Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình ñộ xã hội hoá cao Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.Đây là một kiểu tổ chức kimh tế trong ñ
Trang 1Việt Nam là một nước anh hùng bất khuất trong công cuộc bảo vệ tổ quốc vài
thập kỷ trước Còn hiện nay, bước vào thế lỷ 21 Việt Nam vẫn là một nước nghèo
của thế giới Những chiến thắng trên mặt trận không thể làm ra những chiến thắng
về kinh tế, sách lược chiến trường không thể là sách lược kinh tế Đứng trước thực
trạng ñó, Đại hội VI của Đảng ñánh dấu một bước ngoặt lịch sử ñó là bắt ñầu công
cuộc ñổi mới nền kinh tế nước ta
Trong sự nghiệp ñổi mới ở nước ta, vấn ñề ñổi mới cơ chế quản lý kinh tế
chiếm vị trí quan trọng Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam ñang chuyển ñổi cơ chế
quản lý kinh tế từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước và ñịnh hướng theo chủ nghĩa xã hội như ñường lối của
Đảng ta ñã ñề ra từ các kì Đại hội VI, VII, VIII Thực tế những năm qua cho thấy
ñường lối của Đảng là hoàn toàn ñúng ñắn, những thành tựu ñạt ñược trong
nhữnhgnăm qua ñã chứng minh ñiều ñó
Trang 2
C.Mác người thầy và lãnh tụ vĩ ñại của giai cấp công nhân và nhân dân lao
ñộng toàn thế giới.Là một nhà lý luận kiệt xuất, ông ñã ñể lại cho loài người một
kho tàng lý luận quý báu về triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa
học Trong bộ tư bản và một số tác phẩp có quan hệ ñén bộ sách ñó,C.Mác ñã ñề
cập tới nhiều lý luận và quan diểm về kinh tế thị trường,ñế nay vẫ còn nguyên giá
trị
Chuyển ñổi kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước là bước ngoặt quan trọng làm thay ñổi ñời sống kinh tế,xã hội ñất nước.Sự
thành công hay không của quá trình chuyển ñổi quyết ñịnh thắng lợi hay không của
sự nghiệp ñổi mới Quá trình ñổi mới nền kinh tế nước ta những năm qua cho thấy
rằng, việc chuyển nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quả lý
của Nhà nước là sự phù hợp với xu thế phát triển tất yếu khách quan của nền kinh
tế, phù hợp với xu hướng quốc tế hoá ñời sống kinh tế Tuy nhiên vì chưa có tiền lệ
nào trong lịch sử về quá ñộ từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế
thị trường cho nên công cuộc ñổi mới ñang ñòi hỏi nhiều vấn ñề về lý luận và thực
tiễn.Chẳng hạn, hàng loạt các khái niệm, phạm trù về kinh tế mới, hàng loạt các
vấn ñề về nhận thức lại bản chất của nền kinh tế kế hoạch hoá, bản chất của nền
kinh tế thị trường phù hợp với ñiều kiện lịch sử Việt nam ñang ñòi hỏi phải kuận
chứng, giải thích một cách có căn cứ khoa học nhằm làm cơ sở cho quyết ñịnh của
Nhà nước về chiến lược phát triển kinh tế của ñất nước
Xuất phát từ ñó, ở ñây cần làm rõ một số vấn ñề:
- Lý giải các khái niệm và phạm trù kinh tế học mới làm cơ sở lôgic cho việc
nhận thức lại bản chất của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế thị
trường mà chúng ta ñã và ñang hướng tới
Trang 3- Đồng thời dựa trên cơ sở phân tích thực trạng nền kinh tế nước ta ñể ñổi cơ
chế kinh tế nước ta ñể trình bày các quan ñiểm khoa học làm cơ sở phương pháp
luận cho thời kỳ chuyển ñổi cơ chế kinh tế ở nước ta
Kinh tế thị trường là sự phát triển tất yếu khách quan, là cơ sở ñiều tiết tốt nhất
nền kinh tế hàng hoá.Bằng các phương pháp lôgic và phương pháp lịch sử , nghiên
cứu nó dưới giác ñộ môn kinh tế chính trị học chúng ta sẽ làm rõ những vấn ñề
trên
B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận lý thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về nền kinh tế thị trường
1 Sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường theo quan ñiểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin
Về phương diện kinh tế có thể khái quát rằng,lịch sử phát triển của ñời sống xã
hội của nhân loại ñã và ñang trải qua hai kiểu tổ chức thích ứng với trình ñộ phát
triển của lực lượng sản xuất và phân công lao ñộng xã hội,hai thời ñại kinh tế khác
nhau về chất.Đó là:thời ñại kinh tế tự nhiên,tự cung tự cấp và thời ñại kinh tế hàng
hoá,mà giai ñoạn cao của nó ñược gọi là kinh tế thị trường
a Khái quát về kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá
Kinh tế tự nhiên hay sản xuất tự cung,tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế ñầu tiên mà
loài người sử dụng ñể giải quyết vấn ñề sản xuất cái gì?sản xuất như thế nào? và
cho ai? ở ñây,người sản xuất ñồng thời là người tiêu dùng.Mụcñích của sản xuất là
tạo ra giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người
sản xuất.Vì vậy,có thể nói quá trình sản xuất của nền kinh tế tự nhiên chỉ gồm hai
khâu:sản xuất – tiêu dùng.nó có tính chất bảo thủ,trì trễ,bị giới hạn ở nhu cầu hạn
hẹp.Sản xuất tự cung tự cấp chỉ thích ứng với thời kì lực lượng sản xuất chưa phất
