Tỷ lệ cá thể không xác định được giới tính giảm trong mùa sinh sản và ngược lại.[8] Theo Trương Quốc Phú 1998, quá trình phát triển của tuyến sinh dục của ngao được phân biện theo các gi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN ĐỨC
ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH CỠ VÀ MẬT ĐỘ THẢ, DÒNG CHẢY LÊN TỶ LỆ SỐNG, TĂNG TRƯỞNG
CỦA NGAO (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) GIỐNG
ƯƠNG TRONG AO ĐẤT Ở CẨM XUYÊN, HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN ĐỨC
ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH CỠ VÀ MẬT ĐỘ THẢ, DÒNG CHẢY LÊN TỶ LỆ SỐNG, TĂNG TRƯỞNG
CỦA NGAO (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) GIỐNG
ƯƠNG TRONG AO ĐẤT Ở CẨM XUYÊN, HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60 62 03 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quang Huy
NGHỆ AN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ “ ảnh hưởng của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ
lệ sống và tăng trưởng của ngao (Meretrix lyrata, Sowerby 1851) giống ương
trong ao đất ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh” là của riêng cá nhân tôi Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn được trích dẫn rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Nghệ An, ngày 08 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Văn Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân Từ đáy lòng mình, tôi xin trân trọng cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó:
Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn tới Lãnh đạo khoa Nông Lâm Ngư, Phòng đào tạo sau Đại học của Trường Đại học Vinh, Ban Lãnh đạo Phân Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học
Xin trân trọng cảm ơn Dự án “Sử dụng hợp lý nguồn dinh dưỡng để phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững ở Miền Trung Việt Nam trong bối cảnh biến đổi Khí hậu”, tài trợ bởi Bộ Ngoại giao Đan Mạch, đã hỗ trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới TS Nguyễn Quang Huy, người hướng dẫn khoa học, đã định hướng trong nghiên cứu, từ việc lập đề cương đến triển khai các thí nghiệm và hoàn thiện bản luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai thí nghiệm nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn
Nghệ An, ngày 08 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Văn Đức
Trang 5MỤC LỤC
MỤCLỤC III
DANHMỤCBẢNGBIỂU VI
DANHMỤCHÌNH VII
ĐẶTVẤNĐỀ 1
Lý do chọn đề tài 1
Mục tiêu nghiên cứu 2
Ý nghĩa khoa học, thực tiến của đề tài 2
1.1 Đặc điểm sinh học của ngao 3
1.1.1 Hình thái cấu tạo và vị trí phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố 5
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5
1.1.4 Đặc điểm sinh sản 6
1.2 Tình hình nghiên cứu sinh sản nhân tạo giống ngao trong và ngoài nước 9
1.2.1 Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống động vật thân mềm hai mảnh vỏ và ngao trên thế giới 9
1.2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống ngao tại Việt Nam 19
CHƯƠNG 2.NỘIDUNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 22
2.1 Nội dung nghiên cứu 22
2.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.3 Vật liệu nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp thực nghiệm 22
2.4.1 Phương pha ́ p bố trí thí nghiệm 22
2.4.2 Chỉ tiêu và phương pháp thu thập số liệu: 26
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 28
2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3.KẾTQUẢNGHIÊNCỨUVÀTHẢOLUẬN 29
3.1 Ảnh hưởng của kích cỡ giống và mật độ thả đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ngao giống 29
3.1.1 Một số chỉ tiêu môi trường thí nghiệm 29
Trang 63.1.2 Tỷ lệ sống của ngao giống thí nghiệm 30
3.1.3 Tăng trưởng chiều cao của ngao giống ở các kích cỡ và mật độ thả 32
3.1.4 Mức độ phân đàn của ngao giống ở các nghiệm thức thí nghiệm 39
3.2 Ảnh hưởng của dòng chảy (chảy ngược) đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ngao giống 41
3.2.1 Một số chỉ tiêu môi trường thí nghiệm 41
3.2.2 Tỷ lệ sống của ngao thí nghiệm 42
3.2.3 Tăng trưởng kích thước, khối lượng ngao giống thí nghiệm 43
3.2.4 Mức độ phân đàn của ngao giống 47
KẾTLUẬN,KIẾNNGHỊ 48
Kết luận 48
Kiến nghị 48
Trang 7DANH MỤC KÍ HIỆU - VIẾT TẮT
ANOVA : Phân tích phương sai
AG : Tăng trưởng tuyệt đối
TB Trung bình Ctv : Cộng tác viên
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Một số yêu cầu trong nuôi vỗ và lưu giữ ngao (M mercenaria) bố mẹ
thành thục 15
Bảng 3.1 Biến động môi trường ao thí nghiệm 29
Bảng 3.2 Tỷ lệ sống của ngao giống ở các nghiệm thức thí nghiệm 30
Bảng 3.3 tăng trưởng tuyệt đối theo ngày của ngao ở các nghiệm thức 34
Bảng 3.4 tăng trưởng chiều cao tương đối (%/ngày) của ngao giống ở các nghiệm thức 36
Bảng 3.5 Tăng trưởng tuyệt đối theo khối lượng ngao giống 37
Bảng 3.7 Hệ số phân đàn ngao giống thí nghiệm 40
Bảng 3.8 Biến động môi trường thí nghiệm chảy ngược 41
Bảng 3.9 Tỷ lệ sống của ngao giống 42
Bảng 3.10 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối/ngày của ngao giống 44
