LÊ VĂN DŨNG ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG, THỨC ĂN ĐẾN TỶ Lệ SỐNG VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG trachinotus blochii lacepède, 1801 GIAI ĐOẠN TỪ CÁ BỘT LÊN CÁ HƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ N
Trang 1LÊ VĂN DŨNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ƯƠNG, THỨC ĂN ĐẾN TỶ Lệ SỐNG VÀ
TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (trachinotus blochii lacepède,
1801) GIAI ĐOẠN TỪ CÁ BỘT LÊN CÁ HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ Ảnh hưởng của mật độ ương, thức ăn đến tỷ lệ sống và
tăng trưởng của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepède, 1801) giai đoạn từ
cá bột lên cá hương” là của riêng cá nhân tôi Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn được trích dẫn rõ nguồn gốc Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Tác giả
Lê Văn Dũng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân Từ đáy lòng mình, tôi xin trân trọng cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó:
Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Lãnh đạo Trường Đại Hoc Vinh, Phòng sau Đại hoc, Khoa nông nghiệp và đào tạo của Trường đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học này
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới TS Lê Văn Khôi, người hướng dẫn khoa học,
đã định hướng trong nghiên cứu, từ việc lập đề cương đến triển khai các thí nghiệm và hoàn thiện bản luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ, nhân viên của Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, vật liệu và giúp đỡ tôi trong việc triển khai thí nghiệm theo yêu cầu đề ra
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai thí nghiệm nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tác giả
Lê Văn Dũng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT x
DANH MỤC BẢNG xi
DANH MỤC CÁC HÌNH xiii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 4
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Đặc điểm sinh học của cá chim vây vàng 4
1.1.1 Vị trí phân loại 4
1.1.2 Đặc điểm hình thái ngoài 4
1.1.3 Sự phân bố 5
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 6
1.1.6 Đặc điểm sinh sản 6
1.2 Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới và Việt Nam 7
1.2.1 Nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới 7
1.2.1.1 Sản xuất giống cá chim vây vàng: 7
1.2.1.2 Nuôi thương phẩm cá chim vây vàng: 8
1.2.2 Nghiên cứu cá chim vây vàng ở Việt Nam 11
1.2.2.1 Sản xuất giống cá chim vây vàng 11
1.2.2.2 Nuôi thương phẩm cá chim vây vàng: 12
1.3 Một vài yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất giống cá chim vây vàng 15
1.3.1 Thức ăn và chế độ cho ăn 15
1.3.2 Mật độ ương 16
1.3.3 Độ mặn 16
1.3.4 Nhiệt độ 17
1.3.5 Hệ thống ương 17
Trang 5Chương 2 19
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nội dung nghiên cứu 19
2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Vật liệu nghiên cứu 19
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.3.2 Vật liệu nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp thực nghiệm 19
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
Chương 3 25
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ giai đoạn cá bột đến cá hương 25
3.1.1 Biến động môi trường trong thí nghiệm 25
3.1.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng chiều dài thân của cá chim vây vàng 26
3.1.2.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tích lũy về chiều dài thân của cá 26
3.1.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về chiều dài thân của cá chim vây vàng 27
3.1.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của cá chim vây vàng 28
3.1.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng về khối lượng thân của cá chim vây vàng 30
3.1.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá chim vây vàng 30 3.1.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về khối
Trang 6lượng của cá chim vây vàng 31
3.1.3.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá chim vây vàng 32
3.1.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến hệ số phân đàn, tỷ lệ sống, tỷ lệ dị hình của cá chim vây vàng giai đoạn từ cá bột đến cá hương 32
3.2 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ cá bột đến cá hương 34
3.2.1 Biến động của các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 34
3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng về chiều dài của cá chim vây vàng giai đoạn từ cá bột đến cá hương 35
3.2.2.1 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tốc độ tăng trưởng tích lũy về chiều dài của cá chim vây vàng 35
3.2.2.3 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về chiều dài thân của cá chim vây vàng 36
2.2.2.4 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của cá chim vây vàng 37
3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá Chim vây vàng giai đoạn cá bột lên cá hương 38
3.2.3.1 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tốc độ tăng trưởng tích lũy khối lượng của cá chim vây vàng 38
3.2.3.2 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về khối lượng của cá chim vây vàng 39
3.2.3.3.Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá chim vây vàng 40
3.2.4 Ảnh hưởng của mật độ ương đến hệ số phân đàn, tỷ lệ sống và tỷ lệ dị hình của cá chim vây vàng 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
1 Kết luận 44
2 Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ANOVA So sánh phương sai