triển.Khi lực lượng sản xuất phát triển cao,phân công lao ñộng ñược mở rộng thì
dần xuất hiện trao ñổi hàng hoá.Khi trao ñổi hàng hoá trở thành mục ñích thường
Trang 4xuyên của sản xuất thì sản xuất hàng hoá ra ñời và xuất hiện nền kinh tế hàng
hoá.Kinh tế hàng hoá bắt ñầu bằng kinh tế hàng hoá giản ñơn,ra ñời từ khi chế ñộ
chủ nghĩa cộng sản tan rã,dựa trên hai tiền ñề cơ bản là có sự phân công lao ñộng
xã hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế ñộ sở hữu khác nhau về tư liệu sản
xuất,sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất ñều gắn với thị trường.Chuyển từ
kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá là ñánh dấu bước chuyển sang thời ñại kinh
tế của sự phát triển,thời ñại văn minh của nhân loại
b Hai ñiều kiện ra ñời và tồn tại của kinh tế hàng hoá
Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra ñời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là phân
công lao ñộng xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa người sản xuất này với người
sản xuất khác do có các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy ñịnh
Phân công lao ñộng xã hội là việc phân chia người sản xuất vào những ngành
nghề khác nhau của xã hội hoặc nói cách khác ñó là chuyên môn hoá sản xuất
Có thể nói phân công lao ñộng xã hội ñã tạo ra những ngành nghề khác nhau,do
phân công lao ñộng xã hội nên mỗi người chuyên làm một việc trong một ngành
sản xuất nhất ñịnh và chuyên sản xuất ra một hoặc một số sản phẩm nhất ñịnh.Song
nhu cầu tiêu dùng của họ lại khác nhau.Để thoả mãn nhu cầu của mình,những
người sản xuất phải nương tựa vào nhau,trao ñổi sản phẩm cho nhau.Phân công lao
ñộng xã hội làm nảy sinh những quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất với
nhau
Phân công lao ñộng là ñiều kiện cần của sản xuất hàng hoá.Điều kiện thứ hai và
là ñiều kiện ñủ của sản xuất hàng hoá là sự tách biệt về kinh tế giữa những người
sản xuất do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy ñịnh.Dựa vào
ñiều kiện này mà người chủ tư liệu sản xuất có quyền quyết ñịnh việc sử dụng tư
liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất ra.Như vậy,quan hệ sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất ñã chia rẽ người sản xuất,làm cho họ tách biệt với nhau về
mặt kinh tế.Trong ñiều kiện ñó, người sản xuất này muốn sử dụng sản phẩm của
Trang 5c Khi sản phẩm lao ñộng trở thành hàng hoá thì người sản xuất trở thành người
sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá ra ñời và phát triển là một quá trình lịch sử
lâu dài.Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản ñơn,sản xuất hàng hoá giản ñơn sản xuất
hàng hoá của nông dân,thợ thủ công dựa trên chế ñộ sở hữu về tư liệu sản xuất và
sức lao ñộng của bản thân họ.Sản xuất hàng hoá giản ñơn ra ñời trong thời kì công
xã nguyên thuỷ tan rã,trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến nó ñóng vai trò
phụ thuộc và bổ sung.Đây là kiểu sản xuất hàng hoá nhỏ,dựa trên kĩ thuật thủ công
và lạc hậu.Khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn,sản xuất hàng hoá giản ñơn
chuyển thành sản xuất hàng hoá quy mô lớn.Quá trình chuyển biến này diễn ra
trong thời kì quá ñộ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản chủ nghĩa
Trong lịch sử phát triển của mình,vị thế của kinh tế hàng hoá cũng dần ñược thay
ñổi:từ chỗ như là kiểu tổ chức kinh tế xã hội không phổ biến không hợp thời trong
xã hội chiếm hữu nô lệ của những người thợ thủ công và nông dân tự do,ñến chỗ
ñược thừa nhận trong xã hội phong kiến,và ñến chủ nghĩa tư bản thì kinh tế hàng
hoá giản ñơn không những ñược thừa nhận mà còn ñược phát triển cao hơn ñó là
kinh tế thị trường
1.2 Bước chuyển từ kinh tế hàng hoá giản ñơn sang kinh tế thị trường
a Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình ñộ xã hội hoá cao
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.Đây là một
kiểu tổ chức kimh tế trong ñó sản xuất cái gì?như thế nào?và cho ai?ñược quyết
ñịnh thông qua thị trường.Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế của các
cá nhân,các doanh nghiệp ñều biểu hiện qua mua bán hàng hoá,dịch vụ trên thị
trường.Thái ñộ cư xử của từng thành viên tham gia thị trường là hướng vào tìm
kiếm lợi ích của chính mình,theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường hay “Bàn tay vô
hình”.(Adam Smith)
Trang 6Kinh tế thị trường như là một yêu cầu khách quan của nền kinh tế hàng hoá Song
không phải là ñồng nhất nó với kinh tế hàng hoá.Xét về mặt lịch sử,kinh tế hàng
hoá có trước kinh tế thị trường.Kinh tế hàng hoá ra ñời thì thị trường cũng xuất
hiện,nhưng không có nghĩa ñó là kinh tế thị trường.Với sự tăng trưởng của kinh tế
hàng hoá,thị trường ñược mở rộng,phong phú,ñồng bộ,các quan hệ thị trường