Bảng 3.11 Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày) ngày ở các nghiệm thức thí nghiệm 44
Bảng 3.12 tăng trưởng tuyệt đối khối lượng ngao giống mg/ngày 46
Bảng 3.13 Tốc độ tăng trưởng tương đối khối lượng của ngao giống 46
Bảng 3.14 Hệ số phân đàn của ngao giống 47
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Ngao Meretrix lyrata, Sowerby (1851) 3
Hình 1.2 Hình thái cấu tạo chung của nhóm ngao thuộc họ Veneridae 4
Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ngao 9
Hình 1.4 Hệ thống thu ấu trùng xuống đáy và ương ngao giống 12
Hình 1.5 Biến động hệ số thành thục của ngao sau 70 ngày nuôi với các mức cho ăn khác nhau 14
Hình 1.6 Ấu trùng ngao M mercenaria ở các giai đoạn biến thái 16
Hình 1.7 Hệ thống ương giống ngao bằng bè và mương nổi 19
Hình 2.1 Bố trí thí nghiệm về mật độ và kích cỡ 23
Hình 2.2 Bản vẽ mô hình hệ thống thí nghiệm (thí nghiệm dòng chảy) 25
Hình 2.3 Hệ thống ương ngao giống nước tĩnh (trái) và nước chảy (phải) 26
Hình 2.4 Cách xác định chiều cao, chiều dài vỏ 26
Hình 2.5 Thước kẹp đo kích thước ngao (hình ảnh từ thí nghiệm) 27
Hình 3.1 Tỷ lệ sống của ngao ở các công thức thí nghiệm 31
Hình 3.2 tăng trưởng chiều cao cỡ giống lớn C1 (2,15 mm) ở các mật độ 32
Hình 3.3 tăng trưởng chiều cao ngao giống cỡ nhỏ (0,96 mm) ở các mật độ 33
Hình 3.4 Tốc độ tăng trưởng (%/ngày) ở các công thức thí nghiệm 35 Hình 3.5 tăng trưởng chiều cao của ngao giống ở các nghiệm thức thí nghiệm 43
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, hiện đang sử dụng từ “nghêu Bến Tre” và “ngao Bến Tre” là
tên gọi của loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ thuộc họ Veneridae Từ “ngao”
được sử dụng ở miền Bắc, trong khi từ “nghêu” được sử dụng ở phía Nam Trong luận văn này, sẽ thống nhất sử dụng từ “ngao” là danh từ dùng để chỉ loài có tên
khoa học là Meretrix lyrata Sowerby (1851)
Ngao Bến Tre được xác định là một những đối tượng nuôi chủ lực của ngành Thủy sản Loài nhuyễn thể này có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước Nghề nuôi ngao Bến Tre đã phát triển mạnh ở các tỉnh Nam Bộ và gần đây là các tỉnh ven biển phía Bắc từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, đã và đang những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân
Bên cạnh nguồn ngao giống khai thác từ tự nhiên, ngao giống nhân tạo đã được sản xuất thành công [26] Kỹ thuật sản xuất giống ngao đã được áp dụng ở quy mô sản xuất đại trà trong ao xi măng hoặc ao đất lót bạt ở nhiều tỉnh phía Nam và một số tỉnh phía Bắc như Nam Định, Thái Bình [10] Để giảm chi phí nuôi ngao thương phẩm, cỡ giống ngao nhỏ (cỡ 1-2 mm) được nhiều người dân lựa chọn mua Tuy nhiên hiện chưa có quy trình nào được công bố hướng dẫn cho việc ương ngao cỡ giống nhỏ đến cỡ giống lớn trong ao đất trước khi thả ra bãi triều nên tỷ lệ sống của ngao và hiệu quả sản xuất thấp Hoạt động ương nuôi ngao giống trong ao đất chủ yếu mang tính tự phát dựa trên kinh nghiệm truyền miệng dẫn đến việc ương nuôi ngao giống bấp bênh, nhiều rủi ro và hiệu quả thấp Trong điều kiện ương ao đất, thức ăn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, việc lựa chọn mật độ và cỡ giống ngao thả kết hợp với chế độ dòng chảy phù hợp
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất Chính vì vậy nghiên cứu “ảnh hưởng
của kích cỡ và mật độ thả, dòng chảy lên tỷ lệ sống và tăng trưởng của ngao (Meretrix lyrata, Sowerby 1851) giống ương trong ao đất ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh” được thực hiện sẽ góp phần xây dựng quy trình ương ngao trong ao đất ở
vùng ven biển
Trang 11Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của ngao
1.1.1 Hình thái cấu tạo và vị trí phân loại
Theo Nguyễn Chính (1996), hệ thống phân loại của ngao như sau:
Loài: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) [5]
Hình 1.1 Ngao Meretrix lyrata, Sowerby (1851) (Ảnh: Chu Chí Thiết, 2013)
Theo Quayle và Newkirk (1989), hình thái cấu tạo chung giữa các loài
thuộc họ Veneridae không khác nhau nhiều, được mô tả như sau: vỏ dày chắc,
hai vỏ bằng nhau, mặt vỏ có hoa vân, vòng đồng tâm hay tia phóng xạ biến đổi rất lớn Khớp bản lề có 3 răng giữa và 2 răng bên Vịnh màng áo nông, vết mép màng áo rõ ràng Vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau lớn hình bầu dục [20]
Trang 13Hình 1.2 Hình thái cấu tạo chung của nhóm ngao thuộc họ Veneridae
(Quayle và Newkirk, 1989) Theo Trương Quốc Phú (1998), ngao có hai vỏ bằng nhau, dạng hình tam giác Hai vỏ gắn với nhau bằng một bản lề, ở mặt lưng có dầy chằng cấu tạo bằng chất sừng đàn hồi dùng để mở vỏ Bản lề lộ ra bên ngoài có dạng hình trụ nằm, bắt đầu từ đỉnh vỏ kéo dài về phía cạnh sau một khoảng bằng ¼ chiều dài của cạnh sau Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trên bề mặt vỏ có nhiều vòng sinh trưởng đồng tâm, các đường sinh trưởng chạy song song và thưa dần về phía mặt bụng Phía trước đỉnh vỏ là mặt nguyệt hình viên đạn, nhỏ, màu trắng, xung quanh có một viền màu nâu nhạt Mặt thuận có màu nâu đen, to hơn mặt nguyệt, nằm ở sau đỉnh vỏ kéo dài hết cạnh sau của vỏ Bên trong vỏ, phía dưới đỉnh vỏ