CV Hệ số phân đàn của cá thí nghiệm
Max Giá trị cực đại
MĐ Mật độ
Mean Giá trị trung bình
Min Giá trị cực tiểu
SD Độ lệch chuẩn
SGR (%/ngày) Tốc độ sinh trưởng tương đối theo ngày
SR (%) Tỷ lệ sống của cá
TĂ Thức ăn
TL0 (cm) Chiều dài tổng số của cá ở ngày đầu thí nghiệm
TL21 (cm) Chiều dài tổng số của cá ở ngày thí nghiệm thứ 21
Wt0 (g) Khối lượng của cá ở ngày đầu thí nghiệm
Wt21 (g) Khối lượng của cá ở ngày thí nghiệm thứ 21
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm 25
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng tích lũy 26
chiều dài thân của cá theo thức ăn thí nghiệm 26
Bảng 3.3 Tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về chiều dài thân của cá cá chim vây vàng giai đoạn cá bột lên cá hương theo thức ăn thí nghiệm 28
Bảng 3.4 Tăng trưởng tương đối về chiều dài thân của cá chim vây vàng 28
giai đoạn từ cá bột đến cá hương theo thức ăn thí nghiệm 29
Bảng 3.5 Tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá chim vây vàng 30
giai đoạn từ cá bột lên hương theo thức ăn thí nghiệm 30
Bảng 3.6 Tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về khối lượng của cá chim vây vàng giai đoạn từ cá bột đến cá hương theo thức ăn thí nghiệm 31
Bảng 3.7 Tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá chim vây vàng 32
giai đoạn từ cá bột đến cá hương theo thức ăn thí nghiệm 32
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của thức ăn đến hệ số phân đàn, tỷ lệ sống 33
và tỷ lệ dị hình của cá chim vây vàng giai đoạn cá bột lên cá hương 33
Bảng 3.9 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 34
Bảng 3.10 Tăng trưởng tích luỹ theo chiều dài của cá chim vây vàng 35
ương từ bột lên hương ở các mật độ khác nhau 35
Bảng 3.11 Tăng trưởng tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về chiều dài 36
của cá chim vây vàng theo mật độ thí nghiệm 37
Trang 9Bảng 3.12 Tăng trưởng tương đối về chiều dài của cá chim vây vàng 37
giai đoạn từ cá bột lên cá hương theo mật độ thí nghiệm 37
Bảng 3.13 Tăng trưởng tích lũy về khối lượng của cá chim vây vàng 38
giai đoạn cá bột lên cá hương theo mật độ thí nghiệm 39
Bảng 3.14 Tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về khối lượng của cá chim vây vàng giai đoạn cá bột lên cá hương theo mật độ thí nghiệm 39
Bảng 3.15 Tăng trưởng tương đối về khối lượng của cá chim vây vàng 41
giai đoạn cá bột lên cá hương theo mật độ thí nghiệm 41
Bảng 3.16 Tỷ lệ sống, hệ số phân đàn và tỷ lệ dị hình của cá chim vây 42
giai đoạn từ cá bột đến cá hương theo các mật độ thí nghiệm 42
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepède, 1801) [23] 4
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm các mật độ ương 20
Hình 2.2 Chăm sóc cá thí nghiệm (ảnh từ thí nghiệm) 21
Hình 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm thức ăn 22
Hình 3.1 Tăng trưởng tích luỹ chiều dài cá chim theo thời gian 27
Hình 3.2 Tăng trưởng tương đối chiều dài cá chim ở các giai đoạn 29
Hình 3.3 Tỷ lệ sống giữa các công thức thức ăn 34
Hình 3 4 Tăng trưởng tích luỹ chiều dài ở các mật độ ương 36
Hình 3.5 Tăng trưởng tương đối chiều dài cá chim ở các mật độ 38
Hình 3.6 Tỷ lệ sống ở các mật độ ương 42
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài:
Cá chim vây vàngTrachinotus blochii là loài cá nổi, phân bố rộng rãi ở các
vùng biển nhiệt đới, trong đó có Việt Nam Đây là loài cá có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh, thích ứng tốt với điều kiện nước lợi và nước mặn, cả trong ao đất và lồng bè[7] Trên thị trường hiện nay, giá cá chim vây vàng thương phẩm dao động từ 140.000 – 170.000đ/kg và nhu cầu đối với loài cá này là rất cao Do
đó, cá chim vây vàng đã và đang trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở nhiều nước thuộc vùng châu Á-Thái Bình Dương [23] Hiện nay, cá chim vây vàng đã và được sản xuất giống thành công trong điều kiện nhân tạo tại Khánh Hòa, Nghệ
An, Quảng Ninh, đáp ứng nhu cầu con giống cho nuôi thương phẩm tại nhiều địa phương trên cả nước [4, 7]
Trong điều kiện ương nuôi, sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá nói chung, cá chim vây vàng nói riêng phụ thuộc rất nhiều yếu tố Ngoài điều kiện môi trường, dịch bệnh, hệ thống nuôi, dinh dưỡng; mật độ ương và thức ăn là những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến kết quả ương nuôi và hiệu quả kinh tế-kỹ thuật [19].Trong các yếu tố trên việc cung cấp nguồn thức ăn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và phù hợp với khả năng bắt mồi của cá là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ sống
và tăng trưởng của cá ở giai đoạn đầu do kích thước ấu trùng cá nhỏ, kích cỡ miệng đòi hỏi con mồi phải có kích thước nhỏ và có hàm lượng dinh dưỡng cao Thực tế cho thấy thức ăn tự nhiên như luân trùng, copepoda, artemia là những nguồn thức ăn phù hợp và có vai trò quan trọng trong sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng Thử nghiệm cho sinh sản cá chim vây vàng đầu tiên tại Trung Quốc năm 1989, thức ăn ban đầu cho cá bột là luân trùng (rôtifer), copepoda và thức ăn tổng hợp[17] Trong khi ở, Indonesia, thức ăn sử dụng là
tảo đơn bào (Nanochloropsis sp), luân trùng, ấu trùng Artemia và thức ăn tổng
hợp[23]
Việc gia tăng mật độ ương một mặt giúp tận dụng tốt diện tích nuôi, tăng hiệu quả kinh tế nhưng mặt khác lại làm giảm sinh trưởng, tỷ lệ sống, khả năng kháng bệnh của cá, đặc biệt trong điều kiện ương nuôi ở với mật độ cao [16,
