1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

104 566 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀNG VĂN QUẢNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ LUẬN VĂN TH

Trang 1

HOÀNG VĂN QUẢNG

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG VĂN QUẢNG

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đinh Thế Định

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Ban Lãnh đạo nhà trường, Phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập, rèn luyện

Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc

biệt, PGS TS Đinh Thế Định - người hướng dẫn khoa học đã tận tình, quan

tâm định hướng, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn tốt nghiệp.

Chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Thường trực Thị ủy, Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân Thị xã, các ban xây dựng Đảng Thị uỷ Hồng Lĩnh, Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị, Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Văn phòng Thị uỷ, Chi cục Thống kê thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như cung cấp số liệu và tư vấn khoa học cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng, nhưng với điều kiện thực tiễn thị xã Hồng Lĩnh và một số kinh nghiệm của bản thân, Luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy,

cô giáo và bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp.

Trang 5

MỤC LỤC Trang

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP HUYỆN TRONG THỜI

KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP

QUỐC TẾ

11

1.1 Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay 111.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là một

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,

QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,

QUẢN LÝ THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY 44

2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh

Trang 6

NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THỊ XÃ HỒNG LĨNH,

TỈNH HÀ TĨNH THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,

3.1 Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thị xã

Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công

3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,

quản lý thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế 77

Trang 7

85 năm qua kể từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn khẳng định: Cán

bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh củaĐảng, của đất nước và của chế độ xã hội chủ nghĩa Vì vậy, Đảng và Nhà nước

ta đã dày công đào tạo, huấn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ tận tuỵ, kiêncường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua các giai đoạn cách mạng Chủ tịch HồChí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “công việc thành cônghay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [34, tr.273]

Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế Nhiệm vụ mới rất nặng

nề, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải xây dựng một độingũ cán bộ ngang tầm, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, công tác cán bộ vàchất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay còn nhiều yếu kém chưa ngang tầm với đòihỏi của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ thoái hoá về chính trị và phẩm chất đạo đức, lợi dụng chứcquyền tham ô, lãng phí, quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, cơ hội, thực dụng…Nguyên nhân của tình trạng này là do quá trình thực hiện cơ chế thị trường, mởrộng giao lưu và hội nhập quốc tế, trước sự cám dỗ của tiền tài, vật chất, trướccác mánh lới tấn công xảo quyệt của các thế lực thù địch, không ít cán bộ lơilỏng tu dưỡng rèn luyện, giảm sút ý chí phấn đấu, né tránh tự phê bình và phêbình, bị chủ nghĩa cá nhân lấn át Mặt khác, công tác cán bộ của nhiều cấp uỷ và

tổ chức bị buông lỏng, yếu kém; ý thức tự giác trong thực hiện nhiệm vụ củamột bộ phận cán bộ chưa cao, tính năng động sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụcòn nhiều hạn chế Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có đầy đủphẩm chất cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, hiểu biết lý luận, tinh thôngnghiệp vụ, có năng lực lãnh đạo và quản lý

Trang 8

Công tác cán bộ đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, nên đã có nhiều nghị quyết của Đảng, văn bản của Nhà nước,nhiều công trình nghiên cứu và đề cập đến vấn đề này.

Các nghị quyết của Đảng, văn bản của Nhà nước về công tác cán bộ tiêubiểu như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 25 tháng 01 năm 2002 của Bộ

Chính trị (khóa IX) về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý; Nghị quyết

số 42-NQ/TW, ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về côngtác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10 tháng 4 năm 2013 của Bộ Chính trị(Khóa XI) về hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 26 tháng 5 năm

2014 của Bộ Chính trị (Khóa XI) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng côngtác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; Nghị quyết

số 12-NQ/TW, ngày 16 tháng 01 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Kết luận

số 37-KL/TW, ngày 02/02/2009 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa X) vềtiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020; Luật cán

bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội Khóa XII; Nghịđịnh số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về việc đào tạo, bồidưỡng công chức; Quy định số 286-QĐ/TW ngày 08/02/2010 của Bộ Chính trị

về việc ban hành quy chế đánh giá cán bộ, công chức; Quyết định của Thủtướng Chính phủ số 40/2006/QĐ-TTg ngày 15/02/2006 về việc phê duyệt Kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006-2010

Các công trình nghiên cứu về công tác cán bộ: Tiêu biểu là các công trình:

PGS.TS Trần Đình Hoan (chủ biên): “Đánh giá Quy hoạch, luân chuyển cán bộ

lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, NXB chính

trị quốc gia (Hà Nội - 2009); Cao Khoa Bảng (chủ biên): “Nâng cao chất lượng

Trang 9

đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô”

NXB chính trị quốc gia – Sự thật (Hà Nội - 2013); Lê Duẩn (1973): “Mấy vấn

đề về cán bộ và tổ chức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa”, NXB sự thật Hà

Nội; Luận văn tiến sĩ lịch sử: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp

tỉnh Vùng đồng bằng Sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Nguyễn Thái Sơn (Hà Nội - 2002); Luận văn thạc

sĩ khoa học lịch sử: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp quận ở

thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của

Nguyễn Hồng Tân (Hà Nội - 2000)

Trong các công trình nêu trên, các tác giả đã bàn đến vai trò, vị trí tầmquan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị; phântích, đánh giá thực trạng đội ngũ này Từ đó các tác giả đã tập trung nhấn mạnhđến những yêu cầu về tiêu chuẩn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và nănglực cán bộ trong mối quan hệ với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới Trên cơ

sở đó, các tác giả đã đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước

Cùng với cả nước, hơn 15 năm thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trungương 3 (Khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, xuất phát từ tình hình thực tiễn, Đảng bộ, Chính quyền vàcác cơ quan trong hệ thống chính trị của tỉnh Hà Tĩnh đã không ngừng chăm lobồi dưỡng, rèn luyện và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh Hà Tĩnhngày một tăng cả về số lượng và chất lượng Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã banhành nhiều chính sách để thu hút nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêucầu mới Thị xã Hồng Lĩnh được xác định là một trung tâm kinh tế, văn hóa xãhội khu vực phía bắc của tỉnh Hà Tĩnh, trong những năm qua đã có sự phát triểnkhá toàn diện: kinh tế tăng trưởng nhanh, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và

Trang 10

các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng hơn 93,7% trong cơ cấu giá trị sản xuất Tuyvậy, nền kinh tế của thị xã quy mô còn nhỏ bé, số đơn vị hành chính và dân cưcòn ít, nguồn thu ngân sách hạn hẹp Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội củaThị xã đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ công chức nóichung, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, là lực lượng chủ yếu lãnhđạo, tổ chức triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; chính sách,pháp luật của Nhà nước trên địa bàn Vì vậy, để có đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản

lý ngang tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài thì trước hết phảithực hiện tốt công tác tạo nguồn quy hoạch, thu hút nhân tài, đưa cán bộ đi đàotạo sâu về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị, chuẩn bị sẵn sàng cho một

đô thị năng động và phát triển

Tuy nhiên, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung vànâng cao chất lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnhnói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay vẫn đangcòn đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện, cócác giải pháp đồng bộ để giải quyết các vấn đề đặt ra

