tre” và “ngao Bến Tre” là

tên gọi của loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ thuộc họ Veneridae Từ “ngao”

được sử dụng ở miền Bắc, trong khi từ “nghêu” được sử dụng ở phía Nam Trong luận văn này, sẽ thống nhất sử dụng từ “ngao” là danh từ dùng để chỉ loài có tên

khoa học là Meretrix lyrata Sowerby (1851)

Ngao Bến Tre được xác định là một những đối tượng nuôi chủ lực của ngành Thủy sản Loài nhuyễn thể này có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước Nghề nuôi ngao Bến Tre đã phát triển mạnh ở các tỉnh Nam Bộ và gần đây là các tỉnh ven biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, đã và đang những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân

Bên cạnh nguồn ngao giống khai thác từ tự nhiên, ngao giống nhân tạo đã được sản xuất thành công [26] Kỹ thuật sản xuất giống ngao đã được áp dụng ở quy mô sản xuất đại trà trong ao xi măng hoặc ao đất lót bạt ở nhiều tỉnh phía Nam và một số tỉnh phía Bắc như Nam Định, Thái Bình [10] Để giảm chi phí nuôi ngao thương phẩm, cỡ giống ngao nhỏ (cỡ 1-2 mm) được nhiều người dân lựa chọn mua Tuy nhiên hiện chưa có quy trình nào được công bố hướng dẫn cho việc ương ngao cỡ giống nhỏ đến cỡ giống lớn trong ao đất trước khi thả ra bãi triều nên tỷ lệ sống của ngao và hiệu quả sản xuất thấp Hoạt động ương nuôi ngao giống trong ao đất chủ yếu mang tính tự phát dựa trên kinh nghiệm truyền miệng dẫn đến việc ương nuôi ngao giống bấp bênh, nhiều rủi ro và hiệu quả thấp Trong điều kiện ương ao đất, thức ăn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, việc lựa chọn mật độ và cỡ giống ngao thả kết hợp với chế độ dòng chảy phù hợp

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất Chính vì vậy nghiên cứu “ảnh hưởng

của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống và tăng trưởng của ngao (Meretrix lyrata, Sowerby 1851) giống ương trong ao đất ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh” được thực hiện sẽ góp phần xây dựng quy trình ương ngao trong ao đất ở

vùng ven biển

Trang 11

Mục tiêu nghiên cứu

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm sinh học của ngao

1.1.1 Hình thái cấu tạo và vị trí phân loại

Theo Nguyễn Chính (1996), hệ thống phân loại của ngao như sau:

Loài: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) [5]

Hình 1.1 Ngao Meretrix lyrata, Sowerby (1851) (Ảnh: Chu Chí Thiết, 2013)

Theo Quayle và Newkirk (1989), hình thái cấu tạo chung giữa các loài

thuộc họ Veneridae không khác nhau nhiều, được mô tả như sau: vỏ dày chắc,

hai vỏ bằng nhau, mặt vỏ có hoa vân, vòng đồng tâm hay tia phóng xạ biến đổi rất lớn Khớp bản lề có 3 răng giữa và 2 răng bên Vịnh màng áo nông, vết mép màng áo rõ ràng Vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau lớn hình bầu dục [20]

Trang 13

Hình 1.2 Hình thái cấu tạo chung của nhóm ngao thuộc họ Veneridae

(Quayle và Newkirk, 1989) Theo Trương Quốc Phú (1998), ngao có hai vỏ bằng nhau, dạng hình tam giác Hai vỏ gắn với nhau bằng một bản lề, ở mặt lưng có dầy chằng cấu tạo bằng chất sừng đàn hồi dùng để mở vỏ Bản lề lộ ra bên ngoài có dạng hình trụ nằm, bắt đầu từ đỉnh vỏ kéo dài về phía cạnh sau một khoảng bằng ¼ chiều dài của cạnh sau Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trên bề mặt vỏ có nhiều vòng sinh trưởng đồng tâm, các đường sinh trưởng chạy song song và thưa dần về phía mặt bụng Phía trước đỉnh vỏ là mặt nguyệt hình viên đạn, nhỏ, màu trắng, xung quanh có một viền màu nâu nhạt Mặt thuận có màu nâu đen, to hơn mặt nguyệt, nằm ở sau đỉnh vỏ kéo dài hết cạnh sau của vỏ Bên trong vỏ, phía dưới đỉnh vỏ

và bản lề có mặt khớp Mặt khớp có răng khớp lại với nhau rất khít, răng khớp của vỏ trái và vỏ phải khác nhau Mặt khớp của vỏ trái có 4 mấu lồi và 3 hố lõm,

3 trong 4 mấu lồi dính lại nhau ngay sát đỉnh vỏ vỏ có dạng chẽ ba, mấu lồi phía cạnh trước ngắn, nhọn nằm riêng rẽ, mấu lồi phía cạnh sau có dạng dài, bắt đầu

từ đỉnh vỏ kéo dài về phía cạnh sau, chiều dài bằng chiều dài của bản lề Mặt khớp của vỏ phải có 3 mấu lồi và 4 hố lõm tương ứng với vỏ trái khi khớp lại với nhau Mặt trong của vỏ có màu trắng, có các vết in của cơ khép vỏ trước và sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước Từ vết in của cơ màng áo trở ra mép vỏ có tầng xà cừ nhẵn bóng, óng ánh; từ vết in màng

Tuyến tiêu hóa Mang bên phải

Vịnh màng áo trái

Cơ khép vỏ trước

Vùng ruột (vị trí của tuyến sinh dục

Mang bên trái

Cơ khép vỏ sau

Chân

Màng

áo phải

Vỏ phải

Trang 14

áo trở vào có tầng xà cừ đục Vết cơ khép vỏ trước hơi nhỏ hơn vết cơ khép vỏ sau và có hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau hình tròn [8]

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Trên thế giới ngao phân bố ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương, từ biển Đài Loan đến Việt Nam Ở Việt Nam, ngao phân bố nhiều ở Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) [9] Vùng có sản lượng ngao cao nhất là vùng ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang, Bến Tre [5]

Các đặc trưng phân bố của ngao cũng đã được một số tác giả nghiên cứu, cho thấy ngao phân bố ở vùng triều thấp, thời gian phơi bãi từ 2-8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy ngao lúc nước ròng khoảng 1,5-2,5 m Ngao phân bố ở vùng

có nền đáy cát mịn đến cát có pha lẫn bùn lỏng (10-18%); vào mùa mưa, bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi ngao 1,5-2,5 cm Vùng phân bố của ngao có độ mặn dao động trong khoảng 7-25‰, nhiệt độ là 26-32oC Các yếu tố môi trường đặc trưng của bãi ngao biến đổi rõ rệt theo mùa, chúng phụ thuộc vào lượng mưa lũ tràn qua vùng rừng ngập mặn đổ ra các bãi ngao.[1]