Trang 1224].Mật độ ương cá nói chung phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giai đoạn phát triển, hệ thống ương, khả năng kiểm soát các yếu tố môi trường và dịch bênh, công nghệ nuôi…Nhìn chung, mật độ ương có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, hệ số phân đàn, tỷ lệ sống, hiệu quả sử dụng thức ăn, sức khỏe và trạng thái sinh lý của cá với xu hướng chung là mật độ cao thường cho kết quả thấp
hơn so với mật độ trung bình hoặc thấp hơn Ương giống loài Trachinotus blochii
từ cá hương lên cá giống Chu Chí Thiết (2010) nhận thấy tỷ lệ sống cá chim vây
vàng (T blochii) ở giai đoạn cá hương lên cá giống không bị ảnh hưởng khi ương
ở các mật độ từ 1,0 đến 2,0 con/l ; và mật độ ương 1,5 con/lít là phù hợp nhất
trong điều kiện ương cá có thay nước [10] Tương tự, trên loài cá bơn (Psetta
maxima), Aksunggur và ctv (2007) cũng nhận thấy, sinh trưởng và tỷ lệ sống của
các đạt được cao hơn khi gia tăng mật độ từ 30 lên 60 và 90 con/m3 nhưng bắt đầu giảm ở mật độ 120 con/m3
[12] Tuy nhiên trong một số trường hợp mật độ ương không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu nêu trên hoặc chỉ ảnh hưởng ở những giai đoạn nhất định trong suốt quá trình ương nuôi [32] Các nghiên cứu về thức
ăn, mật độ ương cá chim vây vàng nhìn chung còn nhiều hạn chế Do đó, việc xác định được chế độ thức ăn tối ưu và mật độ ương nuôi phù hợp là rất cần thiết để góp phần hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng.Trên cơ sở các yêu
cầu thực tiễn, tôi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của mật độ ương, thức ăn đến tỷ lệ
sống và tăng trưởng của cá chim vây vàng (Trachinotus blochiiLacepède, 1801) giai đoạn từ cá bột lên cá hương”.Mục đích của đề tài nhằm xác định chế độ cho
ăn và mật độ ương nuôi phù hợp cho cá chim vây vàng từ giai đoạn cá bột lên cá hương Kết quả nghiên cứu của đề tài là luận cứ khoa học để cho các trại sản xuất giống tham khảo trong sản xuất đủ nguồn giống cung cấp cho cơ sở nuôi
2 Mục tiêu của đề tài:
Xác định được thức ăn, mật độ ương phù hợp cho ương cá chim vây vàng
(Trachinotus blochii) từ giai đoạn cá bột đến cá hương, góp phần hoàn thiện quy
trình sản xuất giống cá chim vây vàng
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
*) Ý nghĩa khoa học:
Trang 13Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽđóng góp cơ sở khoa học cho nghiên cứu
hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng (Trachinotus
blochiiLacepède, 1801)tại Nghệ An
*) Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo tiền đề cho nghiên cứu, hoàn thiện
quy trình sản xuất giống và ƣơng nuôi thành công cá chim vây vàng (T blochii),
ở quy mô hàng hóa, thúc đẩy phát triển bền vững nghề nuôi cá biển ở Việt Nam
Trang 14Họ: Carangidea
Giống: Trachinotus
Loài: Trachinotus blochii (Lacepède, 1801)
Tên tiếng Việt: cá chim vây vàng, cá sòng mũi hếch
Tên tiếng Anh: Snubnose pompano
Hình 1.1.Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepède, 1801) [29]
1.1.2 Đặc điểm hình thái ngoài
Cơ thể hơi tròn, cao và bề bên dẹp chính giữa lưng hình vòng cung Trên đường bên vẩy sắp xếp khoảng 135-136 cái, chiều dài so với chiều cao 1,6 -1,7 lần, so với chiều cao đầu 3,5 -4 lần, cuống đuôi ngắn và dẹp, đầu nhỏ chiều cao đầu lớn hơn chiều dài, môi tù về phía trước Lỗ mũi mỗi bên 2 cái gần nhau, lỗ mũi trước nhỏ hình tròn, lỗ mũi au to hình bầu dục.Miệng nhỏ xiên, xương hàm
Trang 15trên lồi, hàm trên và dưới có răng hỏ hình lông, răng phía sau dần thoái hóa, lưỡi không có răng, rìa phía trước xương nắp mang hình cung tương đối to, rìa sau cong Bộ phận đầu không có vẩy, cơ thể có nhiều vẩy tròn nhỏ dính dưới da Vây lưng thứ 2 và vây hậu môn có vẩy, phía trước đường bên hình cung cong tròn tương đối lớn, trên đường bên vẩy không có gờ, vây lưng thứ 1 hướng về phía trước, gai bằng và có 5-6 gai ngắn Cá giống giữa các gai có màng liền nhau, cá trưởng thành màng thái hóa thành những gai tách rời nhau, 8vây lưng thứ 2 có 1 gai và 19 -20 tia vây, phần trước của vây kéo dài hình như lưỡi liềm Vây hậu môn có 1 gai và 17 -18 tia vây phía trước có 2 gai ngắn, cũng có dạng hình lưỡi liềm Còn vây ngực tương đối ngắn, vây đuôi hình trăng lưỡi liềm Ruột uốn cong 3 lần (chiều dài ruột/chiều dài của cá = 0,8) Lưng màu tro bạc, bụng màu ánh bạc, mình không có vân đen, vây lưng màu ánh bạc vàng, rìa vây màu tro đen, vây hậu môn màu ánh bạcvàng, vây đuôi màu vàng tro[33]
1.1.3 Sự phân bố
Phân bố về địa lý:Cá chim vây vàng sống ở vùng biển mở và được tìm thấy ở Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương Ở châu Á cá chim vây vàng phân bố ở miền Nam Nhật Bản, Indonesia, Trung Quốc (Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam), Đài Loan Ở Việt Nam được tìm thấy trên Vịnh Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ [5]
Phân bố về sinh thái: Cá chim vây vàng là loài cá nước ấm, có tập tính di
cư, sống ở tầng giữa và tầng mặt Ở giai đoạn cá giống hàng năm sau mùa đông
cá thường tập thành đàn sống ở vũng, vịnh, cửa sông.Cá trưởng thành sinh trưởng tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ từ 22-28oC, là loài sống rộng muối 3 -33‰.Dưới độ mặn 20‰ cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao tốc độ sinh trưởng chậm lại Nhu cầu hàm lượng ôxy hòa tan > 2,5 mg/l Cá trưởng thành sống ở vùng cát hoặc gần vùng rạn san hô, độ sâu ít nhất 7 m Ngoài ra cá giống thường thấy sống ở vùng cát hoặc gần vùng đất cát sét [29]
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá chim vây vàng là loài cá ăn tạp thiên về động vật, có thể kiếm thức ăn