Từ những phân tích nêu trên và từ yêu cầu của công tác xây dựng Đảng,

tôi chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Thị xã Hồng

Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” làm luận văn thạc sỹ

2 Mục đích của đề tài

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh HàTĩnh đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế, góp phần đưa thị xã Hồng Lĩnh phát triển nhanh và bền vững, trởthành đô thị loại III vào năm 2020

Trang 11

3 Nhiệm vụ của đề tài

- Làm rõ cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnhđạo, quản lý cấp huyện

- Phân tích đặc điểm, vai trò, vị trí, yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế của thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh và những vấn đề đặt racần giải quyết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ của giai đoạn mới

- Khảo sát, phân tích, đánh giá chính xác, toàn diện về đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay

- Xác định phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của cơ quan đảng, chính quyền, Mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnhbao gồm Ban Thường vụ Thị ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã, Thường trựcHội đồng nhân dân, lãnh đạo Ủy ban nhân dân thị xã; trưởng, phó các ban xâydựng đảng; trưởng phó các phòng, ban, đơn vị sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dânthị xã; trưởng, phó các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội thị xã

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để giải quyết tốt vấn đề trên, tác giả tập trung nghiên cứu về quy mô sốlượng, chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của thị xã Hồng Lĩnh tronggiai đoạn 2010-2015 qua các yếu tố như: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình

độ lý luận chính trị, trình độ ngoại ngữ, năng lực thực tiễn, kỷ năng quản lý điềuhành, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bố trí cán bộ và một số

Trang 12

vấn đề liên quan, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý của Thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2015 –

2020 và những năm tiếp theo

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản ViệtNam về công tác cán bộ

Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp: điều tra, khảo sát, thống kê, so sánh,phân tích, tổng hợp v.v…, rút ra những vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong quátrình luận chứng các vấn đề đã được nêu ra

6 Đóng góp của luận văn

Đánh giá một cách toàn diện đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở thị xãHồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2010-2015; xác định giải pháp xâydựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thị xã trong chiến lược phát triển đô thị,đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế của Thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2015 – 2020 vànhững năm tiếp theo

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu cho các cấp uỷ đảng,chính quyền địa phương, hệ thống trường chính trị vận dụng trong nghiên cứu,quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đềtài gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CẤP HUYỆN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1 Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện

1.1.1.1 Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý

bộ coi thi

Theo Khoản 1 Điều 4 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định:

“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ,chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trungương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh(sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sáchnhà nước” [32, tr.84]

Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê

chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ cáctiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơquan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua con đường bầu

Trang 14

cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xácđịnh là cán bộ Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danhtheo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân traocho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân

- Khái niệm cán bộ lãnh đạo:

Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa, Hà Nội, năm

2010, lãnh đạo có nghĩa là: “đề ra chủ trương, đường lối, và tổ chức, động viên

thực hiện” [47, tr.702]

Lãnh đạo được hiểu trên hai nghĩa: đề ra chủ trương, đường lối và tổchức, động viên mọi người thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối đã đề ra.Trong thực tiễn, lãnh đạo là làm thế nào để các cá nhân và các tập thể đều nhậnthấy rằng những mục tiêu theo đuổi hợp với nguyện vọng của mình và khi hoànthành với những mục tiêu ấy, những nguyện vọng cá nhân cũng được thoả mãn

Như vậy, cán bộ lãnh đạo là người đứng đầu của một tổ chức, một phongtrào; là người thủ trưởng của một tập thể, địa phương hoặc cơ quan, đơn vị,thông qua công tác chỉ đạo, điều hành làm thức tỉnh hành vi của những ngườidưới quyền (tức là đối tượng bị lãnh đạo của họ)

- Khái niệm cán bộ quản lý:

Cán bộ quản lý cũng là người đứng đầu một tổ chức, nhưng nhấn mạnhviệc điều hành hoạt động của tổ chức thông qua quy chế, quy định và việc sửdụng công cụ, phương tiện để điều khiển một loại hoạt động nào đó

Quản lý là quá trình hoạt động, điều hành một tổ chức, một nhóm ngườithực hiện các nhiệm vụ nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, được biểu hiện trêncác khía cạnh sau:

Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân

Thứ hai, điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa haibên

Trang 15

Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm đượcnhững việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trịlớn hơn giá trị cá nhân - giá trị tập thể.

Khi xét xã hội như một chỉnh thể thì nội dung của hai khái niệm “lãnhđạo” và “quản lý” là đồng nhất, bởi chúng đều là sự tác động tự giác của chủ thể

xã hội, chủ thể lịch sử lên hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng cácquy luật khách quan, vốn có của hệ thống xã hội đó Cả hai đều có chung vềphương hướng và mục đích là đảm bảo duy trì cho sự hoạt động bình thườngcủa hệ thống Tuy vậy, hai khái niệm này lại có sự khác nhau về nội dung hoạtđộng và về hình thức, cách thức tác động lên đối tượng Nếu xét quan hệ giữangười lãnh đạo và người bị lãnh đạo thì phương thức tác động chủ yếu là cácmệnh lệnh và sức lôi cuốn của người lãnh đạo, mà sức lôi cuốn này có được là

do tài năng, uy tín và phẩm chất vốn có của người lãnh đạo tạo nên Còn ở ngườiquản lý chính là ở khâu ra quyết định quản lý và sự giám sát, điều chỉnh kịp thờicác quyết định quản lý của mình cho phù hợp với yêu cầu của đối tượng quản lý

Trong hệ thống chính trị nước ta, cán bộ lãnh đạo, quản lý là những ngườiđược bầu ra hoặc bổ nhiệm để giữ chức vụ trong một tổ chức hoặc đơn vị, cóquyền hạn và trách nhiệm thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý, quy tụ và pháthuy được sức mạnh của tập thể để thực hiện mục tiêu chung Cán bộ lãnh đạo,quản lý vừa là người ra quyết định, vừa là người điều hành, quản lý để thực hiệnquyết định đó Cán bộ lãnh đạo, quản lý vừa phải có trình độ về chuyên môn,nghiệp vụ, vừa phải có phẩm chất, năng lực quy tụ, tập hợp được tập thể để tổchức thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao

1.1.1.2 Đặc điểm của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện

Theo phân cấp hành chính Việt Nam, hiện nay cả nước có 58 tỉnh và 5thành phố trực thuộc Trung ương; cấp huyện có 718 đơn vị, gồm: 70 thành phố

Trang 16

trực thuộc tỉnh, 55 thị xã, 49 quận và 544 huyện; cấp xã có 11.257 đơn vị, baogồm 1.635 phường, 607 thị trấn và 9.014 xã.