và bản lề có mặt khớp Mặt khớp có răng khớp lại với nhau rất khít, răng khớp của vỏ trái và vỏ phải khác nhau Mặt khớp của vỏ trái có 4 mấu lồi và 3 hố lõm,
3 trong 4 mấu lồi dính lại nhau ngay sát đỉnh vỏ vỏ có dạng chẽ ba, mấu lồi phía cạnh trước ngắn, nhọn nằm riêng rẽ, mấu lồi phía cạnh sau có dạng dài, bắt đầu
từ đỉnh vỏ kéo dài về phía cạnh sau, chiều dài bằng chiều dài của bản lề Mặt khớp của vỏ phải có 3 mấu lồi và 4 hố lõm tương ứng với vỏ trái khi khớp lại với nhau Mặt trong của vỏ có màu trắng, có các vết in của cơ khép vỏ trước và sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ điều khiển ống hút thoát nước Từ vết in của cơ màng áo trở ra mép vỏ có tầng xà cừ nhẵn bóng, óng ánh; từ vết in màng
Tuyến tiêu hóa Mang bên phải
Vịnh màng áo trái
Cơ khép vỏ trước
Vùng ruột (vị trí của tuyến sinh dục
Mang bên trái
Cơ khép vỏ sau
Chân
Màng
áo phải
Vỏ phải
Trang 14áo trở vào có tầng xà cừ đục Vết cơ khép vỏ trước hơi nhỏ hơn vết cơ khép vỏ sau và có hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau hình tròn [8]
1.1.2 Đặc điểm phân bố
Trên thế giới ngao phân bố ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương, từ biển Đài Loan đến Việt Nam Ở Việt Nam, ngao phân bố nhiều ở Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau) [9] Vùng có sản lượng ngao cao nhất là vùng ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang, Bến Tre [5]
Các đặc trưng phân bố của ngao cũng đã được một số tác giả nghiên cứu, cho thấy ngao phân bố ở vùng triều thấp, thời gian phơi bãi từ 2-8 giờ/ngày Độ sâu cực đại tìm thấy ngao lúc nước ròng khoảng 1,5-2,5 m Ngao phân bố ở vùng
có nền đáy cát mịn đến cát có pha lẫn bùn lỏng (10-18%); vào mùa mưa, bùn lỏng bao phủ nền đáy bãi ngao 1,5-2,5 cm Vùng phân bố của ngao có độ mặn dao động trong khoảng 7-25‰, nhiệt độ là 26-32oC Các yếu tố môi trường đặc trưng của bãi ngao biến đổi rõ rệt theo mùa, chúng phụ thuộc vào lượng mưa lũ tràn qua vùng rừng ngập mặn đổ ra các bãi ngao.[1]
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo Quayle và Newkirk (1989) nhóm động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung bắt mồi theo kiểu lọc có chọn lọc theo kích cỡ thức ăn Những hạt thức ăn
quá to, những loài tảo có kích thước lớn, dạng sợi như Chaetoceros, Skeletonema,
Bacteriastrum… thường khó bắt được, đặc biệt giai đoạn ấu trùng Cỡ hạt thức ăn
mà chúng có thể lọc được có kích thước từ 10-100 µm.[20]
Trương Quốc Phú (1998) tiến hành phân tích thức ăn trong dạ dày ngao cho thấy, có sự xuất hiện hai thành phần chính là xác mùn bã hữu cơ, chiếm 78,82-90,38% và 44 loài tảo, chiếm 9,62-21,18% Trong đó, tảo Silic
Bacillariophyta chiếm đa số với 41 loài (93,18%), tảo Giáp Pyrophyta có một
loài (2,27%) và hai loài tảo Lam Cyanophyta (4,55%), nhưng không thấy sự có mặt của tảo Lục Chlorophyta Loại thức ăn có tần suất xuất hiện cao nhất trong
dạ dày ngao là mùn bã hữu cơ, với tần suất bắt gặp đến 100%, tiếp đến là các loài
Trang 15tảo thuộc các giống Coscinodiscus, Cyclotella và Nitzschia như: Coscinodiscus
asteromphalus, Coscinodiscus radiates, Cyclotella comta, Cyclotella striata, Nitzschia lanccolata…Trong số các loài tảo hiện diện trong dạ dày ngao không
có loài nào thuộc loài tảo độc, chỉ có hai loài Ceratium furca và Trichodesmium
erytheracum thuộc những loài tảo gây nên hiện tượng hồng triều khi chúng nở
hoa Các loài tảo đáy bùn có dạng hình tròn hoặc gần tròn như Coscinodiscus,
Cyclotella thường bắt gặp nhiều hơn so với các loài tảo phiêu sinh do xác suất
bắt gặp chúng ở đáy cao hơn [8]
Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), thành phần thức ăn chính của ngao vùng Trà Vinh là mùn bã hữu cơ chiếm từ 75-90%, tảo chiếm từ 10-25% Trong thành phẩn tảo thì tảo silic chiếm 90-95%, tảo giáp chiếm 3,3-6,6%, còn lại là tảo lam, tảo lục, tảo vàng ánh chiếm 0,8-1%.[9]
Như vậy, thức ăn của ngao có biến động theo từng vùng phân bố và theo mùa làm thay đổi tỷ lệ hai thành phần chính là mùn bã hữu cơ và các loài tảo Tuy nhiên, tỷ lệ tảo trong dạ dày ngao chiếm tỷ lệ thấp, dao động trong khoảng 9-25% Đây là đặc điểm cần lưu ý trong việc sản xuất tảo sinh khối làm thức ăn cho ngao trong quá trình sản xuất
1.1.4 Đặc điểm sinh sản
Ngao phân tính, đực và cái riêng biệt Nhìn hình dạng bên ngoài rất khó xác định giới tính, chỉ phân biệt được qua việc giải phẩu, quan sát tuyến sinh dục vào mùa sinh sản Giai đoạn chưa thành thục, phần nội tạng ở cả ngao đực và cái đều dẹp và có màu trắng, có thể nhìn thấy cơ quan tiêu hóa (tuyến gan tụy và ruột) Ở giai đoạn thành thục (giai đoạn 2 hoặc 3), tuyến sinh dục phát triển rộng ra, cơ thể ngao bắt đầu phồng lên, nhìn từ gốc chân trở lên phần lưng thấy xuất hiện những hạt lấm chấm bên trong, đó là các túi chứa trứng và tinh Lúc này tuyến sinh dục của con đực và con cái khác nhau: tuyến sinh dục của con đực có màu trắng đục, con cái có màu vàng hoặc vàng nhạt Tỷ lệ đực, cái của ngao trong tự nhiên cũng thay đổi theo từng giai đoạn: tỷ lệ ngao đực cao hơn ngao cái ở trong mùa sinh sản, nhưng trước và sau mùa sinh sản thì tỷ lệ ngao cái lại cao hơn ngao đực Ngoài ra, trong quần thể còn có một số cá thể không xác định được giới tính