tương ñối hoàn thiện,ñều ñược tiền tệ hoá.Khi ñó người ta gọi kinh tế hàng hoá là
kinh tế thị trường hay nói cách khác kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển
ở trình ñộ xã hội hoá cao.Kinh tế thị trường không phải là một giai ñoạn khác
biệt,ñộc lập,ñứng ngoài kinh tế hàng hoá mà là giai ñoạn cao của kinh tế hàng hoá
b Những ñiều kiện hình thành kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường ñược hình thành dựa trên những ñiều kiện sau ñây:
Một là Sự xuất hiện của hàng hoá sức lao ñộng và thị trường sức lao ñộng.Trước
hết cần khẳng ñịnh sự xuất hiện của hàng hoá sức lao ñộng là một tiến bộ lịch
sử.Người lao ñộng ñược tự do,có quyền làm chủ khả năng lao ñộng của mình và là
chủ thể bình ñẳng trong việc thương lượng với người khác.Chủ nghĩa tư bản ñã
thực hiện ñược bước tiến bộ lịch sử ñó trong khuôn khổ lợi dụng tính chất ñặc biệt
của hàng hoá sức lao ñộng ñể phục vụ túi tiền của các nhà tư bản.Vì vậy ñã làm nảy
sinh mâu thuẫn giữa tư bản với lao ñộng làm thuê.Trong ñiều kiện lịch sử mới,thời
kì quá ñộ lên chủ nghĩa xã hội không phải mọi người có sức lao ñộng ñem bán ñều
là những người vô sản.Do sự chi phối lợi ích kinh tế và của chi phí cơ hội,những
người lao ñộng vẫn có thể bán sức lao ñộng của mình cho người khác nếu họ cảm
thấy việc làm này có lợi hơn so với việc tổ chưc quá trình sản xuất
Trong lịch sử hoạt ñộng của quy luật giá trị ñã từng dẫn tới sự phân hoá những
người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo.Sự phân hoá này diễn ra chậm chạp.Cho
nên cần phải có bạo lực của nhà nước ñể thúc ñẩy sự phân hoá này diễn ra ñược
nhanh.Chính sự phân hoá những người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo tới một
giới hạn nhất ñịnh ñã làm nảy sinh hàng hoá lao ñộng và thị trường sức lao ñộng
Trang 7- Kinh tế thị trường là nền kinh tế phát triển,nó có năng suất lao ñộng cao.Ngoài
những sản phẩm cần thiết còn có những sản phẩm thặng dư.Chính sự xuất hiện của
hàng hoá sức lao ñộng ñã phản ánh ñiều ñó.Hàng hoá sức lao ñộng là hàng hoá ñặc
biệt.Tính chất ñặc biệt của nó ñược thể hiện tập trung ở thuộc tính giá trị sử dụng
của nó
- Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao ñộng sở dĩ như vậy là vì:do kĩ thuật sản
xuất phát triển cho nên năng suất lao ñộng của người công nhân ñã cao.Ngày lao
ñộng của người công nhân ñược chia thành hai phần,phần thời gian lao ñộng cần
thiết và phần thời gian lao ñộng thặng dư.Chỉ ñến một giới hạn nhất ñịnh trong sự
phát triển của lực lượng sản xuất-khi kĩ thuật sản xuất phát triển,năng suất lao ñộng
xã hội ñược nâng cao thì sức lao ñộng của người ta mới có thể trở thành ñối tượng
của quan hệ mua bán.Sự xuất hiện của hàng hoá sức lao ñộng phản ánh giai ñoạn
sản xuất ñã phát triển trong ñó năng suất lao ñộng ñã cao
- Nhờ có sự xuất hiên của hàng hoá sức lao ñộng và thị trường sức lao ñộng mà
tiền tệ không chỉ là phương tiện lưu thông mà còn trở thành phương tiện làm tăng
giá trị,nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,thúc ñẩy sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế
- Với sự xuất hiện của hàng hoá sức lao ñộng dẫn tới sự hình thành thị trường các
yếu tố sản xuất một cách hoàn chỉnh.Kinh tế thị trường ra ñời
Hai là.Phải tích luỹ ñược một số tiền nhất ñịnh và số tiền ñó phải trở thành vốn ñể
tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục ñích có lợi nhuận.Lý luận kinh tế của
trường phái trọng thương ñã phản ánh rõ ñiều kiện tiền ñề này
Ba là.Kinh tế thị trường là kinh tế tiền tệ cho nên vai trò của tiền tệ vô cùng quan
trọng.Để hình thành ñược nền kinh tế thị trường cần có hệ thống tài chính,tín
dụng,ngân hàng tương ñối phát triển.Không thể có ñược kinh tế thị trường nếu như
Trang 8hệ thống tài chính,ngân hàng còn quá yếu ớt, hệ thống quan hệ tín dụng còn quá
giản ñơn, không ñáp ứng ñược nhu cầu về vốn cho sản xuất và kinh doanh
Bốn là.Sự hình thành nền kinh tế thị trường ñòi hỏi phải có một hệ thống kết cấu
hạ tầng tương ñối phát triển,trên cơ sở ñó mới bảo ñảm cho lưu thông hàng hoá và
lưu thông tiền tệ ñược thuận lợi dễ dàng,mới tăng ñược phương tiện vật chất nhằm
mở rộng quan hệ trao ñổi
Năm là.Tăng cường vai trò kinh tế Nhà nước.Nhà nước phải tạo ra môi
trường,hành lang cho thị trường phát triển lành mạnh.Đồng thời Nhà nước sử dụng
những biện pháp hành chính cần thiết ñể phát huy những ưu thế và hạn chế những
mặt tiêu cực của thị trường.Nhà nước thực hiện chính sách phân phối và ñiều tiết
một cách hợp lý,xử lý hài hoà các quan hệ kinh tế xã hội
c Những ñặc trưng chung của kinh tế thị trường
Trên thế giới ñã có nhiều quốc gia phát triển nền kinh tế của mình theo mô hình
kinh tế thị trường.Chẳng hạn kinh tế thị trường của Thuỷ Điển,kinh tế thị trường
