2.2.6 Ảnh hưởng của chính sách vĩ mô của Nhà nước và vận dụng của 2.3 Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Tài chính của thành phố V
Trang 1HỒ THỊ MAI TRANG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
NGÀNH TÀI CHÍNH CỦA THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGHỆ AN, 2015
Trang 2HỒ THỊ MAI TRANG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
NGÀNH TÀI CHÍNH CỦA THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01.02
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS HOÀNG THỊ BÍCH LOAN
NGHỆ AN, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, đúc kết và phân tích một cách trung thực, phù hợp với tình hình thực tế Tôi xin cam đoan những mục trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc, mọi sự giúp
đỡ đều được cảm ơn
Nghệ An, năm 2015
Tác giả luận văn
Hồ Thị Mai Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã được sự giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện của rất nhiều người, sau đây là lời cảm ơn chân thành của tác giả:
Trước hết, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thị Bích
Loan, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn và các thầy cô Khoa Kinh tế, Trường Đại học Vinh Nhờ
có sự hướng dẫn nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô mà
luận văn của tôi đã được hoàn thành
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Vinh; Ban Chủ nhiệm khoa Kinh tế, Phòng Đào tạo Sau Đại học cùng toàn thể các Giáo
sư, Tiến sỹ của khoa Kinh tế - Trường Đại học Vinh, đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành công trình này Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các Thầy giáo, Cô giáo và các cán bộ Phòng Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, người thân trong gia đình đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Học viên
Hồ Thị Mai Trang
Trang 52 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH TÀI
1.1 Khái niệm và vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn
1.1.2 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 18 1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân
1.2.1 Nội dung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài
Trang 61.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng
1.3 Kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH TÀI CHÍNH CỦA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2011 - 2014 39 2.1 Khái quát kinh tế - xã hội thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An 39
2.1.2 Tổng quan về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của thành
2.1.3 Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 44 2.2 Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ngành Tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 48 2.2.1 Công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính 48 2.2.2 Công tác tuyển dụng, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao
2.2.5 Ảnh hưởng nhận thức của người đứng đầu cơ quan đơn vị đến
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Tài chính 65
Trang 72.2.6 Ảnh hưởng của chính sách vĩ mô của Nhà nước và vận dụng của
2.3 Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân về phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao ngành Tài chính của thành phố Vinh,
2.3.3 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức về phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ngành Tài chính của thành phố
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH TÀI CHÍNH CỦA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020 83 3.1 Quan điểm và phương hướng chủ yếu phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao ngành Tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
3.1.1 Những quan điểm cơ bản phát triển nguồn nhân lực chất lượng
3.1.2 Phương hướng và nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chất lượng
3.2 Các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 88 3.2.1 Nhóm giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác tuyển dụng, thu hút nguồn
3.2.3 Nhóm giải pháp về sử dụng, đãi ngộ và tạo môi trường làm việc
tốt cho nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính 102 3.2.4 Động viên, khuyến khích mọi cá nhân trong cơ quan, doanh
Trang 8nghiệp tự học tập, nâng cao trình độ chuyên môn 104 3.2.5 Nâng cao nhận thức của người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ
quan, đơn vị về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ - ĐH Cao đẳng- Đại học
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNKT Công nhân kỹ thuật
CN- XD Công nghiệp - Xây dụng
GDCN Giáo dục chuyên nghiệp
GD - ĐT Giáo dục - đào tạo
HĐND - UBND Hội đồng nhân dân- Ủy ban nhân dân
KHHGĐ kế hoạch hóa gia đình
NNLCLC Nguồn nhân lực chất lƣợng cao
PTNNL Phát triển nguồn nhân lực
Trang 10ngành tài chính trên địa bàn thành phố Vinh 59 2.10 Thực trạng công tác đãi ngộ tại cơ quan, đơn vị đến phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính 60 2.11 Thực trạng về ý thức tự học của mỗi các nhân 63 2.12 Ảnh hưởng nhận thức của mỗi cá nhân đến việc học tập tự nâng
2.13 Ảnh hưởng của trình độ, độ tuổi của người đứng đầu cơ quan,
doanh nghiệp đến nhận thức về sự phát triển nguồn nhân lực chất
2.14 Kết quả phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển của kinh tế thế giới đang bước sang thời kỳ mới với những thành tựu có tính chất đột phá trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) là nhân tố đóng vai trò quyết định sự biến đổi về chất, dẫn tới sự ra đời của kinh tế tri thức
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và nền kinh tế của nhóm những nước có thu nhập trung bình thì lợi thế dựa vào tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn nhân lực giá rẻ không còn là ưu thế Việt Nam xuất phát điểm là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, cùng với một thời kỳ dài vận hành theo cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, nay chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Trong quá trình CNH, HĐH gắn với nền kinh tế tri thức thì phát triển NNLCLC càng cần phải coi trọng, đó chính là khâu đột phá giúp Việt Nam tránh được nguy cơ tụt hậu
và đẩy nhanh tốc độ phát triển Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là một dẫn chứng sinh động cho thấy xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy mạnh tự do, với nhiều thời cơ, vận hội, song không ít những khó khăn thách thức Hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đòi hỏi Việt Nam phải có nguồn nhân lực có trình độ đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố chính, quyết định sự thành công của nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế Trong quá trình cạnh tranh gay gắt trên thế giới thì việc phát triển NNLCLC trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách của Việt Nam, đó là chìa khóa để Việt Nam duy trì tăng trưởng và cạnh tranh có hiệu quả trong thời đại của kinh tế tri thức