Trang 16Tỷ lệ cá thể không xác định được giới tính giảm trong mùa sinh sản và ngược lại.[8]
Theo Trương Quốc Phú (1998), quá trình phát triển của tuyến sinh dục của ngao được phân biện theo các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 0: Tuyến sinh dục không rõ ràng, không xác định được giới
tính; cơ thể ngao chỉ hiện hiện mô leydig, không có sự hiện diện của nang tinh
* Tuyến sinh dục đực:
- Giai đoạn 1: nang tinh bắt đầu xuất hiện, chúng vẫn còn nhỏ và nằm
riair tác chen lẫn trong mô leydig, các tế bào phát triển đùn đẩy lẫn nhau tạo thành những chuỗi tế bào hướng tâm Các nang tinh có màu hồng sậm khi nhuộm hai màu Khó phân biệt từng tế bào khi quan sát dưới kính hiển vi
- Giai đoạn 2: các nang tinh phát triển rộng chiếm hết không gian của
Leydig Tương tự như ở giai đoạn 1, các nang tinh có màu hồng sậm (hơi tím), khó phân biệt từng tế bào
- Giai đoạn 3: nang tinh chứa đầy các tinh trùng sẵn sàng tham gia sinh
sản Khi chuyển sang giai đoạn chín nang tinh có vách mỏng, các tế bào sinh dục hầu như chỉ có nhân, rất ít tế bào chất nên khi quan sát tinh trùng có màu xanh đen (nhân tế bào ăn màu của thuốc nhuộm hematoxyline có màu xanh đen)
- Giai đoạn 4: tuyến sinh dục đực chứa các nang tinh rỗng và bị rách nát
Dọc theo các vách nang vẫn còn sót lại một số tinh trùng
* Tuyến sinh dục cái:
- Giai đoạn 1: bắt đầu có sự hiện diện của nang trứng, nhưng vẫn còn
nhỏ, rộng bên trong, khó phân biệt từng tế báo Các tế bào này có màu hồng nhạt khi nhuộm hai màu (hematoxyline và eosin)
- Giai đoạn 2: các nang trứng bắt đầu phồng lên thay thế toàn bộ mô
Leydig, bên trong các não bào đã phát triển lấp đầy khoảng trống của nang trứng Các noãn bào tích lũy não hoàng, trong nang trứng bắt đầu xuất hiện một vài tế bào lớn có màu hồng nhạt có thể nhìn thấy nhân tế bào đó là trứng vừa chuyển sang giai đoạn chín
- Giai đoạn 3: là giai đoạn trứng chính sẵn sàng tham gia sinh sản
Trang 17Các nang trứng phồng to, vách mỏng, bên trong nang chứa đầy trứng chính Tế bào trứng chín cũng gia tăng kích thước và có hình đa giác hay tròn hoặc bầu dục Nói chung, hình dạng rất đa dạng Trứng có màu hồng nhạt có thể nhìn rõ nhân và hạch nhân
- Giai đoạn 4: ngao vừa sinh sản xong Tuyến sinh dục chứa nhiều nang
trứng rách nát và trống rỗng Trong nang trứng còn sót lại một vài trứng.[8]
Trang 18Hình 1.3 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ngao (độ phóng đại 80 X)
(Trương Quốc Phú, 1998)
Ghi chú: A: tuyến sinh dục giai đoạn 0; B: tuyến sinh dục lưỡng tính; C: tuyến sinh dục đực giai đoạn 1; D: tuyến sinh dục đực giai đoan 2; E: tuyến sinh dục đực giai đoạn 3; F: tuyến sinh dục đực giai đoạn 4; G: tuyến sinh dục cái giai đoạn 1; H: tuyến sinh dục cái giai đoạn 2; I: tuyến sinh dục cái giai đoạn 3; J: tuyến sinh dục cái giai đoạn 4
1.2 Tình hình nghiên cứu sinh sản nhân tạo giống ngao trong và ngoài nước
1.2.1 Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống động vật thân mềm hai mảnh vỏ
và ngao trên thế giới
Công nghệ sản xuất giống các đối tượng động vật thân mềm hai mảnh vỏ được nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất ở châu Âu và Hoa Kỳ trong những năm 1960 Công nghệ sản xuất giống nhân tạo một số đối tượng chính trong nuôi trồng thủy sản trên thế giới đã được cải tiến và phát triển tiếp theo thời gian sau đó[15] Có nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên thế giới liên quan đến kết quả nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm động vật thân
Trang 19mềm hai mảnh vỏ nói chung gồm hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas), hầu
đá Sedney (Saccostrea commercialis), hàu Mỹ (C virginica), hàu dẹt châu Âu (Ostrea edulis) và ngao dầu (Meretrix meretrix), ngao mật (M lusoria), ngao Manila (Mercenaria mercenaria), ngao lụa Tape (Tapes philippinarum)
a) Về hệ thống trại sản xuất giống:
Theo Helm và cs (2004), một trong những yêu cầu cơ bản của trại sản xuất giống ngao là phải nằm ở những nơi không bị ảnh hưởng bởi các nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp; giao thông thuận tiện, có nguồn điện chủ động và thuận tiện trong việc trao đổi thông tin, liên lạc Bên cạnh đó, ngoài việc xây dựng trại giống hiệu quả kinh tế, thuận tiện trong vận hành sử dụng, người ta cũng tính đến việc dự phòng để mở rộng, nâp cấp trại trong tương lai Cũng theo Helm và cs (2004), trại sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ được thiết kế linh hoạt, tuỳ thuộc vào đối tượng được lựa chọn sản xuất, điều kiện tự nhiên, khí hậu, diện tích mặt bằng, vốn đầu tư, sản lượng con giống dự kiến [15]
Theo Jones và cs (1993), một số giai đoạn quan trọng trong thiết kế, vận
hành trại sản xuất giống ngao Manila (M mercenaria) như sau[27]:
- Hệ thống nuôi vỗ ngao bố mẹ: được thiết kế với 2 lựa chọn là hệ thống
nước chảy và hệ thống nước tĩnh, mỗi hệ thống đều có tính ưu việt riêng Đối với