ở trong cát, cá trưởng thành có thể bắt những động vật vỏ cứng như: Ngao, cua,
Trang 16ốc Giai đoạn cá giống thức ăn là động vật phù du và động vật đáy, chủ yếu là luân trùng (rotifer), ấu thể Copepoda, Artemia Cá con ăn tôm cá nhỏ, hai mảnh
vỏ nhỏ Thức ăn chính của cá trưởng thành là: Các loại tôm, cá nhỏ Trong điều kiện ương nuôi cá dài 2 cm thức ăn là cá tạp xay nhỏ, tôm tép băm nhỏ Cá trưởng thành ăn tôm nhỏ và thức ăn công nghiệp hoặc toàn thức ăn công nghiệp trong nuôi thương phẩm Trong điều kiện môi trường nước bình thường cá chim vây vàng có cường độ bắt mồi thay đổi theo nhiệt độ nước [8] Những động vật thânmềm sống ở cát và các loài động vật không xương sống khác là thức ăn tự nhiên chính của loài này [15]
Theo Juniyanto và ctv.(2008), thức ăn cho các giai đoạn được sử dụng như sau: giai đoạn nuôi vỗ cá bố mẹ được cho ăn cá tạp, hỗn hợp thức ăn viên, vitamin E và vitamin tổng hợp Khẩu phần cho ăn 3-5% khối lượng thân Cá bột được cho ăn thức ăn tươi sống (luân trùng, Artemia) và thức ăn tổng hợp Luân trùng được cho vào ngày thứ 3 đến ngày 14 lượng từ 5 -15 con/ml, cho ăn 1 ngày
3 lần (sáng, trưa, chiều) Từ ngày thứ 10 thức ăn viên được bổ sung vào với luân trùng cỡ hạt 200 -300 μm Artemia được đưa vào ngày thứ 14 với mật độ 0,25 con/mL Đến ngày 15 dừng cho ăn luân trùng và lượng thức ăn viên được tăng dần cứ 1-2h/lần Ngày 18 lượng Artemia cũng phải được tăng lên 0,5 con/ml và dừng cho ăn ở ngày 22 Cá giống sử dụng thức ăn viên kích cỡ hạt phụ thuộc vào
cỡ miệng của cá [23]
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá chim vây vàng có kích thước tương đối lớn, kích thước có thể đạt 45
-60 cm Cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi bình thường 1 năm đạt 0,5-1,0 kg/con Từ năm thứ 2 trở đi mỗi năm khối lượng tăng tuyệt đối là 1 kg.Theo Trương Bang Kiệt (2001): Thử nghiệm ương nuôi cá giống thời kỳ đầu cá sinh trưởng chậm cá dài 2,6 cm với khối lượng 0,52 gam Qua 192 ngày nuôi cá dài 9,9 cm đạt khối lượng 20,53 gam Bình quân ngày khối lượng tăng 0,6 gam và hệ
số sinhtrưởng trung bình ngày 1,04% [6] Trong điều kiện nhân tạo cá 1 ngày tuổi có chiều dài 0,2 cm, sau 30-35 ngày đạt chiều dài 3,4 cm [10]
1.1.6.Đặc điểm sinh sản
Trang 17Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác nhau là khác nhau.Ví dụ, ở Trung Quốc từ tháng 4 –9, trong khi tại Đài Loan lại
có thể cho cá sinh sản nhân tạo từ tháng 3 đến tháng 10 [3] Quá trình sinh sản của cá chim vây vàng không tuân theo chu kỳ trăng hàng tháng như nhiều loài cá biển khác [10].Tuổi và kích thước thành thục lần đầu của cá ngoài tự nhiên tương đối muộn, cá thành thục ở tuổi 7+ -8+ [5].Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhân tạo cá có thể thành thục sớm hơn.Trong tự nhiên, cá hương 1,2 –2cm bắt đầu bơi vào vùng biển cạn, cá lớn 13 -15cm bắt đầu di cư từ vùng biển cạn ra vùng biển sâu Tuổi thành thục của cá chim vây vàng qua nghiên cứu chỉ rõ: cá 1-2 tuổi trong buồng trứng noãn nguyênbào lần đầu tiên tiền kỳ phân liệt thành thục Cá 3 -4 tuổi mới bắt đầu đi vào thời kỳ tiền sinh trưởng sau đó đến lịch trình phát dục bao gồm phát sinh noãn hoàn phôi bào di chuyển và thành thục, tế bào noãn mẹ thành thục[10]
Sức sinh sản tuyệt đối của cá chim vây vàng đạt 40-60 vạn trứng/cá cái.Hermawan (2005) cho rằng cá chim vây vàng bắt đầu sinh sản khi kích thước
cơ thể đạt tối thiểu 2,5 kg đối với con đực và 1,5 kg đối với con cái Sức sinh sản của chúng dao động khoảng 500.000-700.000 trứng/cá thể[21]
Theo Juniyanto và ctv (2008) cho sinh sản cá chim vàng với tỷ lệ đực cái
là 1:1, kích thích bằng hormone Sử dụng kết hợp HCG 250 IU/kg và Fibrogen
50 IU/kg cá cái thành thục, liều lượng tiêm cá đực bằng 1/2 cá cái và tiêm 2, khoảng cách giữa các lần là 24 giờ, cá thường đẻ trứng sau khi tiêm lần 2 từ 12 –
24 giờ, khoảng 60 -70% lượng trứng trong buồng trứng, đường kính trứng thụ tinh khi trương nước: 0,8 –0,85 mm [23]
1.2 Tình hình nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu cá chim vây vàng trên thế giới
1.2.1.1 Sản xuất giống cá chim vây vàng:
Ở Đài Loan, Lâm Liệt Đường (1986) đã thu gom 126 con cá chim vây vàng, kích cỡ không đồng đều nuôi chung với nhau Năm 1989 bắt đầu thực nghiệm cho sinh sản nhân tạo, qua 5 lần tiêm kích dục tố thì có 4 đợt đẻ, tổng số trứng thụ tinh là 500 vạn Qua nhiều hình thức thực nghiệm ương nuôi cuối cùng
Trang 18thu được 38,6 vạn giống, kích cỡ 2-3 cm Đây là lần đầu tiên sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng thành công [8]
Năm 1993 Trung tâm chuyển giao công nghệ Đại học Trung Sơn kết hợp với Trạm Nghiên cứu Thủy sản Quảng Đông -Trung Quốc cho sinh sản thành công cá chim vây vàng, ương nuôi ấu trùng trong bể xi măng với quy mô nhỏ Đến năm 1998, Trung tâm kết hợp với công ty trách nhiệm hữu hạn giống thủy sản Thắng Lợi -Hải Nam Trung Quốc thành công sản xuất giống nhân tạo trên quy mô lớn, ương nuôi ấu trùng trong ao đất[8]
Tại Inđonexia, Trung tâm phát triển biển Batam (Indonesia) đã thành công việc cho sinh sản nhân tạo cá chim vây vàng Đã chủ động nguồn giống và không phụ thuộc vào nguồn giống từ tự nhiên.Tỷ lệ nở 65-75%, tỷ lệ sống từ lúc nở đến
22 ngày tuổi đạt 20-25% [21]
1.2.1.2.Nuôi thương phẩm cá chim vây vàng