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Theo Quayle và Newkirk (1989) nhóm động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung bắt mồi theo kiểu lọc có chọn lọc theo kích cỡ thức ăn Những hạt thức ăn

quá to, những loài tảo có kích thước lớn, dạng sợi như Chaetoceros, Skeletonema,

Bacteriastrum… thường khó bắt được, đặc biệt giai đoạn ấu trùng Cỡ hạt thức ăn

mà chúng có thể lọc được có kích thước từ 10-100 µm.[20]

Trương Quốc Phú (1998) tiến hành phân tích thức ăn trong dạ dày ngao cho thấy, có sự xuất hiện hai thành phần chính là xác mùn bã hữu cơ, chiếm 78,82-90,38% và 44 loài tảo, chiếm 9,62-21,18% Trong đó, tảo Silic

Bacillariophyta chiếm đa số với 41 loài (93,18%), tảo Giáp Pyrophyta có một

loài (2,27%) và hai loài tảo Lam Cyanophyta (4,55%), nhưng không thấy sự có mặt của tảo Lục Chlorophyta Loại thức ăn có tần suất xuất hiện cao nhất trong

dạ dày ngao là mùn bã hữu cơ, với tần suất bắt gặp đến 100%, tiếp đến là các loài

Trang 15

tảo thuộc các giống Coscinodiscus, Cyclotella và Nitzschia như: Coscinodiscus

asteromphalus, Coscinodiscus radiates, Cyclotella comta, Cyclotella striata, Nitzschia lanccolata…Trong số các loài tảo hiện diện trong dạ dày ngao không

có loài nào thuộc loài tảo độc, chỉ có hai loài Ceratium furca và Trichodesmium

erytheracum thuộc những loài tảo gây nên hiện tượng hồng triều khi chúng nở

hoa Các loài tảo đáy bùn có dạng hình tròn hoặc gần tròn như Coscinodiscus,

Cyclotella thường bắt gặp nhiều hơn so với các loài tảo phiêu sinh do xác suất

bắt gặp chúng ở đáy cao hơn [8]

Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), thành phần thức ăn chính của ngao vùng Trà Vinh là mùn bã hữu cơ chiếm từ 75-90%, tảo chiếm từ 10-25% Trong thành phẩn tảo thì tảo silic chiếm 90-95%, tảo giáp chiếm 3,3-6,6%, còn lại là tảo lam, tảo lục, tảo vàng ánh chiếm 0,8-1%.[9]

Như vậy, thức ăn của ngao có biến động theo từng vùng phân bố và theo mùa làm thay đổi tỷ lệ hai thành phần chính là mùn bã hữu cơ và các loài tảo Tuy nhiên, tỷ lệ tảo trong dạ dày ngao chiếm tỷ lệ thấp, dao động trong khoảng 9-25% Đây là đặc điểm cần lưu ý trong việc sản xuất tảo sinh khối làm thức ăn cho ngao trong quá trình sản xuất

1.1.4 Đặc điểm sinh sản

Ngao phân tính, đực và cái riêng biệt Nhìn hình dạng bên ngoài rất khó xác định giới tính, chỉ phân biệt được qua việc giải phẩu, quan sát tuyến sinh dục vào mùa sinh sản Giai đoạn chưa thành thục, phần nội tạng ở cả ngao đực và cái đều dẹp và có màu trắng, có thể nhìn thấy cơ quan tiêu hóa (tuyến gan tụy và ruột) Ở giai đoạn thành thục (giai đoạn 2 hoặc 3), tuyến sinh dục phát triển rộng ra, cơ thể ngao bắt đầu phồng lên, nhìn từ gốc chân trở lên phần lưng thấy xuất hiện những hạt lấm chấm bên trong, đó là các túi chứa trứng và tinh Lúc này tuyến sinh dục của con đực và con cái khác nhau: tuyến sinh dục của con đực có màu trắng đục, con cái có màu vàng hoặc vàng nhạt Tỷ lệ đực, cái của ngao trong tự nhiên cũng thay đổi theo từng giai đoạn: tỷ lệ ngao đực cao hơn ngao cái ở trong mùa sinh sản, nhưng trước và sau mùa sinh sản thì tỷ lệ ngao cái lại cao hơn ngao đực Ngoài ra, trong quần thể còn có một số cá thể không xác định được giới tính

Trang 16

Tỷ lệ cá thể không xác định được giới tính giảm trong mùa sinh sản và ngược lại.[8]

Theo Trương Quốc Phú (1998), quá trình phát triển của tuyến sinh dục của ngao được phân biện theo các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 0: Tuyến sinh dục không rõ ràng, không xác định được giới

tính; cơ thể ngao chỉ hiện hiện mô leydig, không có sự hiện diện của nang tinh

* Tuyến sinh dục đực:

- Giai đoạn 1: nang tinh bắt đầu xuất hiện, chúng vẫn còn nhỏ và nằm

riair tác chen lẫn trong mô leydig, các tế bào phát triển đùn đẩy lẫn nhau tạo thành những chuỗi tế bào hướng tâm Các nang tinh có màu hồng sậm khi nhuộm hai màu Khó phân biệt từng tế bào khi quan sát dưới kính hiển vi

- Giai đoạn 2: các nang tinh phát triển rộng chiếm hết không gian của

Leydig Tương tự như ở giai đoạn 1, các nang tinh có màu hồng sậm (hơi tím), khó phân biệt từng tế bào

- Giai đoạn 3: nang tinh chứa đầy các tinh trùng sẵn sàng tham gia sinh

sản Khi chuyển sang giai đoạn chín nang tinh có vách mỏng, các tế bào sinh dục hầu như chỉ có nhân, rất ít tế bào chất nên khi quan sát tinh trùng có màu xanh đen (nhân tế bào ăn màu của thuốc nhuộm hematoxyline có màu xanh đen)

- Giai đoạn 4: tuyến sinh dục đực chứa các nang tinh rỗng và bị rách nát

Dọc theo các vách nang vẫn còn sót lại một số tinh trùng

* Tuyến sinh dục cái:

- Giai đoạn 1: bắt đầu có sự hiện diện của nang trứng, nhưng vẫn còn

nhỏ, rộng bên trong, khó phân biệt từng tế báo Các tế bào này có màu hồng nhạt khi nhuộm hai màu (hematoxyline và eosin)

- Giai đoạn 2: các nang trứng bắt đầu phồng lên thay thế toàn bộ mô

Leydig, bên trong các não bào đã phát triển lấp đầy khoảng trống của nang trứng Các noãn bào tích lũy não hoàng, trong nang trứng bắt đầu xuất hiện một vài tế bào lớn có màu hồng nhạt có thể nhìn thấy nhân tế bào đó là trứng vừa chuyển sang giai đoạn chín

- Giai đoạn 3: là giai đoạn trứng chính sẵn sàng tham gia sinh sản

Trang 17

Các nang trứng phồng to, vách mỏng, bên trong nang chứa đầy trứng chính Tế bào trứng chín cũng gia tăng kích thước và có hình đa giác hay tròn hoặc bầu dục Nói chung, hình dạng rất đa dạng Trứng có màu hồng nhạt có thể nhìn rõ nhân và hạch nhân