hệ thống nước chảy: ngao được nuôi trong điều kiện tuần hoàn nên môi trường sạch hơn, dòng chảy của nước là một trong những nhân tố kích thích đến sự chín của tuyến sinh dục nên ngao có thời gian thành thục nhanh hơn Tuy nhiên, trong
hệ thống nước tĩnh, việc theo dõi nhằm loại bỏ những cá thế sinh sản không mong muốn dễ dàng hơn, việc duy trì nhiệt độ, quản lý thức ăn và kỹ thuật vận hành cũng dễ dàng hơn
- Hệ thống ương ấu trùng: nước cấp vào hệ thống ương ấu trùng được
lắng, sau đó qua thiết bị lọc cát và lọc tinh 5 µm Ấu trùng ngao Manila được ương trong điều kiện độ mặn tối ưu là 250
/00 và nhiệt độ tối ưu 230C Hiện tại, có hai phương pháp ương ấu trùng đang được ứng dụng trong sản xuất, đó là: (1) hệ thống nước chảy và (2) hệ thống nước tĩnh Hệ thống nước chảy cho phép ương
ấu trùng ở mật độ cao hơn, tốc độ sinh trưởng của ấu trùng nhanh hơn so với hệ
Trang 20thống nước tĩnh, nhưng chi phí đầu tư thiết bị, hệ thống cao hơn, cũng như đòi hỏi kỹ năng vận hành hệ thống cao hơn
- Hệ thống thu ấu trùng xuống đáy: ấu trùng ngao đến giai đoạn biến thái,
xuất hiện chân bò được tiến hành lọc và thu bằng rây lọc có mắt lưới 150m, sau đó chuyển tới hệ thống ao thu ấu trùng xuống đáy, là những khay lưới nổi trên bề mặt ao, tạo mặt thoáng để ấu trùng có thể bò trên bề mặt hoặc bơi lội tự
do Nước biển đã qua xử lý cấp trực tiếp vào hệ thống rây, từ phía trên miệng khay và thoát qua đáy khay (Downwelling system), hoặc nước được cấp vào khay từ dưới đáy và thoát ra ngoài ở phía trên miệng khay (Upwelling system) Nền đáy không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng ngao ở giai đoạn này, khay
có nền đáy cho kết quả tương tự như khay không có nền đáy (đáy trơ) Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xuống đáy của ấu trùng là:
+) Mật độ ấu trùng trong khay: 1.500.000 – 2.000.000 ấu trùng/m2
đáy +) Nhiệt độ: tương đương với nhiệt độ trong bể ương Đối với ngao Manila, nhiệt độ dao động trong khoảng 20 – 240C
+) Phát sinh vi khuẩn có hại và các chất bẩn: trong qúa trình biến thái, ấu trùng tăng sự trao đổi chất, làm phát sinh các chất bẩn là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn
có hại phát triển nhanh Vì thế, việc thay nước và vệ sinh ấu trùng trong khi ương phải được lưu ý trong quá trình sản xuất
+) Thức ăn (tảo) và chế độ cho ăn: cho ăn lượng thức ăn đủ về số lượng và dinh dưỡng sẽ tăng tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn này Dư thừa thức ăn sẽ làm cho môi trường ương nuôi bị ô nhiễm, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển
- Hệ thống thuần hoá con giống spat: Các trại giống có thể có hoặc không
có hệ thống ương thuần hoá con giống trước khi nuôi thương phẩm Hệ thống thuần hoá là bộ phận tách rời khỏi trại giống, có thể được xây dựng cho người nuôi để họ chủ động phần công việc này trước khi đem con giống ra vùng nuôi
Hệ thống này có thể nằm tách rời khỏi trại sản xuất
Trang 21Hình 1.4 Hệ thống thu ấu trùng xuống đáy và ương ngao giống (Nancy và cs,
2007)
Nó được thiết kế đa dạng, trên nguyên tắc vận hành của hai hệ thống
giống như thu ấu trùng xuống đáy là Downwelling system và Upwelling system
và có thể được lắp đặt trong trại sản xuất hoặc ngoài ao ương Nguyên lý hoạt
động của hệ thống này là việc thay đổi một cách từ từ điều kiện ương nuôi để cho
con giống quen dần với môi trường bên ngoài và cuối cùng là sử dụng hoàn toàn
bằng thức ăn tự nhiên Đây là công đoạn được xem là quan trọng trước khi
chuyển con giống từ trại sản xuất ra vùng nuôi thương phẩm ngoài tự nhiên, bởi
vì ngao giống dễ bị stress nếu chúng bị thay đổi môi trường đột ngột, đặc biệt là
từ môi trường được kiểm soát sạch sẽ sang môi trường ngoài tự nhiên
b) Về công nghệ sản xuất giống ngao:
Nancy và cs (2007) đã phát triển công nghệ sản nhân tạo giống ngao M
mercenaria gồm có 5 công đoạn chính gồm: 1) lưu giữ và nuôi vỗ ngao bố mẹ;
2) kích thích sinh sản; 3) ương nuôi ấu trùng; 4) ương nuôi ấu trùng xuống đáy;
và 5) sản xuất thức ăn (sản xuất sinh khối tảo) Các giai đoạn này được hỗ trợ bởi
Trang 22những hệ thống xử lý và cung cấp nước mặn và ngọt, hệ thống cung cấp khí, cung cấp ánh sáng cho nuôi cấy sinh khối tảo và các thiết bị kiểm tra, theo dõi ấu trùng, ngao giống và môi trường.[19]
Theo Whetstone và cs (2005), ngao M mercenaria bắt đầu sinh sản vào
cuối mùa xuân, khi nhiệt độ nước ấm dần lên, sau thời gian tích luỹ dinh dưỡng
và phát triển tuyến sinh dục ở mùa đông Đầu tiên, con đực phóng tinh ra ngoài môi trường, tinh dịch đóng vai trò là feromol kính thích cá thể khác trong quần thể phóng trứng và tinh theo, trứng được thụ tinh bên ngoài môi trường nước.[22] Theo Quayle và cs (1989), việc thay đổi một số yếu tố môi trường theo mùa góp phần kích thích quá trình thành thục và sinh sản của nhuyễn thể hai mảnh vỏ, yếu
tố quan trọng là nhiệt độ và nồng độ muối Mùa xuân, nhiệt độ ấm dần lên, độ mặn có chiều hướng thay đổi đã thúc đẩy quá trình phát triển của tuyến sinh dục
Vì vậy, trong thực tế sản xuất, việc tạo sự thay đổi nhiệt độ nước, độ muối được