Nuôi biển tuy là một ngành mới nhưng phát triển nhanh chóng vì sản phẩm của nuôi biển có giá trị cao hơn các sản phẩm thủy sản từ các ngành khác Theo FAO (2013) sảnlượng thủy sản cung cấp cho tiêu dùng năm 1994 là 80 triệu tấn trong đó khai thác hải sản chiếm 52 triệu tấn (65%) nuôi trồng 21,0 triệu tấn (26,2%) Đến năm 2010 tổng sản phẩm thủy sản cung cấp cho tiêu dùng khoảng 120 triệu tấn trong đó sản phẩm do nuôi trồng là 39,0 triệu tấn 32%) Như vậy trong những năm tới thế giới sẽ hạn chế tập trung tăng sản lượng hải sản khai thác mà đẩy nhanh sản lượng thủy sản do nuôi trồng Cũng theo dự báo của FAO (2013), cơ cấu nuôi thủy sản nước ngọt năm 1994 chiếm 61% nhưng năm
2010 còn lại 51% trong khi đó nuôi cá biển từ 2% năm 1994 sẽ tăng lên 8% năm
2010 [4]
Cá chim đang được nuôi phổ biến tại Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Singapore và nhiều quốc gia khác [37] Cá chim vây vàng được nuôi bằng nhiều hình thức như nuôi lồng trên biển, trong ao đất.Cá chim biển miền
Nam Trung Quốc nuôi chủ yếu là loài T ovatus và loài T blochii hai loài này
ngoại hình tương tự nhau thuộc bộ Pereiformes, họ Trachinotinae, giống
Trachinotus Thế kỷ 20 vào năm 1990 trở lại đây vùng biển Hải Nam, Quảng
Trang 19Đông và Phúc Kiến triển khai nuôi 2 loài cá trên[8].Thời kỳ đầu giống cá chim T
ovatus chủ yếu là dựa vào giống cá thiên nhiên.Còn giống cá T blochii chủ yếu
là giống từ Đài Loan nhập vào.Gần đây việc sinh sản nhân tạo hai loài cá trên miền Nam Trung Quốc đã có sự đột phá lớn thành công.Trước mắt giống cá chim
biển cấp cho các hộ nuôi chủ yếu là giống nhân tạo, cá T blochii nuôi ở đảo Hải
Nam việc qua đông thuận lợi, sinh trưởng tốt.Những vùng duyên hải nuôi qua ông bằng lồng lưới khó khăn Nếu gặp lạnh cá cũng sẽ chết nhiều, tổn thất kinh tế lớn[8]
Ở Đài Loan, năm 1994, cá chim vây vàng được nuôi trong ao với mật độ 2
- 3 con/m2 bằng thức ăn công nghiệp Sau 7 – 12 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ 400 –
600 g/con, hệ số thức ăn 1,6 - 2,0, năng suất 10 - 15 tấn/ha [28]
Theo Tatum (1973), cá chim được thử nghiệm nuôi bằng lồng hình trụ được đặt trong ao nước lợ ở Mỹ Cá giống cỡ 12 g/con được nuôi ở mật độ 263-
657 con/m3 bằng thức ăn công nghiệp có 40% protein Sau 103 ngày nuôi đạt 27,8 - 46,1 kg/m3, tỷ lệ sống đạt 80 – 88% và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) là 2,7 - 3,6[34] Lan và ctv (2007) đã thử nghiệm nuôi cá giống cỡ 19 – 26 g/con trong lồng 100 m3 với mật độ 96 con/m3 bằng thức ăn công nghiệp (protein 43%
và lipid 12%) Sau 146 ngày nuôi cá đạt cỡ từ 577 – 640 g/con, tỷ lệ sống 99,2 – 99,5%, năng suất đạt 54,6 – 61,3 kg/m3, FCR từ 2,43 – 2,76[26]
Hannibal và ctv (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh
trưởng của cá chim T blochii (Lacépède, 1801) trong lồng biển bằng thức ăn
công nghiệp (48% protein) cho thấy nuôi cá giống cỡ 12 g/con lên 360 g/con, cá nuôi ở mật độ 20 con/m3 và 25 con/m3 có tăng trưởng và tỉ lệ sống tương tự như nhau nhưng lớn nhanh hơn và sống nhiều hơn so với cá nuôi ở mật độ 35 con/m3[20]
Cá chim vây vàng được nuôi bằng nhiều hình thức như nuôi ở trong lồng,
ao đất, nuôi ghép với tôm.Theo Cuevas (1978), cá chim T carolinus được nuôi ở
Mỹ từ năm 1952 trong ao đất với năng suấtt 270 -438kg/ha trong 133 ngày nuôi Thức ăn cho cá chủ yếu là cá tạp tự đánh bắt [18] Thí nghiệm nuôi cá chim vây vàng ở độ mặn 19‰ của McMaster (2003) khi sử dụng thức ăn Aquafeed
Trang 20(Protein = 43%, lipit= 10%) cỡ cá thả là 10g sau 4 tháng nuôi cá đạt 110g Loài
cá chim Florida được nuôi trong bể, ao, và lồng cỡ cá thương phẩm là 453,5 –680g tương đương 25 -30cm Cá chim có thể tăng trưởng từ 2 -3cm/tháng[31] Lazo và ctv (1998) đã thực hiện thí nghiệm về hàm lượng protein tối thiểu cho cá
chimT carolinussinh trưởng tốt nhất ở 3 mức khác nhau: 30%, 35%, 45%, kết
quả cho thấy hàm lượng protein thích hợp cho cá chim là 45%[27]
Đài Loan, Mã Lai, Singapore bắt đầu tiến hành nuôi cá T blochii ở ao
và nuôi lồng lưới ở biển.Năm 1992 Đài Loan có số lượng cá chim nuôi trên 2000 vạn con Phương thức nuôi từ nuôi ghép đến nuôi đơn Năm 1994 Đài Loan nuôi mật độ 2 –3 con/m2, thức ăn viên công nghiệp qua 7 đến 12 tháng nuôi có thể đạt
400 –600 g/con, đạt được qui cách thương phẩm, hệ số thức ăn 1,6 –2,0 sản lượng đạt 10 -15 tấn/ha[8]
Quy trình nuôi cá chim vây vàng thương phẩmtrong ao và nuôi trong lồnglưới cá đạt 12cm đưa ra thị trường (4-5 tháng) Sau đó phân cỡ và nuôi thương phẩm đến khi đạt kích cỡ thu hoạch[8].Quytrình nuôi như sau:giai đoạn ương nuôi cá giống: cá giống ương nuôi ở ao 2,5cm (20 -30 ngày) Tiến hành phân cỡ.Giai đoạn ương nuôi trung gian: sau ương 20 -30 ngày tiến hành phân
cỡ, cá được ương nuôi trong ao, lồng lưới đạt trên 12cmđưa ra thị trường -12 tháng Giai đoạn này ương qua đông từ cỡ 2,5-12cm (qua đông 4 –5 tháng).Giai đoạn cá lớn (thương phẩm): sau iai đoạn ương trung gian cá được phân cỡ đưa vào nuôi trong ao, nuôi lồng lưới đạt 12 cm đưa ra thị trường (4-5 tháng) Sau đó phân cỡ và nuôi thương phẩm đến khi đạt kích cỡ thu hoạch[8]
Dịch bệnh cũng là vấn đề cần được quan tâm đối với cá chim Theo Amal
và ctv (2012), cá chim nuôi lồng biển tại Malaysia bị nhiễm vi khuẩn
Streptooccus agalactiae và chết hàng loạt ở giai đoạn 350-500 g/con[14] Các vi
khuẩn này có thể được phát hiện bằng kỹ thuật PCR [22] Theo trao đổi cá nhân, trộn vào thức ănStreptomycine và Rifamycine liều lượng 1-2 g/kg thức ăn có thể hạn chế các bệnh này
Nhìn chung cá chim là sản phẩm có giá trị kinh tế cao và đã được nuôi thương phẩm trong lồng biển bằng thức ăn công nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế
Trang 21giới, FCR=1,6-2,67 tùy điều kiện nuôi; cho cá ăn 2-4 lần/ngày với lượng trong ngày bằng 3-5% khối lượng thân Cỡ cá giống sử dụng khoảng 5-10 g trở lên và
có thể đạt năng suất đến 50 kg/m3
1.2.2 Nghiên cứu cá chim vây vàng ở Việt Nam
1.2.2.1 Sản xuất giống cá chim vây vàng
Năm 2003-2004, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản đã nhập đàn cá chim vây vàng hậu bị từ Đài Loan về nuôi tại Cát Bà và Nghệ An Tuy nhiên, cá chim vây vàng mới được sinh sản nhân tạo thành công tại Việt Nam năm 2006, thông qua dự án tiếp nhận công nghệ với sự phối hợp giữa Trung tâm Khuyến nông Quốc gia vàTrường Cao đẳng Thủy sản đơn vị chuyển giao công nghệ là Trung tâm chuyển giao công nghệ Trường đại học Trung Sơn Trung Quốc Kết quả dự án cho thấy sau 28 ngày ương nuôi, cá bột sinh trưởng từ 2,40±0,04 lên 26,03±1,51 mm Tỷ lệ sống từ giai đoạn bột lên hương đạt từ 30,1 đến 35%[4] Sau 2 năm thực hiện, dự án đã hoàn thành với kết quả cao, đáp ứng với yêu cầu
đề ra, cụ thể: tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ đạt 84,7%; tỷ lệ rụng trứng đạt 86,58%; tỷ lệ nở từ trứng thụ tinh đạt 83,46%; tỷ lệ sống từ cá bột lên các hương (cỡ 2cm) đạt 32,42%; tỷ lệ sống từ cá hương lên cá giống 50 – 62,5% Sản lượng
cá hương đạt 310.660 con, sản lượng cá giống đạt 165.040 con [4]
Từ năm 2008 đến nay, Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ, thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I cũng đã nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công đối với cá chim vây vàng, trên đàn cá hậu bị nuôi từ năm
2004 Kết quả cho thấy năm 2008 sản xuất được 10.000 con, tỷ lệ sống ước đạt 20%; năm 2009, sản lượng giống sản xuất được 150.000 con giống, tỷ lệ sống đạt khoảng 25%; năm 2010, sản lượng giống đạt khoảng 150.000 con, tỷ lệ sống đạt 35% Kết quả nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2009 – 2011 về “Thử nghiệm sản
xuất giống cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) tại Khánh
Hòa” và “Hoàn thiện qui trình và chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá chim
vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede, 1801) tại Khánh Hòa” đã xây dựng thành
công quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng tại Khánh Hòa
và chủ động trong việc sản xuất và cung cấp nguồn cá giống ổn định, chất lượng
Trang 22cho người nuôi[6, 7]
Kết quả nghiên cứu của của Lại Văn Hùng và ctv (2011) tỷ lệ sống của cá
bố mẹ đạt từ 90,0 – 92,0%, tỷ lệ thành thục từ 57,14 – 95,00%, trung bình là 80,32% Qua 20 đợt kích thích sinh sản bằng hormon HCG, liều lượng 1000 IU kết hợp với 20 µg LRHa thu được 31.320.000 trứng, sức sinh sản trung bình 73.922 trứng/kg cá cái, tỷ lệ thụ tinh trung bình 70,53%, tỷ lệ nở 75,3% Sau 16 đợt ương giống thu được 404.777 con cá giống cỡ 4 – 5 cm/con, với tỷ lệ sống trung bình từ giai đoạn cá bột lên cá hương là 10,64%, tỷ lệ sống từ cá hương lên
cá giống là 93,86%[7]
1.2.2.2.Nuôi thương phẩm cá chim vây vàng
Cá chim vây vàng (vây dài và vây ngắn) thích hợp nuôi trong lồng hoặc trong các ao tôm với độ mặn >5‰ Trong điều kiện nuôi thương phẩm, cá thường ít bị dịch bệnh, tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh (thức ăn công nghiệp,
cá có thể đạt cỡ từ 0,5 – 0,7kg/con, từ năm thứ 2 trở đi, cá đạt trọng lượng tuyệt đối là 1kg/con Cá chim vây vàng cũng được xếp vào hàng những cá biển được tiêu thụ nhiều nhất trong các gia đình ở Hồng Kong nơi chiếm tới 29% lượng tiêu thụ cá biển với mức giá từ 9-28 USD/kg Trong khi ở các nhà hàng hạng trung, nơi chiếm 61% lượng cá biển tiêu thụ với giá bán buôn 9-40 USD/kg.Tại Nha Trang, cá chim vây vàng có giá 120.000-150.000 VND/kg.Trên thị trường hiện nay, giá cá chim vây vàng dao động từ 120.000 – 150.000 đồng/kg và nhu cầu thị trường đối với loài cá này là rất cao
Ở Việt Nam, cá chim được nuôi thử nghiệm trong ao đất và lồng biển Các tác giả tập trung nghiên cứu về con giống, mật độ thả, nhu cầu dinh dưỡng, chế
độ chăm sóc và các loại thức ăn công nghiệp phục vụ xây dựng qui trình công nghệ nuôi đem lại hiệu quả nhất định
+) Nuôi trong ao:
Theo nhóm nghiên cứu trường Cao Đảng thủy sản thả giống cỡ 21,1 g/con
ở mật độ từ 1,5- 2,5 con/m2 trong ao đất sử dụng thức ăn công nghiệp, sau 12 tháng nuôi, cá đạt 593 – 621 g/con, tỷ lệ sống trên 90%[2]
Diện tích ao khoảng 2000-5000 m2 độ sâu 1,2-1,5 m Cỡ giống thả là 8-10
Trang 23cm chiều dài Thức ăn dạng viên nổi (2-3 h), hàm lượng protein 45%, lipid 15% Tùy theo cỡ cá để cung cấp thức ăn thức ăn cỡ hạt 2 mm cho cá 20-80 g/con và 5
mm cho cá trên 250 g/con; tỉ lệ cho ăn từ 3-4% ở giai đoạn nhỏ và giảm còn 2% khối lượng thân ở giai đoạn cá lớn Cho ăn 2 lần/ngày Từ tháng thứ 2 trở đi, cung cấp ô xy cho cá bằng hệ thống quạt Hàng tháng thay 20-30% nước, bón phân vi sinh Cá chim dễ mắc bệnh trùng quả dưa, trùng bánh xe ở nhiệt độ 23-
1,5-26oC trong điều kiện miền Bắc từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Khi bị bệnh cá
bỏ ăn, tách đàn, thân sẽ bị lở loét sau 2-3 ngày biểu hiện bệnh lý.Phòng bệnh này bằng việc tắm formaline 20 ppm hàng tháng Sau 10-12 tháng nuôi cá đạt 600-
700 g/con và có thể thu hoạch [1]
Nuôi trong ao có hạn chế đó là do nhu cầu ô xy của cá chim cao nên chỉ nuôi cá ở mật độ thấp, nếu nuôi mật độ cao phải có hệ thống cung cấp khí, cá chậm lớn Vì vậy người dân ít nuôi cá chim trong các ao đìa do hiệu quả kinh tế thấp hơn so với các đối tượng khác như tôm, cua
+) Nuôi trong lồng trên biển:
Nghiên cứu nuôi thương phẩm cá chim trong lồng biển cũng đã được triển khai và thu được nhiều kết quả tốt Theo Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản
I, sau 6 tháng nuôi sử dụng thức ăn là cá tạp, cá giống 22 g/con đạt kích cỡ thương phẩm với khối lượng trung bình 545 g/con và sau 9 tháng nuôi đạt 722 g/con Với kích cỡ cá giống 22 g/con, nuôi ở các mật độ: 330, 460 và 600 con/lồng 20 m3, sau 6 tháng nuôi, cá đạt tỷ lệ sống 58,6 – 68,2%, khối lượng 461,2 – 470,2 g/con[11] Tỉ lệ sống của cá chưa cao được lý giải là do tập tính cá chim vây vàng không bắt mồi khi mồi chìm xuống đáy nên nuôi ở mật độ càng cao tỉ lệ sống càng thấp, tính phân đàn lớn
Trong mô hình thử nghiệm nuôi cá chim trong lồng biển ở Việt Nam, nuôi
cá chim cỡ 28 g, mật độ 72 con/m3, thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein 43%, lipid 12% Sau 67 ngày nuôi cá đạt khối lượng trung bình 200 g/con; năng suất 14 kg/m3, tỉ lệ sống 99%; FCR=1,84 [30]
Theo Lại Văn Hùng và ctv (2011) cá chim ăn thức ăn công nghiệp loại có protein 46%, lipid 10% và loại co protein 44 – 46%, lipid 10% có tăng trưởng và
Trang 24tỉ lệ sống vượt trội so với cá ăn thức ăn là cá cơm và cá nục FCR là 3,0-3,2 và giá thành sản phẩm là 95.000-97.000 đ/kg trong khi đó đối với thức ăn tươi FCR
= 13,1 và giá thành là 187.000 đ/kg[7]
Nuôi cá chim cũng gặp một số vấn đề bệnh trong đó có bệnh gây ra bởi
vikhuẩn Nocardia spp là vi khuẩn gram âm Biểu hiện bệnh lý là các nốt phồng
rộp nhỏ ở da, khi vỡ tạo nên các vết loét nhỏ màu xám, có các khối u nằm dọc cột sống làm cơ thể cá cong vẹo, dị dạng, bụng cá hơi phình và cứng Mang cá bị bệnh tiết nhiều dịch nhầy, một số trường hợp quan sát thấy hiện tượng hoại tử trên mang Khi giải phẫu, quan sát các nội tạng như thận, gan và lách thấy có các đốm trắng nhỏ Tác nhân gây bệnh đốm trắng nội tạng trên cá chim được xác
định là Nocardia sp Bệnh thường xảy ra với cá chim cỡ từ 8-14 cm [3]
Cá chim có thể bị nhiễm Vibrio spvà Vibrio anguillarumvà có dấu hiệu
bỏ ăn, bơi chậm chạp, chuyển từ màu sáng nâu sang xám đen, chết rải rác, bụng trương to Bệnh xuất hiện nhiều ở cá giống và giai đoạn nuôi cá thương phẩm mật độ cao, khi nước bị nhiễm bẩn Theo kinh nghiệm người nuôi trộn vào thức
ăn công nghiệp các chất kháng sinh như Tetracycline 3-5 g/kg thức ăn; Clindamycine 4-5 g/kg thức ăn có thể hạn chế các dịch bệnh này
Trong nuôi lồng trên biển, lồng vuông có kích thước 3 x 3 x 3 m đặt trong
hệ thống bè Cũng có thể sử dụng các lồng tròn cỡ lớn, đường kính 10-14 m thể tích 2000-2500 m3.Cỡ cá giống thả từ 8 – 10 cm (17-20 g) thả ở mật độ 25 con/m3 Thức ăn nuôi cá chim là loại công nghiệp dạng viên nổi có độ đạm từ 40-45%, lippit từ 10-15% Khi cá nhỏ hơn 100 g dùng thức ăn cỡ 2 mm bằng 5-6% khối lượng thân, khi cá lớn hơn 100 g/con dùng thức ăn cỡ 3-5 mm bằng 1,5-2% khối lượng thân Cho cá ăn 2 lần/ngày vào 7-8 h và 18-19 h
Kiểm tra định kỳ, hàng ngày vệ sinh, loại bỏ thức ăn dư thừa, rác, túi nilong, bám vào lồng lưới Sau 6-8 tuần, khi lồng lưới bị bám bẩn bởi hầu hà, rong, tảo,… cần tiến hành thay lồng lưới Di chuyển lồng về nơi an toàn trong mùa mưa bão Định kỳ tắm nước ngọt cho cá 2 lần/tháng đặc biệt ở thời điểm giao mùa giữa mùa xuân và mùa hè, mùa hè và mùa thu Sau thời gian nuôi 10 tháng cá có thể đạt 0,8-1 kg/con
Trang 25Theo Lại Văn Hùng và ctv (2014), lồng nuôi: mỗi ô có kích thước 4x4x3m (48m3) hoặc 4x4x4m (64 m3) Cá giống cỡ 70-80g, mật độ thả 40-50 con/m3.Sau 1-2 tháng khi cá đạt trọng lượng 100-150 g thì giảm mật độ xuống 20-25 con/m3 Trong quá trình nuôi tiếp theo, tùy theo mức độ phân đàn của cá
để phân cỡ và san thưa mật độ đến khi thu hoặc là 12-15 con/m3[6]
Sử dụng thức ăn viên dạng chìm chậm của công ty Uni-President (UP), độ đạm từ 44-46%, lipid: 10% Thời gian đầu kỳ nuôi cho ăn 2-3 lần/ ngày, tỷ lệ cho
ăn 5-8% khối lượng thân Khi cá đạt 300 g trở lên thì giảm số lần cho ăn xuống còn 1-2 lần/ngày, tỷ lệ cho ăn 2-4% Thường xuyên kiểm tra và vệ sinh lồng nuôi.Định kỳ 1-2 tháng thì phân cỡ cá và san đàn.Định kỳ thay lồng và tắm nước ngọt cho cá Khi cá đạt cỡ 0,7-1,0 kg sau 10 -12 tháng nuôi thì thu hoach.Tỷ lệ sống đặt 80-85% năng suất 7-9 kg/m3 FCR từ 2,2 đến 2,5
Nuôi cá chim trong lồng biển có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao nên được người dân hết sức quan tâm.Đây là đối tượng có tiềm năng lớn cho phát triển nuôi biển bền vững Tuy nhiên trong thực tiễn sản xuất qui trình kỹ thuật nuôi cá chim còn một số hạn chế đó là tỉ lệ sống của cá chưa cao nhất là ở giai đoạn cá nhỏ; hệ số FCR còn cao; năng suất nuôi còn thấp so với thế giới do đó hoạt động nuôi của một số hộ dân chưa hiệu quả Cần phải nghiên cứu hoàn thiện công nghệ nuôi thương phẩm trong lồng biển cho đối tượng này
1.3.Một vài yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất giống cá chim vây vàng
1.3.1 Thức ăn và chế độ cho ăn
Trong giai đoạn ương nuôi từ cá bột lên cá hương, thức ăn tự nhiên như luân trùng, copepoda, artemia đóng vai trò quan trọng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Thử nghiệm cho sinh sản cá chim vây vàng đầu tiên tại Trung Quốc năm 1989, thức ăn ban đầu cho cá bột là luân trùng (rôtifer), copepoda và thức ăn tổng hợp [17] Trong khi ở, Indonesia, thức ăn sử dụng là tảo đơn bào
(Nanochloropsis sp), luân trùng, ấu trùng Artemia và thức ăn tổng hợp Sau 35
ngày ương cá đạt cỡ 3,0 – 3,5 cm, tỉ lệ sống từ 20 – 25%[23]
Trong nghiên cứu khác, Hermawan (2005) đã ấp trứng thụ tinh của cá chim vây vàng ở mật độ 10 – 20 tế bào/l Ấu trùng sau đó được ương trong bể 12