- Giai đoạn 4: ngao vừa sinh sản xong Tuyến sinh dục chứa nhiều nang

trứng rách nát và trống rỗng Trong nang trứng còn sót lại một vài trứng.[8]

Trang 18

Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ngao (độ phóng đại 80 X)

(Trương Quốc Phú, 1998)

Ghi chú: A: tuyến sinh dục giai đoạn 0; B: tuyến sinh dục lưỡng tính; C: tuyến sinh dục đực giai đoạn 1; D: tuyến sinh dục đực giai đoan 2; E: tuyến sinh dục đực giai đoạn 3; F: tuyến sinh dục đực giai đoạn 4; G: tuyến sinh dục cái giai đoạn 1; H: tuyến sinh dục cái giai đoạn 2; I: tuyến sinh dục cái giai đoạn 3; J: tuyến sinh dục cái giai đoạn 4

1.2 Tình hình nghiên cứu sinh sản nhân tạo giống ngao trong và ngoài nước

1.2.1 Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống động vật thân mềm hai mảnh vỏ

và ngao trên thế giới

Công nghệ sản xuất giống các đối tượng động vật thân mềm hai mảnh vỏ được nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất ở châu Âu và Hoa Kỳ trong những năm 1960 Công nghệ sản xuất giống nhân tạo một số đối tượng chính trong nuôi trồng thủy sản trên thế giới đã được cải tiến và phát triển tiếp theo thời gian sau đó[15] Có nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên thế giới liên quan đến kết quả nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm động vật thân

Trang 19

mềm hai mảnh vỏ nói chung gồm hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), hầu

đá Sedney (Saccostrea commercialis), hàu Mỹ (C virginica), hàu dẹt châu Âu (Ostrea edulis) và ngao dầu (Meretrix meretrix), ngao mật (M lusoria), ngao Manila (Mercenaria mercenaria), ngao lụa Tape (Tapes philippinarum)

a) Về hệ thống trại sản xuất giống:

Theo Helm và cs (2004), một trong những yêu cầu cơ bản của trại sản xuất giống ngao là phải nằm ở những nơi không bị ảnh hưởng bởi các nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp; giao thông thuận tiện, có nguồn điện chủ động và thuận tiện trong việc trao đổi thông tin, liên lạc Bên cạnh đó, ngoài việc xây dựng trại giống hiệu quả kinh tế, thuận tiện trong vận hành sử dụng, người ta cũng tính đến việc dự phòng để mở rộng, nâp cấp trại trong tương lai Cũng theo Helm và cs (2004), trại sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ được thiết kế linh hoạt, tuỳ thuộc vào đối tượng được lựa chọn sản xuất, điều kiện tự nhiên, khí hậu, diện tích mặt bằng, vốn đầu tư, sản lượng con giống dự kiến [15]

Theo Jones và cs (1993), một số giai đoạn quan trọng trong thiết kế, vận

hành trại sản xuất giống ngao Manila (M mercenaria) như sau[27]:

- Hệ thống nuôi vỗ ngao bố mẹ: được thiết kế với 2 lựa chọn là hệ thống

nước chảy và hệ thống nước tĩnh, mỗi hệ thống đều có tính ưu việt riêng Đối với

hệ thống nước chảy: ngao được nuôi trong điều kiện tuần hoàn nên môi trường sạch hơn, dòng chảy của nước là một trong những nhân tố kích thích đến sự chín của tuyến sinh dục nên ngao có thời gian thành thục nhanh hơn Tuy nhiên, trong

hệ thống nước tĩnh, việc theo dõi nhằm loại bỏ những cá thế sinh sản không mong muốn dễ dàng hơn, việc duy trì nhiệt độ, quản lý thức ăn và kỹ thuật vận hành cũng dễ dàng hơn

- Hệ thống ương ấu trùng: nước cấp vào hệ thống ương ấu trùng được

lắng, sau đó qua thiết bị lọc cát và lọc tinh 5 µm Ấu trùng ngao Manila được ương trong điều kiện độ mặn tối ưu là 250

/00 và nhiệt độ tối ưu 230C Hiện tại, có hai phương pháp ương ấu trùng đang được ứng dụng trong sản xuất, đó là: (1) hệ thống nước chảy và (2) hệ thống nước tĩnh Hệ thống nước chảy cho phép ương

ấu trùng ở mật độ cao hơn, tốc độ sinh trưởng của ấu trùng nhanh hơn so với hệ

Trang 20

thống nước tĩnh, nhưng chi phí đầu tư thiết bị, hệ thống cao hơn, cũng như đòi hỏi kỹ năng vận hành hệ thống cao hơn

- Hệ thống thu ấu trùng xuống đáy: ấu trùng ngao đến giai đoạn biến thái,

xuất hiện chân bò được tiến hành lọc và thu bằng rây lọc có mắt lưới 150m, sau đó chuyển tới hệ thống ao thu ấu trùng xuống đáy, là những khay lưới nổi trên bề mặt ao, tạo mặt thoáng để ấu trùng có thể bò trên bề mặt hoặc bơi lội tự

do Nước biển đã qua xử lý cấp trực tiếp vào hệ thống rây, từ phía trên miệng khay và thoát qua đáy khay (Downwelling system), hoặc nước được cấp vào khay từ dưới đáy và thoát ra ngoài ở phía trên miệng khay (Upwelling system) Nền đáy không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng ngao ở giai đoạn này, khay

có nền đáy cho kết quả tương tự như khay không có nền đáy (đáy trơ) Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xuống đáy của ấu trùng là:

+) Mật độ ấu trùng trong khay: 1.500.000 – 2.000.000 ấu trùng/m2

đáy +) Nhiệt độ: tương đương với nhiệt độ trong bể ương Đối với ngao Manila, nhiệt độ dao động trong khoảng 20 – 240C

+) Phát sinh vi khuẩn có hại và các chất bẩn: trong qúa trình biến thái, ấu trùng tăng sự trao đổi chất, làm phát sinh các chất bẩn là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn

có hại phát triển nhanh Vì thế, việc thay nước và vệ sinh ấu trùng trong khi ương phải được lưu ý trong quá trình sản xuất

+) Thức ăn (tảo) và chế độ cho ăn: cho ăn lượng thức ăn đủ về số lượng và dinh dưỡng sẽ tăng tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn này Dư thừa thức ăn sẽ làm cho môi trường ương nuôi bị ô nhiễm, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển

- Hệ thống thuần hoá con giống spat: Các trại giống có thể có hoặc không

có hệ thống ương thuần hoá con giống trước khi nuôi thương phẩm Hệ thống thuần hoá là bộ phận tách rời khỏi trại giống, có thể được xây dựng cho người nuôi để họ chủ động phần công việc này trước khi đem con giống ra vùng nuôi