mô phỏng theo tự nhiên là phương pháp đang sử dụng để kích thích quá trình phát triển, sự chín của tuyến sinh dục và kích thích sinh sản đối với các đối tượng nhuyễn thể [20]
- Kỹ thuật nuôi vỗ ngao bố mẹ:
Ngao bố mẹ thành thục sinh dục tốt hơn nếu trong quá trình nuôi vỗ chúng được cung cấp một lượng tảo tự nhiên kết hợp với hỗn hợp các loài tảo sản xuất được trong trại sản xuất, bởi vì tính đa dạng về thức ăn sẽ tạo nên giá trị dinh dưỡng cao giúp ngao phát triển tuyến sinh dục Theo Whetstone và cs (2005) số lượng và chất lượng trứng của ngao phụ thuộc vào tuổi, kích cỡ và chất lượng thức ăn trong quá trình nuôi vỗ Ngao bố mẹ được lựa chọn những cá thể có tốc
độ tăng trưởng nhanh, từ 2 – 3 năm tuổi, được nuôi vỗ ở nhiệt độ 180C trong thời gian từ 6 đến 9 tuần, với thức ăn từ nguồn tự nhiên và bổ sung hỗn hợp các loài
tảo đơn bào Isochrysis galbana, Nanochloropsis oculata, Chaetoceros gracilis,
Tahitial isochrysis, hàm lượng 1 lít/0,5 kg ngao/1 giờ cho tỷ lệ thành thục cao
hơn nhiều so với ngao thu ngoài tự nhiên [22]
Marina và cs (2005), đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên
sự thành thục tuyến sinh dục của ngao Ruditapes decussatus bằng 3 hàm lượng
Trang 23tảo I galbana (T-ISO) là 1,0 mg (H); 0,5 mg (I) và 0,25 mg (R) tảo khô/1g
ngao/ngày ở nhiệt độ 18oC trong thời gian 120 ngày Kết quả chỉ ra rằng, ngao thành thục ở tất cả các nghiệm thức thức ăn, nhưng chỉ khác nhau về thời gian nuôi vỗ Ở nghiệm thức H, ngao thành thục 14,5% sau 21 ngày nuôi, trong khi các nghiệm thức còn lại không có thể ngao nào thành thục Tại ngày thứ 41, ngao thành thục ở nghiệm thức thức ăn H, I, R lần lượt là 100%, 79% và 33%; ngày thứ 70 lần lượt là 100%, 100% và 60% [18]
Hình 1.5 Biến động hệ số thành thục của ngao sau 70 ngày nuôi với các mức
cho ăn khác nhau (Marina và cộng sự, 2005)
Theo Nancy và cs (2007), nuôi vỗ là quá trình làm cho ngao trưởng thành phát sinh giao tử và chín muồi của buồng trứng, sẵn sàng để tham gia sinh sản Ngao thường được nuôi vỗ trong vòng 2-8 tuần, nhưng tùy thuộc vào từng thời điểm trong năm và tình trạng sinh lý của ngao Đối với ngao đã thành thục có thể được duy trì trạng thái này đến 6 tháng bằng cách lưu giữ chúng ở điều kiện nhiệt
độ thấp (18-20°C) và cung cấp một lượng thức ăn dồi dào.[19]
Thời gian thí nghiệm
Trang 24Bảng 1.1 Một số yêu cầu trong nuôi vỗ và lưu giữ ngao (M mercenaria) bố mẹ
thành thục
Độ mặn (‰) 25-35
Nhiệt độ (oC) 18-20oC đối với lưu giữ và nuôi vỗ ngao
22-23oC đối với nuôi vỗ tích cực/chuẩn bị cho sinh sản
Xử lý nước Lọc qua lọc 25 µm
Đèn cực tím và than hoạt tính Thay nước Tối thiểu 3 lần/tuần
Mật độ 250 con/m3 (1 ngao/4 lít nước)
Thức ăn Hỗn hợp các loài tảo phù du
Khẩu phần ăn 1-3 x 106 tế bào/ngao/ngày (100.000 – 300.000 tế bào/ml) Phương pháp cho ăn Cho theo mẻ (2 lần/ngày) hoặc nhỏ giọt
Thời gian 2-8 tuần đối với nuôi vỗ
Tới 6 tháng đối với việc duy trì ngao đã thành thục
- Kỹ thuật kích thích sinh sản:
Nancy và cs (2007) đã xác định được phương pháp kích thích sinh sản loài
ngao M mercenaria là nâng nhiệt độ từ 23 đến 27oC hoặc giảm độ mặn từ 28‰ xuống 14‰ trong thời gian từ 60 – 120 phút [19]
Việc thụ tinh sau khi ngao phóng trứng hoặc tinh có thể tiến hành theo hai phương pháp, tùy thuộc vào mục đích sản xuất: 1) nếu mong muốn kiểm soát việc thụ tinh, thì từng cá thể sẽ được phóng thích sản phẩm sinh dục vào mỗi xô đựng nước, sau đó thu gom trứng vào một bể và tinh trùng sẽ được lựa chọn để trước khi tiến hành thụ tinh với tỷ lệ tinh trùng/trứng là 5/1; 2) phương pháp cho
"đẻ đại trà", được tiến hành trong bể đẻ thông thường Ngao phóng trứng và tinh trùng ra khỏi cơ thể vào trong môi trường nước và quá trình thụ tinh được diễn ra
sau đó
- Kỹ thuật ương ấu trùng ngao giai đoạn bơi tự do (D-veliger):
Trang 25Theo Nancy và cs (2007), trứng thụ tinh được ấp ở mật độ hơn 30 trứng/ml nước trong 24 giờ hoặc cho đến khi nở thành ấu trùng veliger Sau đó,
ấu trùng ngao được san thưa ở mật độ 5-10 con/ml và cho ăn hỗn hợp các loài tảo đơn bào[19] Liu và cs (2006) đã thí nghiệm nhằm xác định mật độ ấu trùng ngao
M meretrix phù hợp trong ương nuôi Thí nghiệm đã tiến hành ở các mật độ 5,
10, 20, 40 và 60 ấu trùng/ml, trong 8 ngày, từ giai đoạn ấu trùng chữ D-veliger đến ấu trùng chuyển giai đoạn xuống đáy (pediveliger)
Ấu trùng giai đoạn xuất hiện chân bò (pediveliger)
Hình 1.6 Ấu trùng ngao M mercenaria ở các giai đoạn biến thái (Ảnh: Nancy
và cs 2007)
Kết quả cho thấy, tại mỗi thời điểm thu mẫu, ấu trùng ương ở mật độ cao nhất thì có kích thước nhỏ nhất và ngược lại Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê bắt đầu từ ngày ương nuôi thứ 2 Thời gian xuống đáy kéo dài và kích thước ấu trùng khi xuống đáy nhỏ hơn theo tỷ lệ nghịch với mật độ ương Tuy nhiên, tỷ lệ sống (từ 74,8 -79,1%) lại không phụ thuộc vào mật độ ương nuôi ấu trùng Trong thí nghiệm này, ở mật độ cao có thể phù hợp với ương nuôi ấu trùng, nhưng nếu xét về hiệu quả kinh tế và mức độ an toàn thì tác giả khuyến cáo nên sử dụng mật
độ 10 đến 20 ấu trùng/ml trong sản xuất ở quy mô lớn [17]