Trang 12Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã đạt được những thành tựu nhất định trong những năm vừa qua về phát triển kinh tế- xã hội và văn hóa Đời sống vất chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện; nhưng vẫn là một tỉnh nghèo, nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế; chất lượng nguồn nhân lực thấp, trình độ cán bộ quản lý khu vực công và đội ngũ quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là nguồn nhân lực ngành tài chính còn nhiều hạn chế về chất lượng và cơ cấu, đội ngũ trí thức và nghiên cứu khoa học ngành tài chính còn mỏng và chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển trong điều kiện hội nhập Việc thiếu NNLCLC ngành tài chính trở thành lực cản cho sự phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài của tỉnh Đây
là một thách thức lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Chính vì vậy
việc nghiên cứu đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” có ý nghĩa thiết thực cả trong ngắn
hạn cũng như trong dài hạn và được tác giả lựa chọn làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về phát triển NNL nói chung và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu
về phát triển NNL thường đề cập đến phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô, cho tỉnh, quốc gia, có một số đề tài đã đề cập tới nâng cao chất lượng cao nguồn nhân lực ở một số tỉnh, thành phố trong nước Về phát triển NNLCLC cũng được nghiên cứu nhiều trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam đó vẫn là đề tài nghiên cứu khá mới mẻ Trong các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, nổi bật có một số công trình nghiên cứu sau:
- Phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức quy mô nhỏ- nghiên cứu
và thực tiễn do Jim Stewart và Graham Beaver chủ biên (2004) Cuốn sách
gồm có 3 phần: Phần I gồm các nghiên cứu về đặc điểm của các tổ chức quy
Trang 13mô nhỏ và những gợi ý trong việc thiết kế và thực hiện nghiên cứu về PTNNL Phần 2 gồm những bài trình bày kết quả nghiên cứu về các cách tiếp cận để phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức quy mô nhỏ Phần 3 đề cập đến các phương pháp PTNNL mà các tổ chức quy mô nhỏ thường áp dụng và thực hành
- Phát triển nguồn nhân lực- kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta
do Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm làm chủ biên (1996) Cuốn sách giới thiệu về
kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi quốc gia, trong đó có chính sách phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới
- Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo- Kinh nghiệm Đông Á của Viện Kinh tế Thế giới (2003) Cuốn sách đã giới thiệu
các thành tựu đạt được của nhóm nước trong khu vực trong phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo Các chính sách thành công về giáo dục và đào tạo của các nước Đông Á là giải pháp quan trọng trong cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa Đó cũng là bài học cho Việt Nam trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực
- Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn do PGS
TS Đỗ Minh Cương - TS Mạc Văn Tiến đồng chủ biên, 2004 Bên cạnh việc
đi sâu nghiên cứu tìm ra các giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam, tác giả đã đưa ra các khái niệm nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô và vi
mô, kinh nghiệm đào tạo và phát triển lao động kỹ thuật ở một số nước như Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật, Mỹ
- Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay do
TS.Trần Thị Nhung và PGS TS Nguyễn Duy Dũng đồng chủ biên, 2005 Các tác giả đã phân tích hiện trạng phát triển nguồn nhân lực, các phương thức đào tạo lao động chủ yếu trong các công ty Nhật Bản từ những năm 1990 đến nay Tác giả đã nêu ra một số gợi ý và kiến nghị về sự phát triển nguồn nhân lực ở
Trang 14Việt Nam nói chung và trong các công ty nói riêng trong thời gian tới
- Luận án Tiến sỹ: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của các trường Đại học khối Kinh tế Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế” của Phan Thuỷ Chi, 2008 Các vấn đề lý luận về đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực được hệ thống trong luận án là nguồn tham khảo cho tác giả
- PGS.TS Quyền Đình Hà (2013), Vận dụng kinh nghiệm các nước để phát triển Nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta ở giai đoạn hiện nay
Tạp chí Kinh tế và phát triển số tháng 5/2013 Trong bài viết tác giả đã tập hợp kinh nghiệm của một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Điển…và rút ra kinh nghiệm và bài học cho chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam
- TS.Trần Thị Hồng Việt (2012), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho thủ đô Hà Nội Tạp chí Kinh tế và phát triển số tháng 8/2012 Bài viết
đã nêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm
vụ quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thủ đô đến năm 2030 Tác giả chỉ ra những lợi thế so sánh của Hà Nội về nguồn nhân lực chất lượng cao nhưng cũng đang tiềm ẩn những thách thức to lớn trong việc phát triển loại hình này Bài viết nêu lên thực trạng nhân lực chất lượng cao của Hà Nội đang có nhiều hạn chế như tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, cơ cấu ngành nghề và sự phân bố lao động chưa hợp lý…
- PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc, Th.S Chử Thị Lân (2014), Thị trường lao động chuyên môn kỹ thuật cao ở Việt Nam Tạp chí Kinh tế và phát triển số
tháng 3/2014 Các tác giả đã nêu ra khái niệm và đặc điểm và thị trường của lao động chuyên môn kỹ thuật cao, trên cơ sở đó phân tích thực trạng phát triển của thị trường lao động chuyên môn kỹ thuật cao ở Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm phát triển thị trường này
Trang 15- TS Hồ Bá Thâm (2012), Nhân lực chất lượng cao: Quan niệm và nhu
cầu hiện nay Liên hệ với trường hợp tỉnh Lâm Đồng Trong bài viết, tác giả
đã có sự phân biệt giữa nhân lực chất lượng cao với nguồn nhân lực chất lượng cao, đưa ra quan niệm về nhân lực chất lượng cao và những tiêu chí để phân biệt Từ đây, theo quan điểm tác giả phải có sự phân biệt rõ giữa nhân lực chất lượng cao và nguồn nhân lực chất lượng cao
Nhìn chung, xét một cách tổng thể đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến
đề tài dưới những góc độ tiếp cận khác nhau Luận văn kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt được, đồng thời luận văn nghiên cứu sâu về phát triển NNLCLC ngành tài chính của tỉnh Nghệ An dưới góc độ Kinh tế chính trị
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến năm 2020
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính
- Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An từ năm 2011 - 2014
- Nêu quan điểm và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