mang màu sắc Trung Quốc,Kinh tế thị trường của Nga,kinh tế thị trường của
Mỹ,kinh tế thị trường ở các nước ñang phát triển Châu Á và Đông Nam Á …Trong
các nước Tây Âu,mô hình kinh tế Thuỷ Điển có những nét ñặc trưng ñáng lưu ý.Đó
là nền kinh tế của một nước vốn là nông nghiệp nghèo nàn ở Bắc Âu.Sau một thời
kì trải qua kinh tế thị trường trở thành một nước công nghiệp phồn vinh,một nhà
nước phúc lợi ñiển hình ở Châu Âu
Trung Quốc và Nga là hai nước trong các nước xã hội chủ nghĩa trước ñây chuyển
từ cơ chế quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường nhưng hướng ñi và thành quả
ñạt ñược rất khác nhau.Trung Quốc cũng ñi theo kinh tế thị trường nhưng không
hoàn toàn giống mô hình của các nước phương Tây mà mang “màu sắc Trung
Quốc”.Nước Nga thì ñã rẽ hẳn theo hướng kinh tế thị trường của các nước phương
Tây.Thực tế những năm qua cho thấy nền kinh tế của nước này ñiêu ñưng,lao ñao
có lúc lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội sâu sắc.Còn Trung Quốc,tuy
phải trải qua thời kì kinh tế “quá nóng”(1989-1991) và một số vấn ñề khó khăn
Trang 9nhất định như:nạn thất nghiệp tình trạng tội phạm,tham nhũng, nhưng nhìn chung
kinh tế phát triển ổn định,đạt tốc độ tăng trưởng khá cao,vào loại hàng đầu thế giới
Kinh tế thị trường của Mỹ cĩ đặc trưng là:do tiềm lực kinh tế và năng lực cạnh
tranh mạnh mẽ nên mức độ Nhà nước can thiệp vào kinh tế cĩ phần “mềm” hơn so
với các nước khác,nhưng Nhà nước lại can thiệp tích cực,mạnh mẽ vào lĩnh vực
kinh tế đối ngoại.Một mặt bảo vệ thị trường trong nước,mặt khác hỗ trợ mạnh mẽ
cho các cơng ty Mỹ trong việc xâm nhập vào thị trường ngồi nước.Mặc dù vậy
kinh tế thị trường của Mỹ cũng khơng tránh khỏi những mặt trái và những khuyết
tật của nĩ
Kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển Châu Á,Đơng Nam Á cũng cĩ
những nét đặc trưng đáng lưu ý.Ở các nước này đều cĩ sự can thiệp tích cực,mạnh
mẽ của Nhà nước vào nền kinh tế(Hàn Quốc,Thái Lan ).Nhất là Hàn Quốc đang
theo đuổi “nền kinh tế thị trường do Nhà nước hướng đạo”.Trong khi đĩ, một số
nước khác ở khu vực,vai trị can thiệp của Nhà nước cĩ phần nới lỏng hơn,thậm chí
gần như để cho thị trường tự điều chỉnh (Singapore,Hồng Kơng) ở các nước thuộc
khu vực này cịn cĩ quá trình quốc hữu hố đan xen với quá trình tư nhân hố,Nhà
nước trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực then chốt quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân như:dầu khí,hố dầu…(Hàn Quốc,Thái Lan,Inđơnêsia, ).Hiện nay khu
vực này được xem là khu vực đầy năng động,phát triển với tốc độ tăng trưởng cao
hàng đầu thế giới.Trong đĩ cĩ những nước được dự đốn sẽ trở thành cường quốc
kinh tế trong thế kỉ 21
Tĩm lại,nếu gác lại những đặc trưng riêng,cá biệt của mơ hình kinh tế trên và chỉ
tính đến những đặc trưng chung vốn cĩ của kinh tế thị trường.Cĩ thể nêu những
đặc trưng mang tính phổ biến như sau:
Một là Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao.Các chủ thể kinh tế tự bù đắp
những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất và kinh doanh của
mình.Các chủ thể kinh tế được tự do liên kết liên doanh,tự do tổ chức qúa trình sản
xuất theo luật định.Đây là đặc trưng rất quan trọng của kinh tế thị trường.Đồng thời
Trang 10cũng là biểu hiện và yêu cầu nội tại của kinh tế hàng hoá,kinh tế hàng hoá không
bao dung hành vi bao cấp.Nó ñối lập với bao cấp và ñồng nghĩa với tự chủ và năng
ñộng
Hai là Trên thị trường hàng hoá rất phong phú.Người ta tự do mua bán hàng
hoá,trong ñó người mua chọn người bán,người bán tìm người mua.Họ gặp nhau ở
giá cả thị trường.Đặc trưng này phản ánh tính ưu việt hơn hẳn của kinh tế thị
trường so với kinh tế tự nhiên.Sự ña dạng và phong phú về chủng loại những hàng
hoá trên thị trường một mặt phản ánh trình ñộ cao của năng suất lao ñộng xã
hội,mặt khác cũng nói lên mức ñộ phát triển của quan hệ trao ñổi,trình ñộ của phân
công lao ñộng xã hội và sự phát triển của thị trường.Những ưu thế trên của kinh tế
thị trường phản ánh trình ñộ phát triển của khoa học-kĩ thuật và công nghệ,tựu
chung phát triển trình ñộ cao của lực lượng sản xuất xã hội.Vì vậy nói ñến kinh tế
thị trường là nói ñến một nền kinh tế phát triển cao
Ba là Giá cả ñược hình thành ngay trên thị trường.Giá cả thị trường vừa biểu hiện
bằng tiền của giá trị thị trường vừa chịu sự tác ñộng của quan hệ cạnh tranh và
quan hệ cung cầu hàng hoá dịch vụ.Trên cơ sở giá trị thị trường,giá cả là kết quả
của sự thương lượng và thoả mãn giữa người mua và người bán.Đặc trưng này
phản ánh của quy luật lưu thông hàng hoá.Trong qui trình trao ñổi mua bán hàng
hoá người bán luôn muốn bán với giá cao,người mua lại luôn muốn mua với giá
thấp.Đối với người bán giá cả phải ñáp ứng ñược nhu cầu bù ñắp về chi phí và có