Đối với loài ngao M mercenaria, kết thúc giai đoạn veliger, đạt cỡ 200 tới
250 μm, ấu trùng bắt đầu biến thái để trở thành con giống spat Dấu hiệu nhận biết giai đoạn này là ấu trùng biến thái xuất hiện chân (chân bò), gọi là
Trang 26“pediveliger” vì chúng có cả riềm miệng và chân (Hình 1.6) Giai đoạn pediveliger xuất hiện ngắn trong vài ngày, riềm miệng tiêu biến hoàn toàn và ống siphon được hình thành Quá trình biến thái này gọi là sự “xuống đáy” và ấu trùng ngao giai đoạn này được gọi là “ấu trùng bò lê”
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn tới sinh trưởng và tỷ lệ sống
của ngao M meretrix đã được tiến hành bởi Tang và cs (2006), với việc sử dụng
5 loài tảo khác nhau làm thức ăn đơn và phối hợp với nhau Kết quả thí nghiệm
cho thấy, ấu trùng ngao M meretrix sinh trưởng tốt nhất với việc chỉ sử dụng một loài tảo Isochrysis galbana làm thức ăn Giá trị dinh dưỡng của các loài tảo khác được nghiên cứu đối với ấu trùng ngao M meretrix thể hiện qua tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ biến thái được xếp theo thứ tự Dunaliella sp >Phaeodactylum
tricornutum >Platymonas subcordiformis >Pavlova viridis Đối với hỗn hợp các
loài dinh dưỡng lần lượt là 50% I.galbana/50% Dunaliella sp, 50% I.galbana/P
tricornutum và 50% I galbana/P subcordiformis đối chứng là sử dụng loài I.galbana[21]
Theo Nancy và cs (2007), thức ăn cho ấu trùng là hỗn hợp các loài tảo: N
oculata, Tahitian isochrysis, I galbana và C calcitrans cho ấu trùng kích thước
nhỏ hơn 150 µm và bổ sung thêm loài C gracilis cho ấu trùng cỡ lớn hơn 150
µm Trong điều kiện thức ăn và các yếu tố môi trường phù hợp, ấu trùng ngao Manila thường tăng trưởng bình quân 10 µm/ngày Trong khoảng 10 – 14 ngày ương nuôi, ấu trùng đạt kích cỡ 180 – 210 µm chuyển sang giai đoạn biến thái (ấu trùng pediveliger).[19]
Một số kết quả nghiên cứu của Yan và cs (2006) được tiến hành trên ngao
Ruditapes philippinarum, đánh giá sự ảnh hưởng của thức ăn, mật độ ương nuôi
ấu trùng, các yếu tố môi trường đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và biến thái của ấu
trùng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: tảo Chlorella sp có thể thay 50% tảo
Isochrysis spp trong việc sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng ngao mà không ảnh
hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của chúng Nghiên cứu về mật độ ương nuôi ấu trùng cho thấy, ở khoảng mật độ từ 5 – 10 con/ml, ấu trùng phát triển bình thường Trong điều kiện che mát một phần, cường độ ánh sáng từ
Trang 271000 – 5000 lux và che mát toàn phần, cường độ ánh sáng <500 lux, ấu trùng phát triển chậm hơn so với ương dưới điều kiện ánh sáng tự nhiên Chế độ thay
nước trong ương ấu trùng ngao R philippinarum với tỷ lệ 50% bể/lần sau mỗi 2
ngày là điều kiện tối ưu cho sự phát triển của ấu trùng; và ấu trùng cũng phát triển nhanh hơn trong điều kiện nước không qua lọc cát Nhưng nền đáy ảnh hưởng đáng kể đến biến thái của ấu trùng, nhưng hình dáng và kích thước hạt cát làm giá thể không ảnh hưởng đến tỷ lệ biến thái của chúng [23]
Độ mặn trong quá trình sản xuất giống cũng hết sức quan trọng, mặc dù bản thân ngao có thể điều chỉnh được áp suất thẩm thấu để thích nghi với môi trường Đối với ngao Manila, trong khoảng độ mặn từ 20 – 30‰ là khoảng phù hợp với chức năng sinh lý của chúng Trong khoảng độ mặn này, tốc độ lọc, thu nhận, hấp thụ thức ăn và các hoạt động khác của chúng diễn ra một cách tối đa
nhất (Baker và cs, 2007)[13] Tốc độ biến thái của ấu trùng ngao M meretrix lại
liên quan đến nhiệt độ nước theo hàm sỗ mũ Tuy nhiên, mối liên hệ giữa tốc độ biến thái của ngao với nhiệt độ không chặt chẽ bằng nó với trọng lượng tươi của ngao (Zhuang, 2006)[25] Còn theo Zhuang và cs (2004), tốc độ lọc (CR) và độ
tiêu hoá (IR) của ngao M meretrix theo hàm số mũ đối với kích thước cơ thể (W)
của chúng, theo công thức CR=0,47 W0,63
và IR=0,95 W0,60 Nền đáy cũng ảnh
hưởng đến tốc độ lọc và tiêu hoá thức ăn của ngao M meretrix: nền đáy cát, tốc
độ lọc, tốc độ tiêu hoá thức ăn cao hơn từ 2-3 lần so với chúng nuôi ở nơi đáy trơ.[24]
- Kỹ thuật ương ấu trùng chân bò và ngao giống:
Ấu trùng ngao ở giai đoạn xuất hiện chân bò được chuyển tới ương ở hệ thống ương gồm các khay đáy bằng lưới với việc bổ sung nước (cùng thức ăn) từ trên xuống (downweller) hoặc từ dưới lên (upweller) cho đến khi biến thái hoàn toàn thành ngao giống Hệ thống này có thể dễ dàng quản lý chất lượng môi trường nước, thức ăn, nên mật độ ương cao hơn các hệ thống ương thông thường Sau khi hoàn thành giai đoạn biến thái, ngao giống spat đạt cỡ 0,8-1,0 mm được chuyển sang hệ thống ương raceway, upwelling hoặc hệ thống ương ương ngoài trời (bè nổi, ao, hồ) với mật độ 1.500.000-2.000.000 con/m2 Mục đích của việc
Trang 28ương giống trong hệ thống này là làm cho giống được thuần hóa với môi trường nuôi nhằm gia tăng tỷ lệ sống trong nuôi thương phẩm (Nancy và cs, 2007)
Hình 1.7 Hệ thống ương giống ngao bằng bè và mương nổi (Nancy và cs,2007)
Tuy nhiên, hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào được công bố về