Cấp huyện là cấp hành chính thứ hai trong hệ thống hành chính 3 cấp.Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện bao gồm toàn thể Ban chấp hành đảng bộhuyện, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, trưởng phó các phòng ban chuyên môn củahuyện uỷ, uỷ ban nhân dân huyện và trưởng, phó các đoàn thể cấp huyện

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện trong những năm gần đây đượcchuẩn hoá, có trình độ lý luận chính trị và trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầuchức danh công tác, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạocủa Đảng, công cuộc đổi mới đất nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội;nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệt tình,tâm huyết, trách nhiệm cao với công việc, có kinh nghiệm công tác, có khả năngtuyên truyền vận động quần chúng, được nhân dân tin yêu, tín nhiệm Số cán bộtrẻ được đào tạo cơ bản, kế thừa truyền thống cách mạng của quê hương, đấtnước, năng động, thích nghi nhanh với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện hoạt động trong điều kiện cả nướcđang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao, nên phảinăng động, sáng tạo, luôn tìm tòi, học hỏi trong các hoạt động kinh tế, chính trị,văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, luôn cố gắng phấn đấu vươn lên nhằmđáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện được rèn luyện trong môi trườngthực tiễn gần cơ sở, phải tiếp cận nhiều với nhân dân, thường xuyên giải quyếtcác vấn đề đặt ra trong hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cơ sở, nên phải có kiếnthức phong phú, toàn diện, phải biết dân vận, hết lòng vì nhân dân

1.1.1.3 Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện

Đội ngũ lãnh đạo, quản lý có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp cáchmạng, cụ thể:

Trang 17

- Là người được giao các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điềuhành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của tổ chức mình, chịu trách nhiệm trước tậpthể và cấp trên về nhiệm vụ được phân công Các tổ chức ở cấp huyện đượcthành lập theo quy định của Trung ương, Chính phủ hoặc tỉnh ủy, ủy ban nhândân tỉnh; có quy chế hoạt động, có chức năng nhiệm vụ, có người lãnh đạo, quản

lý và bộ máy nhân sự kèm theo

- Là người đi đầu trong việc tiếp nhận các chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước và sự lãnh đạo từ cấp trên theo ngành, lĩnh vựcđược phân công Sự lãnh đạo theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương là

để đảm bảo tính thống nhất về kỷ thuật, chuyên môn, như ngành giao thông, xâydựng, giáo dục đào tạo, y tế…

- Là người lãnh đạo việc cụ thể hoá đường lối, chính sách của Đảng,chính quyền cấp trên vào điều kiện của địa phương, đơn vị Tham mưu cho cấp

uỷ, chính quyền các mục tiêu, phương hướng, đề ra nghị quyết, chương trìnhhành động để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,đảm bảo quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần của nhân dân trên địa bàn

- Có thẩm quyền tham gia giải quyết các mối quan hệ chính trị, kinh tế, xãhội, an ninh quốc phòng trong phạm vi toàn huyện

1.1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và Đảng cộng sản Việt Nam về cán bộ và công tác cán bộ

1.1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ.

C.Mác và Ph.Ăngghen luôn khẳng định: giai cấp vô sản và chính đảngcủa mình muốn giành được quyền lãnh đạo, giữ vững được chính quyền thì phảixây dựng được một đội ngũ cán bộ trung thành và tài năng, đáp ứng nhiệm vụcách mạng Từ kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người và từ chính quá trình

Trang 18

truyền bá lý luận khoa học của phong trào công nhân, C Mác đã khẳng định:

“Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thựctiễn” [33, tr.181] Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra rằng, mỗi sự kiện lịch sử,mỗi bước ngoặt cách mạng của dân tộc và thời đại đều có sự tham gia đông đảo,tích cực và mạnh mẽ của quần chúng nhân dân Mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗiphong trào cách mạng đều xuất hiện những cá nhân kiệt xuất có vai trò quyếtđịnh tới tiến trình lịch sử Xuất phát từ luận điểm đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đãbắt tay vào việc tuyển chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ cho tổ chức cộng sản quốc

tế đầu tiên từ những hạt nhân được gọi là uỷ ban thông tin cộng sản

Trong Điều lệ “Liên đoàn những người cộng sản”, tổ chức chính trị tiênphong của giai cấp bao gồm những con người ưu tú của giai cấp, phấn đấu vìmục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, đã nêu rõ nguyên tắc tổchức một đảng cách mạng của giai cấp vô sản Đội tiên phong ấy phải lựa chọncho mình những người công nhân giác ngộ nhất, tiêu biểu nhất Ph.Ăngghen đãchỉ rõ “Cần phải sàng lọc từng người một, tiêu biểu nhất”, đây là phương phápluận cơ bản đặt nền móng cho việc xây dựng tổ chức của Đảng, xây dựng độingũ cán bộ của Đảng

V.I.Lênin, người kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, đã đặc biệtcoi trọng việc xây dựng một đội ngũ những nhà cách mạng chuyên nghiệp chophong trào cộng sản, đó là những cán bộ nòng cốt đầu tiên của Đảng cộng sảnBônsêvich Nga, những người giúp Đảng đảo ngược nước Nga, là những nhàchính trị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản Ôngđánh giá rất cao vị trí, vai trò của cán bộ trong hàng ngũ của Đảng và trong tácphẩm “Những nhiệm vụ bức thiết của phong trào chúng ta”, Người khẳng định:

“Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếukhông đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, nhữngđại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức lãnh đạo phong trào” [31, tr.173].Bởi vậy ngay từ ngày đầu thành lập Đảng Bônsêvích Nga, Lênin đã rất coi trọng

Trang 19

công tác cán bộ và chính Người cũng đã trực tiếp tham gia giảng bài các lớp tậphuấn đó.

Khi Đảng chưa có chính quyền, vấn đề cán bộ đã rất được quan tâm; khi

có chính quyền, vấn đề cán bộ càng trở lên quan trọng và cấp bách hơn Đảngphải gấp rút lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ về số lượng vàchất lượng đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới Những vấn đề quan trọng về cán bộ vàcông tác cán bộ đã được V.I.Lênin bàn đến nhiều ở giai đoạn Đảng đã giànhđược chính quyền và tập trung ở thời kỳ sau khi chính quyền được thiết lậptrong cả nước

Khi chính quyền lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin đãtiến hành đánh giá, sắp xếp lại cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Năm 1922,Người khẳng định: Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh hiệnnay là then chốt Nếu không thì tất cả mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấylộn Lênin khẳng định: Cán bộ luôn giữ vị trí cực kỳ quan trọng trong cách mạngdân chủ và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Ở bất kỳ giai đoạn cách mạng nàocán bộ luôn là trung tâm của mọi vấn đề, là nguyên nhân của mọi thành công,trong sự nghiệp cách mạng, nếu thiếu đội ngũ cán bộ tiên tiến, tiêu biểu thì cáchmạng không thể thành công Cán bộ không đủ năng lực, thiếu bản lĩnh sẽ khônghoàn thành nhiệm vụ được giao

1.1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ

Kế thừa và phát triển lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác cán

bộ, phát huy truyền thống và phương pháp dùng người của cha ông ta trước đây,Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việcthành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém Nếu cán bộ tốt, cán bộngang tầm thì việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết đểđưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi

Trang 20

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách củaĐảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thờiđem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt

ra chính sách cho đúng” [35, tr.269] Vị trí của cán bộ là “cầu nối” giữa Đảng,Chính phủ với quần chúng, nhưng không phải là “vật mang”, là “dây dẫn”, là sựchuyển tải cơ học mà chính là con người có đủ tư chất, tài năng và đạo đức đểlàm việc đó Bởi lẽ, để có thể đem chính sách của Đảng và Chính phủ giải thíchcho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi người cán bộ phải có trình độ, trí tuệnhất định, nếu không người cán bộ sẽ không quán triệt hết, thậm chí là sai lệchtinh thần nội dung của chính sách thì thật là nguy hiểm Ngoài điều kiện có trình

độ nhất định, người cán bộ cần phải có một bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạođức cách mạng Việc truyền đạt, giải thích chính sách của Đảng và Nhà nướccho dân chúng là một việc khó khăn và phức tạp, cũng như việc nắm chắc đượctình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, phản ánh được đúngthực chất của tình hình để làm căn cứ cho việc hoạch định chủ trương chínhsách Công việc này đòi hỏi người cán bộ phải có trình độ tổng kết thực tiễn,khái quát nâng lên thành lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cán bộ ở vị trí có tính chất quyết định Chínhsách đúng đắn có thể không thu được kết quả nếu cán bộ làm sai, cán bộ yếukém Về vấn đề này, Người đã đi xa hơn, sâu hơn, chỉ ra cội rễ của vấn đề mộtcách vừa cụ thể, vừa có tính chất tổng quát Người nói: “Khi đã có chính sáchđúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức củacông việc, do nơi lựa chọn cán bộ, do nơi kiểm tra Nếu ba điểm ấy mà sơ sài,thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” [35, tr.277]

Muốn tổ chức công việc tốt, phải có người cán bộ có tài, có đức Mặt kháccũng phải biết chọn người nào làm việc gì thích hợp, nếu không cũng có thểhỏng việc mà không hoàn toàn do cán bộ yếu kém Cùng với việc lựa chọn cán

bộ đúng để giao trọng trách, phải thường xuyên kiểm tra để phát huy mặt tốt,

Trang 21

ngăn ngừa và hạn chế mặt xấu, mặt tiêu cực Vai trò của người cán bộ thể hiệnqua 3 mối quan hệ:

Một là, với đường lối, chính sách

Hai là, với tổ chức bộ máy (các cơ quan, tổ chức lãnh đạo quản lý)

bó mật thiết với nhau, đó là: Hiểu biết cán bộ; Khéo dùng cán bộ; Cân nhắc cánbộ; Thương yêu cán bộ; Phê bình cán bộ Để có cán bộ tốt đáp ứng được phongtrào, nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng, công tác cán bộ có vị trí quyếtđịnh Hồ Chí Minh là người nêu gương trong việc hoạch định đuờng lối, chínhsách vừa nguyên tắc, vừa linh hoạt trong xây dựng đội ngũ cán bộ Người coicông tác cán bộ như việc đào tạo nhân tài là trọng yếu và rất cần thiết Ngườinói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồngngười” Chất lượng cán bộ phản ánh chất lượng cao hay thấp, tốt hay kém củacông tác cán bộ Nếu quan tâm thực hiện tốt tất cả các khâu: Phát hiện, lựa chọn,đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc, đề bạt, bố trí công việc, kiểm tra theo dõi, giúp đỡ,nhất định ta sẽ có một đội ngũ cán bộ chất lượng tốt, chỉ cần một trong nhữngkhâu đó bị xem nhẹ, làm không đến nơi đến chốn sẽ khiến cho chất lượng độingũ cán bộ kém đi rất nhiều Mặt khác dù cho sự quyết tâm của tổ chức, của tậpthể có tốt, chu đáo đến đâu cũng không thể thay thế cho sự nỗ lực phấn đấu củatừng cá nhân người cán bộ

Với những quan điểm, tư tưởng trên, trong suốt cuộc đời hoạt động cáchmạng của mình, trong suốt quá trình lịch sử, Bác Hồ đã xây dựng và rèn luyện

Trang 22

một đội ngũ cán bộ đông đảo, có phẩm chất cách mạng cao đẹp, có năng lực tổchức lãnh đạo quần chúng thực hiện có hiệu quả mọi nhiệm vụ chính trị củaĐảng, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

1.1.2.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ và công tác cán bộ

Quán triệt quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ

và xác định công tác cán bộ là vấn đề có tầm chiến lược quan trọng, là nhân tốquyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của đất nước, làkhâu then chốt nhất trong công tác xây dựng Đảng Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳcách mạng cần có một đội ngũ cán bộ thích ứng có đủ phẩm chất đạo đức, nănglực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Đảng ta tiếp tục coi đức và tài - là haimặt trong nhân cách người lãnh đạo ở nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) đã khởi xướngcông cuộc đổi mới toàn diện, mà ở mỗi lĩnh vực đều đề cập đến vấn đề cốt tử làđội ngũ cán bộ - công tác cán bộ Đại hội khẳng định: đổi mới cán bộ lãnh đạocác cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩynhững cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng Nội dung phương hướng trong côngtác cán bộ được Đại hội chỉ rõ: đổi mới đội ngũ cán bộ có nghĩa là đánh giá, lựachọn bố trí đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng để có một đội ngũ đảng viên có đủnhững tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm

vụ Muốn đổi mới công tác cán bộ trước hết phải đổi mới đội ngũ những ngườilàm công tác tổ chức và cán bộ

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng nhấn mạnh:tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng cho được đội ngũ cán bộ vững mạnh

Trang 23

và đồng bộ, bao gồm cả cán bộ chính trị, cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ kinhdoanh, chuyên gia trong lĩnh vực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, toàn diện về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức,trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn, coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộlãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp và các chuyên gia, trước hết là cán bộ chủchốt trong hệ thống chính trị

Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã bàn chuyên

đề về công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Những quan điểm trong Nghị quyết hội nghị thể hiện rõ sự thấm nhuần và pháttriển những vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc rút ra từ thực tế phong phú và cáchmạng Việt Nam, nó có ý nghĩa chỉ đạo chung cho cả thời gian trước mắt vàchiến lược cán bộ lâu dài

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) tiếptục xác định nhiệm vụ đổi mới công tác cán bộ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ,trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, vững vàng về chính trị,gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống có trí tuệ kiến thức và tài năng lựchoạt động thực tiễn gắn bó với nhân dân” [23, tr.141]

Về đổi mới quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ tại Đại hội toàn quốc lầnthứ X, Đảng ta khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp

lý, chất lượng tốt, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng Có cơchế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng,trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài… Đặc biệt quan tâm xâydựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp” [24, tr.51]

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ chín (khoá X) đã tổng kết 10 năm thựchiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) về chiến lược cán bộ và kết luận vềtiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ 2020 khẳng định: “Cán bộ là

Trang 24

nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt công tác xâydựng Đảng Phải thường xuyên chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới côngtác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” [25, tr.271].

Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta xác định mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới đó là: Nâng cao chất lượngnguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước

Các quan điểm trên là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ vào thực tiễn cách mạng ViệtNam trong giai đoạn hiện nay Những quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng

về công tác cán bộ được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:

Một là, Công tác cán bộ phải gắn với đường lối và nhiệm vụ chính trị của

Đảng Giữa đường lối và nhiệm vụ chính trị mới sản sinh ra đội ngũ cán bộ tốt

Vì vậy khi tiến hành công tác cán bộ phải xuất phát từ đường lối chính trị củaĐảng, từ nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị

Hai là, Công tác cán bộ phải gắn liền với tổ chức Cán bộ là người lập ra

tổ chức, đồng thời chịu sự chi phối ràng buộc của từng tổ chức Tổ chức quyếtđịnh phương hướng và hành động của cán bộ Tổ chức buộc cán bộ phải hànhđộng theo nguyên tắc nhất định, tổ chức đúng sẽ nhân sức mạnh của cán bộ lêngấp đôi, vì vậy thực hiện nguyên tắc từ nhiệm vụ và công việc mà định ra tổchức, không nên vì cán bộ mà sinh ra tổ chức, bày ra công việc

Ba là, Công tác cán bộ phải gắn liền với phong trào cách mạng của quần

chúng Phong trào cách mạng của quần chúng làm sản sinh ra những cán bộ tốt,

đó là môi trường rèn luyện, thử thách và sàng lọc cán bộ Mặt khác cán bộ lại làngười tuyên truyền, tổ chức duy trì phong trào cách mạng quần chúng

Bốn là, Xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ phải trên cơ sở giữ

vững tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Bất cứ giai cấp nào, chế

Trang 25

độ xã hội nào cũng có đường lối cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ trung thành và

có khả năng thực hiện thắng lợi lợi ích, lý tưởng của giai cấp mình

Năm là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán

bộ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thốngchính trị, tôn trọng pháp luật và điều lệ của các tổ chức quần chúng

Sáu là, Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ.

Hơn bất cứ lĩnh vực nào, công tác cán bộ phải thực hiện nguyên tắc tập trungdân chủ Những vấn đề thuộc về công tác cán bộ phải do tập thể có thẩm quyềnquyết định theo đa số

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý cấp huyện

- Về phẩm chất chính trị

Phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng nhất, quyết định đến năng lựclãnh đạo, quản lý của người cán bộ Phẩm chất chính trị là động lực tinh thầnthúc đẩy cán bộ các cấp vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao haynói cách khác là hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất Phẩm chất chính trịcũng chính là yêu cầu cơ bản nhất đối với người cán bộ

Phẩm chất chính trị của cán bộ được biểu hiện trước hết là sự tin tưởngtuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sởlập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, vớichủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, đó là con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn,kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật củaNhà nước, không dao động trước những khó khăn thử thách; có tinh thần yêunước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lốicủa Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

Trang 26

- Về phẩm chất đạo đức

Đạo đức là hết sức cần thiết cho tất cả mọi người, và đặc biệt cần thiếtcho người cán bộ cách mạng Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phẩm chất đạo đứccủa người cán bộ là: Trung với nước, hiếu với dân, người cán bộ phải là đầy tớcủa nhân dân, dũng cảm hy sinh, không sợ khó khăn, gian khổ, gạt bỏ lợi ích cánhân để phục tùng lợi ích tập thể, khiêm tốn học hỏi, không tự cao, tự đại, cầnkiệm liêm chính và tinh thần đoàn kết hữu nghị

Người cán bộ có đạo đức cách mạng là người phải tích cực đấu tranhchống lại các tiêu cực của xã hội như: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hoá,

sa sút về đạo đức lối sống, chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫnnhau, mất đoàn kết nội bộ, dối trá, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị,phai nhạt lý tưởng cách mạng Người cán bộ phải luôn có ý thức tổ chức kỷluật và tinh thần tập thể, khiêm tốn, giản dị, trung thực, không cơ hội, có nếpsống văn minh, nêu gương cho quần chúng Như vậy mới tạo được lòng tin từphía nhân dân, thuyết phục được nhân dân tin vào sự lãnh đạo của Đảng, trungthành với sự nghiệp cách mạng

Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trướchết đó phải là người cán bộ có phẩm chất đạo đức tốt Xây dựng các tiêu chuẩnđạo đức của người cán bộ, công chức và hình thành ở họ các phẩm chất đạo đứctương ứng với vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ là việc làmcần thiết và cấp bách, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước hiện nay

- Về trình độ, năng lực

Theo Hồ Chí Minh, năng lực tổ chức thực hành của người cán bộ thể hiện

ở những điểm là: quyết định vấn đề một cách cho đúng, tổ chức thi hành chođúng và tổ chức kiểm soát cho đúng Để quyết định vấn đề một cách cho đúng

Trang 27

cần phải có năng lực, trí tuệ, nắm được thông tin và xử lý thông tin, đưa raphương án để lựa chọn, quyết định.

Trình độ học vấn: Là nền tảng cho việc nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ

trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là tiền đề tổ chức thựchiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật vào trong cuộc sống Trình độhọc vấn là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực của người cán bộ

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được

hiểu là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định, được đào tạotrong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện Người cán bộ phải cótrình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả,đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định quan điểm,

lập trường giai cấp công nhân của cán bộ Người cán bộ phải hiểu biết về lý luậnchính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nướcThực tế cho thấy nếu cán bộ có lập trường chính trị vững vàng, hoạt động vìmục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân kính trọng, tin yêu và họ sẽvận động được nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, của Đảng,pháp luật của Nhà nước Để nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý thì cần thiếtphải nâng cao trình độ lý luận chính trị

Trình độ quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước là hệ thống tri thức khoa

học về quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước Đó là những kiến thức đòihỏi các nhà quản lý phải có để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra trong quátrình điều hành, quản lý Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là hoạt độngnghệ thuật, cho nên người cán bộ phải am hiểu sâu sắc về khoa học lãnh đạo vàquản lý; có tác phong dân chủ, khoa học; đã được học tập có hệ thống ở cáctrường của Đảng, Nhà nước; phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào quátrình giải quyết công việc

Trang 28

- Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ

Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tham gia xây dựngđường lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện.Người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có khả năng tiếp thu lý luận, đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước một cách đúng đắn, pháthiện những vấn đề mới, có khả năng tổng kết thực tiễn và vận dụng sáng tạo lýluận, đường lối, chủ trương, chính sách để xây dựng chương trình, kế hoạchcông tác, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thực tiễn cơ sở

Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng,chính sách và pháp luật của Nhà nước Người cán bộ lãnh đạo, quản lý phảithường xuyên học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ lý luận chính trị, có bảnlĩnh vững vàng, không bị lung lay trước các mưu mô xảo quyệt của các thế lựcthù địch; phải thường xuyên đấu tranh để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ giai cấp và bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa

Đã trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả; có khả năng tập hợp quầnchúng, đoàn kết cán bộ, tạo sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao

1.1.4 Nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện

1.1.4.1 Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng

Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảođảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cảnhiệm vụ trước mắt và lâu dài Phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổchức; đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hiện có; dự kiến nhu cầu vàkhả năng phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức để chủ động đưa vào quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tạo được nguồn cán bộ dồi dào, đủ tiêu chuẩn để kịpthời đáp ứng yêu cầu của hệ thống chính trị

Trang 29

Nghị quyết 03 - NQ/TW ngày 18 tháng 6 năm 1997 xác định: “Mở rộngdiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống chính trị và tổ chức xã hội, cácthành phần kinh tế Đặc biệt chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài,tạo nguồn cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp từ Trung ương đến cơ sở; cán bộkhoa học đầu ngành; cán bộ quản lý kinh doanh các doanh nghiệp lớn.