Hệ thống này có thể nằm tách rời khỏi trại sản xuất

Trang 21

Hình 1.4 Hệ thống thu ấu trùng xuống đáy và ương ngao giống (Nancy và cs,

2007)

Nó được thiết kế đa dạng, trên nguyên tắc vận hành của hai hệ thống

giống như thu ấu trùng xuống đáy là Downwelling system và Upwelling system

và có thể được lắp đặt trong trại sản xuất hoặc ngoài ao ương Nguyên lý hoạt

động của hệ thống này là việc thay đổi một cách từ từ điều kiện ương nuôi để cho

con giống quen dần với môi trường bên ngoài và cuối cùng là sử dụng hoàn toàn

bằng thức ăn tự nhiên Đây là công đoạn được xem là quan trọng trước khi

chuyển con giống từ trại sản xuất ra vùng nuôi thương phẩm ngoài tự nhiên, bởi

vì ngao giống dễ bị stress nếu chúng bị thay đổi môi trường đột ngột, đặc biệt là

từ môi trường được kiểm soát sạch sẽ sang môi trường ngoài tự nhiên

b) Về công nghệ sản xuất giống ngao:

Nancy và cs (2007) đã phát triển công nghệ sản nhân tạo giống ngao M

mercenaria gồm có 5 công đoạn chính gồm: 1) lưu giữ và nuôi vỗ ngao bố mẹ;

2) kích thích sinh sản; 3) ương nuôi ấu trùng; 4) ương nuôi ấu trùng xuống đáy;

và 5) sản xuất thức ăn (sản xuất sinh khối tảo) Các giai đoạn này được hỗ trợ bởi

Trang 22

những hệ thống xử lý và cung cấp nước mặn và ngọt, hệ thống cung cấp khí, cung cấp ánh sáng cho nuôi cấy sinh khối tảo và các thiết bị kiểm tra, theo dõi ấu trùng, ngao giống và môi trường.[19]

Theo Whetstone và cs (2005), ngao M mercenaria bắt đầu sinh sản vào

cuối mùa xuân, khi nhiệt độ nước ấm dần lên, sau thời gian tích luỹ dinh dưỡng

và phát triển tuyến sinh dục ở mùa đông Đầu tiên, con đực phóng tinh ra ngoài môi trường, tinh dịch đóng vai trò là feromol kính thích cá thể khác trong quần thể phóng trứng và tinh theo, trứng được thụ tinh bên ngoài môi trường nước.[22] Theo Quayle và cs (1989), việc thay đổi một số yếu tố môi trường theo mùa góp phần kích thích quá trình thành thục và sinh sản của nhuyễn thể hai mảnh vỏ, yếu

tố quan trọng là nhiệt độ và nồng độ muối Mùa xuân, nhiệt độ ấm dần lên, độ mặn có chiều hướng thay đổi đã thúc đẩy quá trình phát triển của tuyến sinh dục

Vì vậy, trong thực tế sản xuất, việc tạo sự thay đổi nhiệt độ nước, độ muối được

mô phỏng theo tự nhiên là phương pháp đang sử dụng để kích thích quá trình phát triển, sự chín của tuyến sinh dục và kích thích sinh sản đối với các đối tượng nhuyễn thể [20]

- Kỹ thuật nuôi vỗ ngao bố mẹ:

Ngao bố mẹ thành thục sinh dục tốt hơn nếu trong quá trình nuôi vỗ chúng được cung cấp một lượng tảo tự nhiên kết hợp với hỗn hợp các loài tảo sản xuất được trong trại sản xuất, bởi vì tính đa dạng về thức ăn sẽ tạo nên giá trị dinh dưỡng cao giúp ngao phát triển tuyến sinh dục Theo Whetstone và cs (2005) số lượng và chất lượng trứng của ngao phụ thuộc vào tuổi, kích cỡ và chất lượng thức ăn trong quá trình nuôi vỗ Ngao bố mẹ được lựa chọn những cá thể có tốc

độ tăng trưởng nhanh, từ 2 – 3 năm tuổi, được nuôi vỗ ở nhiệt độ 180C trong thời gian từ 6 đến 9 tuần, với thức ăn từ nguồn tự nhiên và bổ sung hỗn hợp các loài

tảo đơn bào Isochrysis galbana, Nanochloropsis oculata, Chaetoceros gracilis,

Tahitial isochrysis, hàm lượng 1 lít/0,5 kg ngao/1 giờ cho tỷ lệ thành thục cao

hơn nhiều so với ngao thu ngoài tự nhiên [22]

Marina và cs (2005), đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên

sự thành thục tuyến sinh dục của ngao Ruditapes decussatus bằng 3 hàm lượng

Trang 23

tảo I galbana (T-ISO) là 1,0 mg (H); 0,5 mg (I) và 0,25 mg (R) tảo khô/1g

ngao/ngày ở nhiệt độ 18oC trong thời gian 120 ngày Kết quả chỉ ra rằng, ngao thành thục ở tất cả các nghiệm thức thức ăn, nhưng chỉ khác nhau về thời gian nuôi vỗ Ở nghiệm thức H, ngao thành thục 14,5% sau 21 ngày nuôi, trong khi các nghiệm thức còn lại không có thể ngao nào thành thục Tại ngày thứ 41, ngao thành thục ở nghiệm thức thức ăn H, I, R lần lượt là 100%, 79% và 33%; ngày thứ 70 lần lượt là 100%, 100% và 60% [18]

Hình 1.5 Biến động hệ số thành thục của ngao sau 70 ngày nuôi với các mức

cho ăn khác nhau (Marina và cộng sự, 2005)

Theo Nancy và cs (2007), nuôi vỗ là quá trình làm cho ngao trưởng thành phát sinh giao tử và chín muồi của buồng trứng, sẵn sàng để tham gia sinh sản Ngao thường được nuôi vỗ trong vòng 2-8 tuần, nhưng tùy thuộc vào từng thời điểm trong năm và tình trạng sinh lý của ngao Đối với ngao đã thành thục có thể được duy trì trạng thái này đến 6 tháng bằng cách lưu giữ chúng ở điều kiện nhiệt

độ thấp (18-20°C) và cung cấp một lượng thức ăn dồi dào.[19]

Thời gian thí nghiệm

Trang 24

Bảng 1.1 Một số yêu cầu trong nuôi vỗ và lưu giữ ngao (M mercenaria) bố mẹ

thành thục

Độ mặn (‰) 25-35

Nhiệt độ (oC) 18-20oC đối với lưu giữ và nuôi vỗ ngao

22-23oC đối với nuôi vỗ tích cực/chuẩn bị cho sinh sản

Xử lý nước Lọc qua lọc 25 µm

Đèn cực tím và than hoạt tính Thay nước Tối thiểu 3 lần/tuần

Mật độ 250 con/m3 (1 ngao/4 lít nước)

Thức ăn Hỗn hợp các loài tảo phù du

Khẩu phần ăn 1-3 x 106 tế bào/ngao/ngày (100.000 – 300.000 tế bào/ml) Phương pháp cho ăn Cho theo mẻ (2 lần/ngày) hoặc nhỏ giọt