doanh lợi.Chi phí sản xuất là giới hạn dưới,là phần cứng của giá cả,còn doanh lợi
càng nhiều càng tốt.Đối với người mua giá cả phải phù hợp với lợi ích giới hạn của
họ.Giá cả thị trường dung hoà ñược cả lợi ích của người mua và lợi ích của người
bán.Tuy nhiên trong cuộc giằng co giữa người mua và người bán ñể hình thành giá
cả thị trường lợi thế sẽ nghiêng về phía người bán,nếu như cung ít,cầu nhiều và
ngược lại lợi thế sẽ nghiêng về người mua nếu như cung nhiều,cầu ít
Bốn là Canh tranh là một tất yếu của kinh tế thị trường.Nó tồn tại trên cơ sở
những ñơn vị sản xuất hàng hoá ñộc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế.Theo yêu
Trang 11cầu của quy luật giá trị,tất cả các ñơn vị sản xuất hàng hoá ñều phải sản xuất và
kinh doanh trên cơ sở hao phí lao ñộng xã hội cần thiết.Trong ñiều kiện ñó,muốn
có nhiều lợi nhuận các ñơn vị sản xuất kinh doanh phải ñua nhau cải tiến kĩ
thuật,áp dụng kĩ thuật mới vào sản xuất ñể nâng cao năng suất lao ñộng cá
biệt,giảm hao phí lao ñộng cá biệt nhằm thu lợi nhuận siêu nghạch.Trong nền kinh
tế thị trường xảy ra một cách phổ biến,trong cả lĩnh vực sản xuất và trong cả lĩnh
vực lưu thông
Cạnh thanh trong lĩnh vực sản xuất bao gồm:cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh
tranh giữa các ngành với nhau.Cạnh tranh tronh lĩnh vực lưu thông bao gồm:cạnh
tranh giữa những người tham gia trao ñổi hàng hoá và dịch vụ trên thị trường.Hình
thức và những biện pháp của cạnh tranh có thể rất phong phú nhưng ñộng lực và
mục ñích cuối cùng của cạnh tranh chính là lợi nhuận
Năm là Kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế mở.Nó rất ña dạng,phức tạp và
ñược ñiều hành với hệ thống tiền tệ và hệ thống pháp luật của Nhà nước
Mỗi ñặc trưng trên ñây phản ánh một khía cạnh của mô hình kinh tế thị
trường.Tổng hợp cả năm ñặc trưng trên sẽ giúp chúng ta hình dung ñược khái quat
cấu trúc của mô hình này
d Các hình thức của kinh tế thị trường
Như trên ñã nói:kinh tế thị trường là giai ñoạn phát triển cao của kinh tế hàng
hoá.Nó ñã trải qua ba giai ñoạn phát triển:giai ñoạn thứ nhất.Giai ñoạn chuyển từ
kinh tế hàng hóa lên kinh tế thị trường(còn gọi là kinh tế thị trường sơ khai).Giai
ñoạn thứ hai là giai ñoạn phát triển kinh tế thị trường tự do,trong giai ñoạn này sự
phát triển kinh tế diễn ra theo tinh thần tự do,Nhà nước không can thiệp vào hoạt
ñộng kinh tế.Giai ñoạn ba là giai ñoạn kinh tế thị trường hiện ñại,trong giai ñoạn
này Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu kinh tế với các
nước ngoài
Nền kinh tế thị trường không có sự can thiệp của Nhà nước là nền kinh tế thị
trường tự ñiêu tiết,trong ñó Nhà nước chỉ làm các chức năng truyền thống của Nhà
Trang 12nước pháp quyền như:-Bảo vệ quyền sở hữu của các nhà kinh doanh.Nhà nước bảo
ñảm an ninh,chính trị,quốc phòng,an toàn xã hội,tạo môi trường thuận lợi cho các
doanh nghiệp.Xử lý các tranh chấp trong kinh doanh và vi phạm pháp luật
Trong giai ñoạn kinh tế thị trường hiện ñại,Nhà nước can thiệp vào kinh tế hay
còn gọi kinh tế thị trường có sự ñiều tiết của Nhà nước.Trên thế giới ngày nay
không có nước nào mà Nhà nước không can thiệp vào kinh tế.Chỉ khác ở biện
pháp,mục tiêu và kết quả ñạt ñược.Kinh tế thị trường ở các nước ñều có sự kết hợp
giữa cơ chế thị trường(Bàn tay vô hình) và sự can thiệp ñiều tiết của Nhà nước còn
gọi là “bàn tay hữu hình”.Thực tiễn ñã chỉ rõ cần có “bàn tay” của Nhà nước ñối
với kinh tế thị trường dù phát triển theo khuynh hướng nào,mục tiêu nào.Mặt khác
một ñiều cần khẳng ñịnh là mô hình kinh tế của các nước trên thế giới ngày nay dù
có phát triển và hoàn thiện ñến mức nào cũng không phải là thiên ñường mà vẫn có
những khuyết tật nhất ñịnh.Theo thời gian kinh tế thị trường ngày càng bộc lộ
nguyên hình những mặt trái của nó:nạn thất nghiệp,bất công xã hội,phân hoá giàu
nghèo,tình trạng tội phạm Những ñiều ñó khẳng ñịnh thêm một lần nữa nền kinh
tế thị trường cần có sự can thiệp của Nhà nước.Nhà nước ñưa ra những chính sách
ñể hạn chế những khuyết tật nói trên.Chẳng hạn,chính sách tài chính-tiền tệ,kinh tế
ñối ngoại(Thuế,lãi suất,ñiều tiết xuất nhập khẩu ) chú ý vấn ñề tiền lương,trợ cấp
thất nghiệp,phúc lợi xã hội
1.3 Các quy luật vận ñộng của kinh tế thị trường
a Khái quát về hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá
Hàng hoá là sản phẩm của loa ñộng,nó có thể thoả mãn ñược nhu cầu nào ñó của
người lao ñộng;nó ñược sản xuất ra ñể bán chứ không phải sản xuất ra ñể người sản
xuất ra nó tiêu dùng
Hàng hoá có hai thuộc tính:giá trị sử dụng và giá trị
Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào ñó của
con người.Ví dụ:cơm ñể ăn,áo ñể mặc,máy móc thiết bị nguyên nhiên vật liệu ñể
sản xuất Công dụng của sản phẩm do thuộc tính tự nhiên của sản phẩm quy