An trong giai đoạn 2015- 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài
Trang 16chính trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; đối tượng trực tiếp là nguồn nhân lực chất lượng cao hiện đang công tác và làm việc liên quan ngành tài chính trong các thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố Vinh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi về không gian
Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (chỉ nghiên cứu NNLCLC ngành tài chính do tỉnh Nghệ An quản lý, không nghiên cứu NNLCLC ngành tài chính do trung ương quản lý và lực lượng vũ trang trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An)
4.2.2 Phạm vi về thời gian
Các số liệu thứ cấp thu thập trong luận văn chủ yếu được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2013; các số liệu sơ cấp thu thập thông qua điều tra thực tế năm 2014
4.2.3 Phạm vi về nội dung
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An được nghiên cứu theo các khía cạnh chủ yếu là: (i) theo ngành kinh tế chủ yếu, (ii) theo vùng, (iii) theo thành phần kinh tế chủ yếu
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận của phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở những lý luận, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
5.2 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng
Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu của Kinh tế chính trị như phương pháp phương pháp trìu tượng hóa khoa học, phương
Trang 17pháp biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử… đồng thời sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp và sơ cấp; Phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích thông tin; Phương pháp thống kê; Phương pháp so sánh, Phương pháp chuyên gia Tham vấn ý kiến các bên
có liên quan, đặc biệt là các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực phát triển NNLCLC, chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực này để tìm hiểu thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và những vấn đề cần lưu
ý giải quyết
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Phát triển NNLCLC ngành tài chính trên địa bàn tỉnh Nghệ An là vấn
đề mới, đang tồn tại trong thực tiễn nhưng chưa được nghiên cứu một cách
hệ thống và đầy đủ Qua nghiên cứu, luận văn đã có ý nghĩa cả về lý luận
Trang 18phát triển NNLCLC ngành tài chính của thành phố
Ba là, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích không chỉ cho các ngành, các cấp, các cơ quan doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An mà nó là tài liệu tham khảo bổ ích cho các tỉnh bạn Nó cũng là gợi ý để các nhà quản lý, hoạch định chính sách, tham khảo trong việc xây dựng các chính sách, nhằm thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính ở Việt Nam
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính;
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011- 2014;
Chương 3: Quan điểm và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NGÀNH TÀI CHÍNH
1.1 Khái niệm và vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm nguồn nhân lực chất lượng cao
* Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
* Khái niệm nguồn nhân lực
Theo giáo trình Kinh tế lao động thì: nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự
phát triển kinh tế xã hội [8] Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác
(nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực công nghệ…) là ở chỗ: trong quá trình vận động, NNL chịu tác động của yếu tố tự nhiên (sinh, chết ) và yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp ) Chính vì vậy, NNL là một khái niệm khá phức tạp, được nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau Nguồn nhân lực còn được hiểu như là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Cách hiểu này muốn chỉ rõ nguồn gốc tạo ra nguồn lực con người, nghiêng về sự biến động tự nhiên của dân số và ảnh hưởng của nó tới sự biến động nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực còn được hiểu như một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động Cách hiểu này cụ thể hơn và có thể lượng hóa được, đó là năng lực lao động của xã hội, bao gồm những người có khả năng
lao động, tức là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong NNL
Trang 20Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội
Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, NNL chính là nguồn lực chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển Vì vậy, việc cung ứng đầy đủ và kịp thời NNL theo yêu cầu của nền kinh tế là yếu tố đóng vai trò quyết định, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội Do đó, bất cứ hiện tượng thiếu hoặc thừa sức lao động, đều gây ra những khó khăn cho sản xuất xã hội và ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trưởng kinh tế
Liên hiệp quốc cũng cho rằng: "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan
hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước"(Viện nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương, 2006) [59]
Ông Hoàng Chí Bảo cho rằng: Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng - hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển của con người" [2], tức là kết cấu bên trong của nguồn nhân lực bao gồm sức mạnh thể lực, trí tuệ và sự kết hợp hai yếu tố đó tạo thành năng lực sáng tạo của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên
Tác giả Đoàn Khải cho rằng: "Nguồn lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội" [24]
Theo quan điểm của tác giả Lê Thị Ngân, nguồn nhân lực được quan niệm là tổng thể sức lao động của xã hội đang và sẽ được vận dụng cho quá trình sản xuất xã hội hay nói một cách rõ hơn: NNL là tổng thể những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong tổng số lực lượng lao động của xã hội và
Trang 21được họ đang và sẽ đem ra vận dụng để sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng cho xã hội [35]
Như vậy, khi nói tới nguồn nhân lực trước hết phải hiểu đó là toàn bộ những người có khả năng lao động, đang tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn Cho nên, NNL còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc - đó chính là các yếu tố thuộc về chất lượng nguồn nhân lực Ngoài ra khi nói tới nguồn nhân lực phải nói tới cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề Khi nói nguồn nhân lực cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của con người, bởi vì trí lực là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển NNL Ngoài ra khi nói đến NNL cũng cần phải nói tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, đạo đức và nhân cách của con người
Do đó, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế chính trị tác giả hiểu là: Nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất
ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước
* Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao
Tại hội nghị BCHTW khoá IX, Đảng ta lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ NNLCLC:" Phát triển NNLCLC thông qua con đường phát triển, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ chính là khâu then chốt để nước ta vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển" [14] Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh thuật ngữ này khi đưa ra định hướng chính
Trang 22sách tập trung phát triển nhanh NNLCLC: "Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kĩ thuật viên lành nghề và CNKT có tay nghề cao Có chính sách thu hút các nhà khoa học công nghệ giỏi trong nước và ngoài nước, trong cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài"
[15] Như vậy theo quan niệm của Đảng ta, NNLCLC bao gồm đội ngũ các nhà
khoa học và công nghệ, các công trình sư, kỹ sư, các CNKT có tay nghề cao Trong lĩnh vực xã hội nhân văn, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã bắt đầu hình thành nên những quan niệm xung quanh vấn đề NNLCLC Ông Phạm Minh Hạc cho rằng: NNLCLC là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao,
là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân lĩnh vực của mình vào CNH, HĐH được mở rộng theo kiểu “vết dầu loang” bằng cách dẫn dắt những
bộ phận công nhân có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh [20] Như vậy, NNLCLC là những con người có trình độ chuyên môn cao, có vốn tri thức và tay nghề giỏi, có khả năng nhận thức và tiếp thu nhanh kiến thức mới Đây là chìa khoá chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật và công nghệ trên con đường phát triển và chống nguy cơ tụt hậu Ngoài ra còn một quan niệm cụ thể khác, NNLCLC là một khái niệm để chỉ một bộ phận những người lao động cụ thể, lao động có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kĩ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kĩ thuật nhất định
Ngoài ra còn có những thuật ngữ cụ thể mang ý nghĩa gần gũi và được xã hội chấp nhận Những quan niệm này có nội hàm hẹp hơn và để chỉ người lao động có trình độ cao, làm việc có chất lượng tốt, đạt hiệu quả lao động trong hai lĩnh vực lao động chủ yếu: trong lĩnh vực sản xuất vật chất như chuyên gia, nghệ nhân…trong lĩnh vực lao động trí óc, bên cạnh hệ thống học vị, học hàm của Nhà nước còn có các thuật ngữ như nhà chuyên môn, bác học….bên cạnh đó xã
Trang 23hội còn có những thuật ngữ như nhân tài, nguyên khí quốc gia để tôn vinh những người tài có cống hiến cho sự phồn thịnh của đất nước
Như vậy có thể hiểu: NNLCLC là một bộ phận đặc biệt, kết tinh những gì tinh tuý nhất của NNL Đó là những người lao động có trình độ chuyên môn từ công nhân nghề bậc 3/7 trở lên đến trên đại học, có khả năng đáp ứng nhu cầu cao của thực tiễn Họ được đặc trưng bởi trình độ học vấn và chuyên môn cao có khả năng nhận thức tiếp thu nhanh chóng những kiến thức mới, có năng lực sáng tạo, biết vận dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn Họ có phẩm chất công dân tốt, có đạo đức nghề nghiệp và đem lại năng suất, chất lượng hiệu quả lao động cao hơn hẳn so với NNL lao động phổ thông
Vậy theo tác giả luận văn: Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận lao động xã hội đã qua đào tạo, có trình độ học vấn hay chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động tốt, có khả năng lao động với năng suất, chất lượng cao, có sức khỏe và phẩm chất tốt, nhằm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của đất nước
* Đặc điểm nguồn nhân lực chất lượng cao
* Là một bộ phận trong nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, tay nghề cao
- Là lực lượng nòng cốt của đội ngũ trí thức, trong đó đội ngũ tri thức
khoa học và công nghệ giữ vai trò hạt nhân của nền kinh tế tri thức
Đây là nhân tố cơ bản cho sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH theo hướng rút ngắn vào phát triển kinh tế tri thức Họ có năng lực sáng tạo cả
về phương diện lý thuyết lẫn thực hành, có năng lực giải quyết những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của nền KT - XH Đây cũng là lực lượng xung kích đi đầu trong việc tiếp nhận công nghệ chuyển giao công nghệ thông tin, làm chủ và thực hiện ứng dụng có hiệu quả vào điều kiện thực tiễn đất nước Bên cạnh đó, họ có năng lực dẫn dắt, bồi dưỡng, đào tạo những bộ phận lao động có năng lực và trình độ thấp hơn phát triển, bổ sung vào NNLCLC
Trang 24- Là lực lượng trụ cột của đội ngũ những người công nhân tri thức
Đây là lực lượng lao động được đào tạo nghề nghiệp căn bản, có kiến thức, kỹ năng và tay nghề giỏi, luôn thích nghi được với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, có khả năng tiếp cận, ứng dụng và làm chủ các dây chuyền công nghệ mới của thế giới Họ là những người trực tiếp lao động sản xuất, cho ra đời những sản phẩm hay cung ứng cho đời sống xã hội những dịch vụ có hàm lượng tri thức cao LLLĐ này chủ yếu làm việc trong các ngành công nghiệp dịch vụ công nghệ cao
- Lực lượng trụ cột của đội ngũ những người thợ thủ công mỹ nghệ
lành nghề trong lĩnh vực ngành nghề truyền thống
Họ chính là những bàn tay vàng, những nghệ nhân có trình độ kỹ năng,
kỹ xạo giỏi Sản phẩm họ làm ra chính là sự sáng tạo hàm ẩn những giá trị truyền thống dân tộc, vừa mang giá trị kinh tế cao Hiện nay với chủ trương bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng ta, LLLĐ này đang phát triển nhanh chóng về số lượng cũng như chất lượng Điều này được biểu hiện thông qua sự gia tăng nhanh chóng của kim nghạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta ra thị trường thế giới Nói khác đi, đất nước ta không chỉ đi lên bằng CNH-HĐH mà còn đi lên bằng những sản phẩm truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc
- Lực lượng trụ cột của đội ngũ những người nông dân tri thức
Họ có trình độ khoa học kỹ thuật, giàu kinh nghiệm thực tiễn trong sản xuất, dám nghĩ, dám làm, đi đầu trong quá trình dịch chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng nông sản theo hướng gia tăng kim ngạch xuất khẩu Đồng thời họ có khả năng tiếp thu, ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học tiên tiến của thế giới vào thực tiễn nông nghiệp Việt Nam qua chuyển đổi, ứng dụng, lai tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao, chất lượng tốt, biện
Trang 25pháp kỹ thuật tiên tiến
* Kết quả hoạt động của nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ phụ thuộc vào bản thân, nó còn phụ thuộc vào môi trường xã hội
Nếu hoạt động sản xuất vật chất của con người là sự tác động của con người vào đối tượng vất chất nhằm biến đổi đối tượng ấy và tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người và xã hội, thì hoạt động của NNLCLC chính