Thời gian 2-8 tuần đối với nuôi vỗ

Tới 6 tháng đối với việc duy trì ngao đã thành thục

- Kỹ thuật kích thích sinh sản:

Nancy và cs (2007) đã xác định được phương pháp kích thích sinh sản loài

ngao M mercenaria là nâng nhiệt độ từ 23 đến 27oC hoặc giảm độ mặn từ 28‰ xuống 14‰ trong thời gian từ 60 – 120 phút [19]

Việc thụ tinh sau khi ngao phóng trứng hoặc tinh có thể tiến hành theo hai phương pháp, tùy thuộc vào mục đích sản xuất: 1) nếu mong muốn kiểm soát việc thụ tinh, thì từng cá thể sẽ được phóng thích sản phẩm sinh dục vào mỗi xô đựng nước, sau đó thu gom trứng vào một bể và tinh trùng sẽ được lựa chọn để trước khi tiến hành thụ tinh với tỷ lệ tinh trùng/trứng là 5/1; 2) phương pháp cho

"đẻ đại trà", được tiến hành trong bể đẻ thông thường Ngao phóng trứng và tinh trùng ra khỏi cơ thể vào trong môi trường nước và quá trình thụ tinh được diễn ra

sau đó

- Kỹ thuật ương ấu trùng ngao giai đoạn bơi tự do (D-veliger):

Trang 25

Theo Nancy và cs (2007), trứng thụ tinh được ấp ở mật độ hơn 30 trứng/ml nước trong 24 giờ hoặc cho đến khi nở thành ấu trùng veliger Sau đó,

ấu trùng ngao được san thưa ở mật độ 5-10 con/ml và cho ăn hỗn hợp các loài tảo đơn bào[19] Liu và cs (2006) đã thí nghiệm nhằm xác định mật độ ấu trùng ngao

M meretrix phù hợp trong ương nuôi Thí nghiệm đã tiến hành ở các mật độ 5,

10, 20, 40 và 60 ấu trùng/ml, trong 8 ngày, từ giai đoạn ấu trùng chữ D-veliger đến ấu trùng chuyển giai đoạn xuống đáy (pediveliger)

Ấu trùng giai đoạn xuất hiện chân bò (pediveliger)

Hình 1.6 Ấu trùng ngao M mercenaria ở các giai đoạn biến thái (Ảnh: Nancy

và cs 2007)

Kết quả cho thấy, tại mỗi thời điểm thu mẫu, ấu trùng ương ở mật độ cao nhất thì có kích thước nhỏ nhất và ngược lại Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê bắt đầu từ ngày ương nuôi thứ 2 Thời gian xuống đáy kéo dài và kích thước ấu trùng khi xuống đáy nhỏ hơn theo tỷ lệ nghịch với mật độ ương Tuy nhiên, tỷ lệ sống (từ 74,8 -79,1%) lại không phụ thuộc vào mật độ ương nuôi ấu trùng Trong thí nghiệm này, ở mật độ cao có thể phù hợp với ương nuôi ấu trùng, nhưng nếu xét về hiệu quả kinh tế và mức độ an toàn thì tác giả khuyến cáo nên sử dụng mật

độ 10 đến 20 ấu trùng/ml trong sản xuất ở quy mô lớn [17]

Đối với loài ngao M mercenaria, kết thúc giai đoạn veliger, đạt cỡ 200 tới

250 μm, ấu trùng bắt đầu biến thái để trở thành con giống spat Dấu hiệu nhận biết giai đoạn này là ấu trùng biến thái xuất hiện chân (chân bò), gọi là

Trang 26

“pediveliger” vì chúng có cả riềm miệng và chân (Hình 1.6) Giai đoạn pediveliger xuất hiện ngắn trong vài ngày, riềm miệng tiêu biến hoàn toàn và ống siphon được hình thành Quá trình biến thái này gọi là sự “xuống đáy” và ấu trùng ngao giai đoạn này được gọi là “ấu trùng bò lê”

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn tới sinh trưởng và tỷ lệ sống

của ngao M meretrix đã được tiến hành bởi Tang và cs (2006), với việc sử dụng

5 loài tảo khác nhau làm thức ăn đơn và phối hợp với nhau Kết quả thí nghiệm

cho thấy, ấu trùng ngao M meretrix sinh trưởng tốt nhất với việc chỉ sử dụng một loài tảo Isochrysis galbana làm thức ăn Giá trị dinh dưỡng của các loài tảo khác được nghiên cứu đối với ấu trùng ngao M meretrix thể hiện qua tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ biến thái được xếp theo thứ tự Dunaliella sp >Phaeodactylum

tricornutum >Platymonas subcordiformis >Pavlova viridis Đối với hỗn hợp các

loài dinh dưỡng lần lượt là 50% I.galbana/50% Dunaliella sp, 50% I.galbana/P

tricornutum và 50% I galbana/P subcordiformis đối chứng là sử dụng loài I.galbana[21]

Theo Nancy và cs (2007), thức ăn cho ấu trùng là hỗn hợp các loài tảo: N

oculata, Tahitian isochrysis, I galbana và C calcitrans cho ấu trùng kích thước

nhỏ hơn 150 µm và bổ sung thêm loài C gracilis cho ấu trùng cỡ lớn hơn 150

µm Trong điều kiện thức ăn và các yếu tố môi trường phù hợp, ấu trùng ngao Manila thường tăng trưởng bình quân 10 µm/ngày Trong khoảng 10 – 14 ngày ương nuôi, ấu trùng đạt kích cỡ 180 – 210 µm chuyển sang giai đoạn biến thái (ấu trùng pediveliger).[19]

Một số kết quả nghiên cứu của Yan và cs (2006) được tiến hành trên ngao

Ruditapes philippinarum, đánh giá sự ảnh hưởng của thức ăn, mật độ ương nuôi

ấu trùng, các yếu tố môi trường đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và biến thái của ấu

trùng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: tảo Chlorella sp có thể thay 50% tảo

Isochrysis spp trong việc sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng ngao mà không ảnh

hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của chúng Nghiên cứu về mật độ ương nuôi ấu trùng cho thấy, ở khoảng mật độ từ 5 – 10 con/ml, ấu trùng phát triển bình thường Trong điều kiện che mát một phần, cường độ ánh sáng từ

Trang 27

1000 – 5000 lux và che mát toàn phần, cường độ ánh sáng <500 lux, ấu trùng phát triển chậm hơn so với ương dưới điều kiện ánh sáng tự nhiên Chế độ thay

nước trong ương ấu trùng ngao R philippinarum với tỷ lệ 50% bể/lần sau mỗi 2

ngày là điều kiện tối ưu cho sự phát triển của ấu trùng; và ấu trùng cũng phát triển nhanh hơn trong điều kiện nước không qua lọc cát Nhưng nền đáy ảnh hưởng đáng kể đến biến thái của ấu trùng, nhưng hình dáng và kích thước hạt cát làm giá thể không ảnh hưởng đến tỷ lệ biến thái của chúng [23]