Phấn đấu chậm nhất từ năm 2005 trở đi, nói chung những cán bộ chủ chốtdưới 45 tuổi từ cấp huyện trở lên ít nhất phải có trình độ đại học về chuyên môn,cao cấp về lý luận chính trị Đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm, đề bạt; khắcphục tình trạng bầu cử, bổ nhiệm rồi mới đưa đi đào tạo” [22, tr.83, 84]

Chú trọng bồi dưỡng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quanđiểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các kiến thức vềlịch sử, địa lý, văn hóa Bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước, quản lý xãhội, quản lý kinh tế, khoa học, công nghệ, chuyên môn nghiệp vụ, phong cáchlãnh đạo

1.1.4.2 Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng

Thực hiện chế độ dân chủ, công khai trong việc tuyển chọn cán bộ, côngchức, bảo đảm tuyển chọn đúng những người có đủ tiêu chuẩn theo từng chứcdanh Xây dựng và thực hiện các quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnhđạo, quản lý một cách chặt chẽ, khoa học

Các tổ chức, cơ quan có nhu cầu tuyển chọn cán bộ, công chức công bốcông khai nhu cầu, đối tượng, tiêu chuẩn cán bộ cần tuyển Kết quả sát hạch, thituyển là một căn cứ chủ yếu đề ra quyết định tuyển dụng cán bộ

Lập hội đồng thi tuyển quốc gia, các hội đồng thi tuyển của ngành, địaphương Quy định nhiệm vụ, chức năng, quy chế làm việc của các hội đồng thituyển, bảo đảm việc thi tuyển tiến hành một cách chặt chẽ, khách quan và côngbằng

Trang 30

Thực hiện chế độ bổ nhiệm có thời hạn Hết thời hạn giữ chức vụ, cấp cóthẩm quyền căn cứ vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ và các yêu cầucông tác để xem xét quyết định có tiếp tục bổ nhiệm cán bộ giữ chức vụ đó nữahay không.

1.1.4.3 Chế độ, chính sách đối với cán bộ

Có chế độ quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ Các cấp uỷ, thủ trưởng các cơquan phải nắm chắc từng cán bộ, cả về đức, tài và tình trạng sức khỏe Trên cơ

sở đó có kế hoạch sử dụng, đề bạt, giúp đỡ, khen thưởng đúng mức những cán

bộ có thành tích, xử lý kỷ luật kịp thời và nghiêm minh những cán bộ vi phạmĐiều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước

Việc bố trí và sử dụng cán bộ phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, phù hợp với

sở trường Đề bạt cán bộ phải đúng lúc, đúng người, đúng việc Có chính sáchđoàn kết tập hợp rộng rãi các loại cán bộ Phát hiện, lựa chọn và giới thiệunhững người đủ tiêu chuẩn trong các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tếtham gia các tổ chức chính trị, xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để họ đóng gópvào các công việc chung của đất nước

Đổi mới cơ bản chính sách bảo đảm lợi ích vật chất cho từng loại cán bộ,trước hết là chế độ tiền lương, nhà ở và phương tiện đi lại Tiền lương phải thật

sự trở thành bộ phận cơ bản trong thu nhập của cán bộ, bảo đảm tái sản xuất mởrộng sức lao động

Đi đôi với khuyến khích lợi ích vật chất, chú trọng giáo dục lý tưởng cáchmạng là động lực lớn nhất để thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của từng cán bộ

1.1.4.4 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát

Cấp uỷ và tổ chức đảng có trách nhiệm xây dựng chế độ kiểm tra cán bộ

và công tác cán bộ Kịp thời nêu gương cán bộ tốt, giúp đỡ cán bộ gặp khó khăn,ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc, cơ hội, thoái hóa, biến chất Kịp thời kiểm

Trang 31

tra, kết luận các vụ việc có liên quan đến cán bộ để đánh giá chính xác cán bộ.Phát hiện và uốn nắn những cơ sở, thiếu sót trong công tác cán bộ.

Có cơ chế để Nhân dân giám sát các công việc và phẩm chất của cán bộ,trước hết là những cán bộ có quan hệ trực tiếp với mình; biểu dương cán bộ tốt,phát hiện, đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng Bảođảm thực hiện quyền khiếu nại của nhân dân đối với cán bộ theo pháp luật

1.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là một yêu cầu cấp thiết

1.2.1 Mục đích, nội dung, yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đối với đội ngũ cán bộ

1.2.1.1 Mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xácđịnh: công nghiệp hoá, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diệncác hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sửdụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức laođộng cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựatrên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ranăng suất lao động xã hội cao

Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đấtnước, công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá Sở dĩ như vậy

là vì trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,nhiều nước phát triển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế trithức, nên phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa

Trang 32

học và công nghệ, tiếp cận kinh tế tri thức để hiện đại hoá những ngành, nhữngkhâu, những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt.

Thứ hai, công nghiệp hoá nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

hội Công nghiệp hoá là tất yếu với tất cả các nước chậm phát triển nhưng vớimỗi nước, mục tiêu và tính chất của công nghiệp hoá có thể khác nhau Ở nước

ta, công nghiệp hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xãhội, tăng cường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc

Thứ ba, công nghiệp hoá, hiện đại hóa trong điều kiện cơ chế thị trường

có sự điều tiết của Nhà nước Trong cơ chế kinh tế hiện nay, Nhà nước vẫn giữvai trò hết sức quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá Nhưng công nghiệphoá không xuất phát từ chủ quan của Nhà nước, nó đòi hỏi phải vận dụng cácquy luật khách quan mà trước hết là các quy luật thị trường

Thứ tư, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh

toàn cầu hoá kinh tế, vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tếquốc tế là tất yếu đối với đất nước ta

Công nghiệp hoá trong điều kiện “chiến lược kinh tế mở” có thể đi nhanhnếu chúng ta biết tận dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡquốc tế, song cũng gây nên không ít trở ngại do những tác động tiêu cực của nềnkinh tế thế giới, do “trật tự” của nền kinh tế thế giới mà các nước tư bản pháttriển thiết lập không có lợi cho các nước nghèo, lạc hậu Vì thế, công nghiệphoá, hiện đại hoá phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế nước ta là một nền kinh tếđộc lập, tự chủ

Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là xây dựng

cơ sở vật chất kỹ - thuật của chủ nghĩa xã hội dựa trên một nền khoa học vàcông nghệ tiên tiến, tạo ra lực lượng sản xuất mới với quan hệ sản xuất ngàycàng tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cải thiện

Trang 33

đời sống vật chất, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh.