Trang 13ñịnh.Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển giúp con người ngày càng phát hiện ra
những thuộc tính mới của sản phẩm và phương pháp lợi dụng những thuộc tính ñó
Giá trị sử dụng chỉ thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng.Một sản phẩm ñã là hàng
hoá thì nhất thiết phải có giá trị sử dụng,nhưng không phải bất kì sản phẩm gì có
giá trị sử dụng cũng ñều là hàng hoá.Chẳng hạn,không khí,nước suối cũng có giá trị
sử dụng nhưng không phải là hàng hoá.Trong kinh tế hàng hoá nói chung giá trị sử
dụng là cái mang giá trị trao ñổi
Giá trị trao ñổi trước hết là tỉ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao ñổi với giá trị
sử dụng khác.Ví dụ,1 rìu trao ñổi lấy 20 kg thóc.Tại sao rìu và thóc là hai hàng hoá
có giá trị sử dụng khác nhau lại có thể trao ñổi ñược với nhau?Tại sao lại ñổi tỉ lệ 1
rìu lấy 20 kg thóc?Hai giá trị sử dụng khác nhau có thể trao ñổi ñược với nhau khi
giữa chúng có một cơ sở chung.Hao phí lao ñộng chíng là cơ sở chung ñể so sánh
rìu với thóc.Còn sở dĩ phải trao ñổi với một tỉ lệ nhất ñịnh, 1 rìu lấy 20 kg thóc là vì
người ta cho rằng lao ñộng hao phí sản xuất ra 1 cái rìu bằng hao phí sản xuất ra 20
kg thóc.Khi chủ rìu và chủ thóc ñồng ý trao ñổi với nhau thì họ cho rằng lao ñộng
của họ ñể sản xuất ra rìu bằng giắ trị của 20kg thóc
Từ phân tích trên chúng ta rút ra kết luận quan trọng:giá trị là lao ñộng xã hội của
người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
Sản phẩm nào không chứa ñựng lao ñộng của con người thì không có giá trị.Khi
giá trị thay ñổi thì giá trị trao ñổi cũng thay ñổi,giá trị trao ñổi chính là hình thức
biểu hiện của giá trị
Giá trị và giá trị sử dụng là hai thuộc tính của hàng hoá,hàng hoá ñược thể hiện
như là sự thống nhất chặt chẽ nhưng lại mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này
b Khái niệm về thị trường,vai trò và tác dụng,phân loại thị trường
Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá.Nó ra ñời và
phát triển cùng với sự ra ñời và phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá
Vậy thị trường là gì? Theo nghĩa ban ñầu thị trường gắn liền với ñịa ñiểm nhất
ñịnh,trên ñó diễn ra quá trình trao ñổi mua bán hàng hoá.Thị trường có tính không
Trang 14gian và thời gian.Theo nghĩa này thị trường là cái chợ,cái ñịa dư,khu vực tiêu thụ
hàng hoá phân theo các mặt hàng,ngành hàng
Sản xuất hàng hoá luôn phát triển,lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường ngày
càng dồi dào và phong phú,thị trường ñược mở rộng.Thị trtường ñược hiểu theo
nghĩa ñầy ñủ hơn,nó là lĩnh vực trao ñổi hàng hoá thông qua tiền tệ làm môi
giới.Tại ñây người mua và người bán tác ñộng qua lại lẫn nhau ñể xác ñịnh giá cả
và sản lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường
Ngày nay các nhà khoa học thống nhất với nhau khái niệm về thị trường như sau:
Thị trường là một quá trình mà trong ñó người bán và người mua tác ñộng qua lại
với nhau ñể xác ñịnh giá cả và sản lượng
Phân ñoạn thị trường: Trong lịch sử ñã xuất hiện nhiều cách phân loại thị trường
khác nhau.Chẳng hạn dựa vào lưu thông hàng hoá người ta ñã phân chia thị trường
thành:thị trường cung ứng vật tư kĩ thuật,thị trường hàng tiêu dùng.Dựa vào quan
hệ sở hữu người ta chia thị trường thành thị trường có tổ chức và thị trường tự
do.Kinh tế học hiện ñại chia thị trường thành thị trường yếu tố sản xuất và thị
trường hàng hoá tiêu dùng,dịch vụ;thị trtường trong nước và thị trường nước ngoài
Thị trường yếu tố sản xuất hay thị trường “ñầu vào” là nơi mua bán các yếu tố sản
xuất như sức lao ñộng,tư liệu sản xuất,vốn và các ñiều kiện vật chất ñể sản xuất
kinh doanh
Có thị trường này mới có các yếu tố ñể sản xuất hàng hoá,mới có hàng hoá tiêu
dùng và dịch vụ hay mới có thị trường ñầu ra.Số lượng,chất lượng,tính ña dạng của
thị trường ñầu ra do thị trường ñầu vào quy ñịnh.Tuy nhiên thị trường ñầu ra cũng
có ảnh hưởng tới thị trường ñầu vào,kích thích tính tích cực của thị trường ñầu vào
Trang 15hàng hoá tiêu dùng cuối cùng và dịch vụ
Hàng hoá tiêu dùng là các vật phẩm tiêu dùng như lương thực,thực phẩm,quần
áo,nhà ở, các hàng hoá dịch vụ như sửa chữa,du lịch,chữa bệnh
Thị trường trong nước là việc mua bán trao ñổi hàng hoá giữa các chủ thể kinh tế
và người tiêu dùng trong nước.Thị trường nước ngoài là sự mua bán trao ñổi hàng
hoá giữa nước này với nước khác
Thị trường ngoài nước thông qua ngoại thương có tác ñộng thúc ñẩy và hỗ trợ thị
trường trong nước phát triển.Ngược lại,thông qua ngoại thương thị trường trong
nước có thể nhanh chóng tiếp cận với thị ttrường thế giới
Vai trò của thị trường: Như trên ñã khẳng ñịnh kinh tế hàng hoá gắn liền với thị