là hoạt động với tư cách là chủ thể của mọi hoạt động xã hội nhằm biến đổi chủ thể của mọi hoạt động xã hội nhằm đạt hiệu quả cao nhất Nhờ được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn và tay nghề cao, kinh nghiệm xã hội phong phú, do đó sức mạnh về thể chất và tinh thần của đội ngũ này có tác dụng thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển Hoạt động của NNL, trong đó NNLCLC đóng vai trò nòng cốt (chủ thể của mọi hoạt động xã hội) tham gia trực tiếp vào hoạt động phát triển kinh tế xã hội
Hoạt động của NNLCLC là một hoạt động mang tính chất đặc thù, nó không chỉ là hoạt động của người có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp mà còn thể hiện con người có phẩm chất đạo đức chính trị, tình cảm trong sáng và có lý tưởng cách mạng cao quý, là người sống có ích không chỉ cho bản thân mà cho cả xã hội Hoạt động của đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao luôn đáp ứng yêu cầu cơ bản của sự nghiệp CNH, HĐH và sự nghiệp phát triển đất nước Để hoạt động này có hiệu quả thì bản thân nguồn nhân lực chất lượng cao phải đảm bảo chất lượng, được trang bị những kiến thức cơ bản về trình độ chuyên môn, tay nghề, phẩm chất đạo đức chính trị, có
kỹ năng, nghiệp vụ, có bề dày kinh nghiệm, được trang bị cơ sở vất chất, thiết
bị phục vụ cho hoạt động của mình một cách hiện đại, tiên tiến, đủ về số lượng
và có sự phù hợp về cơ cấu đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước
Bản thân hoạt động NNLCLC là hoạt động mang tính xã hội cao, sản phẩm do nguồn nhân lực chất lượng cao tạo ra không hoàn toàn phụ thuộc vào
Trang 26bản thân nó mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội vì sản phẩm do nguồn nhân lực chất lượng cao tạo ra chịu tác động bởi nhiều chính sách kinh tế, xã hôi, hệ thống quản lý nhà nước, hệ thống chính sách, pháp luật
* Chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao phụ thuộc vào chất lượng giáo dục đào tạo của mỗi quốc gia
Chất lượng của NNLCLC nói chung liên quan đến nhiều vấn đề: Đảm bảo dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục - đào tạo và các mối quan hệ khác, trong đó giáo dục - đào tạo là quan trọng nhất, nó đóng vai trò quyết định Việc đào tạo nguồn nhân lựccó chất lượng cao cho mỗt quốc gia, một vùng lãnh thổ chỉ có thể thực hiện được thông qua giáo dục đào tạo Đội ngũ này bao gồm các giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đào tạo, đội ngũ nhân viên phục vụ công tác đào tạo Những lực lượng này là người trực tiếp kết hợp với các yếu tố khác như: cơ sở vất chất, trang thiết bị để tạo ra một đội ngũ NNLCLC có trình độ chuyên môn từ công nhân kỹ thuật cho đến cán bộ có trình độ đại học và sau đại học cho xã hội Mặt khác NNLCLC được duy trì và nâng cao khi được giáo dục đào tạo tốt Nâng cao chất lượng NNL là yếu tố quyết định đến sự phát triển nguồn nhân lực
1.1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong nền kinh tế hiện đại, khi nền kinh tế thế giới đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức nhanh chóng thì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển ngày càng trở nên rõ nét hơn Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây đã chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất
ba trụ cột cơ bản là: áp dụng công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, yếu tố và cũng là động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là NNL, đặc biệt là NNLCLC Bởi vì, trong nền kinh tế toàn cầu hoá đầy biến động và cạnh tranh
Trang 27quyết liệt, thì ưu thế cạnh tranh luôn nghiêng về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao Bởi vậy, hiện nay trong chiến lược phát triển của mình, nhiều quốc gia đã xác định phát triển nguồn vốn nhân lực như là yếu tố cạnh tranh cơ bản nhất
Hiện nay trên thế giới đang tồn tại khá nhiều định nghĩa về phát triển nguồn nhân lực UNESCO sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp, cho rằng: phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước Còn theo tổ chức lao động thế giới (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào
việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Liên
hợp quốc cũng nghiêng về sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống
Như vậy, tựu trung lại phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự phát triển mỗi cá nhân Phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận hợp thành trọng yếu trong chiến lược phát triển con người Trong công cuộc phát triển con người, cần coi trọng quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực
Xét về tiềm năng, việc phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục, đào tạo nghề nghiệp chăm sóc sức khoẻ, làm cho nguồn lực con người không ngừng phát triển trở thành tiềm năng vô tận Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ, vấn đề quan trọng là phải khai thác, huy động và phát huy một cách hiệu quả nhất, tiềm năng đó vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đó chính là quá trình chuyển hoá
Trang 28nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng thành "vốn nhân lực" Nghiên cứu bản chất phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển con người, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn tầm quan trọng đặc biệt của việc đầu tư vào con người, vào phát triển nguồn nhân lực, đây thực chất là đầu tư cho phát triển để tạo ra vốn nhân lực, nguồn nội lực vô tận của đất nước
Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, song có một điểm chung nhất của tất
cả các định nghĩa là đều coi phát triển NNL là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách có hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia
Do vậy, có thể hiểu khái niệm về phát triển NNL như sau:
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội Quá trình đó bao gồm phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, kỹ năng lao động, tính năng động
xã hội và sức sáng tạo của con người nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Từ những quan niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, như đã nêu trên khái niệm phát triển NNLCLC có thể hiểu:
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là quá trình phát triển về số lượng, chất lượng và cân đối về cơ cấu những người lao động có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng làm việc tốt, đang làm việc trong các ngành, các thành phần kinh tế chủ yếu hoặc cân đối giữa các vùng, miền của đất nước
Đó là quá trình phát triển về trí lực, thể lực, đạo đức, lối sống văn hóa của con người nhằm phát triển bền vững kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
1.1.2 Vai trò của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Một là, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên
Trang 29quyết bảo đảm sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH
Các công trình nghiên cứu về thực tế phát triển đất nước đều khẳng định vai trò có tính chất quyết định của NNLCLC đối với quá trình CNH, HĐH được thể hiện trên hai mặt như sau:
Thứ nhất: Các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên không có sức