Độ mặn trong quá trình sản xuất giống cũng hết sức quan trọng, mặc dù bản thân ngao có thể điều chỉnh được áp suất thẩm thấu để thích nghi với môi trường Đối với ngao Manila, trong khoảng độ mặn từ 20 – 30‰ là khoảng phù hợp với chức năng sinh lý của chúng Trong khoảng độ mặn này, tốc độ lọc, thu nhận, hấp thụ thức ăn và các hoạt động khác của chúng diễn ra một cách tối đa

nhất (Baker và cs, 2007)[13] Tốc độ biến thái của ấu trùng ngao M meretrix lại

liên quan đến nhiệt độ nước theo hàm sỗ mũ Tuy nhiên, mối liên hệ giữa tốc độ biến thái của ngao với nhiệt độ không chặt chẽ bằng nó với trọng lượng tươi của ngao (Zhuang, 2006)[25] Còn theo Zhuang và cs (2004), tốc độ lọc (CR) và độ

tiêu hoá (IR) của ngao M meretrix theo hàm số mũ đối với kích thước cơ thể (W)

của chúng, theo công thức CR=0,47 W0,63

và IR=0,95 W0,60 Nền đáy cũng ảnh

hưởng đến tốc độ lọc và tiêu hoá thức ăn của ngao M meretrix: nền đáy cát, tốc

độ lọc, tốc độ tiêu hoá thức ăn cao hơn từ 2-3 lần so với chúng nuôi ở nơi đáy trơ.[24]

- Kỹ thuật ương ấu trùng chân bò và ngao giống:

Ấu trùng ngao ở giai đoạn xuất hiện chân bò được chuyển tới ương ở hệ thống ương gồm các khay đáy bằng lưới với việc bổ sung nước (cùng thức ăn) từ trên xuống (downweller) hoặc từ dưới lên (upweller) cho đến khi biến thái hoàn toàn thành ngao giống Hệ thống này có thể dễ dàng quản lý chất lượng môi trường nước, thức ăn, nên mật độ ương cao hơn các hệ thống ương thông thường Sau khi hoàn thành giai đoạn biến thái, ngao giống spat đạt cỡ 0,8-1,0 mm được chuyển sang hệ thống ương raceway, upwelling hoặc hệ thống ương ương ngoài trời (bè nổi, ao, hồ) với mật độ 1.500.000-2.000.000 con/m2 Mục đích của việc

Trang 28

ương giống trong hệ thống này là làm cho giống được thuần hóa với môi trường nuôi nhằm gia tăng tỷ lệ sống trong nuôi thương phẩm (Nancy và cs, 2007)

Hình 1.7 Hệ thống ương giống ngao bằng bè và mương nổi (Nancy và cs,2007)

Tuy nhiên, hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào được công bố về

kết quả nghiên cứu, sản xuất giống đối với loài ngao M lyrata, ngoài một vài

thông tin liên quan đến hệ thống phân loại, đặc điểm vùng phân bố của nó Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm bổ sung thông tin khoa học, kỹ thuật sản xuất giống

loài ngao M lyrata có ý nghĩa lớn về khoa học và thực tiễn sản xuất

1.2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống ngao tại Việt Nam

Ở Việt Nam, trước những năm 2000, các nghiên cứu về ngao chủ yếu tập trung vào đặc điểm sinh học, sinh hóa và kỹ thuật ương nuôi thương phẩm ngao

Meretrix lyrata (Nguyễn Hữu Phụng, 1996; Trương Quốc Phú, 1996;1998) và

nghiên cứu kỹ thuật nuôi ngao, sò huyết, trai ngọc (Ngô Trọng Lư, 1996)[7],[8],

Trang 29

[9] Năm 2005-2006, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II đã thực hiện đề tài cấp Bộ về “Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi ngao Bến

Tre Meretrix lyrata”, thực hiện tại 3 tỉnh Bến Tre, Tiền Giang và Thành phố Hồ

Chí Minh Kết quả đề tài đã (i) đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội ảnh hưởng đến biến động nguồn lợi ngao trong vùng nghiên cứu; (ii) xác định vị trí phân bố ngao giống, ngao bố mẹ và đặc điểm vùng phân bố; (iii) đặc điểm sinh học cơ bản ngao giống và ngao bố mẹ

Nghiên cứu sản xuất giống động vật thân mềm hai mảnh vỏ chủ yếu được

tiến hành trên một số đối tượng khác như hàu cửa sông (C rivularis), hàu Thái Bình Dương (C gigas), ngao lụa (Paphia undulata), tu hài (Lutraria

philippnarum)… Kỹ thuật sinh sản nhân tạo ngao (Meretrix sp) được biết đến từ

năm 2003 Tuy nhiên, công nghệ sản xuất mới chỉ được hoàn thiện ở quy mô nhỏ trong các nhà xương, sản lượng con giống sản xuất được còn ít và không ổn định Nhìn chung, các nghiên cứu thu được kết quả tốt, đang góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất Đây là cơ sở tốt để ứng dụng vào nghiên cứu

trên các đối tượng tương tự như ngao M lyrata

Những năm gần đây, một số nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất giống ngao

M lyrata đã được triển khai, tạo tiền đề cho việc hoàn thiện quy trình sản xuất ở

quy mô lớn Theo Chu Chí Thiết và Martin Kumar (2008), ngao bố mẹ đạt tỷ lệ thành thục đến 60% trong hệ thống nước chảy liên tục với việc sử dụng thức ăn

là hỗn hợp 3 loài tảo đơn bào (N oculata, I galbana và C calcitrans)[26] Như

Văn Cẩn và cs (2006) đã ương thử nghiệm ấu trùng ngao giai đoạn bơi tự do ở các độ mặn trọng khoảng từ 10‰, đến 35‰ cho thấy, ở độ mặn 35‰ ấu trùng ngao chết hoàn toàn ở ngày ương thứ 3, trong khi các độ mặn còn lại, ấu trùng chuyển giai đoạn biến thái lần lượt là 20,0%, 26,7%, 31,1%, 24,4% và 11,1% Kết quả phân tích thống kê cho thấy, độ mặn từ 15-25‰ được xác định là phù hợp trong ương ấu trùng ngao giai đoạn D-veliger[4] Trần Kim Anh, Chu Chí

Thiết (2012), cũng đã tiến hành thử nghiệm thu ấu trùng ngao M lyrata giai đoạn

xuất hiện chân bò bằng các nền đáy khác nhau, đã chỉ ra rằng cấu trúc nền đáy

Trang 30

bùn và cát cho tỷ lệ ấu trùng xuống đáy lần lượt là 10,44% và 6,11% phù hợp để ứng dụng vào sản xuất.[2]