trường.Sản xuất cho thị trường,tiêu dùng thông qua thị trường.Thị trường là trọng
tâm của toàn bộ qua trình tái sản xuất
Trong nền kinh tế hàng hoá cần sản xuất mặt hàng gì,số lượng bao nhiêu, ñiều ñó
phải thông qua thị trường.Như vậy thị trường chính là lực lượng hướng dẫn ñặt nhu
cầu cho sản xuất,và do ñó thị trường có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
hàng hoá
Để sản xuất cần phải có các yếu tố sản xuất.Thị trường chính là nơi cung cấp
những yếu tố ñó bảo ñảm cho quá trình sản xuất ñược tiến hành bình thường.Sản
xuất hàng hoá là ñể trao ñổi,ñể bán.Thị trường là nơi tiêu thụ những hàng hoá cho
các doanh nghiệp,thông qua thị trường giá trị hàng hoá ñược thực hiện và các
doanh nghiệp thu ñược vốn.Nếu coi doanh nghiệp là một cơ thể sống thì thị trường
là nơi bảo ñảm các yếu tố cho sự sống ñó và cũng là nơi thực hiện sự trao ñổi chất
ñể cho sự sống tồn tại và phát triển
Từ ñó,thị trường chính là ñiều kiện và là môi trường cho hoạt ñộng sản xuất hàng
hoá.Thị trường là nơi kiểm tra cuối cùng chủng loại các hàng hoá,số lượng hàng
hoá cũng như chất lượng hàng hoá.Thị trường kiểm nghiệm tính phù hợp của sản
Trang 16xuất ñối với tiêu dùng xã hội.Thị trường còn là nơi cuối cùng ñể chuyển lao ñộng
tư nhân cá biệt thành lao ñộng xã hội
c Khái niệm về cơ chế thị trường, quy luật vận ñộng của kinh tế thị trường
Cơ chế thị trường là gì?cho ñến nay ñã có nhiều ñịnh nghĩa về cơ chế thị trường
do nội hàm và ngoại diện rộng,cho nên rất khó ñịnh nghĩa,nhưng ta có thể hiểu một
cách cơ bản như sau:
“ Cơ chế thị trường là cơ chế tự ñiều tiết của nền kinh tế hàng hoá do sự tác ñộng
của các quy luật vốn có của nó ñể nhằm giải quyết 3 vấn ñề cơ bản của tổ chức
kinh tế xã hội là cái gì ? bằng cách nào ? và cho ai? ”
Nói tới cơ chế thị trường trước hết phải nói tới thị trường
Nói tới cơ chế thị trường là phải nói tới các nhân tố cơ bản cấu thành thị trường
ñó là hàng - tiền , người mua và người bán Từ ñó hình thành nên các quan hệ hàng
hoá - tiền tệ,mua bán,cung cầu và giá cả thị trường
Nói tới cơ chế thị trường là phải nói tới lợi nhuận vì nó là ñộng lực thúc ñẩy các
chủ thể tham gia thị trường.Cho nên ở trong nền kinh tế thị trường phải lấy lỗ, lãi
ñể tính toán
Nói tới cơ chế thị trường và thị trường là phải nói tới cạnh tranh và các quy luật
kinh tế chi phối sự vận ñộng của thị trường (quy luật giá trị ,cạnh tranh, cung cầu )
trong ñó quy luật giá trị là căn bản nhất.Chừng nào còn sản xuất và trao ñổi hàng
hoá thì chừng ñó còn quy luật giá trị
Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là trừu tượng.Nó thể hiện sự vận ñộng thông qua sự biến ñộng
của giá cả thị trường.Giá cả thị trường là giá bán hàng hoá trên thị trường,ñó là giá
cả thoả thuận giữa người mua và người bán,người bán muốn bán giá cao còn người
mua muốn mua giá thấp.Giá cả thị trường chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị
thị trường,giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị thị trường của hàng
hoá,nghĩa là sự hình thành giá cả thị trường phải dựa trên cơ sở giá trị thị
Trang 17trường.Ngoài giá trị thị trường,sự hình thành giá cả thị trường còn chịu sự tác ñộng
của quan hệ cung cầu hàng hoá
Tính quy luật của quan hệ giữa giá cả thị trường với giá trị trong sự tác ñộng của
quan hệ cung cầu ñược biểu hiện:
Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường là biểu hiện của quan hệ giữa người
bán và người tiêu dùng.Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ nhỏ hơn giá
trị thị trường,nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trường sẽ lớn hơn giá trị thị
trường.Sự vận ñộng của giá cả thị trường cũng có tác ñộng tới quan hệ cung cầu
hàng hoá.Nếu giá cả của một loại hàng hoá nào ñó giảm xuống,nó sẽ kích thích
mức cầu làm cho mức cầu của thị trường về loại hàng hoá này tăng lên,ñồng thời
giá cả giảm xuống lại hạn chế mức cung,làm cho mức cung giảm xuống.Ngược lại
nếu giá cả của một loại hàng hoá nào ñó tăng lên,nó sẽ kích thích mức cung làm
cho mức cung tăng lên và ñồng thời hạn chế mức cầu làm cho mức cầu giảm
xuống.Như vậy có thể nhận biết ñược quan hệ cung cầu qua giá cả thị trường,giá cả
hàng hoá trên thị trường lên xuống xoay quanh giá trị của nó.C.Mác gọi ñó là vẻ
ñẹp của quy luật giá trị Yêu cầu của quy luật giá trị là sản xuất và trao ñổi hàng
hoá phải dựa trên cơ sở lượng giá trị hàng hoá hay thời gian lao ñộng xã hội cần
thiết.Vấn ñề quan trọng trong kinh tế hàng hoá là hàng hoá sản xuất ra có bán ñược
hay không.Để có thể bán ñược thì hao phí lao ñộng xã hội cá biệt ñể sản xuất ra
hàng hoá phải phù hợp với hao phí lao ñộng xã hội cần thiết,tức là phải phù hợp với
mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận ñược.Trong trao ñổi hàng hoá cũng phải