mạnh tự thân Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động của con người
Thứ hai: Con người với trí tuệ của mình - là nguồn lực không bao giờ
cạn kiệt, có khả năng phục hồi và tự tái sinh Quan điểm phát triển NNLCLC
đã được nhiều quốc gia quan tâm và vấn đề này đang nổi lên ở khu vực Đông
Á Xuất phát từ những nước nghèo, chỉ có thể rút ngắn thời kỳ CNH và đạt tốc
độ tăng trưởng cao, bền vững trong trường hợp đầu tư phát triển nhanh NNLCLC
Đối với NNLCLC quá trình CNH, HĐH sẽ thúc đẩy sự phát triển và thay đổi về nhiều mặt Chẳng hạn, nó làm thay đổi cơ cấu NNL, làm chuyển biến từ một cơ cấu lạc hậu sang một cơ cấu tiến bộ hơn; cơ cấu các khu vực lớn trong kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế kỹ thuật, cơ cấu trong nội bộ mỗi ngành, cơ cấu NNL ở từng vùng, từng địa phương cho đến cơ cấu NNL trong nội bộ từng doanh nghiệp CNH, HĐH là một yếu tố tác động rất mạnh đến phát triển NNLCLC
Khi xác định NNLCLC là yếu tố quyết định của quá trình CNH, HĐH đất nước cần xem xét nguồn lực đó trên cả hai phương diện, số lượng và chất lượng để có giải pháp xây dựng và khai thác hợp lý Như vậy nguồn nhân lực chất lượng cao có tác dụng thúc đẩy mạnh, nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và theo kịp xu hướng phát triển của khu vực và thế giới
Hai là, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là cơ sở ứng dụng
khoa học công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội
Trang 30Khoa học và công nghệ có tác động vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh
tế, xã hội, nền kinh tế có phát triển nhanh theo hướng hiện đại hay không là còn tuỳ thuộc vào ứng dụng khoa học và công nghệ Đặc biệt, KH - CN có vai trò lớn thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Năm 1994 Paul Krugman có đưa các
so sánh đối chiếu mức đóng góp của KH - CN cho sự tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ cất cánh của các nước Châu Âu (1850 đến nửa đầu thế kỷ 20), của Mỹ (1890 đến đầu thế kỷ 20) và Nhật bản (1950 - 1970) và 4 nước châu
Á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippine) thì tăng trưởng kinh tế dựa vào vốn là 34,4%, vào lao động là 14,8%, và dựa vào KH - CN là 49,8% trong khi
ở 4 nước châu Á trong giai đoạn cất cánh (1961-1985), con số tương ứng là 64,3%; 35,4%; 0% Krugman cho rằng các quốc gia châu Á trên đã không phát huy nội lực trong quá trình tăng trưởng kinh tế, đã dựa vào đầu tư tư bản
vô độ (đến từ nước ngoài và sử dụng nguồn lao động hơn 2 lần so với châu
Âu, Mỹ và Nhật Bản thời kỳ cất cánh) Điều đó chứng tỏ rằng KH - CN là nhân tố rất cần thiết mà các nước phải tính đến
Nhưng KH - CN do đâu mà có, chính là sản phẩm sáng tạo của con người Mọi của cải sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, rút cuộc đều là những hoạt động của con người có trình độ cao, họ phát minh, sáng chế và sử dụng tư liệu lao động, tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho mình và cho xã hội Nhà kinh tế học danh tiếng E.F Schumacher trong cuốn sách “những nguồn lực” đã kết luận rằng: “Toàn bộ lịch sử cũng như kinh nghiệm hàng ngày nhấn mạnh một điều chính do con người chứ không phải là thiên nhiên cung cấp một nguồn lực nền tảng Nhân tố then chốt của toàn bộ sự phát triển kinh tế là kết quả trí óc của con người” Nghĩa là không phải con người nói chung mà là con người với trí óc của họ mới là then chốt của quá trình phát triển kinh tế xã hội Tác động và hiệu quả to lớn của
KH - CN và ứng dụng chúng trong hoạt động kinh tế không chỉ làm tăng khối
Trang 31lượng của cải vật chất phục vụ cuộc sống con người mà còn làm tăng ý nghĩa vai trò của KH - CN Người ta còn dự báo rằng tỷ lệ lao động với hàm lượng
KH - CN thể hiện trong tri thức, kỹ năng lao động và trang bị kỹ thuật trong sản phẩm sẽ là 90% vào năm 2010 so với tỷ lệ 10% của một thế kỷ trước đó
Ngày nay, trong các tiêu chí thể hiện sức mạnh, trình độ phát triển cũng như tính bền vững của sự phát triển kinh tế của một quốc gia đã có mặt tiêu chí về tiềm lực KH - CN như số lượng, cơ cấu, trình độ của đội ngũ nhân lực
KH - CN (như lực lượng KH - CN nghiên cứu phát triển trên một vạn dân, tỷ
lệ chuyên gia có học hàm, học vị, tỷ lệ tương quan giữa kỹ sư, kỹ thuật viên,
và công nhân kỹ thuật cao)
Ba là, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tác động mạnh về mặt
xã hội
Nguồn nhân lực chất lượng cao ngoài là yếu tố tác động trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế, còn có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới các vấn đề xã hội Vì con người là trung tâm của sự phát triển, mục tiêu cuối cùng của sự phát triển là nhằm nâng cao phúc lợi xã hội cho con người NNLCLC có trình
độ tay nghề còn cao, năng suất lao động cao, không những đóng góp vào sự phát triển xã hội, đó là điều kiện tiền đề cho việc nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần của con người
Hơn nữa, tỷ lệ NNLCLC trong tổng NNL có việc làm cao góp phần tạo nên sự ổn định xã hội Một xã hội mà tỷ lệ thất nghiệp càng cao thì càng mất
ổn định, gây nhiều tiêu cực cho xã hội như: nghiện hút, cờ bạc, mại dâm , vì việc làm vừa là điều kiện vừa là nhu cầu của cuộc sống
Một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp hiện nay là chất lượng NNL chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Nếu một khi NNL có chất lượng cao với thể lực tốt, trí lực và phẩm chất đạo đức tốt sẽ có tác động tới hành vi, lối sống và thái độ nghề nghiệp của những
Trang 32người khác xung quanh trong xã hội và nhất là trong từng gia đình và như vậy chúng ta sẽ có được những thế hệ tiếp sau được thừa hưởng những khả năng
và đức tính tốt đẹp đó
Như vây, vai trò của NNL, đặc biệt là NNLCLC đối với sự phát triển kinh tế xã hội là rất lớn Nhưng để nâng cao hơn nữa vai trò của NNLCLC, phát huy nhân tố con người tạo ra giá trị sản xuất ngày càng lớn, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đất nước đòi hỏi NNLCLC phải ngày càng được nâng cao hơn nữa
Bốn là, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chủ yếu tiếp cận và phát triển nền kinh tế tri thức
Thực tế, quá trình CNH ở các quốc gia trên thế giới cho thấy: trong tiến trình CNH, nếu nước nào biết dựa vào việc khai thác và sử dụng năng lực của nguồn nhân lực, thì luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định như Nhật Bản, Phần Lan, Ireland là những nước nghèo tài nguyên nhất, nhưng đã vươn lên thành những quốc gia giàu có hàng đầu
Không có quốc gia nào trên thế giới có nhiều dầu lửa hơn các nước Trung Đông, nhưng chưa có quốc gia nào ở đó vượt lên để gia nhập nhóm
"các nước phát triển" mà mãi vẫn dừng lại ở "các nước đang phát triển" Không đâu đất đai rộng lớn hơn châu Phi Nhưng hầu hết các quốc gia đó vẫn đang ở mức "kém phát triển"
Nhà báo Thomas Friedman của tờ báo New York Times đã đưa ra khái niệm dùng trọng lượng của sản phẩm để so sánh trình độ quốc gia Hãy xem
ví dụ: để thu được 500USD, người ta có thể làm gì?