Hoàng Văn Hợi (2011) đã thử nghiệm các nền đáy cát-bùn với tỷ lệ cát chiếm từ 10%, 50%, 75% và 90% trong đó lựa chọn được nền đáy có tỷ lệ cát/bùn 75/ 25 và 50/50 cho hiệu quả ương tốt nhất cho ngao ở giai đoạn giống

20 đến 80 ngày tuổi, trong đó thích hợp nhất là tỷ lệ cát/bùn 75/25 Nghêu ương

ở đáy có tỷ lệ cát/bùn là 75/25 và 50/50 có tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 2,78

± 0,05; 2,78 ± 0,05 %/ngày Tỷ lệ sống tương ứng đạt 70,22 ± 1,50 và 69,04 ± 1,03% [7] Lê Thị Thanh (2014) khi nghiên cứu các nền đáy gồm đáy cát/bùn tỷ

lệ 70/30; đáy cát và đáy trơ cũng cho kết quả tăng trưởng của ngao ở nền đáy cát/bùn cao nhất đạt 1,93±0,02 %/ngày, nền đáy cát và đáy trơ cho tăng trưởng thấp hơn lần lượt là 1,64±0,03 %/ngày và 1,39±0,02 %/ngày[11]

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn trong việc ương ngao giống giai đoạn cấp 1 lên cấp 2 được Lê Thị Thanh thử nghiệm với 6 mức từ 10‰, 15‰, 20‰, 25‰, 30‰, 35‰ kết quả thu được sau ngày nuôi đạt tăng trưởng lần lượt là 2,32±0,14; 2,81±0,10; 2,96±0,05;, 3,22±0,07 và 1,86±0,08 %/ngày, riêng tại độ mặn 35‰ ngao chết sau 1 tuần thí nghiệm Kết quả phân tích ANOVA cho thấy tăng trưởng ngao tại độ mặn 20 và 25‰ là cao nhất [11]

Xét về mật độ thả nuôi ngao giống, tác giả Hoàng Văn Hợi (2011) cho rằng mật độ thả từ 3000-5000 con/m2 là phù hợp [6] Tuy nhiên kết quả này khác khá nhiều so với nghiên cứu của Lê Thị Thanh (2014) khi kết luận rằng mật độ 20.000 con/m2 là phù hợp với việc ương ngao giống từ cấp 1 lên giống cấp 2 [11] Điều này đặt ra một vấn đề mới trong nghiên cứu là trong điều kiện thực tế

ở ao nuôi diện tích lớn thì mật độ phù hợp là bao nhiêu Mặt khác sinh khối của ngao trên một đơn vị diện tích không chỉ phụ thuộc vào mật độ mà kích cỡ ngao thả cũng rất quan trọng

Ngô Thị Thu Thảo và ctv (2012) khi nghiên cứu các biện pháp ương giống tu hài, thí nghiệm 2 nhân tố gồm chế độ chiếu sáng và tốc độ dòng chảy, trong đó kết luận dòng chảy có tác dụng đối với tăng trưởng của ấu trùng tu hài

trong điều kiện sản xuất [12]