dựa vào hao phí lao ñộng xã hội cần thiết.Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác
nhau có thể trao ñổi với nhau ñược khi lượng giá trị của chúng bằng nhau
Vai trò và tác dụng của quy luật giá trị:
Quy luật giá trị có tác dụng ñiều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.Trong sản
xuất quy luật giá trị ñiều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất và sức lao ñộng giữa
các ngành sản xuất thông qua sự biến ñộng của giá cả thị trường.Như ñã nói ở
trên,do ảnh hưởng của quan hệ cung cầu nên giá cả của hàng hoá trên thị trường lên
Trang 18xuống xoay quanh giá trị của nó.Nếu có ngành nào ñó cung không ñáp ứng cầu,giá
cả hàng hoá tăng lên thì người sản xuất sẽ ñổ xô vào ngành ñó.Ngược lại,khi ngành
ñó thu hút qúa nhiều lao ñộng xã hội,cung vượt cầu dẫn ñến giá cả hàng hoá hạ
xuống thì người sản xuất sẽ phải chuyển bớt tư liệu sản xuất và sức lao ñộng ra
khỏi ngành này ñể ñầu tư vào nơi có giá cả hàng hoá cao.Nhờ vậy mà tư liệu sản
xuất và sức lao ñộng ñược phân phối qua lại một cách tự phát vào các ngành khác
nhau.Trong lĩnh vực lưu thông,quy luật giá trị ñiều tiết nguồn hàng từ nơi giá cả
thấp ñến nơi giá cả cao
Quy luật giá trị có tác dụng kích thích lực lượng sản xuất phát triển:Lợi nhuận là
cái mà người sản xuất luôn mong muốn ñạt ñược,càng nhiều càng tốt.Hơn nữa trên
thị trường luôn xảy ra sự cạnh tranh.Để ñạt ñược lợi nhuận ngày càng nhiều,ñứng
vững và thắng trong cạnh tranh thì mọi người sản xuất ñều tìm cách rút ngắn ñến
mức tối thiểu hao phí lao ñộng cá biệt.Để làm ñược ñiều ñó họ phải luôn luôn tìm
cách cải tiến kĩ thuật,tăng năng suất lao ñộng.Vì thế trong nền kinh tế thị trường lực
lượng sản xuất ñược kích thích và phát triển nhanh hơn nhiều so với trong nền kinh
tế tự cấp tự túc
Quy luật giá trị có tác dụng thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hoá người
sản xuất thành kẻ giàu người nghèo: Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá trị,lao
ñộng cá biệt của mỗi người sản xuất có thể không nhất trí với lao ñộng xã hội cần
thiết.Những người làm giỏi,làm tốt có hao phí lao ñộng cá biệt thấp hơn hao phí xã
hội cần thiết.Nhờ ñó phát tài,làm giàu,mua sắm thiệt bị sản xuất,mở rộng theo quy
mô sản xuất,mở rộng doanh nghiệp của mình.Bên cạnh ñó,những người làm ăn
kém cỏi,không gặp may,hao phí lao ñộng cá biệt lớn hơn hao phí lao ñộng xã hội
cần thiết.Nên họ bị lỗ vốn,thâm chí ñi ñến phá sản.Như vậy quy luật giá trị có ý
nghĩa bình tuyển,ñánh giá người sản xuất,nó mang lại phần thưởng cho những
người làm tốt,làm giỏi và hình phạt cho những người làm ăn kém cỏi.Về phương
diện này thì quy luật giá trị bảo ñảm sự bình ñẳng với người sản xuất
Trang 19
2 Sự phát triển của Lênin về kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội
Kinh tế thị trường có sự phát triển từ thấp lên cao,ñỉnh cao nhất của sự phát triển
của nó ở giai ñoạn ñã qua ñạt ñược trong chủ nghiã tư bản,ñược xã hội ñó sử dụng
triệt ñể.Đó là cơ sở ñể trước ñây nhiều người ñồng nhất kinh tế thị trường với chủ
nghĩa tư bản.Quan ñiểm ñó ñược củng cố thêm do trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội trước ñây,hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa ñều kì thị với kinh tế thị
trường.Tuyệt ñối hoá kinh tế kế hoạch mang tính tập trung quan liêu.Do vậy ñã có
sự ñối lập về kinh tế thị trường ñối với chủ nghĩa xã hội.Kết quả nghiên cứu lý
luận,hộat ñộng thực tiễn và nhận thức mới về chủ nhgiã xã hội trong những năm
gần ñây cho phép ta kết luận rằng:Nền kinh tế quá ñộ lên chủ nghĩa xã hội phải là
nền kinh tế hàng hoá,thị trường
Sự biến ñổi về chất trong phương pháp tổ chức kinh tế của xã hội ñã gây ra nhiều
nỗi băn khoăn cho không ít người.Bằng nhiều luận cứ,từ di sản của những người
sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học ñến thực tiễn lịch sử người ta kết luận:chủ
nghĩa xã hội không có chỗ cho thị trường,càng nhiều thị trường bao nhiêu thị càng
ít chủ nghĩa xã hội bấy nhiêu.Có ý kiến còn cho là ñã là kinh tế thị trường thì ñừng
nói ñến chủ nghĩa xã hội;rằng cái “ruột” kinh tế thị trường thì không thể mang cái
“vỏ”là chủ nghĩa xã hội.Nói kinh tế thị trường ñịnh hướng lên chủ nghĩa xã hội
chẳng qua chỉ là một sự “huyền hoặc” và nếu quả là như thế-theo ý nghĩa của
những người có quan ñiểm này thì “công lao” của nó là “ñã cung cấp cho nhân loại
thêm một con ñường ñể tư bản hoá” Những ý kiến trên ñây là không ñúng cả trên
phương diện lý luân lẫn thực tiễn.Vì nó ñồng nhất kinh tế hàng hoá với kinh tế tư
bản chủ nghĩa,ñồng nhất “cách tổ chức của kinh tế xã hội” nói chung với “cách tổ
chức kinh tế xã hội tư bản” nói riêng
Sự thật như thế nào? Liệu chúng ta có xa rời những nguyên tắc của chủ nghĩa xã
hội hay không?
Quan ñiểm của C.Mác – Ph.Ăngghen