Trang 26m3 Thức ăn cho cá bột, cá hương thường được sử dụng trong ương nuôi là luân
trùng (Brachionussp.), ấu trùng artemia (Artemia salina) và thức ăn chế biến
Mật độ luân trùng được duy trì 10 con/l, kéo dài đến ngày thứ 30 Bổ sung artemia vào ngày 15, cho ăn thức ăn chế biến từ ngày 20 Trong quá trình ương, nước được thay từ 10 đến 30% sau ngày 12 đến ngày 30 Sau 30 ngày tiến hành thay 100% nước[21]
Ở Việt Nam, cá chim vây vàng ương ở giai đoạn cá bột, thức ăn là tảo Chlorella (2-4x105 tế bào/ml), luân trùng (6-8 con/ml), copepda (8-10 con/ml), artemia (1-2 con/ml), cho ăn 2 lần/ngày
1.3.2.Mật độ ương
Trong giai đoạn ương cá giống, việc ương với mật độ cao sẽ dẫn đến cạnh tranh về không gian sống, thức ăn Ở Indonesia, cá bột được đưa vào ương trong các bể xi măng có thể tích 10m3
với mật độ 10 -15 ấu trùng/lít.Ở Việt Nam, mật
độ cá ương khác nhau giữa các đợt sản xuất, dao động từ 12 đến 27 con/lít Nước biển được lọc sạch qua hệ thống lọc sinh học, cấp vào bể ương cá bột khoảng 60
cm ở những ngày đầu.Theo Juiyanto và ctv (2008), cá chim vây vàng ở giai đoạn bột, cá được ương ở mật độ 20 con/l, đến thời điểm cuối của quá trình ương (35 ngày) mật độ cá giảm còn 0,5 con/l, kích cỡ cá thu được 3,4 đến 3,5 cm có thể chuyển đến vùng nuôi[23] Tỷ lệ sống của cá từ giai đoạn trứng thụ tinh đến 3,4
cm đạt 21% Năm 2008, kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ và sinh sản nhân tạo giống cá chim vây vàng cũng đã nghiên cứu thành công tại Indonesia Thành công này đã góp phần giảm áp lực nhập khẩu nguồn giống từ nước ngoài vào nước này [23]
Nghiên cứu của Chu Chí Thiết (2010) nhận thấy rằng tỷ lệ sống cá chim
vây vàng (T blochii) ở giai đoạn cá hương lên cá giống không bị ảnh hưởng khi
ương ở các mật độ từ 1,0 đến 2,0 con/l ; và mật độ ương 1,5 con/lít là phù hợp nhất trong việc ương cá chim vây vàng từ hương lên giống trong điều kiện ương
cá có thay nước[10]
1.3.3.Độ mặn
Cá chim vây vàng là loài rộng muối, theo Allen và ctv (1970), độ mặn gây chết 50% cá chim được đánh bắt ở độ mặn 23 ‰ sau 72 giờ là 3,5 ‰ Nồng độ
Trang 27mặn gây chết 50% cá chim đánh bắt ở cùng điều kiện trên được thuần hoá trong
12 ngày ở 5 ‰ là 1 ‰[13] Allen và ctv (1970) cũng chỉ ra rằng cá chim giai đoạn giống có khả năng sinh trưởng ở độ mặn 5 ‰[13] Ở nhiệt độ từ 22 – 27oC
và độ mặn ban đầu trong khoảng 32-33 ‰, cá chim giống có khả năng chịu đựng được độ mặn dưới 2 ‰ và cao đến 45 ‰[25]
Cá chim Florida có khả năng thích nghi với nước ngọt bằng cách thuần hóa độ mặn từ từ, sự thay đổi độ mặn đột ngột sẽ gây cá chết hàng loạt Những biến động độ mặn mà diễn ra trong môi trường nhân tạo, trừ khi quá nhanh, sẽ không gây hại cá chim Weirich (2006) đã tiến hành nuôi cá chim Florida trong
hệ thống tuần hoàn ở độ mặn 5‰ trong thời gian 110 ngày, nhiệt độ dao động từ 27,0 đến 28,5oC và kết quả cho thấy, khối lượng cá chim tăng lên 312,7 g (2,8 g/ngày), từ 259±3,0 g lên 570,0 g[36]
1.3.4 Nhiệt độ
Theo Watanabe (1994) cá chim là loài phân bố ở vùng nước ấm, thông thường chúng được bắt gặp ở vùng nước có nhiệt độ dao động từ 25 đến 32 o
C, một số ít loài cá chim tìm thấy ở vùng nước có nhiệt độ dưới 17 o
C[35] Theo Cheng (1990), ở mức nhiệt độ từ 16 đến 36 oC cá vẫn phát triển bình thường, nhưng sinh trưởng tốt nhất trong khoảng 22 oC đến 28 o
C; trong khoảng nhiệt độ
từ 15-28 oC, hệ số bắt mồi của cá chim và đạt cực đại ở 27,2-28,2 oC[17]
Một số yếu tố môi trường được theo dõi trong quá trình ương là: ôxy hoà tan dao động từ 5 đến 7 mg/l, pH dao động trong khoảng 7,6 đến 8,8, độ mặn dao động từ 20 đến 32 ‰, nhiệt độ nước dao động từ 26 đến 33 oC [4]
1.3.5 Hệ thống ương
Cá chim vây vàng giai đoạn bột được tiến hành ương trong các bể xi măng
12 m3, 30 m3 và bể composite 2 m3 Bể được bố trí từ 1 đến 2 đá khí, duy trì sục khí 24/24 giờ[4] Tuy nhiên, ở giai đoạn cá từ cá hương lên cá giống, cá được ương trong bể xi măng và trong ao đất Ở bể xi măng (8 và 30 m3), mật độ ương dao động từ 0,3 đến 0,8 con/lít Sau 30 ngày ương nuôi, kết quả qua các đợt ương cho thấy, tỷ lệ sống trung bình đạt 61,5%, kích thước trung bình của cá qua các đợt ương sau 30 ngày (58 ngày tuổi) dao động đạt từ 43,90±4,63 đến 53,03±5,08
Trang 28mm Ở ao đáy cát (5000 m2), mật độ dao động từ 16 đến 17 con/m2 Thức ăn là
cá tạp xay nhỏ, cho ăn 2 lần/ngày, cá ăn đến no Kết quả sau 30 ngày ương cho thấy tỷ lệ sống trung bình của cá đạt 51,3% Kích thước cá đo được tại thời điểm thu hoạch dao động từ 58,33±5,87 đến 61,50±6,50 mm Như vậy, kích thước cá ương trong ao lớn hơn cá ương trong bể [4]
Trang 29Chương 2.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Xác định mật độ ương nuôi phù hợp đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ cá bột đến cá hương
- Xác định loại thức ănphù hợp đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ cá bột đến cá hương
2.3 Vật liệu nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) từ 1 ngày tuổi đển 21ngày tuổi
2.3.2 Vật liệu nghiên cứu
-Thức ăn: tảo Nanochloropsis oculata, dầu DHA ProteinSelco, artemia, luân trùng (Brachionus plicatilis) dòng siêu nhỏ SS (super small)…
- Hệ thống bể thí nghiệm: bể tròn composite với thể tích 100-200l, hệ thống ống PVC cấp nước, dây khí, máy nén khí Các bể 1-3 m3 nuôi luân trùng
Thí nghiệm 1:Xác định mật độ ương nuôi phù hợp đến sinh trưởng và tỷ
lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn từ cá bột đến cá hương
Thí nghiệm được tiến hành với 03 mật độ:
- MĐ1: ương với mật độ 30 con/lít