Để thu được 500USD? Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam bán 5 tấn than đá, nông dân ở đồng bằng Sông Cửu Long bán 2 tấn gạo, Trung Quốc bán chiếc xe gắn máy trọng lượng 100kg, hãng Sony bán chiếc tivi trọng lượng 10 kg, hãng Nokia bán chiếc điện thoại trọng lượng 0,1kg, hãng
Trang 33Intel bán con chip máy tính trọng lượng 0,01 kg, hãng Microsof bán một phần mềm trọng lượng 0 kg
Còn nhiều nữa, những sản phẩm giá trị nhất nhưng trọng lượng chỉ 0 kg
đó là những phát minh sáng chế hay giá trị thương hiệu Hàm lượng tri thức càng cao, trọng lượng sản phẩm càng nhẹ (Vũ Bá Thể, 2005) [40] Ngày nay, tất cả những quốc gia hùng mạnh đều nhờ vào một yếu tố: trình độ giáo dục
và từ đó là trình độ công nghệ Đó là kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức
Như vậy, nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự phát triển bền vững của các quốc gia chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, chứ không chỉ là nguồn của cải vật chất Do vậy, hình thành và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố quan trọng nhất không chỉ trong sự phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia, mà còn tạo cơ hội tiếp cận kinh tế tri thức Động
lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người Điều đó lý giải tại sao con người, mà trước hết là NNLCLC, được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính
1.2.1 Nội dung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính
1.2.1.1 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành của nền kinh tế quốc dân
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành kinh tế chủ yếu gồm ngành Nông - Lâm - Thủy sản; ngành Công nghiệp - Xây dựng; ngành Dịch vụ Đó là quá trình phát triển về số lượng, chất lượng và thay đổi
cơ cấu nguồn nhân lực trong các ngành kinh tế đó
Phát triển về số lượng là quá trình đào tạo, tự đào tạo, quá trình thu hút, tuyển dụng những người có trình độ chuyên môn và tay nghề theo quy định,
Trang 34nhằm đáp ứng yêu cầu về số lượng nhân lực chất lượng cao, bảo đảm cho sự phát triển của ngành đó
Phát triển về chất lượng nguồn nhân lực trong các ngành kinh tế chủ yếu
là phát triển về thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức của người lao động, nhằm nâng cao thể lực và trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc của người lao động trong ngành đó
Thay đổi cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành kinh tế chủ yếu là làm cho cơ cấu NNLCLC giữa các ngành cân đối, không để tình trạng ngành có số lượng nhân lực chất lượng cao quá đông, ngành thì có số lượng quá ít
1.2.1.2 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các vùng, miền
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo vùng, miền là quá trình phát triển ở khu vực miền núi, khu vực trung du, khu vực thành phố Đó là quá trình phát triển về số lượng, về chất lượng và làm thay đổi cơ cấu NNLCLC giữa các vùng miền
Phát triển về số lượng là quá trình đào tạo, tự đào tạo, thu hút tuyển dụng những người có trình độ chuyên môn cao về công tác và làm việc tại các vùng, miền trong tỉnh, nhằm đảm bảo đủ về số lượng nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của các vùng miền
Phát triển về chất lượng là quá trình phát triển về thể lực, trí lực và đạo đức tác phong người lao động, nhằm nâng cao thể lực và trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc của người lao động trong vùng, miền đó
Thay đổi về cơ cấu NNLCLC giữa các vùng miền là quá trình phát triển nhằm làm cân đối số lượng và chất lượng giữa khu vực miền núi với khu vực trung du và đồng bằng, giữa nông thôn và thành thị
1.2.1.3 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các thành phần kinh
tế chủ yếu
Phát triển NNLCLC trong các thành phần kinh tế chủ yếu là quá trình
Trang 35phát triển NNLCLC trong thành phần kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể, kinh tế
tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Đó là quá trình phát triển về số lượng, chất lượng và làm thay đổi cơ cấu NNLCLC trong các thành phần kinh tế
Quá trình phát triển về số lượng là quá trình đào tạo, tự đào tạo, tuyển dụng và thu hút những người có khả năng, có chuyên môn, có trình độ và kỹ năng nghề nghiệp vào làm việc trong các thành phần kinh tế nói trên
Quá trình phát triển về chất lượng là quá trình phát triển về thể lực, trí lực
và đạo đức tác phong người lao động, nhằm nâng cao thể lực và trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc của người lao động trong các thành phần kinh tế
Thay đổi về cơ cấu NNLCLC trong các thành phần kinh tế là quá trình làm cân đối, hợp lý nguồn nhân lực chất lượng cao giữa các thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài về giới tính, trình độ
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính
1.2.2.1 Giáo dục và đào tạo
Giáo dục và đào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển NNLCLC bởi vì chỉ có thông qua giáo dục và đào tạo con người mới có kiến thức, có trình độ chuyên môn, có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao Các nhà lý luận đã chỉ ra rằng:
Lý luận về giá trị sức lao động của Karl Marx (Nhà kinh tế học người Đức, 1818-1883) cũng đã đánh giá cao vai trò của giáo dục đối với sự phát triển sức sản xuất khi khẳng định rằng giá trị sức lao động thể hiện trong toàn
bộ nhân cách sinh động của con người K.Marx cho rằng sức lao động bao gồm: "Toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [33] Như vậy, sức lao động không chỉ
Trang 36mang đặc trưng vật chất (yếu tố thể chất) mà còn mang cả đặc trưng xã hội (trí tuệ và ý thức xã hội) Trong đó hệ thống nhân tố trí tuệ và ý thức xã hội có
ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của sức lao động K Marx viết: "Một lao động được coi là cao hơn, phức tạp hơn so với lao động xã hội trung bình thì nó là biểu hiện của một sức lao động đòi hỏi những chi phí cao hơn Người
ta phải tốn nhiều thời gian lao động hơn để tạo ra nó và vì vậy, nó có một giá
trị cao hơn so với sức lao động giản đơn” [32]
Ngày nay, khi khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, thì vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở nên quan trọng
NNLCLC không phải tự nhiên mà có được, phải thông qua quá trình giáo dục đào tạo lâu dài và phù hợp với yêu cầu của tiến bộ xã hội Giáo dục
là nhân tố cơ bản để hình thành, phát triển ở mỗi con người nhân cách, sức lao động, tạo ra cho con người sự phát triển hài hòa cả thể lực-trí lực-tâm lực Trong bản tổng kết của ủy ban giáo dục đi vào thế kỷ XXI của UNESCO năm
1995, đã cho rằng “ Giáo dục là của cải nội sinh” Kết quả của giáo dục đối với mỗi người là nội lực của người ấy và hơn nữa, nội lực ấy phải có khả năng tạo
ra của cải vật chất, tạo ra phúc lợi cho toàn xã hội Trong báo cáo đã đưa ra bốn
nguyên lý của giáo dục, còn được gọi là 4 trụ cột của nền giáo dục: học để biết
(learning to know); học để làm (learning to do); học để chung sống với mọi
người (learning to live together); và học để tồn tại (learning to be)
Trong giai đoạn hiện nay, khi trí thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì chất lượng NNL trở thành nguồn tài nguyên quan trọng hơn mọi tài nguyên khác, muốn phát triển và sử dụng nó một cách hiệu quả không có con đường nào khác là học tập Theo Lênin: "Việc điện khí hóa không thể do những người mù chữ thực hiện, mà chỉ biết chữ không thôi cũng không đủ…Họ phải hiểu rằng điều đó chỉ có thể thực hiện trên cơ sở một nền học