Để từng bước thực hiện thành công mục tiêu lâu dài trên, mục tiêu tổngquát của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta được Đảng Cộngsản Việt Nam xác định tại Đại hội lần thứ VIII và tiếp tục khẳng định tại Đại hộilần thứ IX và lần thứ X là: “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nềntảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đạivào năm 2020” [16, tr 185-186]

Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, trong mỗi giai đoạn phát triển củanền kinh tế, công nghiệp hoá cần phải thực hiện được những mục tiêu cụ thểnhất định Trong những năm trước mắt, trong điều kiện khả năng về vốn vẫn hạnhẹp, chúng ta cần tập trung nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp, nôngthôn, phát triển nhanh các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, phát triểnkinh tế vùng, kinh tế biển

1.2.1.2 Những nội dung cụ thể của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế ở nước ta trong những năm trước mắt

- Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp cùng với công nghiệp chế biếnnông, lâm, thuỷ sản nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông,lâm, ngư nghiệp, bảo đảm vững chắc yêu cầu an toàn lương thực cho xã hội; tạonguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao, giá thành hạ, đủ tiêuchuẩn đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến; tăng giá trị và khối lượnghàng xuất khẩu; tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động; phân cônglại lao động xã hội, hình thành các điểm công nghiệp gắn liền với đô thị hoá tạichỗ, mở mang thị trường sản phẩm và dịch vụ cho công nghiệp

Trang 34

Để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp vànông thôn phải chú trọng đến việc chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp vàkinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa; thực hiện cơ khí hoá, điện khíhoá, hợp tác hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ sinh họcvào sản xuất, thực hiện phát triển đồng bộ có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt gắnvới công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản và thuỷ hải sản.

- Phát triển công nghiệp, xây dựng

Hướng ưu tiên phát triển công nghiệp ở nước ta là: khuyến khích pháttriển công nghiệp công nghệ cao, công nghệ chế tác, công nghệ phần mềm vàcông nghệ bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hútnhiều lao động, phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế; khuyếnkhích phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuấtkhẩu; sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng theo hướng hiện đại Khẩn trương thuhút vốn trong và ngoài nước để thực hiện một số dự án quan trọng về khai thácdầu khí, lọc dầu, hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo

- Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng vật chất của nền kinh tế

Trong cơ chế thị trường, kết cấu hạ tầng có vai trò hết sức quan trọng đốivới sự phát triển của sản xuất, kinh doanh và đời sống của dân cư Trong nhữngnăm trước mắt, việc xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế được coi là mộtnội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Do khả năng tài chính có hạn, cần huy động các nguồn lực trong và ngoàinước để xây dựng các kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội Hoàn chỉnh một bướcmạng lưới giao thông, thuỷ lợi, cấp thoát nước Tăng nhanh năng lực và hiệnđại hoá bưu chính viễn thông Việc xây dựng kết cấu hạ tầng phải tập trung vàokhâu cải tạo, mở rộng, nâng cấp; việc xây dựng mới chỉ có mức độ và phải tậptrung vào những khâu trọng điểm, có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế

Trang 35

hoặc vùng kinh tế Có như vậy mới tạo điều kiện cho mở rộng đầu tư phát triển,nhất là việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.

- Phát triển nhanh du lịch, các ngành dịch vụ

Trong những năm trước mắt, cần tạo bước phát triển vượt bậc của cácngành dịch vụ, nhất là những ngành có chất lượng cao, tiềm năng lớn, và có sứccạnh tranh như hàng không, hàng hải, bưu chính - viễn thông, tài chính, ngânhàng, kiểm toán, bảo hiểm…, đưa tốc độ tăng trưởng của các ngành dịch vụ caohơn tốc độ tăng GDP Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng một số ngành:vận tải, thương mại, dịch vụ…

Sự phát triển của ngành du lịch, một mặt cho phép khai thác các tiềmnăng du lịch, tăng thu nhập, tạo việc làm cho dân cư , góp phần mở rộng giaolưu, phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa nền kinh tế Bởi vậy, phát triển nhanhngành du lịch, dịch vụ được coi là một nội dung của công nghiệp hoá, hiện đạihoá ở nước ta trong những năm trước mắt

- Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để cáclợi thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùngcùng nhau phát triển; có cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nướccùng phát triển, đồng thời tạo sự liên kết giữa các vùng và nội vùng

Thúc đẩy phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực, tác độnglan tỏa đến các vùng khác; đồng thời tạo điều kiện phát triển nhanh hơn cácvùng kinh tế đang còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các vùng biên giới, hải đảo,Tây Nguyên, Tây Nam, Tây Bắc…

- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế là cần thiết với tất cảcác nước Do đó, công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể thành công nếu

Trang 36

không mở cửa nền kinh tế Sau thời kỳ khá dài đóng cửa, hiện nay, mở cửa nềnkinh tế là nhu cầu cấp bách đối với nền kinh tế nước ta, là một nội dung củacông nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong những năm trước mắt Tuy nhiên,

mở cửa hội nhập như thế nào cũng cần được cân nhắc kỹ càng nhằm tranh thủnhững tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình này vớităng trưởng, phát triển của nền kinh tế

Trong việc mở cửa, hội nhập, phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu làhướng ưu tiên và là trọng điểm Chuyển hướng chiến lược, xây dựng nền kinh tế

mở đòi hỏi phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế để vừa hội nhập khu vực, vừa hộinhập toàn cầu

1.2.1.3 Yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đối với đội ngũ cán bộ

- Đào tạo nguồn nhân lực

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ đòi hỏi phải có vốn, kỹ thuật, tàinguyên mà còn cần phải phát triển một cách tương xứng năng lực của conngười sử dụng những phương tiện đó Nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu côngnghiệp hoá, hiện đại hoá bao gồm những con người có đức, có tài, ham học hỏi,thông minh, sáng tạo; được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hoá, được đào tạothành thạo về kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ, về năng lực sản xuất kinh doanh,

về điều hành vĩ mô nền kinh tế và toàn xã hội, có trình độ khoa học- kỹ thuậtvươn lên ngang tầm thế giới

Trong nguồn nhân lực mới ấy, việc xây dựng giai cấp công nhân là mộtnhiệm vụ trọng tâm, bởi vì chỉ với một giai cấp công nhân trưởng thành về chínhtrị, có trình độ tổ chức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có trình độ làmchủ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới, trí thức hoá mới có thể là nòng cốt đểliên minh với nông dân và đội ngũ trí thức, tập hợp và đoàn kết với các thànhphần khác, đưa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến thành công

Trang 37

Để có nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá,phải coi việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính củađầu tư phát triển, giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu.Phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để chủ động đào tạo ra một

cơ cấu nhân lực đồng bộ bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xãhội, cán bộ nghiên cứu và triển khai công nghệ, cán bộ quản lý, nghiệp vụ kinh

tế, cán bộ trong các ngành kinh doanh, công nhân kỹ thuật Đi đôi với việc đàotạo, bồi dưỡng, phải bố trí và sử dụng tốt nguồn nhân lực đã được đào tạo, pháthuy đầy đủ khả năng, sở trường và nhiệt tình lao động sáng tạo của họ để sángtạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đóng góp xứng đáng vào sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Phát triển khoa học và công nghệ

Khoa học và công nghệ được xác định là động lực của công nghiệp hoá,hiện đại hoá Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh vàtốc độ phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng củacác quốc gia Khoa học và công nghệ ngày nay đang phát triển rất nhanh, cácnghiên cứu cơ bản đều được đem vào ứng dụng, thương mại hoá, phát huy hiệuquả cao trong thực tiễn

Trong giai đoạn hiện nay, phát triển khoa học và công nghệ phải phù hợp

xu thế phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ và kinh tế trithức trên thế giới Cố gắng đi ngay vào công nghệ hiện đại đối với một số lĩnhvực then chốt và từng bước mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế Chú trọng đúng mứcviệc phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều laođộng để giải quyết việc làm

Phát triển khoa học xã hội hướng vào việc tiếp tục góp phần làm sáng tỏnhững nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta; giải đáp những vấn đề mới của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

Trang 38

nghĩa; con đường, bước đi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhữngnguyên tắc, nội dung cơ bản của phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệthống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát triển conngười; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạnmới.