kết quả nghiên cứu, sản xuất giống đối với loài ngao M lyrata, ngoài một vài
thông tin liên quan đến hệ thống phân loại, đặc điểm vùng phân bố của nó Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm bổ sung thông tin khoa học, kỹ thuật sản xuất giống
loài ngao M lyrata có ý nghĩa lớn về khoa học và thực tiễn sản xuất
1.2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống ngao tại Việt Nam
Ở Việt Nam, trước những năm 2000, các nghiên cứu về ngao chủ yếu tập trung vào đặc điểm sinh học, sinh hóa và kỹ thuật ương nuôi thương phẩm ngao
Meretrix lyrata (Nguyễn Hữu Phụng, 1996; Trương Quốc Phú, 1996;1998) và
nghiên cứu kỹ thuật nuôi ngao, sò huyết, trai ngọc (Ngô Trọng Lư, 1996)[7],[8],
Trang 29[9] Năm 2005-2006, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II đã thực hiện đề tài cấp Bộ về “Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi ngao Bến
Tre Meretrix lyrata”, thực hiện tại 3 tỉnh Bến Tre, Tiền Giang và Thành phố Hồ
Chí Minh Kết quả đề tài đã (i) đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội ảnh hưởng đến biến động nguồn lợi ngao trong vùng nghiên cứu; (ii) xác định vị trí phân bố ngao giống, ngao bố mẹ và đặc điểm vùng phân bố; (iii) đặc điểm sinh học cơ bản ngao giống và ngao bố mẹ
Nghiên cứu sản xuất giống động vật thân mềm hai mảnh vỏ chủ yếu được
tiến hành trên một số đối tượng khác như hàu cửa sông (C rivularis), hàu Thái Bình Dương (C gigas), ngao lụa (Paphia undulata), tu hài (Lutraria
philippnarum)… Kỹ thuật sinh sản nhân tạo ngao (Meretrix sp) được biết đến từ
năm 2003 Tuy nhiên, công nghệ sản xuất mới chỉ được hoàn thiện ở quy mô nhỏ trong các nhà xương, sản lượng con giống sản xuất được còn ít và không ổn định Nhìn chung, các nghiên cứu thu được kết quả tốt, đang góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất Đây là cơ sở tốt để ứng dụng vào nghiên cứu
trên các đối tượng tương tự như ngao M lyrata
Những năm gần đây, một số nghiên cứu về kỹ thuật sản xuất giống ngao
M lyrata đã được triển khai, tạo tiền đề cho việc hoàn thiện quy trình sản xuất ở
quy mô lớn Theo Chu Chí Thiết và Martin Kumar (2008), ngao bố mẹ đạt tỷ lệ thành thục đến 60% trong hệ thống nước chảy liên tục với việc sử dụng thức ăn
là hỗn hợp 3 loài tảo đơn bào (N oculata, I galbana và C calcitrans)[26] Như
Văn Cẩn và cs (2006) đã ương thử nghiệm ấu trùng ngao giai đoạn bơi tự do ở các độ mặn trọng khoảng từ 10‰, đến 35‰ cho thấy, ở độ mặn 35‰ ấu trùng ngao chết hoàn toàn ở ngày ương thứ 3, trong khi các độ mặn còn lại, ấu trùng chuyển giai đoạn biến thái lần lượt là 20,0%, 26,7%, 31,1%, 24,4% và 11,1% Kết quả phân tích thống kê cho thấy, độ mặn từ 15-25‰ được xác định là phù hợp trong ương ấu trùng ngao giai đoạn D-veliger[4] Trần Kim Anh, Chu Chí
Thiết (2012), cũng đã tiến hành thử nghiệm thu ấu trùng ngao M lyrata giai đoạn
xuất hiện chân bò bằng các nền đáy khác nhau, đã chỉ ra rằng cấu trúc nền đáy
Trang 30bùn và cát cho tỷ lệ ấu trùng xuống đáy lần lượt là 10,44% và 6,11% phù hợp để ứng dụng vào sản xuất.[2]
Hoàng Văn Hợi (2011) đã thử nghiệm các nền đáy cát-bùn với tỷ lệ cát chiếm từ 10%, 50%, 75% và 90% trong đó lựa chọn được nền đáy có tỷ lệ cát/bùn 75/ 25 và 50/50 cho hiệu quả ương tốt nhất cho ngao ở giai đoạn giống
20 đến 80 ngày tuổi, trong đó thích hợp nhất là tỷ lệ cát/bùn 75/25 Nghêu ương
ở đáy có tỷ lệ cát/bùn là 75/25 và 50/50 có tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 2,78
± 0,05; 2,78 ± 0,05 %/ngày Tỷ lệ sống tương ứng đạt 70,22 ± 1,50 và 69,04 ± 1,03% [7] Lê Thị Thanh (2014) khi nghiên cứu các nền đáy gồm đáy cát/bùn tỷ
lệ 70/30; đáy cát và đáy trơ cũng cho kết quả tăng trưởng của ngao ở nền đáy cát/bùn cao nhất đạt 1,93±0,02 %/ngày, nền đáy cát và đáy trơ cho tăng trưởng thấp hơn lần lượt là 1,64±0,03 %/ngày và 1,39±0,02 %/ngày[11]
Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn trong việc ương ngao giống giai đoạn cấp 1 lên cấp 2 được Lê Thị Thanh thử nghiệm với 6 mức từ 10‰, 15‰, 20‰, 25‰, 30‰, 35‰ kết quả thu được sau ngày nuôi đạt tăng trưởng lần lượt là 2,32±0,14; 2,81±0,10; 2,96±0,05;, 3,22±0,07 và 1,86±0,08 %/ngày, riêng tại độ mặn 35‰ ngao chết sau 1 tuần thí nghiệm Kết quả phân tích ANOVA cho thấy tăng trưởng ngao tại độ mặn 20 và 25‰ là cao nhất [11]
Xét về mật độ thả nuôi ngao giống, tác giả Hoàng Văn Hợi (2011) cho rằng mật độ thả từ 3000-5000 con/m2 là phù hợp [6] Tuy nhiên kết quả này khác khá nhiều so với nghiên cứu của Lê Thị Thanh (2014) khi kết luận rằng mật độ 20.000 con/m2 là phù hợp với việc ương ngao giống từ cấp 1 lên giống cấp 2 [11] Điều này đặt ra một vấn đề mới trong nghiên cứu là trong điều kiện thực tế
ở ao nuôi diện tích lớn thì mật độ phù hợp là bao nhiêu Mặt khác sinh khối của ngao trên một đơn vị diện tích không chỉ phụ thuộc vào mật độ mà kích cỡ ngao thả cũng rất quan trọng
Ngô Thị Thu Thảo và ctv (2012) khi nghiên cứu các biện pháp ương giống tu hài, thí nghiệm 2 nhân tố gồm chế độ chiếu sáng và tốc độ dòng chảy, trong đó kết luận dòng chảy có tác dụng đối với tăng trưởng của ấu trùng tu hài
trong điều kiện sản xuất [12]