Trang 37vấn hiện đại, và nếu họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi” [27]
Đối với nước ta, để thực hiện mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn tiếp cận kinh
tế tri thức đưa đất nước đuổi kịp các nước trong khu vực và thế giới đòi hỏi phải cải cách giáo dục và đào tạo một cách mạnh mẽ đang là một yêu cầu cấp bách Giáo dục và đào tạo là phương tiện để khai trí, thiếu nó thì trí tuệ của một dân tộc sẽ kém cỏi và do vậy không có sức mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã từng khẳng định: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu
Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ
đã nêu rõ:" Phát triển NNL Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới."[41]
1.2.2.2 Công tác tuyển dụng, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ngành tài chính
Công tác tuyển dụng, thu hút nhân lực chất lượng cao ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nguồn nhân lực, nếu làm tốt công tác này sẽ góp phần tăng thêm về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao tại các cơ quan, doanh nghiệp nói riêng cũng như sự phát triển nguồn nhân lực của các địa phương nói chung
Tuyển dụng là quá trình lựa chọn những người có trình độ chuyên môn
đã được đào tạo, có kỹ năng nghề nghiệp, có khả năng hoàn thành và hoàn thành tốt công việc được giao vào làm việc trong cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Như vậy, công tác tuyển dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực trong nội bộ các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp Nếu công tác
Trang 38tuyển dụng trung thực, khách quan, lựa chọn được những người thực sự có trình độ chuyên môn, có kỹ năng nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao sẽ góp phần nâng cao chất lượng NNL của cơ quan đơn vị mình Ngược lại, nếu công tác tuyển dụng không trung thực, khách quan, không đặt ra những tiêu chí cần tuyển dụng, nội dung tuyển dụng không sát với công việc cần tuyển, thì sẽ tuyển được những người không đạt về trình độ chuyên môn, không có khả năng hoàn thành công việc được giao sẽ góp phần làm giảm chất lượng nguồn nhân lực trong cơ quan đơn vị
Thu hút NNLCLC là quá trình lựa chọn những người lao động có đầy
đủ các tiêu chí mà các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị cần tuyển chọn về làm việc tại cơ quan, đơn vị doanh nghiệp của mình Các tiêu chí đó là: trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, học hàm, học vị, kinh nghiệm công tác, trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học, phẩm chất đạo đức, lý lịch gia đình, bản thân Nếu những người cần thu hút hội tụ đầy đủ các tiêu chí đó thì được tuyển dụng vào làm việc, không qua thi tuyển và được hưởng một số chế độ đãi ngộ nhất định Nếu làm tốt công tác thu hút nhân lực chất lượng cao sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển NNLCLC
1.2.2.3 Công tác sử dụng, đãi ngộ và môi trường làm việc
Công tác sử dụng, đãi ngộ và tạo môi trường làm việc cho NNLCLC ở các ngành, các cấp, các cơ quan doanh nghiệp có ảnh rất lớn đến quá trình phát triển Nếu việc bố trí, sắp xếp, sử dụng những người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật và tay nghề cao vào đúng vị trí thì họ sẽ phát huy được khả năng chuyên môn đã được đào tạo, đồng thời nâng cao hiệu quả công việc, ngược lại nếu bố trí không đúng chuyên môn, không đúng năng lực, sở trường
sẽ làm thui trột kiến thức, giảm hiệu quả công tác Nếu công tác này làm không tốt, sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến những người lao động xung quanh họ
Trang 39Nhưng, làm tốt công tác bố trí, sắp xếp, sử dụng thì tạo điều kiện cho mọi người yêu tâm công tác, sẵn sàng phục vụ lâu dài trong cơ quan đơn vị
Công tác đãi ngộ những người lao động có trình độ chuyên môn cao và
kỹ năng làm việc tốt sẽ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển NNLCLC trong đơn vị Để phát huy được tiềm năng của người lao động, đồng thời tạo điều kiện cho người lao động cống hiến trí tuệ của mình cho phát triển kinh tế xã hội Nếu công tác đãi ngộ được quan tâm chú ý nó sẽ tạo động lực thu hút và thúc đẩy lực lượng này phát triển thông qua tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho những người này yên tâm công tác sẽ gắn bó lâu dài với cơ quan đơn vị, đồng thời sẽ là động lực để thu hút người lao động
có trình độ chuyên môn cao về công tác
Tạo dựng một môi trường làm việc tốt để NNLCLC phát huy được khả năng của bản thân người lao động, của nhóm những người có khả năng nghiên cứu sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy họ làm việc, nghiên cứu, phát huy tài năng tiềm ẩn của họ Ngược lại, nếu không có môi trường làm việc tốt
sẽ làm cho những người lao động không phát huy được khả năng của mình, chất lượng và hiệu quả công việc không cao
Nếu làm tốt công tác bố trí, sắp xếp, sử dụng, đãi ngộ và tạo môi trường làm việc sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển NNLCLC, nó góp phần tăng thêm về số lượng, nâng cao được chất lượng và làm thay đổi cơ cấu
1.2.2.4 Nhu cầu của mỗi cá nhân trong việc tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Việc mỗi cá nhân tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kiền thức có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Bởi vì, mỗi cá nhân, người lao động xác định được trách nhiệm của mình trong việc tự học, tự phấn đấu để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và mục tiêu cần đạt được trong quá trình công tác của mình sẽ là
Trang 40động lực thúc đẩy cá nhân đó quyết tâm phấn đấu để hoàn thành được mục tiêu của mình Nếu tất cả mọi người lao động đều cho rằng việc tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn là trách nhiệm của mỗi cá nhân, cần phải cố gắng phấn đấu và thực hiện thì sẽ góp phần to lớn trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển NNLCLC trong nội bộ đơn vị của mình
1.2.2.5 Nhận thức của người đứng đầu, các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
Nhận thức người đứng đầu các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị,
doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển
NNLCLC Đây là nhân tố con người, mang tính chủ quan nên nhận thức về công tác phát triển NNLCLC phụ thuộc vào trình độ, giới tính, độ tuổi của người đứng đầu Người đứng đầu các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có trình độ càng cao sẽ nhìn nhận sự vật hiện tượng đầy đủ hơn, phân tích sự vật hiện tượng sâu sắc hơn và xử lý công việc đúng đắn hơn, nên khả năng ra quyết định thực hiện công tác phát triển NNLCLC sẽ mạnh dạn hơn Người đứng đầu là nam giới có khả năng quyết định cao hơn
vì họ quyết đoán, mạnh mẽ trong tính cách và có năng lực sáng tạo nhiều hơn nữ giới Ở những độ tuổi khác nhau, người đứng đầu nhìn nhận sự vật hiện tượng khác nhau nên ra quyết định thu hút, tuyển dụng, chế độ đãi ngộ cũng sẽ khác nhau Người lãnh đạo càng cao tuổi càng có nhiều kinh nghiệm, nhìn nhận sự việc toàn diện hơn nhưng chậm chạp và bảo thủ và sợ liên lụy về trách nhiệm, nên thường không quan tâm nhiều đến phát triển NNLCLC Người lãnh đạo trẻ tuổi, độ nhanh nhạy cao nhưng độ nông nổi cũng rất cao nên rất rè rặt trong việc triển khai công tác đào tạo và phát triển NNLCLC Thường thì ở độ tuổi từ 35 đến 50, là người đứng đầu các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hội tụ được cả sự nhạy bén, chín chắn, kinh nghiệm cũng như học thức nên triển khai thực hiện công tác phát