Phát triển khoa học tự nhiên theo hướng tập trung nghiên cứu định hướngứng dụng, đặc biệt những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu và thế mạnh

Phát triển công nghệ, đẩy mạnh việc nhập khẩu công nghệ có chọn lọc đểkết hợp với công nghệ nội sinh nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ củacác ngành có lợi thế cạnh tranh, có tỷ trọng lớn trong GDP, các ngành côngnghiệp bổ trợ và tạo việc làm cho xã hội; phát triển công nghệ cao, nhất là côngnghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới

Mở rộng hợp tác khoa học - công nghệ với các nước và các tổ chức quốc

tế nhằm tiếp cận, kế thừa những thành tựu khoa học - công nghệ của thế giới;tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, đào tạo nên một thế hệ cán bộ trẻ, nhữngnhà khoa học tâm huyết cho sự phát triển của đất nước

- Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hoá, quan hệ kinh tế đối ngoại càng phát triển rộngrãi và có hiệu quả bao nhiêu thì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước càng được tiến hành thuận lợi và càng thành công nhanh chóng bấy nhiêu.Thực chất của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập quốc

tế là để thu hút nhiều nguồn vốn bên ngoài, tiếp thu nhiều kỹ thuật và công nghệhiện đại, mở rộng thị trường cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đượcthuận lợi

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cùng với xu thế toàncầu hoá kinh tế đã và đang tạo ra mối liên hệ và sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa cácnền kinh tế của các quốc gia Do đó, việc mở rộng quan hệ kinh tế giữa nước ta

Trang 39

với các nước khác trở thành một tất yếu kinh tế, tạo ra khả năng và điều kiện đểcác nước chậm phát triển tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm tổchức quản lý Để khả năng trở thành hiện thực, chúng ta phải có một đường lốikinh tế đối ngoại đúng đắn vừa đạt hiệu quả kinh tế cao, kết hợp được sức mạnhcủa dân tộc với sức mạnh của thời đại, giữ vững được độc lập, chủ quyền dântộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta và bảo vệ vững chắc Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.2.2 Vai trò công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

1.2.2.1 Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 được thông qua tạiĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã đề ra 3 đột phá chiến lược,trong đó có “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chấtlượng cao” Chiến lược chỉ rõ: “phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tốquyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nềnkinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất,bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Đặc biệt coi trọng pháttriển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanhnghiệp giỏi…” [26, Tr 130]

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò hết sức quan trọng trong sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường

và hội nhập kinh tế quốc tế

- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là lực lượng tham mưu cho Đảng tronghoạch định chiến lược, kế hoạch, chủ trương, chính sách, bước đi, giải pháp thựchiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta Đồng thời, chính đây là lực lượng

Trang 40

lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Từ mục đích, đặc điểm của nền kinh tế thị trường, Đảng ta khẳng địnhtrong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàtrong bối cảnh hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai tròquan trọng để xây dựng thể chế, cơ chế và tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường

và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý điều hành của Nhànước

- Đây cũng là đội ngũ tham mưu cho Đảng và Chính phủ về đổi mới cácchính sách cho phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, nhất làcông cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, như: đổi mới công tác

kế hoạch hóa, dự báo chiến lược, cải tiến hệ thống thuế, xây dựng hệ thống ngânhàng thương mại, tín dụng…

- Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý còn thể hiện ở việc đề xuấtcác chủ trương, chính sách, pháp luật để thực hiện xã hội hóa các hoạt động sựnghiệp, dịch vụ công, những vấn đề xã hội; tổ chức kiểm tra, kiểm soát, tạo điềukiện để các hoạt động xã hội hóa sự nghiệp, dịch vụ công phát triển theo đúngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa

- Nội dung, nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế rất phong phú, sâu rộng vàphức tạp, bao gồm nhiều lĩnh vực, lại có sự khác biệt giữa nước ta với các nướctrên thế giới, nên rất cần phải có sự tham mưu, đề xuất của đội ngũ cán bộ, côngchức, nhất là cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý trong việc xây dựng thể chế,chế độ, chính sách khi đất nước hội nhập sâu vào đời sống kinh tế quốc tế

1.2.2.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là yêu cầu cấp thiết

trong giai đoạn hiện nay

Ngày đăng: 22/01/2016, 19:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Ban Chấp hành Trung ương (1997), Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18/6/1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 1997
[9]. TS. Cao Khoa Bảng (2013), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô”, NXB chính trị quốc gia – Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô”
Tác giả: TS. Cao Khoa Bảng
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia – Sự thật Hà Nội
Năm: 2013
[10]. Bộ Chính trị (2014), Kết luận số 86-KL/TW, ngày 24/01/2014 “ về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
[11]. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 25/01/2002 “về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
[12]. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30/11/2004 “về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2004
[13]. Bộ Chính trị (2010), Quyết định số 286 - QĐ/TW, ngày 08/02/2010 “về việc ban hành Quy chế đánh giá cán bộ, công chức” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc ban hành Quy chế đánh giá cán bộ, công chức
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2010
[15]. Bộ Chính trị (2013), Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10/4/2013 “về hội nhập quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về hội nhập quốc tế
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2013
[16]. Bộ Chính trị (2014), Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 26/5/2014 “về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
[18]. Chính phủ (2010), Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 “về việc đào tạo, bồi dưỡng công chức” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc đào tạo, bồi dưỡng công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
[19]. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13/5/2014 “về ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: [19]. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13/5/2014 “về ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
[21]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[22]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[23]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[24]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[25]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
[26]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[27]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
[28]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[29]. PGS.TS. Trần Đình Hoan (2009), “Đánh giá Quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá Quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
Tác giả: PGS.TS. Trần Đình Hoan
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
[30]. Hội đồng nhân dân thị xã Hồng Lĩnh (2012), Nghị quyết số 24/2012/NQ-HĐND ngày 11/4/2012”ban hành một số quy định tạm thời về hỗ trợ đào tạo cán bộ, công chức, viên chức và thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao (giai đoạn 2012 – 2016)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”ban hành một số quy định tạm thời về hỗ trợ đào tạo cán bộ, công chức, viên chức và thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao (giai đoạn 2012 – 2016)
Tác giả: Hội đồng nhân dân thị xã Hồng Lĩnh
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w