Ngày đăng: 22/01/2016, 19:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tác An, Nguyễn Văn Lục (1994). Nghiên cứu nguồn lợi hải sản, và các điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch, sử dụng hợp lý các thủy vực ven bờ tỉnh Trà Vinh. Đề tài nghiên cứu Khoa học, Sở Tài nguyên môi trường và sở Thủy sản Trà Vinh, Tr.88-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nguồn lợi hải sản, và các điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch, sử dụng hợp lý các thủy vực ven bờ tỉnh Trà Vinh
Tác giả: Nguyễn Tác An, Nguyễn Văn Lục
Năm: 1994
2. Trần Thị Kim Anh và Chu Chí Thiết (2012). “Ảnh hưởng của mật độ thả nuôi đến tăng trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả sản xuất của ngao (Meretrix lyrata) nuôi ở vùng bãi triều Thanh Hoá”. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn (ISSN 1859-4581) 5/2012, tr. 17-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của mật độ thả nuôi đến tăng trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả sản xuất của ngao (Meretrix lyrata) nuôi ở vùng bãi triều Thanh Hoá”. "Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Trần Thị Kim Anh và Chu Chí Thiết
Năm: 2012
3. Ngô Xuân Ba (2014). Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của ngao (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, Kiến Thụy, Hải Phòng. Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kích cỡ thả nuôi đến sinhtrưởng, tỷ lệ sống của ngao (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) giai đoạn nuôi thương phẩm tại vùng bãi triều, Kiến Thụy, Hải Phòng
Tác giả: Ngô Xuân Ba
Năm: 2014
5. Nguyễn Chính (1996). Một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ (Bivalve Mollusc) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam. Nxb Khoa học Kỹ thuật Hà Nội. tr. 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ (Bivalve Mollusc) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chính
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật Hà Nội. tr. 132
Năm: 1996
6. Hoàng Văn Hợi (2011). “Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ngao (Meretrix lyrata) giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi”. Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nền đáy, thức ăn, mật độ ương trong ao đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ngao (Meretrix lyrata) giai đoạn giống 20 đến 80 ngày tuổi
Tác giả: Hoàng Văn Hợi
Năm: 2011
7. Ngô Trọng Lƣ (1996). Kỹ thuật nuôi ngao, ngao, sò huyết, trai ngọc. NXB Nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi ngao, ngao, sò huyết, trai ngọc
Tác giả: Ngô Trọng Lƣ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1996
8. Trương Quốc Phú (1998). “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh hóa và kỹ thuật nuôi ngao (Meretrix lyrata) ở vùng ven biển Tiền Giang, Bến Tre” Luận án tiến sĩ, trường Đại học Cần Thơ. 154 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh hóa và kỹ thuật nuôi ngao (Meretrix lyrata) ở vùng ven biển Tiền Giang, Bến Tre
Tác giả: Trương Quốc Phú
Năm: 1998
10. Lê Xuân Sinh (2010). Đánh giá khả năng tích tụ kẽm và thủy ngân của ngao Bến tre (Meretrix. lyrata) vùng cửa sông Bạch Đằng trong phòng thí nghiệm. Tuyển tập Hội nghị Khoa học kỷ niệm 35 năm Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Hà Nội 10/2010, trang 192-198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng tích tụ kẽm và thủy ngân của ngao Bến tre ("Meretrix. lyrata)" vùng cửa sông Bạch Đằng trong phòng thí nghiệm
Tác giả: Lê Xuân Sinh
Năm: 2010
11. Lê Thị Thanh (2014). “Ảnh hưởng của độ mặn, mật độ và nền đáy đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ngao Bến Tre (Meretrix lyrata) từ giai đoạn giống cấp 1 lên giống cấp 2 trong điều kiện sản xuất” Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của độ mặn, mật độ và nền đáy đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của ngao Bến Tre (Meretrix lyrata) từ giai đoạn giống cấp 1 lên giống cấp 2 trong điều kiện sản xuất”
Tác giả: Lê Thị Thanh
Năm: 2014
12. Ngô Thị Thu Thảo, Lâm Thị Quang Mẫn (2012). Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn đến tốc độ lọc tảo, chỉ số độ béo và tỷ lệ sống của ngao (Meretrix lyrata).Tạp chí khoa học, (23b) tr. 265-271 B. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học
Tác giả: Ngô Thị Thu Thảo, Lâm Thị Quang Mẫn
Năm: 2012
13. Baker S., Hoover E. and Sturmer L. (2007). The role of salinity in Hard clam, Aquaculture, CIR1500, Univearsity of Florida Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aquaculture
Tác giả: Baker S., Hoover E. and Sturmer L
Năm: 2007
14. Cigarrıa, J., Fernandez, J.M., (2000). Management of Manila clam beds I. Influence of seed size, type of substratum and protection on initial mortality.Aquaculture 182, pp 173- 182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aquaculture
Tác giả: Cigarrıa, J., Fernandez, J.M
Năm: 2000
15. Helm M. M. and Bourne N. (2004). Hatchery culture of bivalves, a practical manual, FAO fisheries technical, pp. 471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FAO fisheries technical
Tác giả: Helm M. M. and Bourne N
Năm: 2004
16. Jennifer Lynn Scheller (1997). The effect of dieoffs of asian clams (corbicula fluminea) on native freshwater mussels (unionidae). Faculty of the Virginia Polytechnic Institute and State University. 92pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of dieoffs of asian clams (corbicula fluminea) on native freshwater mussels (unionidae)
Tác giả: Jennifer Lynn Scheller
Năm: 1997
17. Liu B., Dong B., Tang B., Zhang T., Xiang J. (2006). Effect of stocking density on growth, settlement and survival of clam larvae, Meretrix meretrix Linnaeus, Aquculture 258: 344-349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aquculture
Tác giả: Liu B., Dong B., Tang B., Zhang T., Xiang J
Năm: 2006
18. Marina Delgado and Alejandro Perez Camacho (2005). Histological study of the gonadal development of Ruditapes desussatus (L.) (Mollusca: Bivalvia) and its relationship with available food. SCI.MAR., 69 (1): 87-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SCI.MAR
Tác giả: Marina Delgado and Alejandro Perez Camacho
Năm: 2005
19. Nancy H. Hadley1 and Jack M. Whetstone (2007). Hard Clam Hatchery and Nursery Production. SRAC Publication No. 4301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SRAC Publication
Tác giả: Nancy H. Hadley1 and Jack M. Whetstone
Năm: 2007
20. Qayle, D.B. and Newkirk, G.F. (1989). Farming Bivalve Mollusc Methods Study and Development Advances in World Aquaculture. Published by the World Aquaculture Society Association with International Development Research Center. Vol. I, 294 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Farming Bivalve Mollusc Methods Study and Development Advances in World Aquaculture
Tác giả: Qayle, D.B. and Newkirk, G.F
Năm: 1989
21. Tang, B., Liu, B., Wang, G., Zhang, T., Xiang, J., (2006). Effects of various algal diets and starvation on larval growth and survival of Meretrix meretrix.Aquaculture 254: 526-533 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Meretrix meretrix. Aquaculture
Tác giả: Tang, B., Liu, B., Wang, G., Zhang, T., Xiang, J
Năm: 2006
22. Jack M. Whetstone, Leslie N. Sturmer and Michael J. Oesterling (2005). Biology and Culture of the Hard Clam (Mercenaria mercenaria), Southern Regional Aquaculture Center, Publication No. 433 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Biology and Culture of the Hard Clam (Mercenaria mercenaria
Tác giả: Jack M. Whetstone, Leslie N. Sturmer and Michael J. Oesterling
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1.1. Hình thái cấu tạo và vị trí phân loại - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
1.1.1. Hình thái cấu tạo và vị trí phân loại (Trang 12)
Hình 1.2. Hình thái cấu tạo chung của nhóm ngao thuộc họ Veneridae - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 1.2. Hình thái cấu tạo chung của nhóm ngao thuộc họ Veneridae (Trang 13)
Hình 1.3. Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ngao (độ phóng đại 80 X) - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 1.3. Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ngao (độ phóng đại 80 X) (Trang 18)
Hình 1.4.  Hệ  thống  thu  ấu  trùng  xuống  đáy  và  ƣơng ngao  giống  (Nancy  và  cs, - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 1.4. Hệ thống thu ấu trùng xuống đáy và ƣơng ngao giống (Nancy và cs, (Trang 21)
Hình 1.7. Hệ thống ương giống ngao bằng bè và mương nổi (Nancy và cs,2007) - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 1.7. Hệ thống ương giống ngao bằng bè và mương nổi (Nancy và cs,2007) (Trang 28)
Hình 2.1 Bố trí thí nghiệm về mật độ và kích cỡ - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 2.1 Bố trí thí nghiệm về mật độ và kích cỡ (Trang 32)
Hình 2.2 Bản vẽ mô hình hệ thống thí nghiệm (thí nghiệm dòng chảy) - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 2.2 Bản vẽ mô hình hệ thống thí nghiệm (thí nghiệm dòng chảy) (Trang 34)
Hình 2.3 Hệ thống ương ngao giống nước tĩnh (trái) và nước chảy (phải) - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 2.3 Hệ thống ương ngao giống nước tĩnh (trái) và nước chảy (phải) (Trang 35)
Hình 2.5. Thước kẹp đo kích thước ngao (hình ảnh từ thí nghiệm) - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 2.5. Thước kẹp đo kích thước ngao (hình ảnh từ thí nghiệm) (Trang 36)
Hình 3.2. tăng trưởng chiều cao cỡ giống lớn C1 (2,15 mm) ở các mật độ - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 3.2. tăng trưởng chiều cao cỡ giống lớn C1 (2,15 mm) ở các mật độ (Trang 41)
Hình 3.3. tăng trưởng chiều cao ngao giống cỡ nhỏ (0,96 mm) ở các mật độ - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 3.3. tăng trưởng chiều cao ngao giống cỡ nhỏ (0,96 mm) ở các mật độ (Trang 42)
Bảng 3.6. Tăng trưởng tương đối (%/ngày) khối lượng ngao giống - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Bảng 3.6. Tăng trưởng tương đối (%/ngày) khối lượng ngao giống (Trang 48)
Bảng 3.8. Biến động môi trường thí nghiệm chảy ngược - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Bảng 3.8. Biến động môi trường thí nghiệm chảy ngược (Trang 50)
Hình 3.5 tăng trưởng chiều cao của ngao giống ở các nghiệm thức thí nghiệm - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 3.5 tăng trưởng chiều cao của ngao giống ở các nghiệm thức thí nghiệm (Trang 52)
Hình 3.6. Tăng trưởng tương đối (%/ngày) chiều cao - Ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống, tăng trưởng của ngao (meretrix lyrata sowerby, 1851) giống ương trong ao đất ở cẩm xuyên, hã tĩnh
Hình 3.6. Tăng trưởng tương đối (%/ngày) chiều cao (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w